TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TTK BANKI-MOON-OBAMA-CAMERON-SARKOZY-NATO:Phải bị treo cổ trước Ṭa án Nhân loai


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 

Websites trong nước

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

hân

 

 

 

 

Ban Ki-moon, UN secretary-general Barack Obama, David Cameron and Nicolas Sarkozy
BANKI-MOON-OBAMA-CAMERON-SARKOZY

 

TTK BANKI-MOON-OBAMA-CAMERON-SARKOZY-NATO

Phải bị treo cổ trước Ṭa án Nhân loai

 

[Nội chiến ở Libya nh́n từ góc độ khác]

 

Với việc phe phiến loạn, dưới danh xưng Transitional National Council (TNC), đang dần dần kiểm soát toàn bộ thủ đô Tripoli, thanh toán những cứ điểm  cuối cùng của lực lượng chính phủ Gaddafi, cuộc nội chiến Libya có lẽ đang đi vào giai đoạn cuối, hoặc sẽ kết thúc sự cầm quyền của một chế độ đă kéo dài 42 năm qua trên quốc gia này, hoặc chí ít cũng giảm thiểu phạm vi cai trị của chế độ ấy và đẩy Libya vào t́nh trạng phân ly vốn đă có mầm móng từ lâu trong cơ cấu xă hội của quốc gia này. Các tổ chức quốc tế, các chính phủ trên thế giới đang lần lượt thừa nhận NTC như là đại diện hợp pháp của Libya thay cho chính phủ của Đại Tá Gadhafi. Chủ tịch của TNC, ông cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Mustafa Abdul Jalil trong chính phủ Gaddafi trước kia, ngay cả đă được Tổng Thống Obama của Mỹ tiếp kiến hôm thứ Ba vừa rồi bên lề một phiên họp quốc tế tại Liên Hiệp Quốc ở Newyork. [1]

 

Cuộc nội chiến Libya tuy gần như sắp qua rồi, nhưng hậu quả của nó về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, xă hội, đối với đất nước và người dân Libyan chắc sẽ c̣n kéo dài khá lâu. C̣n đối với công luận trên thế giới th́ cuộc nội chiến này, có sự can thiệp từ bên ngoài dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc, vẫn c̣n để lại những vấn đề về lịch sử, bối cảnh chính trị và pháp lư quốc tế rất đáng duyệt xét và thảo luận. Mọi chuyện đă xảy ra khá nhanh đến độ một số khá đông trong chúng ta dường như chưa kịp thu thập những thông tin trung thực về t́nh h́nh xă hội Liyba suốt hơn 40 năm dưới chế độ Gadhafi, về quan hệ đối ngoại của chế độ đó đối với các quốc gia trong Vùng và các cường quốc, về động cơ chính trị và tính chất pháp lư của sự can thiệp quốc tế vào cuộc nội chiến vừa qua.

 

Trước hết, do vô t́nh hay cố ư, cuộc nội chiến Libya đă được giới truyền thông Tây Phương lồng vào trong bối cảnh chung của phong trào biểu t́nh đ̣i dân chủ của người Ả rập, một phong trào thường được gọi là “Cách mạng Hoa Lài” từ Egypt, Tunisia, Bahrain, Yemen, Syria, v.v…Tuy nhiên, trên thực tế có những khác biệt rất lớn giữa t́nh h́nh Libya và các quốc gia khác trong phong trào vừa nói. Sự khác biệt điển h́nh nhất là giữa Ai Cập và Libya.

 

Sự khác biệt trong các biến động giữa EgyptLibya

 

1.-Về phía người biểu t́nh-chống đối:Egypt th́ người biểu t́nh là thường dân, đa số thuộc lớp trẻ, sinh viên, học sinh, công nhân và tiểu thương, và số người này biểu t́nh bất bạo động. Trong lúc đó ở Libya, thành phần chống đối, ngoài thường dân ra, c̣n có các viên chức chính phủ và quân nhân đào ngũ ly khai, và sự chống đối mang tính chất bạo động với súng AK-47, súng phóng lựu, những dàn cao xạ tối tân, cả hoả tiển và ngay cả với chiến đấu cơ Mig-23. Nghĩa là ở Libya, không phải là những người dân thường nổi dậy  biểu t́nh đ̣i Dân chủ như đă xăy ra ở Ai Cập, Tunisia, Bahrain hay Yemen. Thật ra, th́ đă không hề có biểu t́nh đ̣i dân chủ ở Libya, mà chỉ có sự nổi loạn vũ trang của phe phiến loạn.

 

2.-Về phía chính quyền:Egypt, ngoài lực lượng cảnh sát đàn áp người biểu t́nh ra, quân đội lại có thái độ ôn hoà đối với người biểu t́nh. Hơn nữa chính quyền lại nằm hoàn toàn trong tay quân đội. Người biểu t́nh chỉ đ̣i TT Mubarak từ chức mà không hề đ̣i thay đổi chế độ do quân đội lănh đạo. Trong khi đó ở Libya, có ngay sự ly khai trong giới chức chính quyền và quân đội. T́nh h́nh của Libya mang tính chất của một cuộc nổi loạn và nội chiến giữa các bộ lạc trong nước, chứ không chỉ là sự nổi dậy đ̣i Dân chủ như ở Egypt. Và t́nh h́nh nội chiến đó bắt rễ từ lâu trong sự khác biệt lâu đời giữa hai vùng Đông-Tây Libya và trong tính chất tranh chấp giữa các bộ lạc vẫn tồn tại trong xă hội Libya.

 

Điểm đáng chú ư nữa, là khác với ở Ai Cập và Tunisia, ở Libya không có đảng phái đối lập và công đoàn, trừ tổ chức Libyan Islamic Fighting Group (LIFG). Dân số tập trung nhiều ở nông thôn hơn thành thị. Quân đội và giới thượng lưu ít chịu ảnh hưởng của Tây phương, ít lệ thuộc vào quân viện của Mỹ.

 

3.-Về quan hệ đối ngoại; đặc biệt là với Mỹ: TT Egypt Mubarak được các chính phủ Mỹ ủng hộ mạnh mẽ, xem là đồng minh chiến lược ở Trung Đông suốt 30 năm qua. Suốt thời gian đó, ngoài viện trợ kinh tế, quân viện của Mỹ hằng năm dành cho quân đội Egypt của Mubarak trung b́nh là 1.3 tỉ dollars/ năm. Ngay cả đến lúc này, sau khi Mubarak xuống rồi, sự ủng hộ của Mỹ đối với quân đội Egypt chưa có dấu hiệu thay đổi.

 

Nhưng quan hệ Mỹ-Libya th́ hoàn toàn khác. Trước đây các chính phủ Carter, Reagan đă tỏ ra rất thù địch với TT Muamma Gadhafi. Quan hệ hai bên đă nhiều lúc bị gián đoạn. Gadhafi đă từng bị Mỹ xem như một kẻ khủng bố, chịu trách nhiệm về việc bắn hạ máy bay dân sự Pan Am Flight 103 năm 1988. Chỉ từ năm 2003 trở đi, quan hệ Mỹ-Libya mới hoà dịu, sau khi Gadhafi công khai từ bỏ việc sở hữu Vũ Khí Huỹ Diệt Hàng loạt (WMD) và hoả tiển tầm xa, chấp nhận bồi hoàn cho gia đ́nh các nạn nhân của chuyến bay Pan Am 103. Từ đó quan hệ hai bên trở nên hoà dịu hơn, và đến 31/5/ 2006 th́ có quan hệ chính thức. Mặc dù vậy, khác biệt chính ở đây là mối quan hệ của Mỹ đối với Muamma Al Gadhafi không giống như đối với Mubarak, và quân đội Libya không lệ thuộc quân viện của Mỹ như quân đội Egypt, v́ Egypt là đồng minh chiến lược của Mỹ, c̣n Libya th́ chưa bao giờ.

 

4.- Về mức sống: Một cách tổng quát th́, phần nào do sự chênh lệch quá xa về dân số giữa hai quốc gia: Egypt có 83 triệu dân, Libya chỉ có chừng 6.3 triệu, mức sống của hai bên rất khác biệt. Trong khi có đến 40% dân Egypt có thu nhập không quá 2$/ ngày và lợi tức b́nh quân chỉ chừng 1.300 dollars/người, th́ thu nhập b́nh quân đầu người của Libya đến gần 10.000 dollars/ người (số liệu năm 2004 của World Bank) [2]. Yếu tố quan trọng là trữ lượng dầu hỏa của Libya có đến chừng 44 tỉ thùng, gấp hơn 10 lần trữ lượng của Egypt. Vẫn c̣n nhiều vùng chưa được thăm ḍ đầy đủ và có một số chuyên gia về dầu hoả cho rằng trữ lượng thật sự của Libya c̣n lớn hơn con số hiện nay khá nhiều.

 

Đến đây thiết nghĩ cũng nên điểm qua về bối cảnh xă hội-kinh tế của Libya trước nội chiến.

 

Libya có chừng 140 bộ lạc lớn nhỏ, trong đó có chừng 30 bộ lạc với dân số đáng kể, sống tập trung vào ba vùng quan trọng; đó là: Tripolitania, với thủ phủ là Tripoli nằm trên bờ Địa Trung Hải về phiá Tây Bắc Libya; kế đến là Cyrenaica với Benghazi làm thủ phủ, ở phía Đông Bắc, trải dài từ bờ Địa Trung Hải vào tận sa mạc Sahara; và Fezzan nằm trong nội địa với sa mạc mênh mông.

 

Trong ba vùng kể trên, th́ Tripolitania và Cyrenaica là quan trọng nhất. Tripolitania nằm về phía Tây từ lâu là căn cứ địa của Gadhafi. C̣n vùng Cyrenaica th́ trong lịch sử đă từng có khuynh hướng không thần phục Tripoli và tỏ ra gần gũi thân thiện với Ai Cập hơn. Điều này giúp hiểu dễ dàng hơn nổ lực ly khai hiện nay của người ở vùng này. Chính vua Idris, người bị Gadhafi lật đổ năm 1969, sinh ra từ vùng này. Đây là lư do tại sao trong những ngày đầu nội chiến, người ở đây đă treo cờ cũ của chế độ quân chủ Libya. Cyrenaica cũng là vùng đất của những nhóm cực đoan Hồi giáo, như nhóm Libyan Islamic Fighting Group (LIFG) là nhóm đă bị Gadhafi trấn áp trong nhiều năm qua.

 

Phân bố ra ba vùng trên có 4 bộ lạc quan trọng nhất là Gadhafa, Warfallah, Zuwaya và Magariha; trong đó đông đảo nhất là bộ lạc Warfallah chiếm gần 1/6 dân số Libya, có dân cư sống ở cả hai vùng Tripolitania và Cyrenaica. Bộ lạc lớn thứ hai là Magahira ở vùng Fezzan. Bộ lạc Gadhafa tuy không lớn nhất, nhưng Gadhafa lại có quan hệ huyết thống với bộ lạc Warfallah và được sự ủng hộ mạnh mẽ của bộ lạc này trong nhiều năm. Mặc dầu vậy, năm 1993 một số thành viên của Warfallah đă liên kết với bộ lạc Magahira âm mưu đảo chánh Gadhafi, nhưng không thành, bị Gadhafi dùng không quân đè bẹp. Trong biến động hiện nay, có nhiều thủ lănh của Warfallah đứng vềp phe nổi dậy, chống lại Gadhafi. Bộ lạc hiện chống đối Gadhafi mạnh nhất là Zuwaya, cư trú đông đảo ở vùng Cyrenaica.

 

Lịch sử cơ cấu bộ lạc của Libya như nên trên đây sẽ là yếu tố xă hội quan trọng định h́nh tương lai hậu chiến, cả đối nội lẫn đối ngoại, sắp đến của Libya.

 

Kinh tế- xă hội Libya dưới chế độ Gadhafi

 

Kể từ năm 1969 đến nay, Libya đă có nhiều thay đổi rất đáng chú ư.

 

Về mặt lư thuyết, Gadhafi và nhóm sĩ quan trẻ ủng hộ Ông trong cuộc đảo chính đă có tham vọng chấm dứt sự bất công xă hội do chế độ thuộc điạ và chế độ quân chủ tạo ra, xây dựng một chế độ xă hội chủ nghĩa dựa trên những giá trị tốt đẹp truyền thống của Hồi giáo kết hợp với một sự phân phối lợi tức công bằng nhằm giảm thiểu sự bất b́nh đẳng lớn giữa các thành phần trong xă hội.

 

Trước năm 1969, xă hội Libya tổng quát có ba giai cấp chính: giai cấp thượng lưu gồm hoàng tộc, các giới chức cao cấp trong chính phủ và những gia đ́nh giàu có nhất. Kế đến là một giai cấp trung lưu nhỏ  bao gồm các chức sắc tôn giáo, tiểu thương, tiểu điền chủ, các nhà xuất nhập cảng, giới doanh nhân dầu hoả, chuyên gia các ngành, công chức, v.v…Cuối cùng là đại đa số dân thuôc giai cấp nông dân, thợ thủ công và công nhân. Lợi tức phân phối trong xă hội giữa các giai cấp là rất chênh lệch.

 

Kỹ nghệ dầu hoả phát triển dẩn đến việc thành h́nh đời sống đô thị với sự gia tăng ngày càng nhanh thành phần chuyên viên và công nhân trẻ có tŕnh độ kỹ thuật khá hơn nhờ được đào tạo ngày càng đầy đủ hơn trước. Điều này ảnh hưởng rơ rệt đến sự thay đổi cơ cấu giai cấp-xă hội của Libya. Đồng thời vai tṛ của quân đội cũng ngày càng trở nên quan trọng. Nền độc lập quốc gia giúp cho ra đời ngày càng nhiều các sĩ quan Libyan thay thế các cấp chỉ huy Tây Phương, h́nh thành một tầng lớp quân nhân bản xứ với ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng. Gadhafi và nhóm Sĩ Quan Tự Do (Free Officer Movement) đă ra đời trong bối cảnh đó với hạt nhân chính trị là Hội Đồng Tư Lệnh Cách Mạng (Revolutionary Command Council, RCC), trở thành lực lượng ưu tú trẻ và nhóm này được sự ủng hộ ngày càng tăng của giai cấp trung lưu, nông dân và giới thợ thuyền thành thị.

 

Chủ trương của RCC, do Gadhafi cầm đầu, là tước dần quyền lực và tài sản của tầng lớp thượng lưu, thu hút sự hậu thuẫn của giai cấp trung lưu và giới nghèo, tăng cường sự kiểm soát của nhà nước đối với kinh tế quốc gia, tạo ra cơ cấu chính trị mới, đặt trọng tâm vào sự tái phân phối lợi tức và tạo cơ hội đồng đều cho mọi thành viên trong xă hội thông qua những biện pháp như xác lập mức lương tối thiểu, chính phủ trực tiếp quản lư thị trường nhân dụng và thực hiện quốc sách trợ cấp xă hội.

 

Công đoàn Xă hội Chủ nghĩa Ả Rập (Arab Socialist Union, ASU) được thành lập năm 1971 và xử dụng như một công cụ huy động quần chúng nhằm thực hiện những chủ trương cải cách chính trị-xă hội nêu trên. Mục tiêu chính của ASU là xoá bỏ, bằng phương cách hoà b́nh, sự cách biệt lớn giữa các giai cấp, nguồn gốc của thảm kịch đấu tranh giai cấp ngấm ngầm trong xă hội. Về mặt này th́ Gadhafi và những sĩ quan đồng chí hướng đă có một chủ trương thực tiễn trong việc đối phó với vấn nạn xung đột giai cấp trong xă hội. Tuy vẫn đề cao Socialism, nhưng Gadhafi đă không áp dụng một cách mù quáng học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu của Karl Marx và Lenine, trái lại đă biết dung hoà giữa nhu cầu b́nh đẳng xă hội và truyền thống Hồi giáo của xứ sở ḿnh. Đến năm 1973 chính phủ Libya c̣n đưa ra luật đ̣i hỏi các công ty lớn phải chia lợi nhuận cho nhân viên của ḿnh, đưa công nhân tham gia ban giám đốc và thành lập các cơ quan liên hiệp tư vấn với sự tham gia đồng đều giữa quản trị viên và công nhân.

 

Mặc dù không cổ xúy đấu tranh giai cấp, nhưng Gadahfi và RCC, trên thực tế, vẫn thực hiện một số biện pháp nhằm thu hẹp dần ảnh hưởng xă hội, các ưu đăi và quyền lực kinh tế của giới thượng lưu. Một số chiến dịch công kích nhắm vào giới “tiểu tư sản quan liêu” (bourgeois bereaucrats) được thực hiện trong nhiều năm .Kế đến là những hạn chế áp dụng đối với các thương nhân tư doanh được đưa ra vào khoảng năm 1975. Đến khoảng năm 1978, luật về giới hạn đầu tư tư nhân trong lănh vực địa ốc được ban hành, mỗi gia đ́nh nhỏ (vợ chồng và con cái vị thành niên) chỉ được phép sỡ hữu một căn nhà, số nhà dư ra sẽ bị chính phủ thu mua. Nhiều giới hạn khác cũng được áp dụng đối với ngoại thương và kỹ nghệ. Ngoại thương hoàn toàn thuộc về độc quyền của các công ty quốc doanh (public corporations). Ngành bán sỉ tư nhân (whole sale) hoàn toàn bị loại bỏ.

 

Ngoài ra một nỗ lực chính khác của Gadhafi và RCC là xóa đi sự phân tranh cố hữu giữa Đông và Tây Libya, giữa Tripolitania và Cyrenaica, nhằm tạo dựng sự thống nhất và khẳng định căn cước chính trị cho quốc gia Libya. Nhiều nỗ lực đă được đưa ra để xoá bớt lằn ranh chia rẽ giữa các bộ tộc, loại dần ảnh hưởng của các tộc trưởng và của các chức sắc tôn giáo; xử dụng tŕnh độ giáo dục làm tiêu chuẩn tuyển chọn nhân tài thay cho các quan hệ huyết thống và tôn giáo như trước kia.[3]

 

Những cải cách trên của Gadhafi và RCC đă thay đổi bộ mặt của Libya một cách đáng kể. Do tính cách  b́nh đẳng xă hội cao, Libya khác hoàn toàn với phần đông các quốc gia sản xuất dầu hoả khác. Lương bổng cao hơn, các dịch vụ giáo dục và y-tế được phổ quát và tốt hơn; mức độ tích lũy tài sản xă hội vào tay tư nhân cũng giảm đi nhiều. Cũng là chế độ độc tài ở Trung Đông, nhưng so với Ai Cập hay Saudi Arabia th́ sự khác biệt hiện ra rất rơ ràng. Chẳng hạn về kinh tế, GDP (tổng sản lượng quốc gia) chia trên đầu người của Libya năm 2008 ước tính chừng 14.400 dollars/ người trong khi chỉ số đó ở Ai Cập trong cùng năm chỉ được chừng 5.400 dollars/ người.[4] Về mặt công bằng xă hội, ở Saudi Arabia, hoàng tộc và toàn bộ những người có quan hệ hôn nhân nội ngoại với hoàng tộc tổng số chừng khoảng từ 60.000 đến gần 100.000 người nắm hầu hết quyền lực kinh tế trong tay, chiếm hữu hơn 40% tổng tích sản của cả nước chỉ chừa 60% c̣n lại cho gần 26 triệu người khác! Về dân trí, tỉ lệ mù chữ ở Libya cũng thấp hơn Saudi Arabia: 13.2% so với 15%; trong khi ở Ai Cập th́ đến 33.6%!

 

Trong bảng xếp hạng phát triển nhân sinh thế giới năm 2009 (Human Development Report), Libya được xếp ở hạng 55, trong khi Saudi Arabia đứng hạng 59, c̣n Ai Cập th́ ở hạng 123, thua cả Việt Nam CS ở hạng 116! [5] Điều đáng chú ư ở đây là Saudi Arabia và Ai Cập là hai quốc gia có chế độ độc tài khắc nghiệt nhất ở Trung Đông, là đồng minh thân cận được Mỹ ủng hộ từ hơn 30 năm qua.

 

Về mặt Y tế tỉ lệ bác sĩ / bệnh nhân ở Libya theo thống kê năm 2007 là chừng 1/750; so với 1/1900 ở Ai Cập và Việt Nam; ở Mỹ là 1/390.[6] Mọi công dân được hưởng miễn phí những săn sóc y tế căn bản. Hệ thống săn sóc y tế là một hổn hợp cả công lẫn tư. So với các quốc gia khác ở Trung Đông th́ hệ thống y tế của Libya tương đối tốt; việc chích ngừa cho trẻ em được thực hiện rộng răi và cưỡng bách trên toàn quốc; hệ thống cung cấp nước uống được cải thiện rất nhiều từ suốt mấy mươi năm qua.

 

Trong lănh vực giáo dục, trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 15 bị đặt dưới hệ thống cưỡng bách giáo dục và hoàn toàn miễn phí. Có chừng hơn 800,000 học sinh cấp I &II và chừng hơn 700,000 học sinh cấp III và khoảng 300,000 sinh viên đại học.(Số liệu năm 2000).

 

Những đổi thay chính trị, vừa nêu ở trên, đă được thực hiện theo những ǵ Gadhafi viết ra trong quyền Green Book. Đó là một bộ sách ba tập đưa ra lư thuyết về Third International Theory với chủ đề chính yếu là thiết lập một hệ thống kinh tế-chính trị khác với cả hệ thống tư bản của Mỹ lẩn hệ thống cộng sản của Liên Xô; một sự phối hợp giữa các nguyên tắc đạo đức của Hồi Giáo với sự b́nh đẳng xă hội dựa trên một nền dân chủ trực tiếp (direct democracy).

 

Về cơ cấu chính quyền, toàn quốc được phân định ranh giới thành 1500 công xă (communes) được quản trị bởi các Ủy ban Nhân dân (peoples’ committees) do dân trực tiếp bầu ra; các uỷ ban này có chức năng cai trị và hoạch định ngân sách trong địa phương của ḿnh với sự phê chuẩn của một cơ quan dân cử khác của công xă, có vai tṛ như Hội Đồng Nhân dân. Các công xă này thuộc về 34 khu tự quản (municipalities) trên toàn quốc, cùng với cơ cấu Uỷ ban và Hội Đồng tương tự. Đến lượt ḿnh, các uỷ ban của khu tự quản này sẽ đệ tŕnh các vấn đề về ngân sách và chính sách lên cho Quốc Hội Nhân dân (General People’s Congress, GPC) của toàn Libya; GPC gồm cả chức năng Lập pháp,Hành pháp, và Tư pháp; các bộ trưởng cũng như thẩm phán sẽ từ cơ quan này mà ra. Đó là trên nguyên tắc, trên thực tế th́ chính Gadhafi nắm quyền, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc bổ nhiệm các bộ trưởng và các viên chức cao cấp khác trong chính phủ.

 

Những việc đầu tiên khi lên cầm quyền của Gadhafi là hoàn thiện việc giành chủ quyền quốc gia. Chính quyền mới đă tịch thu tất cả tài sản của các kiều dân Do Thái, tịch thu tài sản và trục xuất hơn 45,000 kiều dân Ư, những người đă di cư đến Libya trong thời thuộc điạ. Cùng lúc, chính phủ Gadhafi đă yêu cầu Anh và Mỹ rút toàn bộ các căn cứ quân sự ra khỏi lănh thổ Libya; ngày được ấn định là 28/3 và 11/6/1970. Hai ngày này và ngày 7/10/1970, là ngày trục xuất người Ư, về sau đă được dùng như ngày quốc lễ của Libya. Ngoài ra chính phủ Gadhafi c̣n làm áp lực buộc các công ty dầu hoả Tây Phương phải tái thương lượng các hợp đồng khai thác dầu hoả trước đây và phải nhượng lại phần lớn doanh lợi cho Libya.[7]

 

Đối ngoại, ngoài thái độ bài Tây Phương, chống chế độ thuộc điạ và tích cực cổ xuư cho cuộc đấu tranh giành độc lập của các quốc gia nhược tiểu, chính phủ của Gadhafi, ít nhất cho đến khoảng năm 2009, rất chống Do Thái. Lúc đầu Gadhafi chống lại mọi đàm phán với Do Thái trong vấn đề Palestine; sự chống đối mạnh mẽ đến độ đă gây ra bất hoà sâu sắc giữa Gadhafi và Anwar Sadat của Ai Cập, và ngay cả với Yasir Arafat, chủ tịch Phong trào Giải phóng Palestine.

 

Gadhafi cho rằng để giành lại cho người Palestine những ǵ đă mất th́ không c̣n con đường nào khác ngoài đấu tranh bằng bạo lực. V́ vậy Gadhafi trong nhiều năm trước đây đă chống lại mọi cuộc đàm phán với DoThái trong vấn đề Palestine, tích cực tài trợ và huấn luyện cho các tổ chức đấu tranh bạo động của người Palestine. Những năm sau này, tuy không c̣n tài trợ cho các nhóm đó, Gadhafi vẫn chống lại đề nghị về “hai quốc gia” cho vấn đề Do Thái-Palestine. Trong một bài báo viết cho New York Times, Gadhafi đưa ra đề nghị về một quốc gia, chung cho cả người Do Thái lẫn Palestine, với tên gọi là Isratine và rằng người tị nạn Palestine nên được quyền hồi cư về nguyên quán trước năm 1948. Tất nhiên những đề nghị đó của Gadhafi bị phiá Do Thái phản đối và bác bỏ. Lập trường của Gadhafi đối với vấn đề Do Thái là một trong những trở ngại lớn nhất trong mối quan hệ Mỹ-Libya.

 

Chính phủ Gadhafi cũng đă đạt được những thành tựu đáng kể trong lănh vự săn sóc y-tế, giáo dục, nhà ở, quyền của phụ nữ và một số dịch vụ xă hội căn bản. Chế độ “Xă hội Chủ nghiă Hồi giáo” do Gadhafi khởi xướng, cộng với số dân ít và dự trữ dầu hoả lớn đă biến Libya trở nên một xă hội khá phồn thịnh và b́nh đẳng ở Trung Đông. Và tuy là một nhà độc tài, Gadhafi đă cho khai sinh một hệ thống chính trị tản quyền (decentralization), nổ lực xây dựng bước đầu nền dân chủ trực tiếp ở các địa phương với sự tham gia rộng răi của dân chúng trong một số lănh vực. Tuy nhiên, nh́n chung th́ sự đàn áp đối lập vẫn thường xảy ra

 

Vấn đề hối lộ của các viên chức nhà nước là một quan tâm lớn. Năm 1975 một đạo luật cứng rắn đối với tệ nạn này đă được áp dụng, theo đó viên chức nhận hối lộ sẽ bị án đến 10 năm tù giam cộng với tiền phạt bằng hai lần số tiền nhận hối lộ. Kẻ đút lót hối lộ có thể bị án đến 5 năm và bị phạt tiền đến 500 LD (LD Libyan Dinar, tiền Libya, 1LD~0.82dollars)

 

Về mặt đối ngoại

 

Đáng chú ư nhất là mối quan hệ Mỹ-Libya.

 

Do thái độ bài Do Thái, kịch liệt chống chế độ thuộc địa, đề cao phong trào giành độc lập của các nước thứ ba, công khai chỉ trích Tây Phương trên mọi diễn đàn quốc tế của Gadhafi, ngay từ đầu quan hệ Libya-Mỹ đă không đầm ấm. Có thể tạm chia quan hệ Libya-Mỹ ra các giai đoạn như sau:

 

Từ khoảng năm 1969-1986: Ngay từ khi lên nắm quyền, chính phủ Gadhafi đă lập tức thực hiện chính sách quốc gia Arab, đóng cửa các căn cứ quân sự Anh-Mỹ trên đất Libya, trục xuất các đại công ty dầu hoả của Mỹ, đặt tất cả các nguồn tài nguyên, đặc biệt là dầu hỏa, dưới sự quản trị của các công ty quốc doanh của chính phủ. Căng thẳng nhất trong giai đoạn này là việc chính phủ của Gadhafi, năm 1973, tuyên bố lănh hải rộng 12 hải lư ở vịnh Sidra dọc duyên hải của Libya. Phía Mỹ liền tiến hành chiến dịch Freedom of Navigation, đ̣i tự do hải hành trong khu vực. Năm 1981 khi Ronald Reagon lên cầm quyền, t́nh h́nh càng căng thẳng hơn; tháng 8/1981 Reagan cho một hạm đội lớn với hai chiến hạm lớn Forrestal và Nimitz vào thao dượt trong hải phận 12 hải lư mà Libya đă tuyên bố. Ngày 19/8/1981 hai chiến đấu cơ Sukhoi Su-22 của Libya nghênh chiến với phi cơ hải quân Mỹ và bị hai chiến đấu cơ F-14 của Mỹ bắn hạ ngay trên vùng trời vịnh Sidra.

 

Giai đoạn từ 1986-1999: Những năm sau đó chính phủ Mỹ loan tin là chính phủ Libya đang dùng các tổ chức khủng bố để tấn công viên chức và công dân Mỹ ở nước ngoài. Vụ tấn công toà đại sứ Mỹ ở Khartoum, Sudan được quy là do nhóm khủng bố được Libya tài trợ. Tháng 12/1985 một vụ khủng bố tấn công ở Rome và phi trường Vienne khiến 5 người Mỹ thiệt mạng, có bằng chứng cho thấy là có sự dính líu của Libya.Lập tức, tổng thống Regan cho phong toả các tích sản của Libya ở Mỹ; đồng thời tháng 3/1986 một cuộc đụng độ khác giữa hải quân hai bên xảy ra tại vịnh Sidra khiến 58 thuỷ thủ Libya thiệt mạng. Tháng Tư/1986 một qủa bom nổ ở một hí viện tại Tây Bá Linh, nơi thường có quân nhân Mỹ đến du hí, giết chết một quân nhân Mỹ và làm bị thương hàng trăm người khác, trong đó có 50 quân nhân Mỹ. Có tin là cơ quan t́nh báo Mỹ đă phát hiện là vụ nổ do toà đại sứ của Libya ở Bá Linh ra lệnh.

 

Ngày 14/5/1986, chiến dịch không tập mang tên El Dorado Canyon gồm hơn 30 chiến đấu và oanh tạc cơ F-111 của Mỹ, bay từ ngoài Địa Trung Hải và từ căn cứ ở Anh qua, đă dội bom xuống Tripoli và Bengazhi của Libya. Kết quả có hơn trăm thường dân Libya thiệt mạng, trong đó có cô con gái nuôi của Gadhafi; và nhiều người khác bị thương trong đó có hai con trai của Gadhafi. Về phiá Mỹ th́ 1 máy bay F-111 bị bắn hạ và hai phi công mất tích.

 

Để trả đũa, ngày 15/4 tàu tuần tra Libya đă bắn hoả tiễn vào một trạm viễn thông của hải quân Mỹ ở Địa Trung Hải, nhưng không gây thiệt hại đáng kể. Hai năm sau, 1988, phi cơ dân sự Pan Am 747, chuyến bay 103, của Mỹ bị nổ bom trên không phận Lockerbie của Tô Cách Lan, giết chết tổng cộng 270 người. Cuộc điều tra kết thúc năm 1991 với kết quả cho biết rằng chính phủ Libya có dính líu vào vụ này. Từ năm 1992 trở đi Liên Hiệp Quốc bắt đầu cấm vận Libya, đ̣i chính phủ Libya phải giải giao nghi can của vụ nổ bom.

 

Giai đoạn từ 1999-2006: Năm 1999, chính phủ Gadhafi đồng ư giải giao nghi phạm vụ Pan Nam 103 nói trên cho toà án Tô Cách Lan xét xử. Và sau đó chính phủ Libya chấp nhận bồi thường cho các gia đ́nh nạn nhân theo như đ̣i hỏi của Mỹ và Liên Hiệp Quốc. Số tiền bồi thường là 2.7 tỉ dollars được chuyển cho gia đ́nh nạn nhân năm 2003. Sau đó việc cấm vận đă được chấm dứt. Cùng năm Gadhafi tuyên bố từ bỏ việc sỡ hữu vũ khí huỷ diệt hàng loạt và vũ khí nguyên tử. Từ đó trở đi quan hệ Mỹ-Libya trở nên hoà dịu hơn, các công ty dầu hoả của Mỹ bắt đầu được phép trở lại Libya. Đến năm 2006 quan hệ b́nh thường giữa hai quốc gia được chính thức tái lập.[8]

 

Libya của Gadhafi luôn chống lại Al-Qaeda. Bằng chứng là trong những cuộc mật đàm giữa Mỹ thời TT Clinton và Libya ở Geneva năm 1999, đại diện của Libya hưởng ứng việc chống Al-Qaeda. Libya cũng thỏa thuận mở các nhà máy hoá chất cho quốc tế kiểm tra. Các cuộc mật đàm đó do đại sứ Saudi Arabia ở Mỹ là hoàng tử Bandar Bin Sultan làm trung gian.[9]

 

Theo bác sĩ Ronald Bruce St. John, của cơ quan The International Advisory Board of The Journal of Libyan Studies, th́ sau 9/11 Libya cộng tác mật thiết với Mỹ trong mặt trận chống khủng bố Al-Qaeda, cơ quan t́nh báo của Libya đă cung cấp toàn bộ tin tức liên quan đến Al-Qaeda cho phía Mỹ. Gadhafi ngay cả đă treo thưởng 1 triệu dollars cho những ai cung cấp tin tức về các tổ chức Hồi giáo cực đoan chống chính phủ. Sỡ dĩ như vậy là v́ trong một thời gian dài Gadhafi đă từng là mục tiêu tấn công của các nhóm Al-Qaeda ở Trung Đông.[10]

 

Trong cuộc nội chiến hiện nay,nh́n bề ngoài Mỹ dường như không có lợi ích quốc gia ǵ thiết thực và lớn lao ở Libya. Mặt khác, hai cuộc chiến IraqAfghanistan chưa giải quyết xong và đang cầm chân một lực lượng quân sự quan trọng của Mỹ. Điều đó chắc đă khiến Ngũ Giác Đài hết sức cân nhắc trong việc trực tiếp đưa quân vào tham chiến ở một quốc gia có tầm chiến lược thấp như Libya. Bởi v́ việc đó sẽ khiến cho lực lượng dự trữ chiến lược toàn cầu của Mỹ bị dàn mỏng ra, khiến cho khả năng phản ứng cấp thiết đối với những vùng khác trên thế giới sẽ bị thu hẹp một cách đáng ngại. Chưa kể là một khi đă đưa quân vào th́ cuộc chiến tất nhiên sẽ mở rộng, thời gian b́nh định để lập chính quyền mới sẽ kéo dài, tổn phí sẽ lên cao hơn; ngay ở Afghanistan không thôi, đă tốn mất gần 2 tỉ dollars/ tuần. Có lẽ v́ vậy mà Bộ trưởng QP Robert Gates trước đây, khi điều trần trước Quốc Hội, đă khẳng định rằng Mỹ sẽ không đưa bộ binh vào Libya.[11]

 

Tuy nhiên sâu bên trong, Mỹ có những lư do quan trọng để can thiệp vào Libya. Từ mấy mươi năm qua, Libya do Gadhafi lănh đạo là một quốc gia có mức độ tự chủ, độc lập rất cao đối với sự chi phối của các chính phủ Mỹ. Gadhafi, một mặt hoà hoăn với Mỹ, để khỏi tiếp tục bị cấm vận, nhưng mặt khác lại muốn gia tăng quan hệ với Trung Quốc và Nga để duy tŕ tư thế độc lập của ḿnh. Ngược lại phía Trung Quốc và Nga cũng muốn gia tăng ảnh hưởng của ḿnh ở Phi Châu qua sự trung gian của Libya-Gadhafi, một nước đang có uy tín ở Phi Châu. Như vậy rơ ràng dù đă trở lại hoà hoăn với nhau, Mỹ vẫn luôn xem Libya của Gadhafi là cái gai trong mắt cần phải thanh toán bằng biện pháp “regime change”.

 

Động cơ của Pháp trong sự can thiệp vào Libya

 

Sự hăng hái của nước Pháp, một thời là mẫu quốc vĩ đại của một số người An-nam chúng ta, trong việc can thiệp vào Libya lần này, tuy núp dưới danh xưng bảo vệ dân lành Libya, thật ra bắt nguồn v́ những lư do đối nội-đối ngoại sau đây:

 

Về đối nội, không lâu trước khi các cuộc biểu t́nh đ̣i dân chủ bùng phát ở Tunisia khiến tổng thống Ben Ali phải từ chức lánh ra nước ngoài, nữ cựu ngoại trưởng Pháp, bà Michelle Alliot-Marie đă từng hứa sẽ ủng hộ cho chính phủ của Tunisia. Alliot-Marie và cha mẹ của Bà đều có quan hệ doanh thương chặt chẻ với giới thân cận trong chính phủ của Ben Ali, nghĩa là với giới mà người biểu t́nh Tusinian chống đối. Trong khi đó hiện ở Pháp có đến gần 600,000 kiều dân Tunisian và số người này đang rất bất măn đối với cung cách phản ứng của chính phủ Pháp trong vụ Tunisia, và việc giới chức của chính phủ Pháp có quan hệ mật thiết với chính phủ của Ben Ali sẽ càng tạo ra những dư luận bất lợi cho Tổng Thống Pháp Sarkozy là người mà uy tín hiện nay đang giảm sút, mức thăm ḍ dư luận thua khá xa các ứng viên TT khác trong cuộc tranh cử sẽ xảy ra trong hơn một năm sắp đến. Để vớt vát, Sarkozy đă tận dụng cơ hội này để can thiệp ở Libya dưới danh nghĩa bảo vệ dân lành vô tội trong việc đ̣i hỏi dân chủ.

 

Về đối ngoại, th́ lâu nay Sarkozy vẫn thường có thói quen nhảy vào các vấn đề quốc tế để gây uy tín cho bản thân cũng như cho nước Pháp già cỗi. Điển h́nh là vụ Sarkozy, không ai mời, tự nguyện đứng ra làm trung gian giàn xếp một cuộc đ́nh chiến giữa Nga-Georgia năm 2008. Thật ra th́ dù không có sự trung gian của Sarkozy, cuộc đ́nh chiến vẫn diễn ra v́ Nga đă đạt được tất cả những mục tiêu của cuộc chiến là trừng phạt và phá huỷ phần lớn tiềm năng quân sự của Georgia mà không gặp phải một phản ứng đáng kể nào từ Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng tài chánh năm 2008, tại hội nghị G-20, một lần nữa Sarkozy lại “làm nổi” bằng cách đưa ra đề nghị về một hệ thống Bretton Wood Mới! Đề nghị nghe rất kêu, nhưng sức mạnh kinh tế của Pháp khiêm tốn quá so với nhiều cường quốc khác, nên rốt cuộc chẳng ai nghe theo.

Mặt khác, từ sau Thế Chiến Thứ Hai với sự hậu thuẫn của Anh-Mỹ, và do Đức bị chia cắt, Pháp ít nhiều đóng vai tṛ lănh đạo của Châu Âu. Nhưng từ sau khi kết thúc Chiến Tranh Lạnh, vai tṛ đó của Pháp ngày càng lu mờ dần, bị một nước Đức thống nhất hùng mạnh hơn lấn lướt. Điều đó thể hiện rơ rệt nhất trong vụ khủng hoảng nợ nần năm 2009 của các quốc gia Âu Châu.

 

Cùng với việc dùng sức mạnh kinh tế và dự trữ ngoại tệ lớn lao của ḿnh để chuộc Hy-Lạp ra khỏi cảnh phá sản, giúp đỡ tài chánh cho Tây Ban Nha, Băng Đảo và các nước khác của khu vực EURO ra khỏi những khó khăn kinh tế, Đức đă t́m cách gây ảnh hưởng để tái định h́nh các định chế kinh tế-tài chánh của Âu Châu do Pháp thiết lập trước đây, và đă đưa ra nhiều cải cách tài chánh đối với hệ thống ngân hàng Âu Châu. Pháp, do sự yếu kém kinh tế của ḿnh, đành phải chấp nhận các đề nghị của Đức. Đă có lúc giới báo chí quốc tế gán cho Sarkozy là một Merkel’s Yes-man(nghĩa là chỉ biết nói Vâng đối với bà nữ thủ tướng Đức). Điều đó cho thấy uy tín và địa vị của Đức trong Cộng Đồng Âu Châu ngày càng gia tăng, uy hiếp vị trí lănh đạo của Pháp. Liên minh với Anh, dựa vào danh nghĩa của NATO và sự hậu thuẩn của Mỹ, để đi đầu trong việc can thiệp vào Libya là một nước cờ của Sarkozy nhằm vớt vát và củng cố cho thế đứng chính trị quốc tế đang sa sút của nước Pháp.

 

Cũng phải kể đến mối lợi về khai thác dầu hoả mà ảnh hưởng gia tăng ở Libya trong tương lai sẽ mang lại cho các công ty dầu hỏa của Pháp. Hiện nay Pháp tiêu thụ đến 14% sản lượng dầu xuất cảng của Libya. Nhưng dầu vậy công ty dầu hoả Total của Pháp vẫn không có ưu thế ở Libya cho bằng công ty ENI của nước Ư. Ngoài ra, về mặt bán vũ khí th́ từ năm 2004 đến nay Pháp đă bán cho chính phủ Gadhafi của Libya khoảng 500 triệu dollars; nhưng mới năm ngoái, 2010, Ư lại hớt tay trên Pháp bằng việc kư kết được với Libya một hợp đồng mua bán vũ khí trị giá lên đến hơn 1 tỉ dollars! Đây có lẽ lại là một lư do khác khiến Sarkozy của Pháp lại càng mau mắn hơn trong việc đi tiên phong đánh đổ Gadhafi của Libya.

 

Đối với Anh Quốc

 

Chính phủ Anh hiện không có những vấn đề đối nội như Pháp, nhưng Anh đang cùng Pháp dẩn đầu trong việc can thiệp vào Libya v́ Anh có những tính toán quyền lợi riêng của ḿnh. Quyền lợi đó gắn chặt với việc khai thác dầu hoả. Cho đến nay các công ty dầu hoả của Anh, đứng đầu là hảng BP, chưa có phần hùn đáng kể, so với Ư, Pháp.  Công ty BP của Anh mặc dầu đă kư được hợp đồng khai thác dầu hoả trị giá 1 tỉ dollars với Libya hồi năm 2007, và rồi sau đó vào năm 2009 một hợp đồng khác dài hạn hơn với tổng trị giá đến 20 tỉ dollars cũng đă được kư kết, nhưng việc sản xuất dầu của BP ở đó vẫn chưa tiến triển khả quan. Vụ tràn dầu ở giếng dầu Macondo thuộc vùng Vịnh Mexico ở Mỹ của hảng BP đă gây tổng phí tổn lên đến gần 40 tỉ dollars cùng với nhiều tai tiếng về môi trường khiến cho công việc khai thác và sản xuất dầu của hảng này ở Libya bị chậm lại. Mặt khác vụ dầu tràn đó cũng khiến cho hoạt động tương lai của hảng BP ở Mỹ trở nên bấp bênh hơn. Trong t́nh trạng như vậy, việc mở rộng được thị trường vào Libya để thay thế cho thị trường ở Mỹ sẽ là một giải pháp tuyệt vời cho BP; cũng có nghĩa là có lợi cho Anh Quốc, v́ ai cũng biết mối quan hệ ruột thịt giữa hảng BP và chính giới Anh. Nếu Gadhafi bị phe phiến loạn lật đổ, hoặc chí ít Libya bị chia làm hai, với miền Đông có nhiều mơ dầu thuộc quyền kiểm soát của phe phiến loạn, th́ Anh Quốc, và tất nhiên cả BP, sẽ có nhiều cơ hội và ảnh hưởng hơn trong thị trường khai thác và sản xuất dầu hoả ở Lybia. Đó chính là mục tiêu thôi thúc Anh cùng tham gia trong vụ can thiệp này.[12]

 

Cũng xin nhớ rằng Anh-Pháp, đă cùng với Ư, là những đế quốc đă từng có thời, dài ngắn khác nhau, cai trị các lănh thổ của dân Arabs ở Trung Đông, trong đó có vùng Libya ngày nay. Ngày xưa, các cường quốc này đă dùng sức mạnh quân sự và ưu thế kỹ thuật áp đặt chế độ thuộc điạ đối với các lănh thổ đó, khai thác tài nguyên và vắt kiệt nhân lực người bản xứ phục vụ cho sự phát triển kỹ nghệ của ḿnh. Nhưng nay th́ lại tỏ ra nhân đạo tột cùng, lớn tiếng kêu gọi can thiệp để bảo vệ cho những người dân Arabs vô tội được thực thi quyền làm chủ của ḿnh, chống lại ách độc tài của Gadhafi. Hệ thống truyền thông Âu Châu không ngớt kêu gào và lặp đi lặp lại khẩu hiệu v́ dân lành và dân chủ ấy, quên đi rằng số người được họ cho là “ dân lành” đó chẳng “ lành” chút nào, mà chỉ là bọn phiến loạn, được bên ngoài xúi giục và tài trợ. Bởi v́ “dân lành” nào mà lại biết sử dụng thành thạo các loại súng cao xạ tối tân, súng chống chiến xa đắt tiền và hoả tiển mang vai cá nhân? Câu hỏi rất đơn giản là ai đă cung cấp vũ khí cho phe phiến loạn?

 

Chỉ cần nh́n ra cách Libya không xa, là dải Gaza và West Bank, nơi người Palestine đang sống là thấy ngay sự khác biệt. Tại hai nơi đó, người Palestine dù đă trải qua mấy mươi năm kháng cự, chưa bao giờ họ có được những loại vũ khí tối tân như nhóm phiến quân Libya hiện nay đang dùng. Chính quyền Do Thái, với sự ngấm ngầm tán trợ của các cường quốc, và sự bất lực của Liên Hiệp Quốc, đă phong toả mọi sự vận chuyển vũ khí vào hai vùng đất đó, đẩy người Palestine vào tư thế defenless để dễ bề đàn áp. Có ǵ khác nhau giữa hai trường hợp? Có ǵ khác nhau giữa nguyện vọng tự quyết của người Palestine và quyền tự trị của đám phiến loạn ở Đông Libya?

 

Ngoài các cường quốc nêu trên, những quốc gia trong Vùng trực tiếp dính líu vào cuộc nội chiến Libya là  Ai Cập và Arab Saudi, hai đồng minh thân cận của Mỹ.Theo Stratfor th́ ngay từ hồi đầu tháng Hai, chính phủ Ai Cập đă âm thầm cùng với Saudi Arabia cung cấp tài chánh, thuốc men và vũ khí cho phe phiến loạn ở phiá Đông Libya. Động cơ của Ai Cập trong công việc này rất dễ thấy. Trước hết, Libya là một thị trường rất tốt cho sự thặng dư lao động rẽ tiền của Ai Cập. Theo ước tính của chính phủ Ai Cập th́ có đến chừng 1.5 triệu người Ai Cập qua làm việc ở Libya, cung ứng lượng tiền gởi về gia đ́nh khoảng 250 triệu dollars/ năm. Những năm sau này Gadhafi t́m cách hạn chế người lao động Ai Cập vào Libya và việc đó khiến chính phủ Ai Cập rất bất b́nh. Kế đến, phần lớn sản lượng dầu hoả của Libya lại tập trung ở miền Đông, giáp giới với Ai Cập, v́ vậy từ lâu Ai Cập luôn nổ lực để tăng cường ảnh hưởng lên vùng này; một chính phủ Libya mới thuộc quyền kiểm soát của người Đông Libya tất nhiên là có lợi cho  Ai Cập.

 

Với những lư do vừa nêu, Ai Cập sẽ ngay lập tức can thiệp vào Libya một khi được siêu cường bật đèn xanh. Đó là lời giải đáp cho việc Ai Cập bí mật hậu thuẩn cho phe phiến loạn và giúp giải thích do đâu mà phe này lại vũ khí tối tân với số lượng dồi dào như vậy.[13]

 

Những động cơ khác của sự can thiệp

 

Các quan hệ đối ngoại của chính phủ Gadhafi ở  Phi Châu là một động cơ khác, và có lẽ là động cơ thầm kín nhưng quan trọng nhất, thúc đẩy các cường quốc Tây Phương, nhân khi thời cơ thuận lợi, t́m cách can thiệp vào Libya, loại trừ Gadhafi.

 

Trước đây châu Á và châu Phi là hai lục địa bị chủ nghĩa thực dân của các đế quốc Tây Phương dày xéo và bóc lột tàn tệ. Kể từ sau Đệ Nhị TC, song song với sự thoái trào của chủ nghĩa thực dân, các quốc gia trong hai châu này lần lượt giành lại được sự độc lập của ḿnh.Tuy vậy sự độc lập thật sự và mức độ phát triển kinh tế của hai Châu không giống nhau. Một cách tổng quát th́ cho đến nay Á Châu tương đối phát triển hơn và phần nào nền kinh tế ít bị chi phối bởi các cường quốc hơn. Trong khi đó th́ Châu Phi vẫn c̣n là châu kém phát triển và lạc hậu hơn cả. Và tuy lạc hậu, nhưng do tài nguyên vô cùng phong phú và lao động dồi dào, Châu Phi đă và đang trở thành thị trường béo bở cho sự khai thác của các cường quốc. Ngoài Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ư là những cường quốc đă thâm nhập vào châu Phi từ lâu, những thập kỷ sau này c̣n có thêm Trung Quốc nhảy vào. Sự cạnh tranh kinh tế, và  cùng với nó là ảnh hưởng chính trị, giữa các cường quốc này tại Phi Châu ngày càng gia tăng.

 

Điều đáng quan tâm là tuy tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào, và đă độc lập hơn nửa thế kỷ, châu Phi vẫn lạc hậu về mọi mặt, vẫn nghèo nhất thế giới, nạn đói vẫn hoành hành, bệnh tật lan tràn, nội chiến liên miên và chia năm xẻ bảy. T́nh trạng này là mối ưu tư lớn của giới lănh đạo các quốc gia châu Phi. Gadhafi là một trong số những nhà lănh đạo ấy. Từ khoảng hơn 20 năm trở lại đây, Libya tuy chỉ là một quốc gia nhỏ, nhưng đă có những đóng góp đáng kể vào nổ lực đoàn kết và phát triển Phi Châu. Chính phủ Gadhafi đă tích cực theo đuổi một chính sách kết hợp toàn Châu Phi (foreign policy of Pan-African integration) [14] trong nhiều năm.

 

Theo Stratfor Global Intelligence th́ về mặt kinh tế, thông qua cơ quan Libyan Investment Authority (LIA), một sovereign wealth fund, và các ngân hàng trực thuộc của cơ quan này, Libya đă mở rộng sự đầu tư vào ít nhất là 31 quốc gia trên toàn Phi Châu với tổng số vốn tới 65 tỉ dollars. Mức đầu tư trung b́nh lên hàng trăm triệu dollars cho mỗi công tŕnh. Chẳng hạn như công ty viễn thông Zamtel ở Zambia với số vốn đầu tư lên gần 400 triệu dollars; hoặc đầu tư về hệ thống dẩn và chứa dầu ở Congo lên đến hơn 300 triệu dollars.

 

Một trường hợp được dư luận quốc tế nhắc đến nhiều là việc Libya đă giúp phát triển hệ thống thông tin bằng vệ tinh ở Phi Châu. Số là trước đó vào đầu thập niên 1990, khi 45 quốc gia ở Châu Phi họp lại, thành lập RASCOM (Regional African Satellite Communication Organisation) dự trù để điều hành mạng liên lạc vô tuyến qua vệ tinh cho toàn lục điạ. Trở ngại mà RASCOM gặp phải là vốn. Hàng năm RASCOM phải chi trả 500 triệu dollars để thuê vệ tinh viễn thông của Âu Châu( như của hảng Intelsat chẳng hạn). Trong khi đó chỉ cần chừng 400 triệu dollars là đủ để mua một vệ tinh viễn thông như vậy. Đă nhiều năm RASCOM xin vay IMF để mua vệ tinh riêng, nhưng không có kết quả. Cũng không một ngân hàng Âu-Mỹ nào khác sẳn sàng tài trợ cho dự án đó của RASCOM. Cuối cùng vào năm 2007, LIA của Libya đă bỏ ra 300 triệu dollars, African Development Bank và West African Development Bank thêm vào mỗi bank 50 triệu, vậy là lần đầu tiên các nước Châu Phi có riêng vệ tinh phục vụ cho nhu cầu viễn thông của ḿnh, không phải mất 500 triệu dollars tiền thuê vệ tinh phải trả mỗi năm. Sau đó, đến năm 2010, với sự giúp đỡ của Nga và Trung Quốc, RASCOM của Châu Phi đă phóng thêm được một vệ tinh viễn thông khác. Có điều cũng từ đó các công ty viễn thông Âu Châu mất đi mối lợi và chắc chắn các chính phủ Âu Châu không thể quên điều đó.

 

Với nguồn tài chánh dồi dào thu được từ dầu hỏa, Libya cũng đă đóng vai tṛ không nhỏ trong việc h́nh thành các ngân hàng quan trọng của Châu Phi. Trước hết Libya Central Bank đă giúp h́nh thành African Monetary Fund (AMF), có trụ sở ở Cameroon; African Investment Bank (AIB), trụ sở ở Libya; và African Central Bank (ACB), đặt ở Nigeria. Ba banks này được xem là trụ cột tài chánh cho một Liên Đoàn Phi Châu (African Federation) trong tương lai, và được dự trù sẽ phát hành đồng tiền riêng cho  Châu Phi, thay thế dần đồng tiền CFA franc (Colonies Francaises d’Afrique/Communauté Financière Africaine) đă ngự trị hơn 50 năm qua. Afrcian Monetary Fund (AMF) có tham vọng sẽ thay thế International Monetary Fund (IMF) (Quỹ Tiền Tệ Quốc tế) nhằm giúp các quốc gia Châu Phi thoát khỏi những điều kiện khắt khe nổi tiếng (conditionality) của Quỹ này. Cử chỉ tượng trưng đầu tiên của AMF là vào tháng 12/2010 ngân hàng này từ chối đơn xin tham gia của các quốc gia Tây Phương với lư do là Ngân hàng chỉ dành cho các quốc gia Châu Phi.[15]

 

Libya của chính phủ Gadhafi cũng đă góp phần làm thất bại nỗ lực của các quốc gia Âu Châu, đứng đầu là Pháp của Sarkozy, trong việc thành lập Liên Hiệp Địa Trung Hải (Union for the Mediterranean, UPM) gồm Bắc Phi và 27 nước Âu Châu với thâm ư gây phân hoá lục địa đen này. Tuy được mời tham gia UPM, v́ Libya cũng thuộc Bắc Phi, Gadhafi đă từ chối. Do Libya từ chối tham gia, UPM mất luôn sự hưởng ứng của African Federation và cuối cùng không thành h́nh được.

 

Cuối cùng, cũng theo Stratfor th́ song song với ảnh hưởng tài chánh, chính phủ Gadhafi cũng đă tạo được những ảnh hưởng chính trị rất quan trọng trong cộng đồng các quốc gia Châu Phi. Ảnh hưởng đó lan rộng từ Sudan, Niger, Chad, Mali, Mauritania, Congo, Kenya, Zimbabwe, v.v…và cả Nam Phi.

 

Lănh tụ nổi tiếng  và rất có uy tín ở Nam Phi, ông Nelson Mandela, cũng có quan hệ rất thân thiện và hết ḷng ủng hộ Gadhafi.

 

Có điều rằng vai tṛ và những ảnh hưởng quan trọng về kinh tế-chính trị của chính phủ Gadhafi đối với Châu Phi lại là trở lực cho tham vọng của các cường quốc Tây Phương ở lục địa này, và đây mới chính là lư do thầm kín của sự can thiệp mang tính chất quốc tế hiện nay ở Libya.

 

Sự đối kháng của bản thân Gadhafi đối với các cường quốc không những chỉ ở Châu Phi mà c̣n ở cả phạm vi thế giới. Tháng Chín năm 2009 trên diễn đàn của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, trong bài diễn văn khá dài của ḿnh đọc trước đại diện của 191quốc gia, Gadhafi đă phân tích t́nh h́nh quốc tế, lớn tiếng chỉ trích những bất b́nh đẳng trong trật tự quốc tế cũng như sự vi phạm đối với bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Một trong những công kích của Gadhafi là quyền Phủ quyết (veto) của các thành viên trong Hội Đồng Bảo An LHQ. Ông cho rằng quyền đó trái với tinh thần của Hiến Chương và nên được huỷ bỏ. Gadhafi cũng cho rằng Hội Đồng Bảo An đă không cung cấp an ninh cho thế giới mà trên thực tế chỉ khủng bố và cấm vận các quốc gia thành viên, và rằng bằng cớ là suốt 60 năm tồn tại của LHQ đă có đến 65 cuộc chiến tranh lớn nhỏ xảy ra trên khắp thế giới![16] Với giọng điệu đó th́ rơ ràng ông Gadhafi đă… vuốt râu cọp! Có lẽ chính v́ bài diễn văn đó mà Nghị Quyết 1973 đă được Hội Đồng BA/LHQ thông qua mà không ai phủ quyết hết chăng?

 

Phe nổi dậy là những ai?

 

Phe nổi dậy không phải là một khối thống nhất. Cái chung nhất mà họ có đối với nhau là chống lại sự cầm quyền của Gadahfi và các con ông ta. Có một bộ phận chống đối tự phát, không được tổ chức chặt chẻ, gồm những người dân thường chống lại tính chất độc đoán của chế độ và sự thối nát của các viên chức chính phủ. Một số khác chống lại Gadhafi do những tranh chấp bộ lạc đă có từ lâu; trong số này có cả những viên chức cao cấp trong chính phủ của Gadhafi, nay ly khai và muốn làm đảo chánh. Phần đông số viên chức này cũng thuộc loại tham ô thối nát và không có sự hậu thuẩn của dân. Những nhân vật được biết đến nhiều trong phe đối kháng là Mustafa Abdul Jalil,  Aref Sharif và Al-Yunnis đều đă là những bộ trưởng trong chính phủ của Gadhafi. Một nhân vật khác là Abdel Moneim Al-Honi, cựu đặc sứ của Libya trong Liên Đoàn Ả rập ở Cairo. Al-Honi từng cùng tham gia đảo chánh năm 1969 với Gadhafi, nhưng sau đó ông ta âm mưu lật đổ Gadhafi và thất bại phải trốn ra ngoại quốc, đến năm 1990 được Gadhafi ân xá cho trở về Libya, nay lại chạy qua Benghazi theo phe đối kháng. Các viên chức này đều không được sự ủng hộ của đông đảo dân chúng.

 

Nhóm chống đối quan trọng nhất là những thành phần Hồi giáo cực đoan và những chính khách bảo hoàng lâu nay đang lưu vong ở ngoại quốc, nay được ngấm ngầm đưa vào Libya qua ngă Ai Cập. Nổi bật trong nhóm có hậu thuẩn từ bên ngoài này là vài tổ chức sau:

 

National Front for the Salvation of Libya, FNSL: Đây là một tổ chức do Mỹ và Israel huấn luyện từ những thập niên 1980s, gồm chừng 2000 người Libyan, có căn cứ ở Chad. Saudi Arabia cũng đă từng cho tổ chức này 2.7 triệu dollars trợ cấp. T́nh báo của Pháp cũng đă bí mật giúp huấn luyện tổ chức này. Cùng phối hợp với FNSL c̣n có một tổ chức gọi là National Conference for the Libyan Opposition, NCLO), có trụ sở ở Anh Quốc.

 

Quan trọng nhất là tổ chức Libyan Islamic Fighting Group (LIFG): Đây là nhóm Hồi Giáo cực đoan, rất gần gũi với các nhóm Al-Qaeda, là nguồn cung cấp nhân lực thâm nhập vào Iraq trong những năm qua để chống lại quân Mỹ ở đó. Các thành viên của nhóm LIFG này đă bị Gadhafi trấn áp, bắt bớ, giam cầm trong suốt nhiều năm qua. Mới đây, do nổ lực hoà giải của các con trai Gadhafi, hàng trăm thành viên của nhóm đă được phóng thích ra khỏi các nhà tù sau nhiều năm bị giam cầm.

 

Một điểm khác đáng chú ư khi bàn về thành phành của phe phiến loạn là các hồ sơ lưu trữ cho thấy rằng hai thành phố Darnah và Benghazi, căn cứ địa của phe này, cũng là căn cứ điạ của các nhóm Hồi Giáo cực đoan, từng có nhiều thành tích đối kháng vũ trang với chính quyền Gadhafi, là nơi xuất phát của những nhóm cảm tử quân xâm nhập vào Iraq, qua ngă Syria và Egypt, để tấn công quân đội Mỹ.[17]

 

Khía cạnh pháp lư

 

Theo đề  nghị của Anh, Pháp và Lebanon, ngày 17/3/2011, Hội Đồng Bảo An LHQ đă xét và thông qua Nghi Quyết 1973 về t́nh h́nh ở Libya. Có 10 phiếu thuận, không phiếu chống, và có 5 thành viên không bỏ phiếu(abstention). Trong số 10 phiếu thuận th́ có 3 là thành viên thường trực: Mỹ, Anh và Pháp. Trong 5 thành viên không bỏ phiếu th́ có 2 thành viên thường trực là Nga và Trung Quốc.

 

Nghị quyết nhận định rằng t́nh h́nh Libya đă trở thành mối mối đe doạ đối với an ninh và hoà b́nh thế giới(Determining that the situation in the Libyan Arab Jamahiriya continues to constitute a threat to international peace and security).Nhận định đó được viết ra để cho phù hợp với quy định trong Chương Bảy của Hiến Chương LHQ liên quan đến các biện pháp quân sự, hoặc không quân sự, mà Hội Đồng Bảo An LHQ (HĐBA) được quyền uỷ quyết (mandate) để áp dụng đối với những  hành vi của một quốc gia đe doạ  hay phá vỡ hoà b́nh và an ninh quốc tế, hoặc các hành động xâm lăng của một quốc gia đối với một quốc gia thành viên.[18]

 

Với nhận định trên, Nghị Quyết đề ra những biện pháp cần thiết để bảo vệ thường dân (necessary meassures to protect civilians), thiết lập No-fly zone trên toàn lănh thổ Libya, phong toả tích sản của chính quyền Libya và của gia đ́nh Gadhafi ở hải ngoại, cấm vận vũ khí, hạn chế sự đi lại của nhiều viên chức cao cấp của chính phủ Liyba, và yêu cầu ngưng bắn.

 

Rơ ràng Nghị Quyết 1973 là một sự vi phạm ngay đối với Hiến Chương của LHQ, bởi v́ trên thực tế,  chính quyền Libya của Gadhafi đă không có hành động ǵ được xem là đe doạ đến hoà b́nh và an ninh thế giới, cũng không hề xăm lăng ai cả. Việc chính phủ Gadhafi trấn áp bạo loạn có vũ trang trên lănh thổ Libya của ḿnh chỉ là sự thực thi nhiệm vụ hợp pháp, căn bản và thông thường của một chính quyền, ở một quốc gia có chủ quyền và là thành viên LHQ, để duy tŕ trật tự và ổn định xă hội trong phạm vi lănh thổ trách nhiệm, và đó là công việc nội bộ của Libya.

 

Một khiá cạnh khác là về vấn đề THƯỜNG DÂN (civilians). Theo định nghĩa của luật quốc tế th́ thường dân là một người không không thuộc về các tổ chức quân sự, chính quyền, không được vũ trang, và cũng không phải là dân quân (militia). Ư nghĩa chính của chữ civilian là không chiến đấu (non-combatants). Theo định nghĩa đó th́ số người Libyan được vũ trang bằng đủ loại vũ khí tối tân đang đánh nhau với quân chính phủ Gadhafi không thể được xem là thường dân; mà đúng ra phải gọi họ là phiến quân. Nhưng hiển nhiên là việc thiết lập No-Fly zone của Nghị Quyết đă được dùng để bảo vệ những thành phần phiến quân đó, hơn là bảo vệ thường dân.

 

Ngoài ra cần nhận ra sự mâu thuẩn của Nghị Quyết khi đề ra No-Fly zone để bảo vệ Thường Dân.

 

Mới nghe qua th́ rất hấp dẫn và nhân đạo. Nhưng xét kỹ th́ trên thực tế rất khó để thực hiện một lúc hai công tác đó: vừa bảo đảm không một phi cơ nào của phe Gadhafi bay trên vùng trời vừa bảo vệ được thường dân khỏi bị thiệt mạng. Trước hết để áp đặt được no-fly zone, một việc phải làm là cần phải triệt hạ hết toàn bộ hệ thống pḥng không gồm các dàn radars và hoả tiển địa không được các dàn radars đó hướng dẩn. Để thực hiện được điều đó cần có nguồn tin t́nh báo chính xác về vị trí của hệ thống pḥng không; đó không phải là việc dễ dàng. Thông thường các máy bay do thám AWACS dựa vào các tín hiệu phát ra của các dàn radars để xác định toạ độ của chúng, và lập tức gọi phi cơ oanh kích để tiêu diệt dàn radar. Đó là một chuỗi công việc xảy ra liên tục với độ phối hợp cao, nhanh chóng và tức thời. Nhưng máy bay AWACS khi xác định vị trí của các dàn radars pḥng không của đối phương không có khả năng để biết là dàn radars có nằm lẫn trong khu dân cư. Điều đó có nghĩa rằng việc không kích hệ thống pḥng không đối phương để thực hiện vùng no-fly zone không làm sao tránh khỏi việc giết hại dân thường. Nói cách khác, trên thực tế, hai nhiệm vụ thực hiện vùng no-fly zone và bảo vệ dân thường không thể nào tương dung với nhau được, có chăng chỉ là những tuyên truyền để che mắt công luận mà thôi. Bằng cớ là phe phiến loạn đă thừa nhận nhiều lần rằng ngay thường dân trong vùng kiểm soát của họ cũng đă bị thương vong do các cuộc oanh kích của liên quân NATO. Tất nhiên tổn thất nhân mạng của thường dân xảy ra sẽ khiến cho Nghị Quyết của LHQ mất đi tính chính đáng của nó.

 

Một khía cạnh khác là Nghị Quyết đă vi phạm một điều khoản khác trong Hiến Chương. Chương I, Điều 2, khoản 7 của Hiến Chương quy định rằng sẽ không có điều nào trong Hiến Chương trao quyền cho LHQ để can thiệp vào những vấn đề thuộc thẩm quyền tài phán đối nội của bất cứ quốc gia nào.(Nothing contained in the present Charter shall authorize the United Nations to intervene in matters which are essentially within the domestic jurisdiction of any state).[19] Việc bảo vệ trị an, chống lại bạo loạn của chính phủ Libya rơ ràng là thuộc về thẩm quyền tài phán đối nội đó. Chắc chắn là không có một chính phủ của một quốc gia nào trên thế giới lại không dùng quân đội để dẹp những phần tử nổi loạn có vũ khí cả.

 

Bản thân Nghị Quyết cũng đă bị ngay các cường quốc thực thi Nghị Quyết đó vi phạm. Đó là trong khi chính phủ Gadhafi chấp hành lời kêu gọi ngưng bắn của Nghị Quyết th́ các lực lượng nổi loạn và không lực Anh-Pháp đă không hưởng ứng. Việc cấm vận vũ khí do Nghị Quyết quy định cũng đă không được các cường quốc và đồng minh của họ tuân hành. Nhiều nguồn tin đă khẳng định rằng một số lực lượng đặc biệt của Anh-Pháp đă đổ bộ vào Libya để giúp quân phiến loạn cả về huấn luyện lẫn tham gia chiến đấu, và một số lớn vũ khí từ bên ngoài đă được chuyển vào cho phe đó qua ngả Ai Cập với sự mặc nhiên đồng thuận của các cường quốc.

 

Tóm lại, xét về mặt pháp lư, sự can thiệp của Anh, Pháp, Mỹ và khối NATO vào cuộc nội chiến ở Libya, núp dưới danh nghĩa của HĐBA/LHQ, thông qua Nghị Quyết 1973, là không phù hợp hoàn toàn với quy định của Hiến Chương LHQ, xâm phạm đến nguyên tắc chủ quyền quốc gia, tạo thành một tiền lệ xấu trong công pháp quốc tế, và gây tổn hại cho trật tự hiện thời của thế giới. Vắn tắt th́ các cường quốc đă xúi giục, tài trợ và trang bị cho kẻ phiến loạn để từ đó có cớ can thiệp vào nội bộ của một chính quyền hợp pháp và vi phạm chủ quyền của một quốc gia thành viên LHQ. Không những thế, bằng việc dùng bom t́m giết Gadhafi và thân nhân ông ta, các cường quốc được uỷ nhiệm thực hiện Nghị Quyết 1973 của LHQ đă công khai tiến hành việc ám sát nguyên thủ của một quốc gia thành viên, người mà mới trước đó vào ngày 23/9/ 2009 đă tham dự và đọc diễn văn tại phiên họp Đại Hội Đồng LHQ có sự tham dự của 191 nguyên thủ quốc gia khác trên toàn thế giới . Rơ ràng đó là một việc làm phi pháp và thô bạo, hoàn toàn trái với mọi công ước và tập tục trong bang giao quốc tế có hiệu lực từ trước đến nay.

 

Kết luận

 

Gọi là nh́n từ góc độ khác, bởi v́ ngoài kia, trên các hệ thống truyền thông chính thức của cả Mỹ lẫn Việt ở hải ngoại, thông tin và b́nh luận về t́nh trạng ở Libya có vẻ như thuận theo một chiều hướng nhất định, dưới ảnh hưởng áp đảo của một phía, cho rằng những biến động hiện nay ở Libya là nằm chung trong phong trào vùng lên đ̣i dân chủ của  quần chúng Ả rập, là “Cách mạng Hoa Lài“, đang lan rộng ở Bắc Phi và Trung Đông, rằng chính phủ Gadhafi là một chế độ độc tài và là một bạo chúa đang đến ngày tàn, và rằng Hội Đồng Bảo An LHQ, v́ mục đích cao cả là bảo vệ những thường dân (civilians) cùng đ̣i hỏi dân chủ chính đáng của họ, đă ra nghị quyết, uỷ nhiệm cho các cường quốc Anh, Pháp, Mỹ thực hiện những biện pháp cần thiết đối với chính phủ Gadhafi.

 

Luồng dư luận chính thức trên đây bề ngoài có vẻ hợp t́nh, hợp lư và khả tin; nhất là khi chúng ta chỉ quen được nghe bởi một phía. Nhưng nếu suy ngẫm kỹ dựa ngay chính trên những thông tin nhận được, rồi đem đối chiếu, một cách sáng suốt và tỉnh táo, với kiến thức thông thường về các mặt, với lịch sử của những biến cố tương tự nói riêng và lịch sử chính trị quốc tế hiện đại nói chung, với t́nh h́nh kinh tế-chính trị của khu vực và của thế giới, th́ một người với tri thức trung b́nh không khỏi có những hoài nghi nảy sinh trong đầu đối với luồng dư luận chính thức đó, và bắt đầu t́m cách nhận định sự kiện từ một góc độ khác.

 

Chẳng hạn về kiến thức thông thường th́, như đă đề cập đến ở phần trước, thường dân là những kẻ không chiến đấu (non-combatants). Vậy nhưng sao trên TV th́ thấy những người biểu t́nh chống lại Gadhafi, những người mà Nghị Quyết LHQ quyết tâm bảo vệ, th́ toàn là những người được trang bị tận răng, với vũ khí tối tân, e rằng c̣n tối tân hơn của QLVNCH trước đây? Cũng xét theo lư lẽ thường t́nh th́ trước đây Ư, Anh và Pháp đều đă từng xâm chiếm, biến Libya và nhiều nước Ả rập khác thành thuộc điạ, bóc lột tàn tệ  và đàn áp người dân ở đó trong hàng thế kỷ, nay sao cũng các cường quốc đó, v́ phép lạ trời ban nào, bổng dưng trở nên nhân ái, quan tâm đến sự an nguy của người Libya và các dân Ả-rập khác nhiều đến vậy, đến mức trong lúc kinh tế của các cường quốc đó đang hồi khó khăn, hàng triệu người dân của họ đang thất nghiệp nhưng không có đủ trợ cấp thất nghiệp, mà vẫn sẳn sàng tiêu tốn hàng trăm triệu dollars cho số bom đạn ném xuống, gọi là để bảo vệ thường dân Libyan?

 

C̣n về lịch sử th́ có nhiều những trường hợp tương tự. Điển h́nh nhất là vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc mùa hè năm 1989. Trong vụ đó hàng chục ngàn sinh viên tay không tấc sắt bị nghiền nát dưới xích xe tanks, nhăn tiền trước mắt toàn thế giới, vậy nhưng sao hồi đó HĐBA của LHQ và những cường quốc của khối NATO lại chẳng có lấy một nghị quyết nào về ” all necessary measures to protect civilians“, về no-fly zone,  hay về freezing assets, v.v… áp dụng cho TQ? Trái lại, Mỹ vào lúc ấy tuy bề ngoài cũng theo Ấu Châu cấm vận TQ, nhưng chỉ 3 tuần sau biến cố, một cách bí mật TT Bush (senior) đă gởi một phái đoàn do Cố Vấn ANQG Brent Scowcroft và Thứ Trưởng Eagleburger qua Bắc Kinh để… trấn an![20]

 

Trường hợp khác, cũng đáng chú ư, là vụ Indonesia cho quân đội, trang bị bằng vũ khí của Mỹ, xâm chiếm và tàn sát Đông Timore năm 1975, giết đến gần 200,000 thường dân (1/3 tổng số dân trên Đảo). Với vụ này th́ HĐBA của LHQ cũng… im re!

 

C̣n nhiều trường hợp tương tự nữa, không thể kể hết, nhưng có lẽ gần nhất, cùng trong luồng gió của “Cách mạng Hoa Lài” là trường hợp Bahrain, một tiểu quốc nằm sát Saudi Arabia. Ở đó trong suốt thời gian qua chính phủ đă cho quân đội bắn giết hàng trăm người biểu t́nh tay không vũ khí. Vương quốc Saudi Arabia, một đồng minh của Mỹ, c̣n gởi quân để giúp thêm trong việc đàn áp đó nữa. Vậy nhưng HĐBA của LHQ cũng đă…làm ngơ, và giới truyền thông Mỹ th́ không đả động bao nhiêu!

 

Những so sánh các trường hợp tương tự như trên với trường hợp của Libya, cùng với những t́m hiểu về các chính sách đối nội của chính phủ Gadhafi, mối quan hệ đối ngoại và vai tṛ của chính phủ ấy đối với Châu Phi trong những thập niên gần đây, và sau cùng là t́nh h́nh hiện nay của trật tự thế giới, đă thôi thúc việc t́m nh́n về biến động ở Libya dưới góc độ khác, với một nhận định đơn giản, nhưng thật hơn, rằng các cường quốc, đứng đầu là Mỹ, do nhu cầu chiến lược, xuất phát từ quyền lợi quốc gia của ḿnh, đă tận dụng làn sóng đ̣i dân chủ của dân Ả-rập, khai thác nhược điểm của chế độ Gadhafi và của xă hội Libya, giúp dựng lên và yểm trợ cho lực lượng phiến loạn, tạo ra bất ổn ở Libya để có cớ can thiệp núp dưới danh nghĩa của LHQ, nhằm hoặc tối đa là lật đổ Gadhafi, lập một chính phủ mới, hoặc tối thiểu cũng phân chia được Libya, làm suy yếu nước này và chế độ Gadhafi; một chế độ không c̣n phù hợp với trật tự thế giới mới ở trong Vùng và đang có những chính sách đi ngược với quyền lợi của siêu cường.

 

Điểm căn bản của nhận định vừa nêu là nổ lực tiếp cận sự thật dựa vào nguyên tắc chính trị quyền lực (power politics), theo đó th́ quan hệ quốc tế của các quốc gia trên thế giới chỉ đặt trên một nền tảng duy nhất; đó là quyền lợi quốc gia (national interests); mọi quốc gia đều t́m cách thâu đạt và phát huy tối đa quyền lực của ḿnh để phục vụ cho quyền lợi đó. Những giá trị khác: nhân quyền, dân chủ, nhân đạo, pháp lư, v.v… chỉ hoặc là chiêu bài tuyên truyền, hoặc là lợi khí sử dụng, không hơn không kém. Trên đấu trường chính trị quốc tế, các chính khách không có được những lựa chọn mang tính đạo đức để hoàn toàn bị chi phối bởi những giá trị vừa nêu. Trong một lần phỏng vấn khi đề cập đến Toà Án H́nh sự Quốc tế (International Criminal Court, ICC) và vấn đề Universal Jurisdiction, ông Henry Kissinger đă nói: “ The average person thinks that morality can be applied as directedly to the conducts of the states to each other as it can to the human relations. That is not for all the cases, because sometime statemen have to choose among evils.[21] Có thể hiểu là chính khách nói chung (cũng như chính phủ Mỹ nói riêng) không phải là người b́nh thường(average persons), mà là những biệt lệ (exceptionalists), và đạo đức không áp dụng được trực tiếp cho mối quan hệ giữa các quốc gia như thường được áp dụng cho các mối quan hệ nhân sinh giữa cá nhân với nhau! Thiết nghĩ đó là một câu nói đáng suy ngẫm, tiêu biểu nhất cho quan điểm  chính trị Quyền lực (power politics) trong quan hệ quốc tế, rất thích hợp đem dùng để nh́n về cuộc nội chiến hiện nay ở Libya.

 

California 20/9/2011

 

Trương Đ́nh Trung, ĐCV, 20/9/2011

NDVN, 26/9/2011



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend