TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

KẾT TỪ VÀ PHỤ BẢN “Góp Phần Nghiên Cứu Về Petrus Key”


 Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

KẾT TỪ VÀ PHỤ BẢN

“Góp Phần Nghiên Cứu Về Petrus Key”

 

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu

 

Kết Từ

 

       Dù muốn dù không, Petrus Key đă thủ vai một tác nhân lịch sử, gắn liền với cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp. Khởi đầu sự nghiệp bằng nghề thông ngôn cho quân viễn chinh Pháp, 26 năm sau, Petrus Key xuất hiện tại Huế như một “ẩn sĩ” đặc phái viên tín cẩn của Tổng Trú sứ Bert, giữa lúc ngọn lửa Cần Vương (rebelles, theo lối diễn tả của Petrus Key) đang hừng hực từ B́nh Thuận ra tới Hà Nội. Sau đó, phục vụ tại một số Hội đồng bản xứ Nam Kỳ.

 

Trong ḍng lịch sử quốc dân, v́ lư do nào đi nữa, Petrus Key và số thông ngôn đương thời—cùng những Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn, Trần Lục, Vũ Văn Báo, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Cao Xuân Dục, v.. v...—sẽ được xếp hạng chung là những người hợp tác với Pháp từ buổi đầu. Cách này hay cách khác, họ đă trở thành và được người Pháp nh́n nhận như những khai quốc công thần của chế độ Bảo hộ Pháp.

 

Trường hợp Petrus Key, công tŕnh sáng tác và trước tác khá đồ sộ, lại có cả sách bằng Pháp ngữ, nhưng chưa ai thực sự kiểm kê và lượng giá toàn bộ công tŕnh của ông. Cần những nhà ngôn ngữ học chuyên nghiệp—không bị ràng buộc bởi mục tiêu chính trị giai đoạn hay ḷng yêu ghét cá nhân, và đủ can đảm gạt bỏ thứ lư luận viển vông về những bản thảo không c̣n lưu truyền—làm việc trong một thời gian trên các tác phẩm c̣n lại của Petrus Key, mới đủ căn bản để lượng giá. Petrus Key, tôi nghĩ, chỉ là một thông ngôn giỏi trong thời ông, hơn một nhà ngôn ngữ học.

 

Riêng tác phẩm khá dày của Petrus Key về “bài giảng sử” bằng Pháp ngữ, khó thể gọi là một công tŕnh sử học. Nó không có được giá trị của những cuốn thông sử như bộ Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát mà Petrus Key sử dụng để viết từ thời Thượng cổ tới cuối nhà Lê, hay Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Đa số chi tiết đều là tin đồn, ngày tháng hỗn loạn. Khoảng thời gian từ nhà Tây Sơn đến vua Tự Đức—v́ sử dụng truyền khẩu sử của các nhà truyền giáo Pháp và trên quan điểm hợp thức hóa tân trào—đầy rẫy sai lầm kỹ thuật cũng như sai lầm có tư tâm, bất chấp sự thực lịch sử. Nét độc đáo duy nhất là Petrus Key lấy năm sinh của Jesus Christ—đúng hơn, năm khởi đầu Tây lịch (thường gọi là dương lịch)—làm một dấu mốc phân chia thời đại của ḍng lịch sử Việt. Sự phân chia này không những vô nghĩa, phi lư, chẳng dính nhập ǵ  với ḍng  sử cổ Việt, mà c̣n hàm chứa tư tâm về tôn giáo hoặc thiết lập “tân trào” của Petrus Key. (Hy vọng rằng sẽ không có ai cung văn rằng Petrus Key đă biết sử dụng phương pháp “so sánh sử thế giới” [comparative world history] qua việc phân chia thời đại nói trên)

 

          Về những tựa sách khác, dù phẩm chất của khối tác phẩm này ra sao đi nữa, chúng trực hay gián tiếp là công cụ của kế hoạch xâm lăng văn hóa của Pháp và các nhà truyền giáo. (Là một công chức của chế độ Bảo hộ Pháp, Petrus Key được trả lương để soạn thảo chúng, hay được bảo trợ bằng cách mua sách phát không cho các trường học dùng làm tài liệu giảng dạy). Và khi biên soạn các sách trên, Petrus Key chỉ nhằm chủ đích “biến đổi và đồng hóa dân An-nam-mít” thành người Pháp, và nhồi sọ thanh thiếu niên Việt ḷng biết ơn công khai hóa của Pháp.(Thư ngày 12/1/1882, Petrus Key gửi Hội đồng Quản hạt; Phiên họp năm 1882 của Conseil Colonial, 15/11/1882, tr. 14-5; Osborne 1969:137; Bùi Kha, “Trương Vĩnh Kư là ai?;” Giao Điểm, số 42 (Hè 2001), tr. 54-5)

 

Nhưng cũng cần nhấn mạnh, muốn đánh giá vai tṛ lịch sử của Petrus Key, phải đặt Petrus Key vào khoảng không thời mà ông ta đang sống, hơn chỉ sử dụng những khuôn thành kiến, phê b́nh cứng ngắc chính trị tính của thế hệ chúng ta như xấu và tốt, “ái quốc” hay “Việt gian.”

 

Đánh giá về vai tṛ văn hóa và giáo dục của Petrus Key, cũng cần thật công tâm, đừng ngại lời cáo buộc “cung văn” hay “đào mộ,” miễn hồ lư luận và sử dụng tài liệu một cách khoa học. Việc chữ quốc ngữ hiện nay được chấp nhận, không có nghĩa những người sáng chế ra nó, ở dạng thức rất đơn sơ, phải được tôn xưng để “uống nước nhớ nguồn.” Các giáo sĩ Portugal đă chỉ phát minh ra tiếng quốc ngữ hiện nay cho mục đích truyền giáo của họ. Cũng cần khẳng định thêm Alexandre de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ “quốc ngữ.” Trước Rhodes đă có ít nhất vài linh mục khác. Thêm nữa, những tác phẩm quốc ngữ đầu tiên của Petrus Key hay “Hùinh Tịnh” Paulus Của, v.. v... tự bản chất cũng chẳng khác ǵ những tác phẩm của nhóm Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, v.. v... sau này. Họ đă ăn lương chính phủ Bảo hộ Pháp để soạn thảo, phổ biến, ấn hành, hoặc hoàn tất chúng với mục đích thương mại (bán cho chính phủ Bảo hộ Pháp). Nên cũng thật dễ hiểu khi Petrus Key và nhiều người đương thời đứng trên quan điểm của người Pháp mà nói về “sự b́nh định xứ Nam Kỳ,” “những nhà bảo hộ mới,” hay “quốc gia mới” (nước Pháp). Nhưng quả thực có vẻ khó nghe khi Petrus Key tảng lờ cuộc kháng chiến chống Pháp hay gọi những lănh tụ kháng chiến là “rebelles” [phiến loạn] trong các báo cáo bằng Pháp ngữ. Giống như Lê Tắc nhiều thế kỷ trước từng liệt kê các anh hùng dân tộc như Trưng Trắc, Triệu ẩu, Lư Bí (Bôn) v.. v... vào hàng ngũ “Bạn nghịch” [những kẻ phản nghịch].

 

[“Trắc oán, dữ muội Trưng Nhị phản, công lược lục thập ngũ thành, tự lập vi vương, Mă Viện trảm chi;” “Cửu Chân, Quân Ninh huyện nữ tử, thiếu bất giá, nhũ trường tam xích, trí ư bối ngoại, trước kim hạt xỉ lư, thừa tượng đấu dữ địch chiến, cư sơn trung, tụ đảng vi đạo, Giao châu thứ sử Lục Duệ tru chi;” “Bí phản, Tư bôn Quảng châu. Bí tiếm hiệu, trí quan kiến Vạn Xuân đài cư chi;” Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch Trần Kính Ḥa (Huế: Viện Đại học Huế, 1961), tr. 240-1]

 

Khoảng 50, 60 năm sau, một đạo hữu của Petrus Key là Ngô Đ́nh Thục, xuất thân từ một gia đ́nh trung gian bản xứ đi sau Petrus Key tại miền Trung, cũng lập lại tiếng “rebelles” này để chỉ phong trào Cần Vương của cụ Phan Đ́nh Phùng và khoe thành tích hăn mă cho chế độ Pháp của cha ḿnh là Ngô Đ́nh Khả, chánh thông ngôn của Ṭa Khâm sứ Huế. (Chính Đạo, VNNB, I-A: 1939-1946 [Houston: Văn Hóa, 1996], tr. 200)

 

          Nói cho cùng lư, Petrus Key và bao người đồng thời khác chỉ là sản phẩm của chế độ thực dân Âu châu nói chung, và trực hoặc gián tiếp là nạn nhân của chính sách thực dân Ki-tô/vật bản của Pháp. Chính v́ thế mà mới có những trăn trở cuối đời Petrus Key về “công và tội,” khi thức ngộ được rằng dẫu có “đưa cả hai tay ra mà nắm lấy người Pháp” th́ ḿnh vẫn chỉ một thứ “người bản xứ được khai hóa” để phục vụ quyền lợi Pháp và Hội truyền giáo.

 

Bài học “người bản xứ được khai hóa,” “văn minh hóa” hay “Pháp hóa” này quốc dân Việt sẽ c̣n phải suy gẫm suốt thế kỷ XXI, nếu không phải lâu hơn.

 

Houston, tháng 11/2000-1/2002

 

Phụ Bản:

 

Đại Nam Thực Lục, Chính Biên & Nuớc Chân Lạp cùng binh lính Việt ở thành Nam Vang

 

14/3-12/4/1801 [Tháng Hai Tân Dậu]: Hoàng tử Cảnh (1780-1801) chết v́ bệnh đậu mùa ở Gia Định (2:386)

 

Vợ là Tống Thị Quyên và hai con, Đán (Mỹ Đường) và Mỹ Thùy.

 

Giám mục Francois Pellerin, khi ra tường tŕnh trước Ủy Ban Cochinchine tại Paris vào tháng 5/1857, nói có lẽ vua Gia Long đă giết Cảnh. (Xem Nguyên Vũ, Paris, Xuân 1996 (Houston: Văn Hoá, 1997). Không rơ Pellerin đă dựa theo nguồn tin nào.

 

Tháng 10 Mậu Tuất [17/11/1838]: Vua Minh Mạng bảo thị thần: Việc thông dịch tiếng Tây dương, trẫm nghĩ rất khó .... Vả lại phong tục nước ấy, giả dối nham hiểm bất thường, đạo giáo Gia-tô, ngày thường trẫm càng ghét lắm. Bọn khanh há không nhớ thái tử Anh Duệ ư? Hoàng khảo ta lúc mới mở nước, bị nước Xiêm khống chế, gửi thái tử Anh Duệ cho người Tây đem về nuôi dạy, để mưu tính giữ ǵn. Đến khi lấy lại được Gia-định, nước ấy trả về, Thái tử không chịu bái yết tôn miếu, nói rằng áo quần theo cách thức nước ấy, Hoàng khảo ta đến bấy giờ mới hối, may nhờ Cao Hoàng hậu khéo dạy dỗ, vài tháng sau thái tử mới thay ḷng đổi dạ, không thế hầu làm người Tây rồi. Lấy đấy suy ra, phong tục nước ấy dễ làm mê đắm ḷng người, thật là đáng ghét." (ĐNTLCB, II, 20:250-1)

 

13/5-10/6/1801 [Tháng Tư Tân Dậu]: Hoàng tử Hi, con thứ hai của Nguyễn Chủng, chết bệnh.

Hi vơ nghệ giỏi, thường mang theo búa bằng đồng. (2:395)

 

27/9/1802 [Tháng Chín Nhâm Tuất]: Hà-Nội: Gia Long phong Lê Duy Hoán làm Diên tự công.( ĐNTLCB, I, 3:74-5).

 

- Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành. (ĐNTLCB, I, 3:80-2)

Đặt ba "Tào" Hộ (giao cho Nguyễn Văn Khiêm), Binh (Đặng Trần Thường), và H́nh (Phạm Như Đăng).(Ibid., 80)

 

4/12/1803: Quảng-Nam: Tàu Gunjava của John W. Roberts tới vịnh Đà Nẵng.

 

Xin gặp Gia Long nhưng vua bận tuần thú ra Bắc. Các đại thần địa phương cũng từ chối không gặp. Liên lạc với ba giáo sĩ Ki-tô là Jean Labartette, Giám mục Veren, cùng các Linh mục Jacques Liot và Francois-Joseph Gérard.

 

Tháng Giêng Giáp Tí [11/2-11/3/1804]:

 

4/3/1804: Thanh-Hoa: Gia Long ban chỉ dụ về vấn đề tôn giáo.

 

Không được sửa chữa các nhà thờ, chùa chiền v.. v.. nếu không được phép của các quan địa phương. Nếu vi phạm, xă trưởng phải bị đầy đi xứ xa, dân th́ sung làm dịch phu, nhẹ thỉ đánh roi hay trượng, "để bớt tổn phí cho dân, mà giữ phong tục thuần hậu." (ĐNTLCB, I, 3:162-9)

Về đạo Ki-tô:

"Lại như đạo Gia tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết. Từ nay về sau, dân các tổng xă nào có nhà thờ Gia tô đổ nát th́ phải tŕnh quan trấn mới được tu bổ, dựng nhà thờ mới th́ đều cấm." (ĐNTLCB, 3:168-9. Theo các giáo sĩ, cấm cả sửa chữa nhà thờ; Louvet, La Cochinchine religieuse, II:16-9; Huồn 1965, I:267-8).

 

1/1/1805 [Tháng Chạp Giáp Tư]: Bangkok: Lễ thụ phong của vua Chân Lạp là Ang Chan II (Nặc ́ng Chăn). Ang Chan mới 15 tuổi. Ngay sau đó, Ang Chan xin thuần phục Việt Nam; định lệ cống 4 năm một lần. Ba anh em của Ang Chan là Ang Em, Ang Duong và Ang Nguyên ở lại Xiêm.

 

28/1/1808 [Tháng Giêng Mậu Th́n]: Gia Định: Đổi tên các dinh trấn.

 

Gia Định trấn: Gia Định thành. Dinh Phiên trấn: trấn Phiên An; Dinh Trấn biên: trấn Biên ḥa. Dinh Vĩnh trấn: trấn Vĩnh Thanh. Dinh Trấn Định: trấn Định Tường. (3:360-1)

 

20/10-17/11/1808 [Tháng Chín Mậu Th́n]: Gia Định: Đặt chức Tổng trấn Gia Định thành.

 

Lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn; Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn. Ban ấn bạc có tay cầm h́nh sư tử.(3:394)

 

4/2-4/3/1810 [Tháng Giêng Canh Ngọ]: Bắc thành:  Nguyễn Văn Thành có tang mẹ, xin đưa quan tài về kinh đô. Vua chấp thuận.

Nguyễn Hoàng Đức thay làm Tổng trấn; Lê Chất làm Hiệp Tổng trấn; Phạm Như Đăng làm Tham Hiệp Tổng trấn. (4:64)

 

* Gia Định: Tổng trấn Nguyễn Văn Nhân bị ốm. (4:52)

 

27/11-25/12/1810 [Tháng Một Canh Ngọ]: Chân Lạp: Gia Long sai Nguyễn Văn Nhân qua Nam Vang duyệt xét t́nh h́nh. (4:98-9, 101-2) Sau, quân Xiêm rút về. (4:103)

 

25/1/1811 [Tháng Giêng Tân Mùi]: Nguyễn Văn Nhân mang quân về Gia Định. Giải tán hương binh. (4:106)

 

24/3/1811 [Tháng Hai Nhuận Tân Mùi?] Huế: Xứ Xiêm nói về việc Nặc Chăn giết quan Bảo hộ Xiêm. (4:110-1, 112-3)

 

23/4/1811 [Tháng Ba Tân Mùi]: Nam Vang: Rút Nguyễn Văn Tồn về nước. Lập 3 đội Tráng ngự, Cường ngự, và Uy ngự, giao cho người Việt ở Chân Lạp cầm đầu. (4:114)

 

11/4-10/5/1812 [Tháng Ba Nhâm Thân]: Nặc Nguyên và Nặc Yêm cầu viện Xiêm đánh Chân Lạp. Nặc Chăn chạy về Nam Vang. Nguyễn Văn Thụy [Thơại] đưa Nặc Chăn về Gia Định tạm trú. (4:146-7)

 

9/7-6/8/ 1812 [Tháng Sáu Nhâm Thân]: Chân Lạp: Xiêm phải rút quân về v́ đánh nhau với Miến Điện. (4:154-5)

 

* Huế: Nguyễn Văn Thành xin lập Thái tử. (4:157)

 

7/8-5/9/1812 [Tháng Bảy Nhâm Thân]: Gia Định: Lê Văn Duyệt thay Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn. (4:160)

 

1/5-29/5/1813 [Tháng Tư Quí Dậu]: Gia Long cho lệnh Lê Văn Duyệt và Ngô Nhân Tĩnh mang 13,000 quân dẫn Nặc Chăn về nước. (4:187-9) Đắp thành Nam Vang cho Nặc Chăn ở. Tuy nhiên, bọn Nặc Nguyên vẫn ở Xiêm.

 

27/7/1813 [Tháng Bảy Quí Dậu]: Chân Lạp: Xây xong thành Nam Vang và Lô Yêm. Lê Văn Duyệt rút quân về. Nguyễn Văn Thụy [Thoại] ở lại bảo hộ với hơn 1000 quân. (4:194-5)

20/2/1814 [Tháng Hai Giáp Tuất]: Huế: Tống Hoàng hậu chết.

 

Thọ 54 tuổi. Vua cho Hoàng tử thứ tư, con nuôi của Tống Hoàng hậu làm chủ tế. Nguyễn Văn Thành muốn Hoàng tôn Đán (tức Mỹ Đụng, con Hoàng tử Cảnh làm Chủ tế). Gia Long nói con theo mệnh cha để tế mẹ là việc danh chính, ngôn thuận, có ǵ mà không nên." Nguyễn Văn Thành có ư không bằng ḷng.(4:213-4)

 

7/7/1815 [Tháng Sáu Ất Hợi]: Gọi Lê Văn Duyệt về kinh. Trương Tấn Bửu quyền Tổng trấn Gia Định.(4:252)

 

30/12/1815-28/1/1816 [Tháng Chạp àt Hợi]: Vua Chân Lạp trở thành một loại "chim hai đầu."

 

Vừa cống hiến Việt Nam, vừa cống hiến Xiêm.

 

* Huế: Vua hạ ngục Nguyễn Văn Thuyên, con Nguyễn Văn Thành (1758-1817).

 

Thành, gốc Thừa-thiên, sau tổ tiên rời vào Gia-định. Trước theo cha chống Tây Sơn ở Sông Cầu. Từng theo Nguyễn Chủng qua Xiêm La, giúp quân Xiêm đánh thắng Miến Điện. Là người đứng đầu sổ công thần, và được phong Tổng trấn Bắc thành. Năm 1810, nhân mẹ chết, mang quan tài về Huế, rồi nắm giữ binh lực (Chưởng Trung quân).

 

Nguyên cớ chính là Thành có ư lập Hoàng tôn Đán, trong khi Gia Long muốn lập Hoàng tử   Đảm. Có lần Gia Long giận nói: "Hắn muốn dựng vua nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng, vỗ lưng chăng. Ta há tối tăm lầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng, vội nghe lời hắn mà không v́ xă tắc chọn người sao?"

 

Từ đó hễ vào chầu là Thành chỉ xin dựng Thái tử. Vua nín lặng. Thành biết không được vừa ư, ḷng sinh ngờ sợ.

 

Con là Thuyên có ḷng mưu phản, chiêu tập hào khách. Có người khách cũ là Nguyễn Trương Hiệu tố cáo với Thiêm sự H́nh bộ Nguyễn Hữu Nghi rằng Thuyên muốn nổi loạn, từng sai Hiệu mang thơ thi mời gọi bọn Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận, lời lễ rất bội nghịch.

 

Thơ rằng:

 

Văn đạo Ái châu đa tuấn kiệt

[Nghe nói đất Ái châu nhiều tuấn kiệt]

Hư hoài trắc tịch dục cầu ti

[Ta để dành chiếu trống bên cạnh đợi chờ]

Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác

[Vô tâm ôm măi ngọc Kinh sơn]

Thiện tướng phưong tri Kư bắc kỳ

[Tướng tài mới biết ngựa kư đất bắc]

U cốc hữu hương thiên lư viễn

[Hương thơm trong u cốc cũng lan ra ngàn phương]

Cao cương minh phượng cửu cao tri

[Phượng gáy trên g̣ cao vang chín chằm]

Thử hồi nhuợc đắc trung sơn tể

[Ví thử t́m được tay tể [tướng] trong hang núi]

Tá ngă kinh luân chuyển hóa ky.

[Giúp ta ra tay chuyển cơ trời]

 

Nghi khuyên Hiệu mang bài thơ tố cáo với Lê Văn Duyệt. Duyệt vốn không ưa Thành, nạp bài thơ cho Gia Long. Vua thoạt tiên chưa muốn tra cứu.

 

Hiệu nhân thế giữ bài thơ làm tiền Thuyên. Có lần c̣n chặn đường Thành đ̣i tiền. Thành bèn cho bắt cả Hiệu và Thuyên, giao cho Quảng Đức viện tra hỏi, rồi đích thân tŕnh sự việc với vua Gia Long.

 

Gia Long giao cho đ́nh thần bàn nghị. Hiệu viện dẫn môn khách của Thuyên là Đỗ Văn Chương làm chứng, nhưng Chương đă bỏ vào Gia Định. Vua bèn tha Thuyên, và cho lệnh bắt Chương về Kinh đối chất.(4:267-9) [Xem 28/2/1816]

 

- Gia Long cấm dân Việt không được qua Chân Lạp làm ăn. (4:264-5)

 

29/1-27/2/1816 [Tháng Giêng Bính Tư]: Đổi Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn Gia Định. (4:270)

 

* Châu Đốc: Đắp bảo Châu Đốc. (4:273)

 

28/2/1816 [Tháng Hai Bính Tư]: Kư lục Quảng Trị là Nguyễn Duy Ḥa hạch tội Nguyễn Văn Thành. (4:275-6)

 

Tham tri bộ H́nh Vơ Trinh và Chưởng cơ Tống Phước Ngoạn bị hạ ngục. Lư do là xúi người làm chứng gian bênh vực Nguyễn Văn Thuyên. (4:277)

 

29/3/1816 [Tháng Ba Bính Tư]: Gia Long muốn lập Hoàng tử thứ tư là Hiệu làm Thái tử. (4:278-80) Hiệu c̣n có tên là Đảm (1791-1841).

 

27/4/1816 [Tháng Tư Bính Tư]: Thu ấn Chưởng trung quân của Nguyễn Văn Thành. Thuyên bị tống giam vào ngục.

 

Nguyễn Văn Nhân làm Chưởng Hữu quân, lănh ấn Chưởng Trung quân của Thành.(4:283-4)

27/5/1816 [Tháng Năm Bính Tư]:

 

Tháng Năm [Ngày [11] Kỷ Mùi]: Chuẩn bị lễ tấn phong Hoàng thái tử.(ĐNTLCB, I, 4:288-289)

25/6/1816 [Tháng Sáu Bính Tư]:

 

25/6/1816: Huế: Ban mũ áo cho Hoàng thái tử Đảm. (4:288)

 

5/7/1816: Huế: Chính thức lập Đảm làm Hoàng Thái tử. (4:288)

 

- Luận tội Thành và Thuyên. (4:292-3)

 

21/9/1816 [Tháng Tám Bính Tư]: Huế: Sứ Xiêm tới hỏi việc Nặc Chân. (4:299)

 

- Phong Trương Tấn Bửu làm Chưởng Trung quân. (4:300)

 

21/10/1816 [Tháng Chín Bính Tư]: Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn Gia Định. (4:305)

 

* Chân Lạp: Cử Chưởng cơ Lưu Phước Tường thay Nguyễn Văn Thụy [Thoại]. (4:300)

Sứ Chân Lạp có thể chầu hàng năm ở Gia Định. (4:301)

19/11/1816 [Tháng Mười Bính Tư]: Huế: Người tự nhận ăn cắp ấn Tả quân của Lê Văn Duyệt khai do Nguyễn Văn Thành xúi bẩy. Vua không tin. (4:302)

 

19/12/1816-16/1/1817 [Tháng Một Bính Tư]: Gia Long cử Lưu Phước Tường làm Bảo hộ Chân Lạp. (4:305)

 

15/6-13/7/1817 [Tháng Năm Đinh Sửu]: Nguyễn Văn Thành bị tống giam; uống thuốc độc tự tử.

Thành bị khép vào tội mưu phản với Lê Duy Hoán. Con Thành là Thuyên bị lăng tŕ. (ĐNTL,CB, I, 4:319-22) Việc này liên quan đến chuyện phế lập. (Xem ĐNTL,CB, I, 4:214) Cũng có thể do tư thù với Lê Văn Duyệt và Lê Chất. (ĐNTL,CB, I, 4:302)

 

Con Thành là Nguyễn Văn Hàm sau theo Nguyễn Hựu Khôi làm loạn, chỉ huy lực lượng Ki-tô giáo. V́ thế tất cả các con cháu Thành đều bị giết. Măi tới năm 1848, Vũ Xuân Cẩn mới dâng sớ xin truy xét công trạng của Thành; cho ḍng dơi là Loại làm chủ quân Cai đội.(ĐNTL,CB, IV, 27:76-7,119-20) [Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 83n38]

 

Petrus Key và các giáo sĩ chép rằng chuyện này xảy ra dưới thời Minh Mạng, và “Nguyễn Văn Thiềng” [Thành] “Phó vương (Vice Roi) ở Bắc Kỳ” bị Minh Mạng giết v́ một bức thơ giả mang dấu ấn của Thiềng. Lê Văn Duyệt “ngán ngẫm” trước cảnh này, xin vào Gia định đánh giặc. (Cours d’ histoire annamite, 1857, tome II, tr. 261; Trấn 1993, tr. 51-2.

 

* Nam Vang: Đặt thêm đội Hùng bộ, mộ dân Việt xung vào. (4:322)

 

11/9-10/10/1817 [Tháng Tám Đinh Sửu]: Cách chức Bảo hộ Lưu Phước Tường. Phó tướng Tả quân Nguyễn Văn Xuân thay. (4:330)

 

30/9-29/10/1818 [Tháng Chín Mậu Dần]: Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Thụy [Thoại] làm Thống chế, bảo hộ Chân Lạp. Nguyễn Văn Xuân lănh trấn thủ Vĩnh Thanh.

 

27/12-25/1/1819 [Tháng Chạp Mậu Dần]: Rút bảo hộ Nguyễn Văn Thụy [Thoại] về Gia định. Cử Trần Văn Tuân thay. Vua Chân Lạp không thích Thụy, muốn lưu giữ Nguyễn Văn Xuân. (4:363-4)

 

19/10-17/11/1819 [Tháng Chín Kỷ Măo]: Đào sông Vĩnh Tế. Từ Châu đốc qua Hà Tiên. Sử dụng 5,000 nhân công, 500 dân quân. C̣n dùng 5,000 dân Miên. Bắt đầu từ tháng 12.(4:389-90)

* Nam Vang: Băi bỏ chức Bảo hộ. Chỉ lưu lại 3 ngự đội trú đóng tại Nam Vang.(4:390)

* Gia Định: Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức, chưởng Tiền quân Quận công chết. Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân thay. (4:390-1)

 

11/6-9/7/1820 [Tháng 5 Canh Th́n]: Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt được cử làm Tổng trấn Gia Định.

Toàn quyền hành động. Giết được Sư Kế, lănh tụ kháng chiến chiến quân Chân Lạp. Giết Phó trấn Hoàng Công Lư.(ĐNLT,CB, q. 23 (Lê Văn Duyệt hạ), 1993 [Việt ngữ], II:391-2)

 

6/8/1823 [Tháng Bảy Quí Mùi]: Lê Văn Duyệt xin về kinh.

 

Vua thuận cho mang theo 1000 biền binh. Cử Trương Tấn Bửu làm quyền Tổng trấn.(6:212)

 

2/12/1823 [Tháng Một Quí Mùi]: Lê Văn Duyệt về tới kinh. (6:237-8)

 

1/3-29/3/1924  [Tháng Hai Giáp Thân]: Lê Văn Duyệt và Lê Chất dâng sớ xin từ chức Tổng trấn. (7:16)

 

27/6-25/7/1824  [Tháng 6 Giáp Thân]: Cho Lê Văn Duyệt về lại Gia Định thành. (7:63)

 

Chuyến đi này của Duyệt liên hệ đến vụ án Mỹ Đường thông gian với Tống Thị Quyên. Duyệt trấn nước Tống Thị Quyên đến chết. (7:104; ĐNLT, CB q. 20 (truyện Anh Duệ Hoàng thái tử) & 23 (truyện Lê Văn Duyệt hạ), [1993] II:52, 396) [Xem Tháng 12 Giáp Thân]

 

11/12/1924: Chaigneau và Vannier rời Đà Nẵng vào Sài-g̣n.

 

Lê Văn Duyệt tiếp đón. Sau qua Singapore, rồi lên tàu Courrier de la Paix của hăng Balguerie et Cie về Bordeaux vào tháng 9/1825. Chaigneau chết tại Pháp năm 1832; Vannier, năm 1842.

19/1-17/2/1825  [Tháng 12 Giáp Thân]: Gia Định: Thành lập đội Hồi lương.

492 tù xung quân và tội lưu được tổ chức thành 10 đội Hồi lương; mỗi đội 50 người. (7:103)

* Huế: Biếm chức Mỹ Đường (?-1849) thành thường dân.

Trước đây, Mỹ Đường bị kết tội thông gian với mẹ đẻ là Tống Thị Quyên. Lê Văn Duyệt d́m chết Tống Thị Quyên. Mỹ Đường không được vào chầu. (ĐNTL,CB, 7:104-5; ĐNLT,CB, q. 2 & 23 (1993), II:49, 396)

Đây là dư hưởng cuộc tranh ngôi báu từ năm 1816. Cuộc thảm sát Tống thị Quyên, vợ Cảnh, năm 1824 và cái chết của Mỹ Thùy (em Đán) hai năm sau khiến các giáo sĩ tung tin Minh Mạng giết chị dâu và cháu để che dấu tội loạn luân. Thực ra, Mỹ Đường chết năm 1849. Riêng con trưởng Mỹ Đường, Tôn Thất Lệ Chung, được lấy làm con Mỹ Thùy, để thờ phụng Anh Duệ, với tước Thái b́nh công, hưởng lương bổng ngang với Chánh nhị phẩm. Sau khi Mỹ Đường chết, Tự Đức cho con cháu được biên lại vào sổ Tôn thất.(ĐNLT, CB, q. 2 (truyện Anh Duệ) [1993], II:49-52)

Thập niên 1870, Petrus Trương Vĩnh Kư, trong tập Cours d’histoire annamite [Bài giảng sử nước An Nam], (1877, II:258-9), thuật lại rằng: Người ta nói Minh Mạng “đi lại” với chị dâu góa [Tống Thị]. Và chị có thai. Khi cái bụng không c̣n ém được người đàn bà bị kết tội lăng chạ và thọ tử h́nh, chết với hai đứa con trai, với cái ơn vua là tự lựa chọn trong “tam ban trào điển” [tự tử bằng thuốc độc, thắt cổ, hoặc dao găm]. Sau khi Trần Trọng Kim, tác giả VNSL, khẳng định lời đồn này vô căn, (II:187) vẫn có người, v́ lư do này hay lư do khác, lập lại “lời đồn” trên trong tác phẩm của ḿnh như một sự thực lịch sử. (Phan Phát Huồn 1965, I:300-1; Nguyễn Văn Trấn 1993, tr. 51).

12/2/1825: Huế: “Dụ” cấm đạo đầu tiên. Theo các giáo sĩ, triều đ́nh gửi cho Tổng đốc Quảng-nam văn thư sau:

"Tà đạo của Âu châu làm hư hỏng ḷng người. Từ lâu, các thuyền Âu châu  khi đến buôn bán đă để lại nhiều cố đạo trong nước. Những cố đạo này dụ dỗ và làm hư hỏng nhân dân, đồng thời thay đổi và phá đổ các tập tục tốt lành trong nước....[K]hi có tàu Pháp đến th́ phải chú tâm xem xét cẩn thận." (Thơ của Taberd, 1825, Annales III:456; Louvet, La Cochinchine religieuse, II:41; Huồn 1965, I:279; Gosselin, 113)

 

17/2/1825: Một nhà du lịch Bri-tên nhận xét Chân Lạp chia làm 3 phần: một do Xiêm kiểm soát, một do Việt, phần c̣n lại tự trị. (J.H. Moor, Notices of the Indian Archipelago (Singapore 1838; reprinted London 1968), tr. 238, dẫn Calcutta Journal, Feb 11, 1823; In Search 1971:120)

 

20/3/1825  [Tháng Hai Ất Dậu]: Mỹ Đường (Đán) đi thăm con bị bắt về. (7:120)

 

4/8-1/9/1826  [Tháng Bảy Bính Tuất]: Thái B́nh Công Mỹ Thùy chết. (8:76)

 

Thùy đang bị lính ở Dực Chấn kiện th́ bị bệnh chết. Không có con, bèn lấy con cả của Mỹ Đường (Đán) là Lệ Chung, tập phong làm Ứng Ḥa Hầu, phụng thờ Anh Duệ Hoàng Thái tử. Năm sau, đổi làm Thái B́nh hầu.(ĐNLT,CB, 1993, II:49)

 

2/9/1826  [Tháng Tám Bính Tuất]: Cho Lệ Chung, con Mỹ Đường (Đán), mới 6 tuổi được tước Ứng Ḥa hầu. (8:97)

 

29/12/1826-26/1/1827  [Tháng Chạp Bính Tuất]: Taberd [Phú Hoài Nhân] được phong làm Giám mục Đàng Trong.

 

Dưới quyền có 8 giáo sĩ, 20 giáo mục bản xứ, và 60,000 giáo dân.(Huồn 1965, I:283)

 

22/8-20/9/1827  [Tháng Bảy Đinh Hợi]: Chao Anu chạy qua tá túc ở Nghệ An. (8:273)

 

* Huế: Bổ Taberd làm chánh thất phẩm thông dịch ty Hành nhân.

 

Tây Hoài Hoa (Isodoro Gagelin) và Tây Hoài Hóa (Odorico de Collodi), tùng thất phẩm. Cấm không được ra ngoài để truyền giáo.(8:283) Ba giáo sĩ được mời về Huế là Gagelin [Tây Hoài Hoa], Taberd (Phú Hoài Nhân), và Odorico de Collodi (Tây Hoài Hóa). Ba người làm việc từ 1827 tới 1828; Woodside 1971: 264-5. Họ được cư ngụ trong cung điện dành cho các đại sứ ngoại quốc. [Xem 1/6/1828] Sau này, Gagelin [và Jaccard] bị Minh Mạng giết, được Giáo hội La Mă phong thánh.

 

Về cơ quan thông dịch của triều Nguyễn, Hành Nhân ty thành lập năm 1827, và qua năm 1835, đổi thành Tứ dịch quán; Đại Nam hội điển sự lệ, 10:33ff; Woodside 1971:264.

 

Một tác giả Pháp ghi họ được chức Chánh nhị phẩm [cao hơn Tổng đốc!; Launay, Histoire générale de la Société des Missions étrangères, II:530; Huồn 1965, I:280-1)

 

Tháng Mười Đinh Hợi [19/11-17/12/1827]:

 

12/1827: Lê Văn Duyệt về tới kinh đô.

 

Theo các giáo sĩ, Duyệt về Huế [vào tháng 8/1827] để xin tha cho các cố đạo.(Louvet, La Cochinchine religieuse, II:43; Launay, Histoire de la SME, II:534; Cultru, Histoire de la Cochinchine francaise, 43; Huồn 1965, I:282). Trên danh nghĩa, Duyệt về Kinh dự lễ Thượng thọ 60 tuổi của Hoàng Thái hậu. (7:308, 317) [Xem tháng 3 Mậu Tư]

 

14/4-13/5/1828 [Tháng Ba Mậu Tư]: Lê Văn Duyệt về lại Gia Định.

 

Duyệt bị ốm nên ở lại Huế. Cho Duyệt trở lại Gia Định v́ người Xiêm nể sợ. Cho mang theo vệ úy Lê Văn Tề, cùng các vệ Minh Nghĩa, 2 vệ Tả bảo nhất, Tả bảo nhị, và 2 cơ Thanh thuận, An thuận.(9:42) Phong cho Nguyễn Hựu Khôi làm phó vệ úy vệ Minh Nghĩa. Theo lời xin của Lê Văn Duyệt.(9:31)

 

14/5/1828 [Tháng Tư Mậu Tư]:

 

1/6/1828: Taberd, Gagelin và Odorico được phép rời Huế vào Nam.

 

Theo các giáo sĩ đây là do Duyệt đích thân ra Huế xin cho họ. [Sử Nguyễn không chép việc này]

 

12/6/1828 [Tháng Năm Mậu Tư]: Bắc Thành: Phát hiện vụ tham ô của Trần Nhật Vĩnh khi c̣n ở Gia-định.

Vĩnh trước là người tin cậy của Duyệt ở Gia định.(9:66, 71) Tháng Hai Kỷ Sửu [5/3/1829], giết Trần Nhật Vĩnh. Tịch biên tài sản Vĩnh được 128,000 quan. Cách chức Phạm Văn Châu, trấn thủ Phiên an; cai bạ Nguyễn Bá Uông; hiệp trấn Ngô Đức Chính.

4/2-4/3/1829 [Tháng Giêng Kỷ Sửu]: Nghệ An: Con A Nỗ là Chiêu Sơ chạy sang Trấn Tĩnh.

 

Khi A Nỗ dẫn binh về nước, bị Chiêu Nội, Pḥng ngự sứ Trấn Ninh, bắt giải qua Xiêm. Chiêu Sơ xin về Nghệ An, nhưng vua ngại tai tiếng, cho ở Trấn Tĩnh.(9:170)

 

* Huế: Francis Jaccard (Phan Văn Kính hay Ninh?) được bổ nhiệm làm quan trong Hành Nhân ty [tới 1833].

 

Jaccard là người đă dịch cho Minh Mạng một số tài liệu về cuộc cách mạng 1789 của Pháp, cuộc đời Napoléon và cuộc chinh phục Ấn Độ của Bri-tên (Woodside 1971: 264-5). Sau này, Jaccard [và Gagelin] bị Minh Mạng giết, và được Giáo hội La Mă phong thánh. [Về cơ quan thông dịch của triều Nguyễn, Hành Nhân ty thành lập năm 1827, và qua năm 1835, đổi thành Tứ dịch quán; Đại Nam hội điển sự lệ, 10:33ff; Woodside 1971:264].

 

5/3/1829 [Tháng Hai Kỷ Sửu]: Huế: Sai Bạch Xuân Nguyên làm Chánh sứ qua Xiêm về việc Vạn Tượng.

 

Nguyên A Nỗ đă bỏ chạy sang Nghệ An. Được quân Nguyễn đưa về. Sau hiềm khích với người Xiêm, đánh nhau. Qua năm 1828, quân Xiêm giết chết sứ giả Việt gửi qua Xiêm. Sau quân Xiêm lại tấn công qua Lào.

 

Minh Mạng chỉ muốn giữ t́nh láng giềng với Xiêm. Miến Điện đă muốn liên kết đánh Xiêm, nhưng Minh Mạng từ chối. Cử sứ sang Xiêm, không có hồi âm. Đ̣i trả lại Lê Đ́nh Duật và đạo sắc thư gửi cho A Nỗ, đồng thời trừng trị Thung-vi-sây, người đă giết sứ giả, và bọn tùy tướng ở địa phương (thiên tư). (9:186-9)

 

12/4-11/5/1831  [Tháng Ba Tân Măo]: Lê Văn Duyệt mật báo quân Xiêm có thể gây hấn ở Lào và Chân Lạp.

 

Sau đó Duyệt lại mật báo đa số người Phiên đều "hai ḷng." (10:234-6, 237-8) Rồi báo quân Xiêm đưa hai em Nặc Chăn là Nặc Yêm, Nặc Giun về nước để báo hiếu cho mẹ. (10:239-41)

 

[Tài liệu Miên ghi năm 1830, Tướng Xiêm là Bodin đưa Ang Em và Ang Duong về nước. Ang Chan II phải bỏ chạy khỏi kinh thành. Bodin đưa quân đến tận Châu Đốc. Bị quân Nguyễn đánh tan; đưa Ang Chan II về lại kinh thành; Lê Hương, “Việc bang giao Miên-Việt;” Bách Khoa, 322 (1/6/1970), tr. 26.]

30/5-27/6/1832  [Tháng Năm Nhâm Th́n]: Thừa Thiên: Quản thúc giáo sĩ Phan Văn Kinh (Jaccard).

Jaccard được khoan hồng  "v́ là người ngoại di ở phương xa, chưa thuộc pháp độ, được gia ơn cho làm lính ở phủ Thừa Thiên, nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt, không cho ra ngoài để truyền giáo."

Bắt nhốt 1 lư cựu (Phạm Văn Khoa), 1 lư trưởng (Trần Văn Tài) ở làng Dương Sơn, huyện Hương Trà. Khoa bị giảo giam hậu (tội thắt cổ chết, nhưng tạm giam chờ hành h́nh). Tài bị phát văng sung quân ở Trấn Ninh. Vũ lâm Phó đội Trần Văn Sơn bị cách chức, cùng 13 quân nhân khác bị phát lưu. Sơn và những người đi Quảng Ngăi gọi là "Phục nghĩa binh." Những ai đi Thanh Hoa gọi là "Phục Hoa binh." Nhà thờ đạo th́ rỡ đi. (14:84)

 

28/6/1832 [Tháng Sáu Nhâm Th́n]: Linh mục Pierre Retord rời Macao qua Tây Đàng Ngoài (Tonking Occidental).

 

Giáo phận này do GM Havard cai quản; gồm 8 Linh Mục ngoại quốc, 80 giáo mục bản xứ, 180,000 giáo dân. Trụ sở chính đặt tại Kẻ Vinh. Có hai chủng viện tại Tho Ki và Kẻ Nạp, cùng 110 couvents, 1,200 nhà thờ. Nhưng từ năm 1831(?), Minh Mệnh đă ra lệnh cấm đạo. Giáo sĩ phải ẩn trốn, các trụ sở Ki-tô bị đánh phá.

 

27/7/1832  [Tháng Bảy Nhâm Th́n]: Lê Văn Duyệt ốm nặng. (11:122)

 

Thống chế biền binh Nguyễn Văn Quế tạm lănh Tổng trấn Gia Định. (11:122) Hiệp lư Binh tào là Bạch Xuân Nguyên. (11:140)

 

* Huế: Từ nay, quan văn đứng bên trái (tả), vơ đứng bên tay phải (hữu).

 

Văn Minh điện nằm phía trái điện Cần Chánh, Vơ hiển điện nằm bên phải. (11:130)

2/8/1832: Retord tường tŕnh về những hành động đánh phá Ki-tô giáo của Minh Mạng. (Ann, t. VI)

26/8-23/9/1832  [Tháng Tám Nhâm Th́n]: Lê Văn Duyệt chết. (11:140)

 

Vua rút hai vệ Tả bảo nhất và nhị thuộc Tả quân từ Gia Định về kinh; vệ Minh Nghĩa rút về Quảng Ngăi.

 

Thuộc binh, viên tử, hào mục của Duyệt bổ sung vào chân khuyết trong cơ đội ở thành. Ai muốn về quê quán th́ giao sở tại ghi vào sổ để chịu sai dịch. (11:141)

 

- Quở trách Ngô Bá Nhân ở đồn Châu Đốc.

 

Bá Nhân c̣n giữ chức Bảo hộ Chân Lạp.(11:139)

 

20/4/1833 [Tháng Ba Quí Tị Vua Minh Mạng cắt cho Chân Lạp hai đội (100 lính) dưới quyền sai phái của Nặc Chăn. Ngạch lính thuộc sổ quân cơ An Giang. Ngoài ra c̣n 10 đội quân Phiên. (12:83-4)

11/12/1833-9/1/1834 [Tháng [Mười] Một Quí Tị Quân Xiêm chia làm 3 đạo xâm phạm nước ta. Thừa biện Nam Vang là Hồ Công Chỉ báo cáo về An Giang. Vua cho lệnh cấp phát thuyền, binh lo pḥng thủ các tỉnh miền Nam. (13:283-5)

 

Khi quân Xiêm tiến tới sóc Phù sư, giáp ranh Chân Lạp, Đặng Văn Bằng tăng phái cho Nam Vang 100 lính, do quản cơ Mai Văn Đặng chỉ huy. Lại điều 300 biền binh từ Vĩnh Long về giữ tỉnh li An Giang, và báo cáo với Gia Định.

 

Vua sai Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân mỗi người dẫn 1,500 quân cưỡi thuyền đến An Giang. Trần Văn Năng sẽ lưu lại giữ thành An Giang. Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lănh nửa đại binh kéo lên Nam Vang. Đồng thời cho sứ tới Battambang chất vấn Tướng Xiêm.(13:292-3)

 

10/1-8/2/1834 [Tháng Chạp Quí Tị Vua Chân Lạp cưỡi thuyền nhỏ chạy sang An Giang. (13:297) [Sau chạy tới Vĩnh Long; dân theo 1,800 người, hơn 100 chiếc thuyền; 13:377-9]

 

- Quân Xiêm đánh phủ Bông xuy của Chân Lạp, tiến đến vụng Xà Năng, chỉ c̣n cách Nam Vang một ngày đường. Vua cho lệnh Nguyễn Văn Năng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lập tức tiến quân. (13:297-9) Phó lănh binh Lê Đại Cương làm Lănh binh An Giang. Thái Công Triều làm thành thủ úy. Gọi thêm hương dơng ba tỉnh An Giang, Vĩnh Long và Định Tường. Mỗi tỉnh 2000-3000 người. (13:298)

 

* Hà Tiên: Thủy binh Xiêm tới hải phận Lam Dữ. Tuần phủ Trịnh Đường báo cáo về Gia Định. (13:311-2) Sau đó, hơn 100 chiến thuyền Xiêm xâm phạm hải phận Hà Tiên. Theo hai đường tiến đến: cửa biển Kim Dữ, và do sông nhánh Thị Lư đổ bộ. (13:316)  Quân Xiêm tiến đến sát thành Hà Tiên. Giặc dùng quân nhà Thanh làm tiền quân. Hà Tiên thất thủ. Các quan chạy về An Giang. (13:319-20)

 

* Quân Xiêm chiếm Nam Vang. Thừa biện Hồ Công Chỉ phải triệt thoái v́ viện binh không đến kịp. (13:336-9) Cho lệnh dân chúng tự động chiêu mộ binh sĩ, luyện tập đánh giặc. (13:339)

 

* Quân Xiêm chia hai đường đánh chiếm đồn Châu Đốc. An Giang thất thủ. Trương Minh Giảng phá quân Xiêm ở Thuận cảng. Vua ban cho Giảng và Nguyễn Xuân tước Nam.(13:374-6)

 

9/2-9/3/1834 [Tháng Giêng Giáp Ngọ]: Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân đánh tan giặc Xiêm ở Cổ Hỗ, chiếm lại được Châu Đốc. (14:33-6) ít lâu sau, chiếm lại đồn Hà Tiên. (14:40-5)

 

Trần Văn Năng, Trương Minh Giảng dẫn quân lên Nam Vang. (14:46-7) Vua sai hộ tống vua Chân Lạp từ Vĩnh Long về nước. (14:48) Quân Xiêm cũng rút khỏi Lào. (14:49-51)

 

9/4-8/5/1834 [Tháng Ba Giáp Ngọ]: Đánh tan được quân Xiêm ở Chân Lạp. Để lại Nam Vang 2,000 quân. Vua dự trù xây đồn "An Man," cử một lănh binh coi.

 

9/5-6/6/1834 [Tháng Tư Giáp Ngọ]: Thành An Man xây gần xong. Cho vua Chân Lạp dời đô về Nam Vang. (14: 233-4)

 

7/7-4/8/1834 [Tháng Sáu Giáp Ngọ]: Phó vệ úy Nguyễn Văn Ḥa làm Lănh binh đồn An Man. Thái Công Triều hợp lực cai quản binh đội. (14:359)

 

29/1-26/2/1835 [Tháng Giêng àt Mùi]: Sai Phan Thanh Giản đến đồn An Man tuyên chỉ: Phong Ang May [Ngọc Vân] làm Ngọc Vân Chân lạp quận chúa. (16:21, 105-6)

 

Đổi đồn An Man làm thành Trấn Tây. Trương Minh Giảng làm Tổng đốc, phụ tá có Lê Đại Cương. Sai thêm 20 viên chức qua làm việc. (16:22) Giảng được phong tuớc B́nh thành bá, Đông các Đại học sĩ, lănh ấn Tổng đốc An-Hà, bảo hộ Chân Lạp. (16:24-5) Nguyễn Văn Ḥa được đổi làm Lănh binh thành Trấn Tây; vệ úy Nguyễn Văn T́nh làm Phó Lănh binh. (16:41)

 

3-31/7/1837 [Tháng Sáu Đinh Dậu]: Trấn Tây: Chiêu tập lưu dân thành 22 thôn ấp, ở cùng với dân phiên, khai khẩn đất hoang. (19:148)

 

17/12/1838-14/1/1839 [Tháng Một Mậu Tuất]: Vua mật dụ cho Trương Minh Giảng cân nhắc ba cơ An Man. Binh sĩ ba cơ này phần đông là người Chàm Ầồ bà ở nhờ đất Chân Lạp. Hết ḷng trung thành với nhà Nguyễn, nên bị thổ dân ghét. (20:262-5)

 

14/2/1839 [Tháng Giêng Kỷ Hợi]: Bắt đầu đặt quan người Việt ở Trấn Tây. Trương Minh Giảng xin trước 13 huyện quanh thành. (21:19) Hiệp trấn Cao Hữu Dực xin cho Phó quản cơ Triệu Văn Bảo qua Trấn Tây làm việc. (21:24) Xin hoán đổi tượng binh. (21:28)

 

9/8/1839 [Tháng Bảy Kỷ Hợi]: Cho lệnh giảm bớt việc đưa phạm nhân tới Trấn Tây. Hiện có hơn 1,400 tù phạm ở Trấn Tây. Số người phải làm chuộc tội lên tới 840 người. Trong ngục có 594 tù. (21:165, 168-9)

 

31/5-28/6/1840  [Tháng 5 Canh Tư]:  Đặt lại phủ huyện thành Trấn Tây. Trước đây đă lấy 2 phủ, 5 huyện chia vào hai tỉnh An Giang và Hà Tiên. Nay Trương Minh Giảng xin chia làm 6 tỉnh, gồm 14 phủ, và 29 huyện. Tại Hà Tiên, lấy hai huyện Long Xuyên và Kiến Giang thành một phủ, hợp cùng phủ Ba Xuyên của An Giang thành một tỉnh nhỏ. Vua chỉ cho chia thành 10 phủ, 23 huyện:

 

- Tổ chức lại quân đội ở Trấn Tây thành. Tất cả có 26 cơ; cơ tượng mục chuyên việc nuôi voi để nguyên. 25 cơ c̣n lại chia làm 5 doanh.

 

Tướng quân trực tiếp chỉ huy 2 doanh trung (Phó Lănh binh Nguyễn Văn Ḥa) và tiền (Phó Lănh binh Hoàng Phúc Lợi). Tham tán chỉ huy tả doanh (Phó lănh binh Nguyễn Công Nhàn). Đề đốc chỉ huy hữu doanh (Phó lănh binh Nguyễn Tiến Phúc). Hiệp tán chỉ huy hậu doanh (Phó vệ úy Phan Ầ́nh Vinh). Mỗi cơ xen vào 5, 6 người Việt gọi là "quản xuất" và có 1 lại dịch coi việc sổ sách.(22:134-6)

 

- Đổi phong quận chúa Chân Lạp là Ngọc Vân [Ang May] thành Mỹ Lâm quận chúa. Ngọc Vân được một toán lính hầu gồm 2 xuất đội, 100 lính; Ngọc Biện, Ngọc Thu, Ngọc Nguyên, mỗi người 1 xuất đội, 30 lính. (22:139)

 

- Lập miếu quốc vương Chân Lạp. (22:144-5): Minh Mạng lấy nước Chân Lạp từ tay quân Xiêm. Chân [Ang Chan] chết, đó là số trời. Nay đă xáp nhập vào Đại Nam, nên lập miếu thờ để tỏ rơ đạo "ưu hậu."

 

29/6-18/7/1840  [Tháng 6 Canh Tư]: Giáng chức quan chức Miên. Chưởng Vệ Trà Long xuống làm Cai đội. Nhâm Vụ làm Chánh Đội trưởng. Vệ úy La Kiên làm Đội trưởng. Phát giao cho Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên quản thúc. (22:157-8)

 

29/7-26/8/1840  [Tháng 7 Canh Tư]: Vũ Đức Trung làm Đề͊ đốc thành Trấn Tây. (22:173) Bố chính Nguyễn Song Thanh làm Tuyên phủ sứ Hải Tây; Trần Văn Thông làm Tuyên phủ sứ Hải Đông; Vũ Danh Thạc làm Lương trừ đạo thành Trấn Tây;

 

- Đưa bọn Ngọc Vân [Ang May] về Gia Định. (22:177-80) Đây là do vụ án Ngọc Biện thông đồng với địch [Nặc Yểm].

 

- Lănh binh Hoàng Phúc Lợi coi đồn Chi Trinh; Phó Lănh binh là Nguyễn Công Nhàn. (22:194-5)

27/8-25/9/1840  [Tháng 8 Canh Tư]: Thổ dân thành Trấn Tây làm phản. Giết chết Hoàng Công Hiền, Tri phủ Hà Đông; Tư vụ Nguyễn Văn Bách (từ kinh phái ra); Lại mục Vơ Văn Thọ. Tri phủ [Vơ công] Phạm Văn Chỉnh bỏ chạy. (22:225-6)

 

[Theo tài liệu Miên, một lư do là chính sách đàn áp Phật giáo của quan tướng nhà Nguyễn; Etienne Aymonier, Le Cambodge (Paris: 1900-1903), III:798. Đại Nam Thực Lục cũng ghi tên Sư Kế, một lănh tụ tranh đấu Phật giáo Miên, nhưng không đi sâu vào chi tiết. Nên lưu ư rằng các tác giả Pháp thường muốn đề cao chủ quyền của vương quốc Miên trước năm 1863, cho những mục tiêu chính trị giai đoạn: tranh chấp biên giới với Xiêm La. Tương tự như thập niên 1880, các quan chức Pháp yêu cầu triều Nguyễn t́m cho bằng được những bằng chứng về biên giới Ai Lao phía Tây sông Khung hay Mekong cho mục tiêu chính trị giai đoạn là biến Lào thành một xứ mới trong Liên bang Đông Dương]

 

- Trương Minh Giảng phái Phó Lănh binh Nguyễn Tiến Phúc đến phủ Vơ Công; quản cơ Lê Văn Chân đến phủ Nghi Ḥa. Viện binh An Giang và Vĩnh Long kéo qua đàn áp. Sau đó lấy thêm quân Gia Định, Biên Ḥa, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lại c̣n cử một số Tướng ở Kinh tăng viện. Mang bọn Trà Long về kinh, hạ ngục, bắt viết thư khuyến khích ngừng nổi loạn. (22:225-32)

 

- Thổ biền tại phủ Quảng Biên là Quản cơ Nha Tiên, huyện úy Khai biên là Biên Kế tại tỉnh Hà Tiên cũng họp hơn 2,000 người nổi loạn, chiếm giữ trạm Quảng Trường, huyện Vĩnh Trường. Lănh binh Hà Văn Củ mang quân tới đánh.

 

- Khắp Trấn Tây chỗ nào cũng có giặc. Phải lấy thêm quân Khánh Ḥa, Phú Yên, B́nh Thuận vào tiếp ứng. Đề͊ đốc Vũ Đức Trung thắng lớn ở Lợi Bắc và Rừng Me. (22:232-5)

 

* Chân Lạp: Dân Miên nổi dạy chống nhà Nguyễn. Xiêm yểm trợ Ang Duong [Nặc Ong Giun], em Ang Chan.

 

26/9-24/10/1840  [Tháng 9 Canh Tư]: Thổ mục Y La Việt Tốt ở huyện Hà Âm, phủ Tĩnh Biên nổi loạn. Có 700 quân. Lănh binh Nguyễn Đức Huấn mang quân đến đánh, bị bại. (22:238-9)

 

* Trấn Tây: Huyện úy huyện Phong Nhương là Sa Tuân làm phản. Tri huyện Vũ Doăn Thạnh, huấn đạo Nguyễn Văn Thiết chạy về Hà Tiên lánh nạn. (22:239-40)

 

- Phủ úy phủ Hải Đông là Bồn Đột làm phản. (22:241-6) Nhiều quan chức người Miên cũng nổi dạy. Lănh binh Nguyễn Đức Huấn ở Vĩnh Tế bảo bị cách làm lính. (22:247-8)

 

* Định Tường: Thổ dân Nam Thái nổi loạn, cướp đồn Bồng Nguyên. Vệ úy Trần Hợp đánh tan, thu lại thành. (22:239-41)

 

* Phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định: 2,000 quân Miên tấn công phủ, giết chết suất đội Nguyễn Văn Nhiên. (22:249) Bố chính Lê Khánh Trinh sai vệ úy là Trương Cầm, phó cơ là Trần Văn Thanh, chặn được địch. Tổng đốc Nguyễn Văn Trọng sai Phó lănh binh là Trần Nhữ  Đoan tăng viện. (22:249)

 

- Lấy lănh binh Quảng Ngăi là Vũ Viết Tuấn làm Lănh binh ở Trấn Tây. (Tôn Thất Khải thay Tuấn ở Quảng Ngăi) Phó Lănh binh B́nh Định là Nguyễn Duy Tráng thăng thự Lănh binh An Giang. (Phó vệ úy Nguyễn Lương Nhàn thay Tráng)

 

- Giáng chức Trương Minh Giảng, Dương Văn Phong (tham tán), Cao Hữu Dực (hiệp tán).

 

* Hà Tiên: Tổng đốc An-Hà Dương Văn Phong sai Lănh binh Hà Văn Củ mang 600 biền binh đánh đồn Chu Nham, đă bị giặc chiếm. Thua to. Phó vệ úy Định Tường là Nguyễn Văn Điệp, cai đội thủy vệ An Giang là Ngô Thiên Tường chết cùng hơn 70 biền binh. Củ cũng bị trọng thương. (22:255-6)

 

- Phái Trương Như Uyển vào Định Tường làm thự Bố chính, thay Nguyễn Đắc Trí. (22:266) [Án sát là Hà Thúc Giao]

 

25/10-23/11/1840  [Tháng Mười Canh Tư]: Thổ dạy vẫn tiếp tục. (22:278-90) Sai Tả quân chưởng phủ là Phạm Văn Điển làm Kinh lược Đại thần ở Trấn Tây. (22:290-1)

 

- Quản cơ Nguyễn Văn Thuận bị phục kích chết khi triệt thoái tiền đồn Tà-sô. (22:308)

Phó Lănh binh Đoàn Văn Sách và Phó Lănh binh Nguyễn Công Nhàn phá được ṿng vây đồn Chi Trinh. (22:308-10)

 

* Hà Tiên: Thu lại đồn Chu Nham. (22:296)

 

* Gia Định: Phản công ở Tây Ninh. (22:297) Lănh binh Ngô Văn Giai. Tri phủ Nghi Ḥa: Trương Đ́nh Bằng (22:281) An Hà: Quản cơ Trương Văn Tố. (22:298)

24/11-23/12/1840  [Tháng Một Canh Tư]: Giặc vẫn hoành hành ở Nghi Ḥa, Tĩnh Biên. (22:319-20) Đầu sỏ ở Tĩnh Biên là Chân Triết, thuộc hạ cũ của Phiên vương Chân. (22:325)

5/7-2/8/1845 [Tháng 6 Ất T Sai Vơ Văn Giải làm Kinh lược, cùng Nguyễn Tri Phương, Doăn Uẩn, v.. v... đánh Chân Lạp. (25:282-7, 292-7, 303-5)

 

- Quyền Phó Vệ úy Trương Lư tử trận. Được hàm Vệ úy; con được thụ ấm Cẩm Y thiên hộ và 30 lạng bạc. (25:293, 321, 324)

 

2-30/91845  [Tháng 8 Ất T Vơ Văn Giải và Nguyễn Tri Phương tái chiếm Trấn Tây.(25:321)

 

27/1-25/2/1846  [Tháng 1 Bính Ngọ]: Phó Lănh binh Lê Viên ở Trấn Tây với 400 binh. (26:17-8) Vơ Văn Giải coi quân thứ Trấn Tây. (26:40)

 

25/5-23/6/1846  [Tháng 5 Bính Ngọ]: Bắt được hai cố đạo Pha-ba-ly-e và Di-nê-ô. Kết án tử h́nh. Sau cho tàu đi mua hàng thả ở hải ngoại.(26:79)

 

24/65-22/7/1846  [Tháng 5 nhuận Bính Ngọ]: Vơ Văn Giải ở Trấn Tây.(26:89-90,91,95)

3/7-21/8/1846  [Tháng 6 Bính Ngọ]: Vơ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương ở Trấn Tây.(26:107-9)  



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend