TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THIÊN CHÚA ĐANG ĐƯỢC ĐỘNG VIÊN TRONG CUỘC THÁNH CHIẾN TẠI TRUNG ĐÔNG


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

  

 

THIÊN CHÚA ĐANG ĐƯỢC ĐỘNG VIÊN

TRONG CUỘC THÁNH CHIẾN TẠI TRUNG ĐÔNG

 

 

    Về phương diện địa lư, Trung Đông c̣n được gọi là Cận Đông (Near East/ Middle East) bao gồm một dải đất chạy dài từ phần Á châu của Thổ-nhĩ-kỳ đến các nước Bắc Phi và Ai-cập.

 

    Về chủng tộc, Trung Đông gồm có những giống dân Do-thái, Ả-rập, Ba-tư, Thổ-nhĩ-kỳ, Kurds, Armenians và Berbers.

 

    Về tôn giáo, Hồi giáo chiếm 90% dân số Trung Đông, tức khoảng 300 triệu tín đồ hoặc 1/4 tổng số tín đồ trên toàn thế giới. Số c̣n lại là tín đồ Do thái giáo và Ki tô giáo.

 

    Từ đầu thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhiều nước Trung Đông bị Anh và Pháp cai trị bóc lột. Hoa Kỳ không có một thuộc địa nào tại Trung Đông, nhưng đă có mặt tại Saudi Arabia từ đầu thế kỷ 20 để khai thác dầu lửa. Thiên nhiên đă đem đến cho Saudi Arabia một món quà tặng khổng lồ, đó là trữ lượng dầu mỏ lớn bằng 1/4 trử lượng dầu trên toàn thế giới. Sự có mặt của Hoa Kỳ tại Saudi Arabia không phải là quân đội mà là các công ty khoan dầu trên căn bản hợp tác hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên, người Hồi giáo Ả-rập đă nh́n người Mỹ qua lăng kính khắt khe của Hồi giáo. Lối sống tự do phóng túng của người Mỹ đă làm cho những người Hồi giáo bảo thủ khó chịu v́ nó đi ngược lại với lối sống khép kín của xă hội đạo Hồi. Không cần phải làm điều ǵ xâm phạm đến xă hội Hồi giáo, chỉ riêng sự có mặt của những tư nhân Mỹ tại Saudi Arabia cũng đủ là “sự gieo rắc chất độc văn hóa tây phương” (Westoxification) có tác dụng phá hoại nền tảng luân lư xă hội và gia đ́nh Hồi giáo.

 

    Xét về phương diện địa thế, Trung Đông được chia ra làm ba khu vực rơ rệt :

 

    1. Khu vực Bắc Phi: Các nước ở phía bắc của Châu Phi Da Đen (Black Africa) gồm có Maroc, Tunisia, Algeria, Lybia và Ai-cập. Đại đa số dân tộc sống ở vùng này là những người da trắng gốc Địa Trung Hải.

 

    2. Khu vực Cao Nguyên: Các nước ở vùng này được gọi chung là “các nước ở vùng cao” (Levantine countries) gồm có Syria, Palestine, Israel, JordanIraq.

 

    3. Các nước vùng Vịnh (Gulf countries) là các nước ở sát Vịnh Ba Tư, gồm có Ba Tư (Iran), Kuwait, Quatar, Saudi Arabia, Yemen, Oman, United Arab Emerald và Baharain.

 

    Về phương diện văn minh và văn hóa, toàn vùng Trung Đông đă đạt tới đỉnh cao của sự phát triển từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 13. Lịch sử thế giới đă gọi những thế kỷ này là Thời đại Hoàng kim (The Golden Age) của những người Hồi giáo Trung Đông. Vào thời đó, những người Ả-rập rất ham chuộng nền văn hóa Hy Lạp và chú trọng đến việc nghiên cứu toán học, thiên văn và khoa học thực nghiệm. Họ đă thực hành lời dạy của Muhammad trong kinh Koran : “Ai bỏ nhà đi t́m sự hiểu biết là đi đúng con đường của Chúa. Lạy Chúa! Xin Ngài hăy ban thêm sự hiểu biết cho con”.

 

    (He Who leaves the home in search of knowledge is walking in the way of God. Oh my Lord! increase me knowledge. Koran 20:114)

 

    Đầu thế kỷ 8, Baghdad (thủ đô Iraq) xây dựng trường Đại học đầu tiên trên thế giới. Họ gọi là “căn nhà của sự khôn ngoan” (House of wisdom). Baghdad trở thành một trung tâm văn hoá lớn nhất thế giới.

Năm 800, các tác phẩm của Aristote và Plato đều được dịch sang tiếng Arabic và được phổ biến trong toàn vùng Trung Đông.

 

    Đến giữa thế kỷ 9, các sách y khoa của Hy Lạp được dịch sang tiếng Arabic. Cuối thế kỷ 9 rất nhiều sách dịch về khoa thiên văn và địa lư được phổ biến tại Trung Đông.

 

    Do các kiến thức học hỏi được từ Hy Lạp, người Ả-rập Hồi giáo đă phát minh ra máy Astrolable dùng để đo độ cao của các thiên thể. Họ biến chế máy Astrolable thành một thứ địa bàn để các tín đồ Hồi giáo dù ở bất cứ một nơi nào trên thế giới cũng t́m được hướng Mecca để quay mặt về thánh địa khi cầu nguyện. Tại thánh địa Mecca có đền thờ Ka’aba, tiếng Ả-rập có nghĩa là “Nhà của Chúa” (House of God). Người Ả-rập tin rằng ngôi nhà của Chúa đă được xây dựng lần đầu tiên bởi tổ phụ Abraham.

 

    Năm 1166, nhà địa dư học Ả-rập Al Adrisi là người đầu tiên trên thế giới vẽ bản đồ trái đất h́nh cầu rất chính xác. Cũng trong khoảng thời gian này, người Ai-cập chế ra đồng hồ quả lắc để coi giờ.

 

    Trường đại học lâu đời nhất và hoạt động liên tục trên 10 thế kỷ là đại học Al-Azhar ở thủ đô Cairo của Ai-cập (thành lập năm 970).

 

    Một ngôi sao sáng ngời trong thế giới toán học là nhà toán học Hồi giáo Ba Tư Muhammad Ibu Musa. Ông đă phát minh ra một môn toán học nhằm mục đích “Phục hồi những phần đă bị tách rời” (to restore the broken parts), tiếng Ả-rập gọi là Al-Jabr. Danh từ này được người Hy Lạp phiên âm thành Algebra tức là môn Đại-số-học. Môn toán học này được Musa phát minh năm 850.

 

    Đều thế kỷ 11, một ngôi sao lớn về quang học xuất hiện tại Ai-cập. Đó là nhà khoa học Hồi giáo Alhazen. Ông chuyên tâm nghiên cứu các sách Hy Lạp về khúc xạ và phản chiếu ánh sáng. Ông là người đầu tiên trên thế giới giải thích hiện tượng cầu vồng và quang phổ. Thế giới khoa học ngày nay tôn vinh ông là ông tổ sáng lập ngành quang học hiện đại.

 

    Nhờ có những sách y khoa dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Arabic trong hai thế kỷ 8 và 9, đến thế kỷ 10 người Hồi giáo Ả-rập đă phát minh và đóng góp cho nhân loại rất nhiều tiến bộ về y khoa trên nhiều lănh vực :

 

    1. Xử dụng Anesthasia trong giải phẩu.

 

    2. Sát trùng vết thương.

 

    3. Phát giác việc lây bệnh do sự  tiếp cận với người có bệnh và qua đường hô hấp.

 

    4. Tách rời dược khoa và y khoa thành hai ngành riêng.

 

    5. Do sa mạc thường có băo cát gây đau mắt nên người Ả-rập lập ra ngành nhăn khoa riêng.

 

    6. Năm 925, nhà khoa học Abu Razi cho in bộ sách “Bách khoa Tự điển Y khoa” đầu tiên trên thế giới. Măi tới hơn 5 thế kỷ sau, tức vào năm 1486, bộ sách này mới được dịch sang tiếng La-tinh để phổ biến tại Âu châu.

 

    Về văn chương, bộ chuyện vĩ đại được in thành nhiều chục tập (volumes) nổi tiếng khắp thế giới và đă được dịch ra đủ loại thứ ngôn ngữ, đó là chuyện  “Ngàn lẻ Một đêm”. Đây là tổng hợp đủ các chuyện thần thoại thời Babylon cổ xưa, các chuyện dân gian Ả-rập (Arab legends) và pha trộn với những chuyện thần tiên của Ấn Độ (Indian fairy tales).

 

    Về kiến trúc, người Ả-rập Hồi giáo là những người phát minh ra cách xây những chiếc ṿm nhọn đầu (pointed arch) từ thế kỷ 8 để kiến tạo những chiếc cầu bắc qua sông. Người Âu châu sau này bắt chước để lập ra lối kiến trúc Gothic.

 

    Thái độ ham chuộng học hỏi và tôn trọng khoa học của người Hồi giáo rất đáng được mọi người khâm phục. Thái độ đó hoàn toàn trái ngược với những tội ác tày trời của giáo hội Công giáo nhằm mục đích tiêu diệt hoàn toàn nền văn minh Hy Lạp.

 

    Công giáo La mă do hoàng đế Constantine lập nên năm 325. Từ đó, giáo hội Công giáo và đế quốc La mă ra sức thâu góp các sách của nền văn minh Hy Lạp để thiêu huỷ. Toàn bộ các sách của giáo phái Ki-tô lớn nhất thời đó là Gnostic bị đốt, 27.000 cuộn giấy (paprus rolls) có liên quan đến những sách Phúc Âm thật đều bị huỷ diệt. Đến cuối thế kỷ 5 hầu như tất cả sách khoa học, triết học của Hy Lạp đều không c̣n trên lănh thổ của đế quốc La mă và giáo hội Công giáo. Tội ác của Công giáo La mă đă làm cho nền văn minh của nhân loại thụt lùi 15 thế kỷ.

 

    Người có công sưu tầm và duy tŕ những cuốn sách quí giá của nên văn minh Hy Lạp để lưu lại cho thế giới chúng ta ngày nay chính là một ông vua Hồi giáo Ả-rập : Caliph Al-Mamun. Ông lên ngôi tại Baghdad năm 813. Việc đầu tiên là thành lập “Nhà của sự khôn ngoan” (House of wisdom). Ông cho người đi khắp nơi t́m kiếm các sách cổ của Hy Lạp mang về Baghdad rồi thuê người Hy Lạp biết tiếng Ả-rập dịch tất cả các sách đó. Trong suốt 20 năm cai trị, vua Al-Mamun đă dồn hết tâm huyết vào công tŕnh văn hóa độc đáo này.

 

    Các nhà trí thức Hồi giáo ở Trung Đông thời đó nhiệt liệt hoan nghênh sáng kiến của nhà vua và họ đă tiếp tay để biến các thủ đô Hồi giáo thành những trung tâm văn hóa nổi tiếng như : Alexandria (Ai-cập), Antioch Edessa (Thổ-nhĩ-kỳ), Condova (Tây-ban-nha, lúc này là thuộc địa của đế quốc Hồi giáo).

 

    Phong trào ham chuộng hiến thức khoa học của toàn vùng Trung Đông Hồi giáo kéo dài trong 5 thế kỷ, từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, đă biến vùng Trung Đông thành một khu vực văn minh nhất thế giới. Trong khi đó, do chủ trương tiêu diệt mọi nguồn văn hóa đi ngược lại giáo lư Ki-tô giáo, giáo hội Công giáo La mă đă đưa Âu châu đi vào thời đại bóng tối (The Dark Age) từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 11.

 

    Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16, giới trí thức Âu châu bừng tỉnh và t́m cách làm sống dậy những giá trị của nền văn minh Hy Lạp trong mọi ngành khoa học. triết học, kiến trúc và nghệ thuật ... đă bị giáo hội Công giáo tiêu diệt trước đây.. Người ta gọi giai đoạn này là Thời Phục hưng (the Renaissance). Danh từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp có nghĩa là “sự tái sinh” của một nền văn hóa đă bị bức tử.

 

    Trong thế kỷ 15, trí thức Âu châu mới khám phá ra là kho tàng sách quí của văn hóa Hy Lạp đă được tồn trữ trong các trung tâm văn hóa Hồi giáo tại Trung Đông. Lúc đó họ mới vỡ lẽ ra rằng : những người Hồi giáo Ả-rập đă làm những công việc cần thiết để phục hồi nền văn hóa Hy Lạp trước họ tới 7 thế kỷ!

 

    Nhà danh họa Raphael của Ư thuộc thế kỷ 15 đă phải thốt lên những lời biết ơn đối với các học giả Hồi giáo Ả-rập v́ tiền nhân của ông là những người La mă cuồng tín và thiển cận đă huỷ diệt cả một nên văn minh của cổ Hy Lạp để gây ra một tổn thất vô cùng lớn lao cho nhân loại. Nhưng may mắn thay, vẫn có nhiều tác phẩm quí giá của Hy Lạp c̣n sót lại được bảo tồn do công lao của các học giả Ả-rập. Ông nói: “Các học giả Ả-rập đă cứu những tác phẩm đó cho chúng ta” (“Arab scholars saved those works for us”, A Muslim Primer, by Ira G. Zepp. U. of Kansas Press 1992, trang 139-165).

 

    Như trên đă tŕnh bày. Trung Đong Hồi giáo sống trong thời Hoàng kim của nền văn minh (Tho Golden Age) từ cuối thế kỷ 8 đến đầu thế kỷ 11. Rồi từ đầu thế kỷ 11, những đoàn Thập Tự quân của Công giáo La mă tràn sang tàn phá Trung Đông, với 7 cuộc thánh chiến đẫm máu, khiến cho toàn vùng lâm vào t́nh trạng suy thoái mọi mặt.

 

    Cuộc Thập Tự chinh thứ nhất (1096-1099) tiêu diệt 30.000 người Ả-rập Hồi giáo và lập nên một vương quốc rộng lớn bao gồm các nước : Palestine, Liban, Syria và phía Nam Thổ-nhĩ-kỳ. Tất cả được đặt dưới quyền cai trị của một ông vua do Vatican bổ nhiệm. Vương quốc Hồi giáo bị người Công giáo cai trị trong 88 năm. Sáu cuộc Thập Tự chinh kế tiếp diễn ra trong gần 2 thế kỷ tàn phá hầu hết các nước Trung Đông với 3 triệu sinh mạng bị sát hại (1096-1291).

 

    Tiếp theo đại họa Thập Tự quân là đại họa Mông Cổ. Từ đầu thế kỷ 14, vùng Trung Đông bị quân Mông Cổ tràn tới tàn phá các thành phố và huỷ diệt con người. Baghdad, Damacus ... chỉ c̣n là những đống gạch vụn với những xác chết la liệt trên các nẻo đường.

 

    Cuối thế kỷ 15, quân Mông Cổ lại tràn tới Trung Đông một lần nữa. Điều mỉa mai là ông vua Mông Cổ là một tín đồ Hồi giáo thuộc giáo phái Sunni. Ông tới để tiêu diệt những người thuộc giáo phái Shiite tại IranIraq. V́ ḷng thù hận hẹp ḥi giữa các chi phái Hồi giáo với nhau, quân Mông Cổ Sunni đă giết những người Shiite vô số kể.

 

    Từ năm 1467 đến 1520, đế quốc Hồi giáo Ottoman của Thổ-nhĩ-kỳ xua quân đánh phá Syria, Ai-cập, bán đảo Ả-rập và các nước Bắc Phi để mở rộng thế lực của giáo phái Sunni, rất nhiều tín đồ Shiite bị giết. Đế quốc Ottoman khống chế Trung Đông từ đó đến đầu thế kỷ 19. Từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 nhiều nước Hồi giáo Trung Đông lần lượt bị rơi vào ṿng nô lệ của thực dân Anh và Pháp. Tuyệt đại đa số dân chúng Trung Đông mù chữ và toàn xă hội Ả-rập suy thoái về mọi mặt.

 

    Qua bao nhiêu thế kỷ, Ai-cập vẫn được coi là “linh hồn trí thức của thế giới Ả-rập” với dân số 60 triệu người mà mỗi năm chỉ xuất bản vỏn vẹn 375 cuốn sách, bởi v́ đại đa số dân mù chữ nên không có ai tiêu thụ món hàng văn hóa này. Trong khi đó Israel chỉ có 6 triệu dân nhưng hầu như cả nước ham đọc sách nên mỗi năm Israel xuất bản ít nhất 4.000 đầu sách đề cập đến đủ mọi vấn đề của kiến thức (theo Newsweek 15.10.2001, trang 26).

 

    Phải chăng một xă hội thất bại đă phát sinh chủ nghĩa khủng bố?

 

    Dưới cái nh́n của Tây phương, thế giới Hồi giáo Ả-rập ở Trung Đông là một xă hội thất bại mà nguyên nhân chính là sự cuồng tín tôn giáo. Trong khi đó, những người Ả-rập Hồi giáo lại qui kết mọi nguyên nhân thất bại của họ cho Tây phương. Do đó họ nung nấu ḷng hận thù và tổ chức khủng bố để rửa hận. Tất cả mọi hành vi sát nhân tàn bạo của họ, kể cả việc sát hại những người vô tội trong những cuộc khủng bố, đều được biện minh bằng những lời Chúa trong Thánh Kinh Koran. Họ càng căm thù bao nhiêu lại càng trở thành cuồng tín trong niềm tin tôn giáo bấy nhiêu.

 

    Cuối cùng, xă hội Ả-rập Hồi giáo Trung Đông đi vào một cái ṿng lẩn quẩn không có lối thoát. Sự cuồng tín của giới lănh đạo và quần chúng làm cho xă hội Ả-rập càng ngày càng khép kín đối với thế giới bên ngoài, đời sống kinh tế suy sụp trở thành lạc hậu. Những người cuồng tín qui trách nhiệm cho Tây phương là thủ phạm đă gây ra tất cả những thất bại và suy thoái của thế giới Hồi giáo để họ có lư do gia tăng các hoạt động khủng bố. Nhưng càng gia tăng khủng bố bao nhiêu họ càng bị mất thiện cảm và sự giúp đỡ của thế giới bấy nhiêu. Các xă hội Hồi giáo cực đoan đều trở thành những khu vực bị cô lập và là đối tượng của một cuộc chiến tranh huỷ diệt.

 

    Ngày nay, trên khắp thế giới hầu như ở đâu cũng có những hoạt động khủng bố, nhưng chỉ tại Trung Đông người ta mới thấy rơ cái sắc thái cuồng tín hung bạo ghê gớm của người Hồi giáo Ả-rập. Chỉ ở Trung Đông mới là nơi tập trung đông đảo nhất của những Mullahs (học sĩ Hồi giáo) hung dữ.

 

    Trung Đông là nới có nhiều nhất những cụ biểu t́nh bạo động, đốt cờ, đốt xe, đốt h́nh nộm và đặc biệt là những vụ ôm bom tự sát (suicide-bombings).

 

   Ngoài ra, từ 1980 đến nay, hầu như các vụ đặt bom khủng bố tại các nơi trên thế giới cũng đều có nguồn gốc tại Trung Đông (Islamic Fundamentalists) chủ mưu. Do đó, mục tiêu của cuộc chiến tranh tiêu diệt khủng bố mà phe Tây phương đang theo đuổi không phải là Afghanistan hay Philippines... mà chính là toàn vùng Trung Đông Hồi giáo!

 

    Làm thế nào để giải thoát sự bế tắc của một xă hội thất bại tại Trung Đông?

 

    Nguyên nhân chính đưa đến sự bế tắc của các quốc gia Hồi giáo Trung Đông là không có sự phân cách giữa tôn giáo và chính quyền. Thông thường trong những quốc gia sùng đạo, các Mullahs (học sĩ) là những nhà lănh đạo chính trị. Họ nhân danh tôn giáo để hô hào thánh chiến, thực chất là đề cao những hành vi chém giết thô bạo .

 

    Trong các nươc hồi giáo sùng tín, người ta không thể phân biệt được ranh giới giáo quyền với chính quyền, cũng không thể phân biệt được đâu là giáo luật và đâu là luật pháp quốc gia.

 

    Trong thế kỷ 19, nhiều trí thức Hồi giáo đă nh́n thấy điều đó và họ đă viết sách để lên tiếng đ̣i cải cách xă hội Hồi giáo. Một trong những người đó là triết gia Ai-cập Fouad Zakariya. Theo ông, điều tiên quyết để cứu các nước Hồi giáo Ả-rập là phải “tách rời đền thờ ra khỏi quốc gia” (separation of mosque from state). Người ta gọi chủ thuyết này là chủ nghĩa Thế-tục-hóa Xă hội (Secularism). Zakariya đă ca ngợi phong trào đă giúp xă hội thoát ra khỏi sự kềm kẹp của giáo hội La mă bằng chủ thuyết thế tục hóa để đi tới sự phân lập rơ rệt giữa chính quyền và giáo hội. Chính nhở đó Âu châu đă trở nên hùng mạnh và đó là ch́a khóa đưa đến một xă hội tiến bộ dân chủ. Mọi chủ trương bảo thủ đều có hậu quả biến Hồi giáo thành công cụ. Zakaria dám đưa ra những nhận định táo bạo: Thế giới Ả-rập không thể nào xây dựng được một xă hội văn minh tiến bộ nếu cứ khư khư giữ lấy những tư tưởng lạc hậu của thời kỳ bộ lạc ở sa mạc vào thế kỷ thứ 7 ! (thời kỳ của giáo chủ Muhammad lập đạo).

 

    Ông cũng nêu rơ: dù bất cứ là tôn giáo nào th́ luôn luôn tôn giáo cũng chỉ là một sự sùng bái có tính riêng tư của các cá nhân mà thôi. Không ai có quyền đem sự sùng bái riêng tư đó áp đặt lên cả quốc gia để buộc mọi người cũng phải sùng bái như họ. Cái điều vô lư đó hiện đang xảy ra phổ biến tại các nước Ả-rập. Ông kêu gọi mọi người đứng lên đập tan các chế độ Hồi giáo bảo thủ để giải phóng xă hội Hồi giáo lạc hậu.

 

    Những lời kêu gọi của Fouad Zakariya đă được nhiều chính trị gia hưởng ứng tại Thổ-nhĩ-kỳ, Ai-cập và Iran:

 

    1. Mustapha Kemal: Ông sinh năm 1881 tại Thổ-nhĩ-kỳ, làm tổng thống đầu tiên của Thổ-nhĩ-kỳ từ 1923 đến 1938. Ông là người thực hiện thành công cuộc cách mạng thế tục hóa xă hội Hồi giáo, chấm dứt đế quốc Ottoman sau gần  5 thế kỷ thống trị. Hoàng đế và toàn bộ triều đ́nh Ottoman đều bị bắt và bị đưa đi đày chung thân. Toàn bộ luật pháp của Hồi giáo bị xé bỏ. các trung tâm Hồi giáo bị đóng cửa. Âm lịch Hồi giáo bị thay thế bằng Dương lịch để hoà đồng cùng thế giới. Năm 1930, quốc hội Thổ-nhĩ-kỳ chính thức chấm dứt chế độ đa thê, huỷ bỏ mọi h́nh thức áp chế phụ nữ như tục lệ đeo mạng che mặt hoặc áo choàng phủ kín toàn thân. Nam giới bị cấm đội mũ Fez theo kiểu Ả-rập Hồi giáo. Chữ viết theo kiểu Arabic bị thay thế bằng mẫu tự La tinh. Hiện nay không c̣n ai biết đọc kinh Hồi giáo viết theo chữ Arabic nữa. Nữ tổng thống đầu tiên của Thổ-nhĩ-kỳ là bà Tanser Ciller trong nhiệm kỳ 1993-1996. Trong thực tế, Thổ-nhĩ-kỳ không c̣n được coi là một quốc gia Hồi giáo nữa. Cuộc cách mạng thành công của Mustapha Kemal đă giải thoát Thổ-nhĩ-kỳ ra khỏi thế giới đóng kín và thất bại của chủ nghĩa bảo thủ cực đoan Hồi giáo. Thổ-nhĩ-kỳ hiện là một nước cộng ḥa tự do dân chủ thật sự và đang phát triển mọi mặt.

 

    2. Jasmal Nasser: ông sinh năm 1918, làm thủ tướng Ai-cập từ 1954 đến 1956. Sau đó, Ai-cập biến thành một nước cộng ḥa với danh xưng là “Cộng ḥa Ả-rập Thống nhất”. Nasser được bầu làm tổng thống tứ 1958 đến 1970. Ông chủ trương thực hiện chủ nghĩa thế tục hóa (secularism) bằng cách loại trừ mọi ảnh hưởng của Hồi giáo ra khỏi chính trị.

 

    Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ 20, tại Ai-cập đă có một phong trào Hồi giáo cựa đoan mệnh danh là “Huynh đệ Hồi giáo” (Muslim Brotherhood). Phong trào này do Sayid Quit (1906-1966) sáng lập, chủ trương dùng các thủ đoạn khủng bố để ngăn cản và vô hiệu hóa mọi nổ lực cải cách xă hội Hồi giáo. Phong trào xác định các lănh tụ chính trị theo đuổi chủ trương thế tục hóa là những kẻ tuyên chiến với đực tin Hồi giáo và v́ vậy họ phải chết.

 

    Năm 1956, Nasser ra lệnh bố ráp bắt các đảng viên Muslim brotherhood. Nhiều đảng viên bị tử h́nh, số c̣n lại đều lănh án tù. Tuy nhiên, Nasser đă bị dư đảng của đảng này ám sát chết năm 1990.

3. Hoàng đế Ba-tư Reza Pahlavi: Ông là một nhân vật đặc biệt v́ sinh ra và lớn lên trong gia đ́nh sùng đạo nhưng ông đă trở thành một người rất căm ghét đạo Hồi và muốn huỷ diệt đạo này. Ông sinh năm 1878, lên ngôi vua năm 1921, cai trị Ba Tư trong 20 năm. Ngay khi vừa lên ngôi, vua Pahlavi đă ra lệnh giải tán Ulama tức “Hội đồng các Học sĩ Hồi giáo”, một cơ quan cao nhất về tôn giáo tại Ba Tư. Luật Hồi giáo Sharia bị thay thế bằng luật pháp quốc gia do quốc hội biểu quyết. Các ngày lễ tôn giáo đều bị hủy bỏ. Việc tổ chức đi hành hương thánh địa Mecca bị cấm chỉ. Các phụ nữ không được đeo mạng. Cảnh sát được lệnh phải tháo gỡ mạng của phụ nữ trên đường phố...

 

    Năm 1935, những người Hồi giáo cuồng tín đă xúi giục phụ nữ biểu t́nh chống chủ trương thế tục hóa của nhà vua. Cảnh sát được lệnh dùng vũ lực giải tán đám biểu t́nh. Sau nhiều lần cảnh cáo nhưng đám phụ nữ biểu t́nh vẫn không chịu giải tán, cảnh sát đă nổ súng bắn chết hàng trăm phụ nữ. Trong dịp này, vị giáo chủ cao cấp nhất của Hồi giáo ba Tư là Aytollah Muddaris cũng bị ám sát chết.

 

    Năm 1941, vua Pahlavi truyền ngôi cho con là Muhammad Reza Pahlavi . Ngay khi tân vương lên ngôi, các học viên thuộc các trường Hồi giáo (tương tự như các học viên Taliban ở Afganistan) đă biểu t́nh chống nhà vua. Cảnh sát được lệnh xả súng bắn chết hàng trăm học viên Hồi giáo trên đường phố. Sau đó, tất cả các trường đào tạo các học sĩ Hồi giáo trên toàn quốc bị đóng cửa và tất cả đều bị bắt, đa số bị giết, số c̣n lại đều bị tù. Tân vương Pahlavi cho thành lập một tổ chức mật vụ chuyên việc truy lùng những kẻ muốn khôi phục đạo Hồi tại Ba Tư. Lính mật vụ có quyền tiền trảm hậu tấu, không cần một án lệnh nào của ṭa án. Các biện pháp trị an của vua Pahlavi quá mạnh tay nên đă gây quá nhiều bất măn trong quần chúng.

 

    Năm 1979, học sĩ Khomeini lưu vong tại Pháp lănh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ vua Pahlevi thành công. Nhà vua phải bỏ nước chạy trốn ra nước ngoài. Khomeini trở thành tổng thống của một nước Cộng hoà Hồi giáo (Islamic Republic). Khomeini là một học sĩ của giáo phái Shiite rất cực đoan và độc tài. Chẳng bao lâu sau, Khomeini mất hết mọi nhiệt t́nh ủng hộ của quần chúng lúc ban đầu. Dân Iran chợt nhận ra là sống dưới chế độ quân chủ của ḍng Pahlevi c̣n được tự do hạnh phúc hơn nhiều.

 

    Dưới chế độ “Cộng ḥa Hồi giáo”, toàn dân bị dồng vào thế bị kềm kẹp bởi các thứ luật lệ của tôn giáo vừa hủ lậu vừa dă man : Bị cáo về một tội trộm thường cũng bị chặt chân, chặt tay. Mọi sinh hoạt ca nhạc hay chiếu phim đều bị cấm. Phụ nữ bị buộc phải mặc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến mắt cá chân... Điều nguy hiểm là Khomeini gây hận thù với giáo phái đa số Sunni và đưa cả nước vào một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Khomeini chết năm 1989.

 

    Sự cuồng tín của người Hồi giáo Ả-rập:

 

    Như chúng ta đă thấy, chủ nghĩa Thế-tục-hóa xă hội (Secularism) là một phương thức chính trị đă đem lại sự thịnh vượng cho cả Âu châu lẫn Hoa Kỳ. Đó cũng là cái ch́a khóa bảo đảm nền tự do dân chủ cho toàn dân. Mustapha Kemal thực hiện thành công cuộc cách mạng thế tục hóa xă hội Thổ-nhĩ-kỳ đă biến nước này thành một nước tự do dân chủ và văn minh nhất trong thế giới Hồi giáo. Trong khi đó, cuộc cách mạng của Nasser tại Ai-cập và những nổ lực thế tục hóa của hai cha con vua Pahlevi tại Iran đều đă bị thất bại.

 

    Toàn khối Ả-rập Hồi giáo với 300 triệu người tiếp tục sống trong vũng lầy lạc hậu và nghèo đói. T́nh trạng bất ổn tại Trung Đông có thể gây tổn hại cho nền ḥa b́nh thế giới. V́ thế, nhiều chuyên gia của Liên Hiệp Quốc đă kêu gọi cộng đồng thế giới giúp cho toàn khối Ả-rập Hồi giáo một số chương tŕnh như sau để cải thiện đới sống quần chúng :

 

    1. Đô thị hóa xă hội Ả-rập để xóa bỏ hẳn lối sống lang thang trong sa mạc đă có từ nhiều ngàn năm qua.

 

    2. Đầu tư đại qui mô vào công cuộc giáo dục giới trẻ nhằm đào tạo những thế hệ Ả-rập mới có khả năng đưa toàn xă hội Ả-rập hoà nhập vào thời đại mới trong cộng đồng nhân loại.

Chỉ có sự hiểu biết của những thế hệ trẻ mới có khả năng mở rộng tầm nh́n của quần chúng để cứu họ thoát khỏi sự mê hoặc của tôn giáo và sự lừa mị của giới lănh đạo độc tài. Theo thống kê năm 2000, các nước Hồi giáo Ả-rập ở Trung Đông có một tỉ lệ những người trẻ (dưới 15 tuổi) rất cao :

 

    - Saudi Arabia :     43%

    - Iraq :                     42%

    - Palestine :            45%

 

    Nếu những lớp người trẻ đó hấp thụ được một nền giáo dục khai phóng, họ sẽ làm thay đổi nếp sống và nếp nghĩ của người Ả-rập.

 

    Chủ nghĩa tôn sùng bạo lực và chủ nghĩa khủng bố phát sinh chủ yếu do tinh thần cuồng tín tôn giáo. Giáo dục là phương tiện hữu hiệu nhất diệt trừ nạn cuồng tín tôn giáo và do đó sẽ diệt trừ tận gốc nạn khủng bố thế giới như hiện nay đang diễn ra khắp nới trên thế giới. Chỉ có sự giáo dục mới giải thoát tập thể tín đồ thoát ra khỏi vùng bóng tối tâm linh.

 

    Các nước Hồi giáo bảo thủ hiện nay đều là những xă hội khép kín, trong đó giới học sĩ Ulamas hoàn toàn thao túng đời sống tinh thần của các tín đồ. Cái gọi là sự học vấn của các trường tôn giáo hoặc sự uyên bác của các học sĩ Ulamas thực chất chỉ là một môn học “tán hươu tán vượn” về những điều huyền hoặc của thần học (theology), Thần học của Hồi giáo cũng tương tự như thần học của Do thái giáo hoặc Ki Tô giáo. Thần học là một môn học đầy tính chất hoang tưởng viễn vông nhảm nhí. Càng đi sâu vào thần học, con người càng lún sâu vào “ốc đảo tâm linh” xa vời thực tế và đầy đặc những định kiến sai lầm. Những mảnh bằng “Tiến sĩ Thần học” là những giấy chứng chỉ công nhận sự ngu xuẩn của kẻ được cấp. Chỉ đến khi có cơ duyên tỉnh ngộ, kẻ đó mới cảm thấy xấu hổ đă được cấp những mảnh bằng về thần học mà thôi.

 

    Thế giới Hồi giáo Ả-rập ngày nay v́ tự ti mặc cảm đă co cụm lại thành những xă hội khép kín. Giới lănh đạo không muốn dân chúng biết sự thật của thế giới bên ngoài cho nên họ rất căm ghét tất cả mọi phương tiện truyền thông quốc tế. Nhiều nước Hồi giáo ban hành luật cấm TV, Video, phim ảnh và các loại sách báo ngoại văn. Trong cuộc họp của Tổ chức các Quốc gia Hồi giáo OIC (Organization of Islamic Countries) gồm các đại biểu của 56 quốc gia thành viên họp tại thủ đô Mă Lai Kuala Lumpur ngày 27/2/2000, nhiều đại biểu đă hô hào các nước Hồi giáo đoàn kết để chống lại kỹ thuật tin học Internet v́ nó có thể “tiêu diệt các giá trị Hồi giáo” !.

 

    Nền kinh tế của khối Ả-rập Trung Đông hiện nay không có ǵ để hănh diện, ngoại trừ kho dầu mỏ thiên nhiên ở mấy nước vùng Vịnh với những trữ lượng bằng hối lượng dầu của thế giới. Nhưng họ không có kỹ thuật thăm ḍ dầu, kỹ thuật khoan mỏ dầu, chuyên chở và lọc dầu v.v... Họ cũng không có độc quyền tăng gia giá dầu v́ các việc tiêu thụ, phân phối và sản xuất không nằm trong tay họ. Năm 1982 giá dầu thô 40 đô la / 1 barrel, đến năm 1998 giá dầu tụt xuống chỉ c̣n 10 đô la/ 1 barrel! Những mỏ dầu thô đă tạo cho chính quyền các nước Trung Đông một ảo tưởng về quyền lực. Thật sự họ không thể dùng nó để tạo nên một áp lực nào đới với thế giới bên ngoài. Những khoản lợi tức khổng lồ của những mỏ dầu không đem lại lợi ích nào cho quần chúng v́ nó đă chui hết vào túi của giới lănh đạo bất tài và tham nhũng. Chẳng những thế, giới lănh đạo c̣n nhân danh Allah và tiên tri Muhammad để tước đoạt những quyền tự do chính đáng của người dân. Tại các nước Bahrain, Jordan, Maroc ... và thậm chí ở hai nước nổi tiếng giầu có v́ dầu hỏa là Kuwait và Saudi Arabia ... phụ nữ không có quyền đi bầu. Đại đa số dân Ả-rập đều đang kéo lê cuộc sống du mục lạc hậu như thời Muhammad lập đạo tại s mạc Syro-Arabia vào thế kỷ 7 hoặc như tổ phụ Abraham ở vùng đất hứa Canaan cách đây 4000 năm vậy!

 

    Thiên Chúa luôn luôn được các phe động viên trong cuộc thánh chiến hiện nay giữa Do thái và các nước Ả-rập. Thánh kinh Cựu ước được mọi tôn giáo như Do thái, Ki tô và đạo Hồi công nhận. Một trong những chuyện nổi tiếng là chuyện Đại Hồng Thuỷ. Kinh Thánh kể rằng: Sau cơn đại hồng thuỷ tiêu diệt hết mọi sinh vật trên trái đất, loài người vỏn vẹn chỉ c̣n lại gia đ́nh của ông Nô-e mà thôi. Người con út của ông Nô-e tên Shem sau này trở thành tổ tiên của các dân tộc Do thái - Ả-rập. Do đó, mọi người Do thái và Ả-rập đều có một cái tên chung là chủng tộc Semites. Danh từ này có nghĩa là “con cháu của ông tổ Shem” (Semites = descendants of Shem).

 

    Mới đây, các nhà nhân chủng học đă làm nhiều cuộc thử nghiệm DNA tại các nước Trung Đông. Kết quả xác nhận các người Ả-rập, Do thái, Ba Tư, Iraq, Syria, Liban v.v... đều cùng chung một chủng tộc. Như vậy, truyền thuyết về các dân tộc Ả-rập Do thái cùng chung một ông tổ Shem như chuyện kể trong Kinh thánh đă tỏ ra là đúng với thực tế. Họ quả là “anh em” với nhau. Cũng như người Do thái thường gọi nhau là “Ben-Adam” có nghĩa là “anh em” cùng chung một ông tổ Adam mà ra. Nhưng khi Adam và Eva mới sinh ra được hai thằng con trai là Cain và Abel, lúc đó toàn thể dân số nhân loại chỉ có 4 người, th́ Cain đă ra tay giết chết thằng em v́ một chuyện căi nhau vớ vẩn. Chuyện Cain giết Abel đă trở thành câu chuyện mang tính chất biểu tượng cho sự chém giết giữa những người anh em cùng chủng tộc hoặc những anh em cùng thờ Chúa.

 

    Những người Do thái và Ả-rập đă chém giết nhau rất nhiều phen kể từ khi Israel trở thành vương quốc, với vị vua đầu tiên là Saul, vào năm 1025 trước Công nguyên. Vương quốc Israel tồn tại đến năm 70 sau Công nguyên th́ bị quân La mă kéo đến san bằng và tàn sát người Do thái vô số kể. Do đó, người Do thái phải bỏ nước ra đi lang thang khắp nới trên thế giới. Từ thế kỷ 4 đến đầu thế kỷ 20, người Do thái tại các nước Công giáo ở Âu châu đă bị kỳ thị và bị sát hại rất nhiều, nhất là trong thời Trung Cổ. trong Thế chiến Thứ hai, Do thái bị Đức quốc xă sát hại 6 triệu người. Do đó, sau Thế chiến II, Liên Hiệp Quốc đă thực hiện kế hoạch cho những người Do thái trên khắp thế giới trở về “cố hương” để tái lập quốc gia.

 

    Năm 1948, quốc gia Do thái được thành lập trên phần đất của người Palestine đang sinh sống. Sự lập quốc Do thái đă khiến cho hàng triệu người Palestine trở thành những người vô gia cư (homeless). Sự bất măn của những người Ả-rập Hồi giáo bắt đầu từ đó.

 

    Theo lệnh của Liên Hiệp Quốc th́ Do thái không được chiếm thành phố Jerusalem v́ thành phố này là thánh địa chung của cả ba tôn giáo: Do thái, Ki Tô và Hồi giáo. Nhưng vào năm 1967, Israel đă xua quân chiếm thành phố Jerusalem làm thủ đô của riêng ḿnh. Vụ này đă làm cho toàn thế giới Hồi giáo phẩn nộ. Từ năm 1970 trở đi, thế giới Hồi giáo tổ chức Hội nghị hàng năm để kêu gọi toàn thể các tín đồ Hồi giáo đoàn kết chống lại Israel để giải phóng thánh địa Jerusalem.

 

    Israel đă vin vào Thánh kinh Cựu ước, công khai tuyên bố không bao giờ chịu rút khỏi Jerusalem v́ đó là “một sứ mạng tôn giáo” (a religious mission). Nước Israel là bất khả xâm phạm v́ đó là “Israel của Thánh kinh” (Biblical Israel). Lịch sử của Do thái là lịch sử của Thánh kinh Cựu ước. Do đó, đối với người Do thái, quốc gia và tôn giáo là một. Chết v́ nước cũng là chết v́ Chúa của đạo Do thái. Người Do thái sống trong hiện tại với những chứng tích của lịch sử. Tâm linh của người Do thái trong hiện tại luôn luôn gắn bó với tâm linh dân tộc trong lịch sử. Đó là lư do khiến người Do thái đoàn kết và kiên cường trong chiến đấu. Cuộc chiến tranh hiện nay giữa Do thái và những người Ả-rập Hồi giáo là một cuộc chiến tranh v́ lịch sử và v́ tôn giáo. Chúng ta hăy nghe lời lập luận của mộ thường dân Palestine ở ngoại ô thành phố Jerusalem. Anh Ibrahim Hussein, 48 tuổi, trả lời kư giả Mỹ trong một cuộc phỏng vấn tháng 3/2002 như sau: “Nếu ông đào xới bất cứ chỗ nào ở vùng này ông cũng t́m thấy những dấu tích của lịch sử. Và nếu ông là một người Do thái th́ bất cứ lúc nào ông cũng có thể vin vào những dấu tích đó để nói rằng đây là đất thuộc về lịch sử của Do thái.” Nhưng người Do thái chỉ có thể vin vào lịch sử 3000 năm của họ. C̣n chúng tôi, con cháu của những người Canaanites, đă định cư trước người Do thái 4000 năm, nghĩa là tổ tiên của người Ả-rập đă có 7000 năm lịch sử tại nơi này!” (Houston Chronicle, March 31, 2002).

 

    Ư kiến chung của những người Ả-rập luôn luôn kết tội Israel là kẻ gây chiến v́ Israel đă đến chiếm đất của người Palestine và dùng bạo lực đuổi họ ra khỏi nới cư trú hợp pháp lâu đời của họ. Trong khi đó, người Do thái luôn luôn đem Thánh kinh và Thiên Chúa ra làm chứng cho quyền sở hữu của ḿnh. Họ nói vùng Tây Ngạn sông Jordan (West Bank) hiện có 3 triệu dân Palestine cư trú, chính là hai tỉnh Judea và Samaria của Do thái trong Thánh kinh Cựu ước. Người Do thái chiếm thành phố Hebron ở phía Nam Jerusalem, nơi đây là chốn định cư của trên 100.000 dân Palestine, viện cớ Hebron là nơi có mộ của tổ phụ Abraham, mặc dầu không một ai có thể xác định mộ của ông ta nằm ở chỗ nào!

 

    Người Do thái cũng chiếm luôn thung lũng Kindron ở ngoại ô Jerusalem (Kindron Valley) v́ thung lũng này hết sức quan trọng. Cả ba đạo thờ Chúa là dân Do thái, Ki Tô và Hồi giáo đều tin rằng : đến “ngày phán xét cuốn cùng”, tất cả mọi người sống và người chết (sống lại) đều tập trung tại thung lũng Kindron để được Thiên Chúa xét xử lần cuối cùng. Kẻ lành lên Thiên đàng đời đời, c̣n kẻ dữ (là kẻ chẳng theo trong ba đạo này) sẽ bị đày xuống hỏa ngục muôn đời muôn kiếp.

 

    Đọc tin tức báo chí đến đây tôi liên tưởng đến sự ước tính của giáo sư Trần Chung Ngọc trong sách “Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những ǵ?” (Giao Điểm xuất bản Xuân 2002, trang 167-169) : Ngày Phán xét cuối cùng là ngày Chúa xét xử cả người sống lẫn các người chết từ xưa đến nay. Những người sống hiện nay là 6 tỉ. Nếu Chúa cho tất cả mọi người chết sống là th́ ước tính độ 44 tỉ người. Tổng cộng tất cả mọi người được Chúa xét xử sẽ là 50 tỉ. Nếu Chúa xét xử theo phương pháp siêu tốc mỗi người một giây th́ thời gian cần thiết phải có là 1500 năm mới xử xong 50 tỉ người! Đó là về thời gian xét xử, c̣n về nơi xét xử là thung lũng Kindron không biết rộng bằng nào. Nhưng cho dù thung lũng Kindron lớn rộng bằng cả nước Việt Nam chăng nữa cũng không thể nào chứa được 50 tỉ người trong Phiên xử vĩ đại của Chúa!

 

    Kinh thánh Do thái nói rất nhiều đến ngày Phán xét cuối cũng của Chúa tại thung lũng Kindron. Nhưng nếu đọc sách Phúc Âm sẽ thấy Gioan Baotixita và Jesus c̣n nói về ngày Phán xét nhiều hơn nữa. Trong niềm tin của những người Ki Tô giáo (Công giáo, Chính thống, Tin Lành và Anh giáo) th́ Ngày Phán xét cuối cùng chính là ngày Chúa Jesus Tái lâm (Cơ đốc Phục Lâm) và cũng là Ngày Tận thế, Ngày Nước Chúa trị đến vĩnh viễn trên thế gian... Như vậy, vị Chánh án của Phiên Xử cuối cùng vĩ đại này không ai khác hơn là chính Chúa Jesus.

 

    Hơn một tỉ tín đồ Hồi giáo cũng có niềm tin xác tín về Ngày Phán xét cuối cùng tại thung lũng Kindron như niềm tin của những người Do thái và Ki Tô. Nhưng vị Chủ tọa phiên xử là Thiên Chúa Allah. Ngay chương mở đầu của Kinh Koran đă xác định điều đó: “Nhân danh Thiên Chúa Allah, Đấng chủ tọa của Ngày Phán xét cuối cùng” (In the name of Allah, master of the Day of Last Judgement, Koran 1:4)

 

    Người Do thái càng vin vào Thánh kinh là sách ghi Lời Chúa để biện giải cho các hành vi chiến tranh của ḿnh bao nhiêu th́ người Ả-rập Hồi giáo cũng vin vào kinh Koran để cổ vũ người Palestine và toàn khối Ả-rập phải quyết tâm tận diệt Do thái bấy nhiêu.

 

    Ngay từ khi đạo Hồi được thành lập vào đầu thế kỷ 7, Muhammad đă kêu gọi tín đồ tẩy chay những người Do thái và Ki Tô:

 

    “Hỡi các tín đồ! Đừng bao giờ làm bạn với bọn Do thái và Ki Tô. Bất cứ ai làm bạn với chúng sẽ trở thành một kẻ bất chính trong bọn chúng. Thiên Chúa không bao giờ dẫn đường chỉ lối cho những kẻ bất chính”

 

    (Oh you who believe! Do not take the Jews and the Chistians for friends and who amongst you take them for a friend then he is one of them. Allah does not guide the unjust people, Koran 5:15)

 

    Ngày 21.7.2001, chính quyền Palestine của Arafat phổ biến trên các phương tiện truyền thông một bản thông cáo chính trị nhưng được mệnh danh là “Giáo lệnh số 4” (Religious teaching no. 4) : “Thiên Chúa cấm chỉ thừa nhận sự hiện hữu một quốc gia Israel và Ngài ra lệnh phải tiêu diệt nó. Để cụ thể hóa mệnh lệnh này, chính quyền Palestine đă đưa ra 8 điều sau đây:

 

    1. Xác nhận Do thái là kẻ thù của Thiên Chúa.

    2. Toàn thể Hồi giáo phát động thánh chiến để chống lại Do thái.

    3. Tiêu diệt Do thái là một nghĩa vụ tôn giáo

    4. Palestine chiến đấu tại tiền tuyến, thế giới Hồi giáo là hậu phương yểm trợ tiền tuyến.

    5. Toàn thể lănh thổ Israel phải thuộc về Palestine. Bất cứ ai cắt đất của Palestine cho Do thái đều phải sa   hỏa ngục đời đời kiếp kiếp.

    6. Mọi thỏa ước kư kết với Do thái đều chỉ có giá trị chiến thuật tạm thời.

    7. Bất cứ ai trốn tránh nghĩa vụ thánh chiến chống Do thái sẽ bị Chúa trừng phạt.

    8. Sự tiêu diệt hoàn toàn Israel là một sự bảo đảm tuyệt đối nhân danh Thiên Chúa Allah.”

 

    Trong công báo chính thức của chính quyền Palestine (Al-Jadila) ngày 18.5.2001 có đăng một bản Huấn thị của chính phủ, trong đó có câu:

 

    “Ngày của mọi người chết sống lại để dự phiên xử cuối cùng sẽ không xảy ra cho đến khi nào người Hồi giáo gây chiến tranh chống Do thái và tiêu diệt chúng.” (The Day of the Resurrection will not arrive until the Muslims make war against the Jews and kill them).

 

    Một viên chức cao cấp của Bộ Tư Pháp Palestine xuất hiện trên màn ảnh truyền h́nh ngày 13.10.2001 kêu gọi nhân dân Palestine: “Do thái là kẻ nói láo và khủng bố. Cho nên điều cần thiết là phải giết chúng theo lời Chúa. Cấm không ai được thương xót chúng. Đừng thương xót, hăy giết chúng ở khắp mọi nơi.”

 

    (“The Jews are liars and terrorist. Therefore it is necessary to slaughter them according to the Words of God. It is forbidden to have mercy in your hearts for the Jews. Have no mercy on them and murder them everywhere”, First Facts on Islam, by John Weldon and John Ankernerg, Harvest House Pub. 2001, pages 135-137 )

 

 

Charlie Nguyễn
Hè 2002



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend