TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

PETRUS KEY Và VẤN ĐỀ NGOẠI NGỮ


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

PETRUS KEY Và VẤN ĐỀ NGOẠI NGỮ

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu

 

 

Petrus Key và Ngoại Ngữ:     

 

        Không ai có thể phủ nhận được một điều là Petrus Key thuộc hạng thông ngôn tài giỏi của người Pháp trong giai đoạn xâm phạm Đại Nam. Mặc dù không được quan to, chức lớn, không có dịp làm giàu, nhưng Petrus Key trở thành một biểu tượng của giới tân học bản xứ.

 

V́ thành đạt này, những người ngưỡng mộ Petrus Key đă vẽ chân cho rắn đến nhiều khi   phi-nhân-hóa ông. Người đọc sách sử không thể không tự hỏi thực chăng chú bé 11 tuổi Trương Vĩnh Kư nói thông thạo “5 thứ tiếng,” và sau này thông thạo tới “26 thứ tiếng?” Thực chăng ông Petrus Key xứng danh là một nhà ngôn ngữ học (linguist), hay chỉ là một thông ngôn (interpreter hay translator) xuất sắc?

 

1. Khái niệm về sự thông thạo một ngoại ngữ:

 

          Theo Giáo sư Nguyễn Văn Trung, hồ sơ cá nhân Petrus Key tại soái phủ Sài G̣n ghi vào giữa thập niên 1870, ông biết 7 ngoại ngữ: Pháp, Anh, Tây Ban Nha (espagnol), I-ta-lia, Malay, Chân Lạp (Miên) và Latin.(Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138, note)

 

Đây có lẽ do Petrus Key tự khai hơn đă có một cuộc trắc nghiệm chính thức. Ngoài ra, không thấy hai thứ chữ Hán-Việt và Nôm.

 

Số ngoại ngữ này có thể tạm chấp nhận được. Nhưng thật khó để tin Petrus Key thông thạo tới “15 sinh ngữ, tử ngữ  Âu châu và 11 sinh ngữ á châu” như một ông Pierre Vieillard nào đó đă viết năm 1947. (Pierre Vieillard, “Un grand patriote   Pétrus Kư;” France-Asie, số 15/2 và 15/3/1947; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138)

 

a. Thời gian huấn luyện cần thiết:

 

          Cá nhân tôi, trong thời gian chuẩn bị chương tŕnh Tiến sĩ Sử Đông Nam á, từng học thêm hai ngoại ngữ Indonesian và Thái tại Athens (Ohio) và Madison (Wisconsin). Dù qua những lớp “intensive courses” (khóa cấp tốc, tức dồn hết th́ giờ trong ngày để học một sinh ngữ), thường thường cần từ 10 tuần tới 9 tháng để có thể nói, đọc và viết một cách tạm đủ dùng, tức get around như chào hỏi thông thường, đi chợ, hỏi đường xe cộ, đọc vài tin báo đơn giản. Sau đó, cần sử dụng ngôn ngữ trên qua các buổi nói chuyện với người bản xứ, đọc sách báo, v.. v... trong vài ba năm mới tiến đến mức trung b́nh.

 

Muốn thành thạo được 26 thứ tiếng, Petrus Key phải bỏ ra ít nhất 20, 21 năm huấn luyện liên lũy, đó là chưa kể thời gian cần thiết để trau dồi thêm tại các xă hội ngoại quốc trên cùng sách báo địa phương. Nhưng, thực tế, Petrus Key chỉ theo học các trường đạo từ khoảng năm 1842 tới 1857 hay 1858. Suốt 15 hay 16 năm trên, cách nào để ông thông thạo 26 thứ tiếng khi không có những lớp huấn luyện chuyên môn? Hơn nữa, tại các trường đạo ở Cái Mơn, Cao Miên, hay Pinang, các giáo sĩ chỉ dạy ba thứ ngôn ngữ chính: Pháp, Việt và Latin. Muốn thông thạo “23” thứ tiếng khác, sợ rằng không những không đủ thời gian luyện tập, mà c̣n thiếu giáo sư huấn luyện, và cũng không có đủ số 23 sinh ngữ hay tử ngữ khác mà học. Ngoài ra, trong số 127 [141, hay 143] “tác phẩm” của ông phải có dấu vết việc học tập các ngoại ngữ này. Nhưng chưa một nhà nghiên cứu nào, ở ngoại quốc hay trong nước, liệt kê và dẫn chứng đầy đủ 26 thứ tiếng mà Petrus Key học tập hay thông thạo. Ngay đến việc “10 thứ tiếng” mà ông Hồ Hữu Tường nêu lên, hay “15 thứ tiếng” mà ông Nguyễn Thanh Liêm đề cập cũng không liệt kê và chứng minh được đầy đủ. Và, Petrus Key, chẳng hiểu có khiêm tốn hay chăng, cũng chỉ ghi trong hồ sơ cá nhân ḿnh biết hoặc đă học 7 (bảy) ngoại ngữ. Rất tiếc tôi không rơ Petrus Key có tự khai tŕnh độ đọc, viết và nói của ḿnh hay chăng (như fair [vừa phải], good [khá] hay excellent [thông thạo như người bản xứ]).

 

b. Khả năng hấp thụ ngôn ngữ:

 

          Các nhà ngôn ngữ học huấn luyện chúng tôi cho biết người cực kỳ thông minh chỉ có thể thông thạo được 5 hay 6 thứ tiếng là cùng. Có nhà thông thái, như Giáo sư John Dower, lập gia đ́nh với một phụ nữ Nhật, bỏ ra hơn 20 năm nghiên cứu về lịch sử Nhật, nhưng tâm sự với tôi là ông chưa dám tuyên bố thông thạo tiếng Nhật. Nhiều học giả ngoại quốc ở Mỹ hai, ba chục năm mà nói và viết tiếng Anh vẫn chưa hết dấu vết ngoại quốc.

Chưa hề có ai không từng được luyện nói mà có thể nói một ngoại ngữ “thông thạo”; chưa học văn phạm một ngôn ngữ mà có thể đọc hiểu hoặc viết một cách tường tận. Cho dẫu những người có trí nhớ phi thường, đến độ “graphic memory” [trí nhớ như in], mà không được huấn luyện cũng đành khoanh tay; giỏi lắm, lơm bơm vài ba chữ, vài câu làm duyên.

 

c. Phương pháp huấn luyện:

 

          Vào hạ bán thế kỷ XIX, các phương pháp dạy ngoại ngữ c̣n đặt nặng vào phương pháp đọc-học, tức học viên phải học thuộc ḷng từng chữ, từng câu, từng đoạn, và ngoẹo đầu ngoẹo cổ tụng đọc như các học viên của các tu viện Islam mà ai có dịp theo dơi thời sự về phong trào Taliban ở Afghanistan mới đây từng chứng kiến. Thời đó chưa có các phương tiện luyện âm (audio), luyện h́nh (flash cards hay visual) hiện nay. Bởi vậy, muốn thông thạo (tức nói, đọc và viết) một ngoại ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ không dễ. Dẫu có thứ trí nhớ phi thường, học viên chỉ có thể đọc thông thạo một ngoại ngữ, nhưng chưa hẳn đă viết rành mạch và nói trôi chảy. Trường hợp các sứ giả Việt phải bút đàm với quan chức Trung Quốc, hay cụ Phan Bội Châu  mượn giấy mực “nói chuyện” với Lương Khải Siêu trên đất Nhật—dù cụ Châu từng đậu giải nguyên trường Nghệ và vào Huế tọa giám chờ ngày thi Tiến sĩ—chỉ là vài thí dụ cụ thể. Những di dân Việt trên thế giới có lẽ từng tri nghiệm điều này bằng  chính bản thân ḿnh hơn phần tư thế kỷ qua.

 

d. Huấn luyện viên:

 

          Các nhà truyền giáo thường được coi như những chuyên viên về ngôn ngữ. Nhờ lănh thổ hoạt động bao trùm hoàn cầu, các chủng viện qui tụ số huấn luyện viên ngôn ngữ khá hùng hậu.

 

Tuy nhiên, tại đại chủng viện Pinang không có đủ số chuyên viên để dạy bảo Petrus Key 26 thứ tiếng. Chương tŕnh huấn luyện cũng không đ̣i hỏi học sinh phải biết nhiều ngoại ngữ, và trên thực tế các học viên chỉ được dạy bảo ba thứ tiếng: Pháp, Latin và chữ Việt sử dụng mẫu tự Latin.

 

2. Ngoại ngữ Petrus Key thông thạo:

 

         Song song với danh sách số 7 ngoại ngữ liệt kê trong hồ sơ cá nhân Petrus Key, một trong những nguồn tài liệu để t́m hiểu số ngoại ngữ mà Petrus Key thông thạo là chương tŕnh huấn luyện của Collège général de Pinang tức Đại Chủng viện Pinang mà cậu thanh niên Petrus Key theo học từ khoảng 1852 tới 1857 hoặc 1858.

 

Theo tài liệu Hội truyền giáo Hải ngoại, trường này dạy hai thứ tiếng chính: Pháp và Việt (sử dụng mẫu tự Latin, tức quốc ngữ hiện nay). Ngoài ra, học viên c̣n được học triết lư Greek (Hy Lạp), thần học và cổ ngữ Latin.

 

Chữ Việt và Pháp có thể Petrus Key đă bắt đầu học từ thời ở với “cụ Tám” ở Cái Mơn, hay cố Long, cố Ḥa, và tiểu chủng viện Pinhalu (Cao Miên). Như thế, vào năm 1857-1858, Petrus Key có thể thông thạo hai thứ tiếng Pháp và Việt ngữ mới, với tŕnh độ một học sinh Trung học. Cổ ngữ La-tinh là tiếng thứ ba cậu thanh niên Petrus Key được huấn luyện tại Đại Chủng viện Pinang (tức bậc trung học đệ nhất cấp). Mặc dù phần lớn các học viên chỉ cần biết nói vài ba câu Latin để làm lễ phép bí tích hay rửa tội đă đủ, nhưng Petrus Key có thể thành thạo v́ thông tín bạ của Petrus Key chứng tỏ cậu là một học viên xuất sắc. (Tuy nhiên, muốn tốt nghiệp đại chủng viện thường đ̣i hỏi phải có ḷng phục tùng tuyệt đối). [Năm 1858, theo Phó Giám mục Borelle, “chú Kư” cùng một chú khác về tới Cái Mơn; “chú” thứ hai này bị trục xuất khỏi Pinang v́ lư do hạnh kiểm, và trở thành một tay cờ bạc, trộm cắp]

 

V́ Pinang nằm trong một thuộc địa của Bri-tên, Petrus Key và đồng song có thể được học thêm một số chữ và thành ngữ tiếng Anh cổ thời. Trong thư viết vào tháng 3/1859 gửi Hải quân Trung tá Jauréguiberry, Petrus Key trích một câu ngạn ngữ: “The wearer knows very well where the shoe pincheth” [Kẻ đi giày mới biết chỗ nào xiết thốn].(Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:130chú 32)  Nhưng khả năng “nói và viết” tiếng Anh th́ cần đặt dấu hỏi. Một dấu hỏi rất lớn. Những ai từng sống ở Mỹ, Os-tră-lia, Canada, hay Bri-tên có thể nghiệm chứng điều này. Dù ra sức học tập từ 5 tới 10 năm, cũng chỉ đủ khả năng nói và đọc, viết tiếng Anh qua loa thôi. Khả năng nói tiếng Anh của Petrus Key, theo ông Nguyễn Văn Tố, được một người Anh ghi nhận là “nói với tôi bằng một thứ tiếng Anh rất thành thạo, hơi pha giọng Pháp.” (Nguyễn Văn Tố, 1937, tr. 37, dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 139) Tiếng Anh phát âm bằng mũi, tiếng Pháp phát âm bằng cuống họng; bảo một người nói tiếng Anh rất thành thạo, nhưng pha giọng Pháp, khó thể là một lời khen. Giống như có người đến Mỹ, muốn ăn thịt ḅ nướng [beefsteak], lại nói thành muốn ăn thứ “gậy đánh ḅ” [beef-stick]! Đóà chưa nói đến cuốn tự điển loại bỏ túi từ tiếng Pháp qua tiếng Anh, ấn bản năm 1812 của Thomas Nugent t́m thấy trong di vật của Petrus Key và được đem ra triển lăm năm 1933. Một người thông thạo tiếng Anh, nói chi một nhà ngôn ngữ học, ít khi dùng tự điển bỏ túi. Có lẽ đây chỉ là món quà ai đó tặng cho Petrus Key.

 

          Pinang là một ḥn đảo nằm về phía Tây của bán đảo Mă Lai, nơi người Hoa và thổ dân Mă Lai sống bằng kỹ nghệ khai thác mỏ kẽm. Sau 5 năm sống tại đây, Petrus Key có thể học thêm ít tiếng Malay (Mă lai), như apa ká-pà?[ông mạnh giỏi?], Bay bay sájà [Tốt, tốt lắm!]. Sau này, học thêm để soạn những câu đàm thoại đơn giản; nhưng cũng có thể chỉ phiên dịch từ một tác phẩm ngoại quốc nào đó. Có lẽ v́ thế, hồ sơ cá nhân ghi Petrus Kư biết tiếng Malay. Rất tiếc tôi chưa có dịp nghiên cứu các sách viết về tiếng Malay do Petrus Key soạn (nếu có) nên chưa thể thẩm định giá trị các sách trên, và từ đó khả năng hiểu biết tiếng Malay của ông. Hy vọng sẽ có một nhà ngôn ngữ học, hay Đông Nam á học nào t́m đọc các tác phẩm trên.

 

V́ đa số học viên tại Pinang từ 1852 tới năm 1857 là người Việt (117 người năm 1857), cơ hội để Petrus Key học thêm ngoại ngữ từ bạn đồng song rất hiếm. Đa số học viên không-phải-người-Việt đến từ Xiêm, Trung Hoa, hoặc Lào. Cộng với tiếng Miên học được ở đất Miên (kiểu tâu tê? [đi đâu thế?], tâu sa [đi chợ]), Petrus Key có thể nói được ít thổ âm của người Hoa (kiểu nị hảo búa hảo [ông/bà khỏe không?], chịa muối [ăn cháo], chịa mừng [ăn cơm]), hay ít tiếng thông dụng Thái (Xiêm) và Lào (kiểu tham ngan yù thí nải? [làm việc ở đâu?], pop-căn-mày! [hẹn gặp lại]). Trong danh sách các tác phẩm của Petrus Key đăng trên Bách Khoa, về gần cuối đời ông, người ta thấy liệt kê những cuốn Cours de langue malaise (1893), Vocabulaire francáis-malais (1894), Cours de langue laotienne (1894), Vocabulaire laotien-francáis (1894), Guide de la conversation laotienne-francáise (1894), Cours de siamois (1889), Vocabulaire francais-siamois (1894), Guide de la conversation siamoise-francáise (1894). Nhưng chẳng hiểu có ai đă thấy tận mắt những tập sách này hay chưa? Chữ viết Thái (Xiêm) dựa theo tiếng Sanskrit và Pali, không dễ nhớ. Ông Petrus Key đă viết bằng chữ Thái nguyên gốc hay dựa theo lối phiên âm theo kiểu ghi âm của các nhà ngôn ngữ học ngoại quốc?  Và những “tác phẩm” này—nếu tin được Giáo sư Trương Bửu Lâm, Giám đốc Viện Khảo Cổ Sài G̣n—thường chỉ dài khoảng từ một, hai trang tới vài chục trang là cùng. Tổng cộng những trang bút tích của Petrus Key về “ngôn ngữ Đông Dương” chỉ có 33 trang. (Xem thêm bảng liệt kê các tác phẩm của Petrus Key mà ông Trương Vĩnh Tống gửi tặng Viện Khảo Cổ Sài G̣n trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 88-98) Và cũng nên ghi thêm nhu cầu tiếng Thái hoặc Lào vào thời gian này; v́ Lào mới bị sát nhập vào Liên bang Đông Dương.

 

Về tiếng Miến Điện [Burmese], đây là một sinh ngữ rất khó học cho người ngoại quốc. Trên thế giới hiện nay chỉ có khoảng 100 học giả không-phải-người-Miến thông thạo tiếng Miến. Chẳng hiểu Petrus Key học tiếng Miến từ bao giờ mà trong năm 1892, ông đă soạn được ba bộ sách dạy tiếng Miến: Cours de langue birmane, Vocabulaire francáis-birman, Guide de la conversation birman[e]-francáis[e]. Năm 1892, Petrus Key cho biết đă hoàn tất bản thảo “autographiés” [in thạch bản]; (Nguyễn Văn Trung, op. cit., tr. 126). nhưng chẳng hiểu có ai đă thấy tận mắt những tập sách hay bản thảo này được ấn loát năm 1894 như Bách Khoa công bố? Sách dày bao nhiêu trang? Nội dung ra sao? Sử dụng chữ Miến chính gốc, hay loại chữ Miến đă phiên âm theo Tây phương?

 

Chưa được tham khảo các tác phẩm trên, nên tôi chưa thể có ư kiến. Nhưng tưởng cũng cần nêu lên 2 nhận xét sơ khởi nhỏ:

 

(1) Nếu tin được bảng liệt kê trong Bách Khoa đă đề cập, chỉ trong năm 1894, Petrus Key hoàn tất bản thảo hoặc cho ra đời tới 43 tác phẩm, kể cả bộ tự điển Pháp-Việt lớn, tự điển tam ngữ Hán-Pháp-Việt, cùng một tập Nhân vật chí các triều đại Việt. Như thế, Petrus Key, ở tuổi 56-57, cứ khoảng 10 ngày hoàn tất một tác phẩm (bản thảo). Không rơ mỗi tác phẩm dày bao nhiêu trang, nhưng nếu trung b́nh mỗi nghiên cứu khoảng 100 trang, chỉ ngồi chép lại thôi cũng khó thực hiện nổi 43 cuốn, cho dẫu đă làm việc nhiều năm. C̣n những ghi chú một vài trang, chép từ một cuốn tự điển hay một biên khảo của các tác giả ngoại quốc nào đó (như nhiều học giả Việt thường làm), mà tôn xưng thành “tác phẩm” th́ sợ rằng cung văn quá đáng.

 

(2) Thứ hai, mặc dù năm 1892, Petrus Key nhắc đến 3 tựa tự điển Pháp-Việt lớn, tự điển tam ngữ Hán-Pháp-Việt, và tập Nhân vật chí các triều đại Việt, nhưng danh sách do Giáo sư Trương Bửu Lâm thành lập tại Viện Khảo Cổ Sài G̣n năm 1958 không thấy các tựa sách này. Thư viện Quốc Gia Pháp (Francïis Mitterrand) th́ chỉ có tập Tự điển Pháp-Việt in năm 1878, và tập Tự điển Pháp-Việt nhỏ, ấn bản năm 1884 và 1920. Không thấy hai tập tự điển tam ngữ Hán-Pháp-Việt, và tập Nhân vật chí các triều đại Việt. Sách bị tuyệt bản chăng? Hay chưa hề ra đời? Hy vọng các nhà ngôn ngữ học hoặc Đông Nam á học t́m ra và làm việc trên các tác phẩm này, nếu có, để xác định công tŕnh của Petrus Key.

 

“Hoa ngữ,” chắc Petrus Kư chỉ học thêm sau này, v́ những năm đầu chiếm đóng Sài G̣n, soái phủ Pháp vẫn phải trông cậy ở các tay “nho” Tôn Thọ “Ba” Tường, Trần Tử Ca hay Hiếu. Và ngay chính Petrus Key cũng trông cậy ở “Ba” Tường” mỗi khi đụng chạm đến chữ Nho (Hán-Việt). Có thể ông Petrus Key đă được học một số chữ Hán-Việt (nghĩa là chữ Trung Quốc đọc theo lối người Việt) hồi nhỏ, rồi sau đó mới tự học thêm cả chữ Hán-Việt và Nôm trong thập niên 1860. Măi tới năm 1875-1876, mới thấy Petrus Key bắt đầu viết về cách học chữ Hán (đọc theo kiểu người Việt, cho học sinh lớp đồng ấu). Cũng từ thời gian này người ta không thấy tên nửa Latin, nửa Anh ngữ “Petrus Key” nữa, mà xuất hiện tên “Sĩ Tải” Trương Vĩnh Kư. Tại thư viện FranỄois Mitterand (Paris) thấy có tập Huấn mông khúc ca: Sách dạy trẻ nhỏ học chữ Nhu (1884), Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca (1884), Đại Nam cuốc sử kư diễn ca của Lê Ngô Cát (1875).

 

“Ấn độ ngữ” có tới hàng trăm thứ tiếng (dialects)   khác nhau, và nguyên những loại tiếng chính của Liên bang Ấn độ đă có tới bốn năm thứ (Hindu, Urdu, Tamil, Sanskrit, Pali, v.. v...). Bảo Petrus Key biết nói “Ấn độ ngữ” chẳng hiểu ông Hồ Hữu Tường và các tác giả khác muốn nói ông Petrus Key lưu loát cả trăm thứ tiếng trên, hay loại ngôn ngữ đặc thù nào (thí dụ như tiếng Hindu hay tiếng nói của dân Chettya, tức Chà và xét-ti, chuyên môn gác cổng tư dinh quan lớn Pháp, làm mă tà, mật thám, gác tù hay cho vay lời cắt cổ ở Sài G̣n?) (Xem Hồ Hữu Tường, “Hiện tượng Trương Vĩnh Kư;” Bách Khoa (Sài G̣n), M [1974], tr. 15-22)

 

Danh sách các tác phẩm của Petrus Key trong Bách Khoa liệt kê năm 1894 ông Petrus Key hoàn tất 8 tác phẩm Cours de langue tamoule, Guide de conversation tamoul[e]-francáis[e], Cours de langue indoustane, Vocabulaire francáis-indoustan, Guide de la conversation indoustan[e]-francáis[e], Cours de ciampois, Vocabulaire francáis-ciampois, Guide de la conversation ciampoise-francáise. Những tựa sách này được chính tay Petrus Key ghi là “autographiés” [in thạch bản] năm 1892. Nhưng chưa thấy ai cho biết tác phẩm này hiện tàng trữ ở đâu, và cũng chưa ai phân tích nội dung các tác phẩm trên. Đặt vấn đề triệt để hơn, thực chăng những tác phẩm này hiện hữu? Câu trả lời xin dành cho những nhà Petrus Key học. (Tưởng nên lập lại, trong mục “Ecritures et langues indochinoises” [chữ viết và tiếng nói Đông Dương], Viện Khảo Cổ Sài G̣n chỉ ghi  33 trang bút tích của Petrus Key về  chữ Nôm, Quốc ngữ, Trung Quốc [viết và nói], Miên, Xiêm, Chiêm Thành, Lào và Mă Lai; Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 95).

 

Tiếng Y pha nho [Spanish hay Espagnol], không hiểu Petrus Key học ở đâu; nhưng chắc chắn bản dịch thư vua Tự Đức gửi Nữ hoàng Espania là bằng tiếng Pháp, có kư tên Trương Vĩnh Kư. Khi ra thông dịch ở Huế năm 1870, th́ Petrus Key vẫn dịch bằng tiếng Pháp. Và nếu biết loại tiếng Y pha nho, hẳn Petrus Key đă viết một cuốn sách dạy đàm thoại, làm một cuốn tự điển kiểu bỏ túi hay những “notes” vài ba trang như tất cả những loại ngôn ngữ Petrus Key đă tự học. Hoặc trong tủ sách gia đ́nh phải có tự điển và văn phạm về loại chữ này. Chỉ hơi ngạc nhiên là theo tài liệu văn khố Pháp, hồ sơ cá nhân Petrus Key tại Soái phủ Sài G̣n năm 1872, 1874, 1875 ghi rằng Petrus Key biết tiếng Espania.(Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138, note) Đây có lẽ do Petrus Key tự khai hơn đă qua một cuộc trắc nghiệm chính thức.

 

“Nhật ngữ” th́ khó tin. Hồ sơ cá nhân Petrus Key thuộc Nha Nội chính Soái phủ Sài G̣n không ghi ông biết tiếng Nhật.(Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138, note) Tủ sách gia đ́nh mang ra đấu xảo năm 1933 cũng không thấy có tự điển, sách dạy văn phạm hay bất cứ dấu vết (như ghi chú, v.. v... ) nào về ngoại ngữ này. Người đầu tiên ghi Petrus Key “nói” thạo tiếng Nhật là Pierre Vieillard vào năm 1947. Theo tài liệu tôi được tham khảo, các nhà truyền giáo không dạy tiếng Nhật ở Collège général de Pinang. Sau khi người sáng lập ḍng Tên là Francïis Xavier đến Nhật giảng đạo, triều đ́nh Nhật đi đến kết luận rằng Ki-tô giáo nguy hiểm cho chế độ, nên trục xuất tất cả các nhà truyền giáo Tây phương và ra lệnh cấm đạo. Giáo dân Ki-tô đầu tiên bị giết năm 1597. Khi giáo sĩ và giáo dân nổi loạn, các lănh chúa Nhật bèn xuống tay mạnh. Vào năm 1613-1615, một số giáo sĩ Tây phương và giáo dân Nhật sống sót phải chạy trốn tới Hội An [Faifo] lập nghiệp. Tới năm 1624, không c̣n một tín đồ Ki-tô hay nhà truyền giáo nào trên đất Phù Tang.(Hồng Lam & Léopold Cadière, Lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam [Huế: Ầại Việt thiện bản, 1944], tr. 167 [phần tiếng Việt]) Bởi thế, Hội Truyền giáo Hải ngoại Pháp không có nhu cầu dạy và học tiếng Nhật. Hơn nữa, Petrus Key tự liệt kê đă xuất bản sách dạy tiếng Xiêm, Miên vào cuối thập niên 1880, rồi từ năm 1893 sách dạy tiếng Lào, Malay, Tamoule (Tamil?), Miến Điện, Ciampois (Chàm) mà chẳng thấy cuốn dạy đàm thoại Nhật ngữ hay danh từ Nhật nào. (Nếu có biết tiếng Nhật, th́ có lẽ chỉ dăm tiếng chào hỏi làm vui; kiểu Ohio!)

 

          Tóm lại, khi trong tuổi thanh xuân, Petrus Key có thể biết được năm, sáu thứ tiếng. Sau này, Petrus Key nghiên cứu thêm chữ Hán và chữ Nôm, và có thể biết (đọc, viết hoặc nói) được 7, 8 thứ tiếng là cùng.(Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 138) Nhưng nếu nói thông thạo, th́ chỉ khoảng 3, 4 thứ tiếng (Pháp, Việt, Việt Hán và chữ Nôm). Chỉ ngần ấy đă đủ là một học giả trong thế kỷ XIX và XX!

 

Đáng lưu ư nhất trong số tác phẩm của Petrus Key là các cuốn Mẹo luật dạy tiếng Pha-lang-sa: tóm lại vắn vắn để dạy học tṛ mới nhập trường (1872), và Abrégé de grammaire annamite [Sách mẹo An-Nam] (1867, 1924). Đây không phải là những nghiên cứu nghiêm túc thuộc lănh vực ngôn ngữ học, mà chỉ là những bài giảng dạy trong lớp cho các học sinh mới khai tâm. Phần văn phạm tiếng Pháp là tổng hợp kiến thức của tác giả “tóm lại vắn vắn để dạy học tṛ mới nhập trường.” Phần văn phạm tiếng Việt mới ít nhiều có sự đóng góp của ông, trong nỗ lực đưa chữ Việt mới (dựa trên mẫu tự Latin) từ khuôn viên các chủng viện ra ngoài xă hội, hầu thay thế hẳn chữ Hán-Việt. Sách lược này do Hội truyền giáo đề ra, nhưng các viên chức bảo hộ Pháp cực lực chống đối, nhấn mạnh vào việc dạy chữ Pháp.

 

Thêm nữa, v́ Petrus Key là một trong những người bản xứ tiên phong học hỏi rồi giảng dạy hai thứ tiếng này ở Sài G̣n, hai tác phẩm trên của ông chỉ có giá trị lịch sử, giống như các tác phẩm đương thời của Hùinh Tịnh Paulus Của, v.. v... Gọi chúng bằng những đại ngôn như “sách nghiên cứu về ngôn ngữ học” sợ rằng không chỉnh.

 

Đó là chưa kể “thuyết” của Petrus Key in ở phần mở đầu cuốn Abrégé de grammaire annamite [Sách mẹo An-Nam] (1867, 1924), rằng người Việt đă có chữ viết kiểu “ghi âm” từ thế kỷ thứ V TTL—một lời vơ đoán không có bằng chứng khả tín nào để yểm trợ. [Xem đoạn sau]

 

Ngoài ra, tiếng Pháp hay tiếng Việt là hai sinh ngữ, luôn luôn biến đổi về từ ngữ, thành ngữ, cũng như cách cấu trúc. Các sách về văn phạm của Petrus Key hầu như chẳng c̣n ảnh hưởng nào với quốc ngữ, và cũng không thể sử dụng cho “học tṛ mới nhập trường” Pháp ngữ hiện nay.

 

Những “tác phẩm” dài vài trang (không quá vài chục trang) ghi vắn tắt về sử kư và địa dư của Petrus Key th́ hầu như chẳng c̣n chút giá trị nào; ngoại trừ ở thời điểm khai sinh của chúng, để nạp cho cấp chỉ huy quân sự Pháp, hay huấn luyện viên chức Pháp-Việt. Ngay đến cuốn Cours d’ histoire annamite [Bài giảng sử An-nam-nít] của Petrus Key, gồm 2 tập, do chính quyền Pháp in trong khoảng 1875-1877 [1879?] (hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp và Sài G̣n) th́ không những thiếu phương pháp biên soạn, mà c̣n nhiều sai lầm về dữ kiện, với những lời phê b́nh vơ đoán, khó thể coi là một bộ thông sử nghiêm túc.[Xem phần sau]

 

“Tham Chánh” trong Tân Trào

 

          Trước năm 1996, nhiều người tin rằng Petrus Key chỉ bắt đầu làm thông ngôn cho Pháp từ ngày 20/12/1860. Lá thư viết vào cuối tháng 3/1859 gửi Trung tá Jean Bernard Jauréguiberry và một số tư liệu khác do tôi phát hiện trong dịp làm việc tại Văn Khố Hải Quân Pháp tại Chateau de Vincennes năm 1996 không những phủ nhận niềm tin này mà c̣n khiến chúng ta phải xét lại đoạn đời “tham chánh” của Petrus Key dưới một ánh sáng khác.

 

Trước hết, đừng quên nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine vào tháng 5/1857. Theo tinh thần Nghị quyết này, Pháp cần biểu dương lực lượng ở Đại Nam, thiết lập một tân trào với ṇng cốt là “các thày kẻ giảng, với sự ủng hộ của 600,000 giáo dân Ki-tô.” (SHM [Vincennes], GG2-44, carton 3, GG2-99, carton 2; Nguyên Vũ, Paris Xuân 1996, tr. 213; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:74) Petrus Key rời Pinang vào năm 1857 hoặc 1858, trở lại Cái Mơn của Linh mục Borrelles (Giám mục Lefèbvre đang ở Chợ Quán), và chờ đợi để phục vụ “những nhà giải phóng được Thiên Chúa gửi xuống cứu độ giáo dân An Nam.” V́ Trung tá Jauréguiberry không tin tưởng Lefèbvre và từng lên án Lefèbvre phá hoại việc thương thuyết một ḥa ước, nên Petrus Key chưa được trọng dụng ngay. Nhưng Petrus Key vẫn được làm thông ngôn ở Chợ Quán, với lương 20 đồng một tháng. Trong một phiếu tŕnh lên Rigault de Genouilly, Jauréguiberry cho biết một thông ngôn tên “Petrus” phải uống thuốc quinine để chữa trị bệnh sốt rét, và ông ta định đưa “Petrus” ra Đàẵng để thẩm vấn các quan viên Việt bị Pháp bắt giữ. Tháng 6/1859, Petrus Key tháp tùng Linh mục Legrand de la Liraye (cố Trường) ra Đàẵng làm thông ngôn cho Louis Jules Lafont, tùy viên của Rigault de Genouilly, khi thương thuyết với Nguyễn Tri Phương về việc kư Hiệp định nhưng không thành công.(Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:106-7) Từ sau ngày này, Petrus Key trở lại Sài G̣n, tiếp tục làm việc cho ban thông dịch của Jauréguiberry.

Sau khi Đại tá J. d’ Ariès thay Jauréguiberry làm chỉ huy trưởng Sài G̣n vào mùa Xuân 1860, Petrus Key tiếp tục “tham chánh” với chức vụ thông ngôn. Nhưng d’ Ariès chẳng mấy thiện cảm với Petrus Key v́ tính hạnh cũng như việc Petrus Key đ̣i lương quá cao (110 đồng một tháng vào tháng 5/1861; so với lương xă trưởng 21 đồng, thông ngôn thường là 20 đồng, nho 7 đồng, và cảnh sát 3 đồng vào năm 1859). Nếu tin được d’ Ariès, Petrus Key từng bị sa thải khỏi Nha nội chính [hay Nội trị] v́ kiêu ngạo và không biết tự khép ḿnh trong khuôn khổ (thư ngày 21 và 28/5/1861 gửi Léonard Charner). Tuy nhiên, v́ cần thông ngôn, các viên chức Pháp vẫn phải trông cậy ở các cố đạo và thày kẻ giảng bỏ tu mà họ chẳng trọng vọng hay kính phục ǵ. [Một Đề͊ đốc Pháp sau này nhận xét, “những cái tên Latin của chúng tŕnh ra sự lường bịp, man trá và tham nhũng đặc thù Á đông.” (Pallu de la Barrière 1888:158)]

 

Các tư liệu văn khố Pháp không cho biết rơ vai tṛ của Petrus Key trong cuộc thương thuyết Hiệp ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp năm 1862. Không rơ Petrus Key giữ nhiệm vụ ǵ khi theo Thiếu tá Charles Simon ra Huế vào tháng 4/1862, chỉ biết sứ mệnh chính của Simon là thuyết phục triều Nguyễn về cái tối hậu thư của Thống đốc Louis Bonard (11/1861-4/1863): Kư ḥa ước hay sẽ mất luôn Bắc Kỳ vào tay “Lê Duy Minh [Pedro Tạ Văn Phụng].” Cũng nên thêm rằng theo các Giáo sĩ, quan tướng Pháp đă gạt bỏ các giáo sĩ và nhóm thày kẻ giảng thông ngôn [như Petrus Key, Nguyễn Trường Tộ, v.. v..] trong đợt thương thuyết cuối cùng; và phải sử dụng người Hoa thông dịch để bảo mật và tránh sự phá phách của các cố đạo. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:149-50. Tôi chưa được đọc báo cáo ngày 22/4/1862 của Petrus Key, dẫn trong  Nguyễn Văn Trung, 1993:75)

 

V́ thế, Petrus Key được cử qua dạy tại trường Thông Ngôn mà không làm việc trực tiếp với cựu Linh mục Théophile Legrand de la Liraye (cố Trường) hay Gabriel Aubaret, một chuyên viên Hán ngữ, nữa.

 

Houston, tháng 11/2000-1/2002

 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend