TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Gỡ Lần Những Manh Mối Lịch Sử - Gia Phả Petrus Key: Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

Gỡ Lần Những Manh Mối Lịch Sử

Gia Phả Petrus Key

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu

 

Có Chăng Một "Lănh Binh" Trương Chánh Thi?

 

          Đúng ngày Thanksgiving 2000, một ông bạn già điện thoại hỏi: "Có chăng một ông Lănh binh Trương Chánh Thi?" Trương Chánh Thi là thân phụ ông Petrus Key.

 

Tôi không dám trả lời ngay, hẹn xin trả lời sau khi đọc lại hồ sơ.

 

          A. Theo một tài liệu, năm 1891, Petrus Key viết cuốn Généalogie de la Famille de P. Truong Vinh Ky tức Gia phả nhà Trương Vĩnh Kư. Jean Bouchot và nhiều tác giả đă nhắc đến tập này. Tôi chưa đọc nên không dám có ư kiến. Nhưng tôi nghĩ Petrus Key, có lẽ không nói cha ông là Lănh binh, mà chỉ ghi cha ḿnh là “vơ quan.” Ngoài ra, thủ bút của ông c̣n ghi “Trương Vĩnh Thế, thày Bửu đỡ đầu, Trương Thị Gia, Bà Se Si La [hay Se Di La] đỡ đầu, Trương Vĩnh Nhi, Mr. Galy đỡ đầu.” (Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 62) Không rơ Trương Vĩnh Thế, Trương Thị Gia hay Trương Vĩnh Nhi là ai, liên hệ với Petrus Key ra sao. Kết luận duy nhất là trong họ Trương, ngoài Petrus Key, c̣n có ba người khác được Hội truyền giáo nuôi.

 

         B. Tác giả Henri Cordier, trong bài tưởng niệm Petrus Key đăng trên T’ng Pao (Séries II, I, 1900, tr. 261-8), không cung cấp nhiều chi tiết về cha mẹ Petrus Key. Tương tự, tác giả Pierre Khorat, trong bài viết về 4 nhân vật Ki-tô bản xứ nổi danh Đông Dương trên tờ Annales de la Société des Missions Etrangères năm 1913, cũng chỉ đề cập sơ sài về gia đ́nh Petrus Key (tr. 243-9).

 

          C. Học giả Milton E. Osborne, người nghiên cứu khá kỹ lưỡng về Trương Vĩnh Kư, từng sử dụng các tư liệu gia đ́nh họ Trương cũng như hồ sơ Petrus Key trong văn khố Pháp tại Sài G̣n để soạn bộ The French in Cochinchina and Cambodia: Rule and Response, 1859-1905 [Người Pháp ở Nam Kỳ và Cao Miên: Cai trị và Phản ứng, 1859-1905], chỉ ghi một cách mơ hồ rằng cha Petrus Key là vơ quan, chết khi cậu mới 9 (chín) tuổi, tức vào năm 1846. Osborne suy đoán rằng cha Petrus Key là giáo dân Ki-tô, nhưng chức vơ quan của ông ta đă bảo vệ được gia đ́nh trong cuộc bài đạo Ki-tô.(Osborne 1969:95) Khoảng 30 năm sau, hai ông Nguyễn Văn Trấn và Nguyễn Văn Trung đều ghi nhận cha ông Petrus Key chỉ là “vơ quan.” (Lại có tác giả cho rằng cha Petrus Key chỉ theo đạo sau khi lấy vợ đạo gốc).

 

          D. Người đầu tiên nêu lên chi tiết “lănh binh Trương Chánh Thi” mà tôi được biết là hai ông Viên Đài và Nguyễn Đồng, trên Bách Khoa số 40 (1/9/1959) (tr. 43). Chẳng hiểu hai tác giả này đă dựa theo sách nào, hay tự t́m được chi tiết “lănh binh Trương Chánh Thi.”

 

Ông Hồ Hữu Tường lập lại chi tiết trên; nhưng v́ tác giả Phi Lạc Sang Tàu không phải là nhà khảo cứu chuyên nghiệp, lại không nói rơ lấy tài liệu từ đâu, chẳng nên chú ư lắm. Mới đây, có tác giả ở hải ngoại và trong nước lập lại chi tiết này.

 

Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm th́ ghi “lănh binh Trương Chánh Thi” thời Minh Mạng, chết tại Nam Vang năm 1845.

 

Tóm lại, theo các tài liệu hiện hữu, ông Trương Chánh Thi là một vơ quan và có thể đă lên tới chức lănh binh, ông ta theo đạo Ki-tô, và chết vào ba thời điểm: 1840, 1845 hay 1846.

 

          E. Cũng may, khi soạn bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945 (gồm 3 tập, đă xuất bản năm 1999-2000) tôi ghi chép khá đầy đủ về bang giao Việt Nam-Chân Lạp và những cuộc binh biến ở "Trấn Tây thành." Theo sự hiểu biết của tôi, bộ Đại Nam Thực Lục, Chính Biên thời Minh Mạng (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847) không hề nhắc đến tên "Trương Chánh Thi." Tôi c̣n kiểm lại cả ba bản "Sách Dẫn" của bộ ĐNTL,CB (trong tập 22 và 26) mà không thấy tên này. Riêng Châu bản triều Minh Mạng th́ tôi mới chỉ được đọc bản Mục Lục, tập II, do Trần Kính Ḥa dịch, Đại học Huế xuất bản năm 1962. Cũng không thấy tên Trương Chánh Thi, dĩ nhiên.

 

Đểảo đảm hơn cho câu trả lời của ḿnh, tôi t́m đọc những người mang họ Trương ở miền Nam có dính líu đến Chân Lạp (đổi tên thành Cao Man dưới thời vua Thiệu Trị) hoặc xuất hiện tại Gia định thành.

 

          1. Có ông "Trương Văn Thi" nào đó, nhưng ông ta là con cụ Trương Minh Giảng, một đại thần từng Bảo hộ Chân Lạp khá lâu, trước khi cai quản "Trấn tây Thành" (tức nước Chân Lạp trong thời gian bị nhà Nguyễn chiếm đóng) và đă từ trần khi triệt thoái về tới An Giang vào tháng Chín Tân Sửu [15/10-12/11/1841] v́ buồn bực và xấu hổ.(ĐNTL,CB, 23:351-2)  Con cụ Giảng là Trương Văn Thi bị rút hàm thất phẩm. Ḍng dơi cụ Trương Minh Giảng có Trương Minh Kư tự nhận là học tṛ Petrus Key. Tôi chưa hề nghe ai nói Petrus Key có họ hàng với cụ Trương Minh Giảng. Như thế, cái tên Trương Văn Thi có thể gạch bỏ trong việc truy t́m tông tích phụ thân ông Petrus Key.

 

          2. Lại có một ông "Trương Minh Lượng" (cùng họ Trương). Ông này làm quyền tri huyện Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Tháng Năm năm Đinh Dậu [3/6-2/7/1837] Tri huyện Lượng tra tấn người đến chết, phải trốn chạy về Gia Định. (ĐNTL,CB, 19:136-7) Không ai nói thân phụ ông Petrus Key là sát nhân. Hơn nữa, chữ "Minh" và "Chánh", cũng như "Thi" và "Lượng" khác nhau quá xa, không sử quan nào lẫn lộn được. (Ngoại trừ trường hợp sau này ông Trương Chánh Thi đổi tên)

 

          3. Lại có Lănh binh Trương Cầm, phụ thân lănh tụ nghĩa quân Trương [Công] Định. Chắc không có liên hệ ǵ đến Petrus Key, người thích gọi những lănh tụ kháng Pháp như Trương Định, Thiên hộ Dương, Thủ khoa Huân, Tán Thuật, Phan Đ́nh Phùng, v.. v... là rebelles (phiến loạn).

 

          4. Tri phủ An Biên là Trương Công B́nh tử trận vào tháng 9 Ất Tỵ 1845]. Tên ông này cũng nên gạch bỏ v́ Tri phủ là một chức quan văn trung cấp.

 

          5. Có một Lănh binh họ Trương từng lập công lớn ở Trấn Tây trong cuộc hành quân tái chiếm đất Chân Lạp năm 1845 (tháng 9 Ất Ty nhưng tên ông ta là Trương Tiến. Lănh binh Trương Tiến an toàn về nước, và tháng 8/1947, vua Thiệu Trị cho khắc tên Lănh binh Tiến lên một trong 12 khẩu thần công mới đúc xong để tuyên dương công trạng.( ĐNTL,CB, 25:347, 26:341) Chẳng hiểu ông Trương Tiến này liên hệ ǵ đến Trương Chánh Thi hay chăng? Tôi nghĩ là không. ́ng Thi đă chết năm 1840, 1845 hoặc 1846!

 

          6. Trong số những người chết trận năm 1845 trên đất Chân Lạp người ta thấy có Phó vệ úy Trương Lư.(ĐNTL,CB, 25:293) Ông Trương Lư này liên hệ ǵ đến Trương Chánh Thi chăng? Có lẽ cũng không. Hai chữ “Lư” và “Thi” khác nhau xa, khó thể lẫn lộn. Hơn nữa, con ông Trương Lư được tập ấm làm Cẩm y vệ, trong khi con ông Trương Chánh Thi, nếu quả có nhân vật này, làm con nuôi các giáo mục.

 

          7. Lại có tên Trương Trịnh bị giết ở Vĩnh Long vào tháng 10 năm Bính Ngọ [19/11-17/12/1846].(ĐNTL,CB, 26:165-6) Tôi nghĩ Trương Trịnh không phải là thân phụ ông Petrus Key, v́ y là một tướng cướp.

 

          F. Người bạn già nói ông Trương Chánh Thi làm quan dưới hai triều Minh Mạng (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847), nhưng lại bảo ông Thi chết “năm 1840” [khác với đa số tài liệu khác, ghi ông Thi chết năm 1845 hoặc 1846]. (Chi tiết này giống trong sách của Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 9). Nếu thế ông Trương Chánh Thi chắc chắn không thể phục vụ triều Thiệu Trị: Vua Thiệu Trị lên ngôi ngày 20 tháng Giêng Tân Sửu, tương đương với ngày 12/2/1841. Vua Minh Mạng chết trước đó gần một tháng vào buổi chiều ngày 19 tháng Chạp Canh Tư (21/1/1841) (nghĩa là không thể chết v́ té ngựa trong dịp lễ diễn binh thọ ngũ tuần như Linh mục Pagès và các nhà truyền giáo Ki-tô Vatican truyền tụng, v́ đại lễ ngũ tuần đă chấm dứt hơn nửa năm trước).

 

Cách nào đi nữa, không có tên Trương Chánh Thi dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị.

 

          G. Ông bạn già c̣n nói ông Trương Chánh Thi làm quan đến chức Lănh binh ở Nam Vang, đại diện triều Nguyễn bên cạnh vua Chân Lạp.

 

          1. Lănh binh là chức vơ quan khá to. Thông thường Lănh binh cầm đầu binh đội (biền binh) của một tỉnh, quan tước có thể lên tới Chánh hoặc Ṭng Tam, Tứ phẩm. Dưới triều Minh Mạng, các Lănh binh đều được ghi chép trong sử, v́ sử ghi chép rơ sự thuyên chuyển, thăng cấp, giáng cấp của họ. Dưới thời Thiệu Trị, lănh binh và phó lănh binh c̣n được ban phát bài ngà có khắc tên. Không được sử quan ghi tên, ông Trương Chánh Thi khó thể mang quân chức Lănh binh.

 

          2. Phần ba cơ "An Man" tại Nam Vang (Trấn Tây Thành) th́ đều là người Chàm, mỗi cơ chỉ có 6, 7 cán bộ người Việt, kể cả một thông ngôn. (Theo ĐNTL,CB, vào tháng Một Mậu Tuất [17/12/1838-14/1/1839], ba cơ An Man ở Trấn Tây phần đông là người Chàm Đồࠢà ở nhờ đất Chân Lạp. Hết ḷng trung thành với nhà Nguyễn, nên bị thổ dân ghét. Vua mật dụ cho Trương Minh Giảng cân nhắc họ; 20:262-5)

 

          3. Hơn nữa, nói đến chức vụ "đại diện triều Nguyễn bên vua Chân Lạp," th́ phải xác định vua nào? Quốc vương Ang Chan [Nặc ông Chăn] (1805-1834) hay Nữ chúa Ang May [Ngọc Vân quận chúa] (1834-1837), con gái và người kế vị Ang Chan năm 1834? Tôi đọc khá kỹ Đại Nam Thực Lục, Chính Biên hai triều Nặc Chăn và Ngọc Vân, không thấy có ông Lănh binh người Việt nào họ Trương ở Nam Vang hay Trấn Tây Thành trước năm 1842. Ngay cả đến giai đoạn ngắn ngủi của Ang Duong [Nặc Ong Giun] hay Ang Em [Nặc Yểm] trong hai năm 1845-1846 cũng vậy.

 

Như thế, ít nữa theo sử quan nhà Nguyễn, không hề có Lănh binh Trương Chánh Thi, mà cũng chẳng có "thừa biện" Trương Chánh Thi bên cạnh vua Chân Lạp. (Ông Nguyễn Văn Trấn cũng nhắc đến chi tiết “sứ thần” này) [Xem Phụ Bản ở cuối bài].

          4. Người Chân Lạp th́ không biết dùng giấy mực như người Việt nên dĩ nhiên không thể ghi tên "Lănh binh, đại diện triều Nguyễn" Trương Chánh Thi. Sau này, các học giả Pháp giúp triều đ́nh Cambodge viết lại lịch sử Chân Lạp, nhưng cũng không thấy nhắc đến “thừa biện, lănh binh” Trương Chánh Thi. C̣n “sứ thần” bên cạnh vua Miên có lẽ chỉ nằm trong trí tưởng tượng của những người kể chuyện cổ tích.

 

Lướt qua sử liệu triều Nguyễn (xem thêm Phụ Bản ở cuối bài), ta thấy ngay đến các Cai đội, quản cơ, đội trưởng hay Phó Lănh binh c̣n được nêu tên. Nếu quả thực có "Lănh binh" Trương Chánh Thi, lại là thứ lănh binh v́ nước bỏ ḿnh trên đất Chân Lạp, hẳn không thể lọt sổ.

 

          Như thế, ông "Lănh binh" Trương Chánh Thi không hiện hữu. Phụ thân Petrus Key, nếu quả thực mang tên Trương Chánh Thi, có thể là vơ quan cấp nhỏ (cử nhân vơ vào thời Thiệu Trị chỉ được hàm Chánh hoặc Tùng lục phẩm), và nếu quả từng phục vụ ở Trấn Tây, trong đạo binh An Man, th́ có lẽ là người gốc Chàm, gốc Hoa, hay giữ chức thư lại, thông ngôn (giống như đoạn đầu hoạn lộ của Petrus Key với đạo quân viễn chinh Pháp sau này).

(Một Giáo sư miền Nam, ông Trần Thượng Thủ, nghĩ rằng Petrus Key có thể là người gốc Hoa, v́ họ Trương rất phổ thông trong giới người Hoa tại miền Nam)

 

Đáng lưu ư thêm rằng trong thư ra mắt Trung tá Hải quân Jauréguiberry vào tháng 3/1859, Petrus Key chỉ kư tên Petrus Key mà không có tên Việt “Trương Vĩnh Kư” đi kèm như ông thường dùng sau này. Trong thư ra mắt một cấp chỉ huy Pháp (Grand Chef et vous tous)— để xin việc làm, kiểu “cover letter” ở Mỹ,  như ai đó lư luận—mà không ghi thêm tên thực Trương Vĩnh Kư là việc hơi khác thường. Có thể v́ một lư do nào chưa biết, như muốn dấu bí mật đề pḥng trường hợp thư bị lọt vào tay quan quân nhà Nguyễn? Nhưng cũng có thể v́ ngày ấy Petrus Key chỉ biết ḿnh có cái tên độc nhất và vỏn vẹn hai chữ Petrus Key. Cách nào đi nữa, bốn năm sau mới thấy chính thức xuất hiện thêm tên Trương Vĩnh Kư. Và, từ đó, cái tên Trương Chánh Thi, Nguyễn Thị Châu, v.. v.... Nói cách khác, không thể không tự hỏi và cần t́m hiểu những cái tên “Trương Vĩnh Kư” và “Trương Chánh Thi” xuất hiện từ thời điểm nào? Một trong những cách kiểm chứng khả tín nhất là viết thư cho Collège général de Pinang, xin một bản sao thông tín bạ (học bạ) của Petrus Key tại đây. Việc này xin dành cho các nhà “Petrus Key học.”

 

Nói cách khác, nhân vật "Trương Chánh Thi," "lănh binh, thừa biện bên cạnh quốc vương Chân Lạp" hay “sứ thần” ở gần Nam Vang có lẽ chỉ hiện hữu trong trí tưởng của người đă công bố. Cũng tương tự như huyền thoại ông Bùi Viện "từng qua Mỹ, được Tổng thống Ulysse Grant tiếp kiến" huyễn truyền ở Việt Nam bấy lâu và được lập lại trong hồi kư của ông Bùi Diễm. (Theo Robert H. Miller, trong cuốn The United States and Vietnam, 1787-1941 [Washington, DC: NDU, 1990], không có một tư liệu nào trong văn khố Bộ Ngoại Giao Mỹ đề cập đến nhân vật Bùi Viện như một tác giả Việt đă viết; tr. 274-5n1). Hay, việc cụ Phan Châu Trinh bị "nhốt chung" với Nguyễn “Ô Pháp” tức Ái Quốc "ở ngục Santé," cùng những lời tuyên bố chẳng chút nào hợp với khẩu khí của nhà chính trị cải lương họ Phan. Đóà chưa kể những “bí ẩn lịch sử” như phụ thân cụ Phan Bội Châu đă phải đổi tên “Sang” của cụ thành “Châu” v́ “sợ phạm húy vua Duy Tân [Vĩnh San]” trước ngày ông vua này ra đời cả chục năm!(Xem Nguyễn Mạnh Quang, Thực chất Giáo hội La Mă, II:695-700; Chính Đạo, Hồ Chí Minh: Con người & Huyền thoại, tập I (ấn bản 1997); hoặc Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, tập II & III (ấn bản 2000))

Đáng buồn là những công tŕnh "ziết sử" hay "bí ẩn" lịch sử loại này không thiếu trong khối "nghiên cứu văn" Việt Nam.

 

Tại sao Petrus Key làm con nuôi các cố đạo?

 

          Duyệt xét các cung văn về Petrus Key, một vấn đề khiến người học sử không thể không thắc mắc: Đó là, tại sao bà Nguyễn Thị Châu trao Petrus Key cho các cố đạo nuôi?

Trước khi đi sâu vào vấn đề này, cần xác định vài thời điểm. Trước hết, ông Petrus Key bắt đầu đi “trọ học” hay vào nhà chúa Bl’7901;i hoặc tiểu chủng viện từ bao giờ? Thứ hai, phụ thân Petrus Key thực sự chết ngày nào? Cả hai câu hỏi trên đều chưa có đáp án rơ ràng. Người nói bà Nguyễn Thị Châu trao Petrus Key, lúc mới 5 tuổi, cho giáo mục Tám, và rồi sau khi ông này chết, giáo sĩ Pháp có tên Việt là cố Long nuôi. Như thế, từ năm 1842 Petrus Key đă xa mẹ. Nhưng cũng có tác giả ghi Petrus Key chỉ được các cố đạo nuôi từ năm 1846, khi đă 9 tuổi. Về ngày phụ thân Petrus Key từ trần cũng vậy. Người ghi năm 1845, người ghi năm 1846, lại cũng có người ghi năm 1840. Các nhà Petrus Key học tương lai cần giải quyết hai vấn đề tiên thiên trên trước khi bàn về những chi tiết khác.

Hai vấn đề thời điểm Petrus Key được giao cho các cố đạo nuôi, và ngày phụ thân ông từ trần rất quan trọng trong việc t́m hiểu tại sao bà Nguyễn Thị Châu, thân mẫu ông Petrus Key, gửi hay giao bán con cho các nhà truyền giáo. Nếu việc gửi gấm hay giao bán này xảy ra trước ngày ông Thi chết, sẽ nẩy sinh câu hỏi khác: Phụ thân ông Petrus Key có được thông báo, và đồng ư chăng, hay bà Châu đă tự ư quyết định? Nếu phụ thân Petrus Key chết trước ngày cậu được gủi cho các giáo sĩ nuôi, vấn đề trở thành đơn giản hơn; v́ mọi quyết định đều do bà Nguyễn Thị Châu.

 

Câu hỏi thứ nhất khá phức tạp, đ̣i hỏi việc t́m ṭi vết tích ông Trương Chánh Thi. Câu hỏi thứ hai hạn chế trong ba giả thiết cơ bản: (1) bà Châu là người đạo gốc muốn gửi con cho các giáo sĩ dạy bảo để sau này có chức, có phận (như thày kẻ giảng, giáo mục); (2) bà Châu v́ hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải giao Petrus Key cho các giáo sĩ nuôi; và, (3) v́ hoàn cảnh khó khăn, bà Châu đă cải đạo, đồng thời giao con cho nhà chúa Blời.

 

          Trước hết, chưa tài liệu nào cho phép khẳng định ông bà Trương Chánh Thi-Nguyễn Thị Châu là tín đồ Ki-tô giáo (khai sinh, giấy chứng nhận rửa tội, gia phả, người thân, v.. v...). Hy vọng những chuyên viên gia phả học, như quí ông Vũ Hiệp, v.. v... sẽ giúp khẳng định có hay không tư liệu hộ tịch của gia đ́nh ông Trương Chánh Thi.

 

Nếu bà Nguyễn Thị Châu không là tín đồ Ki-tô, việc giao con cho các cố đạo nuôi thường xảy ra trong trường hợp bất khả kháng nào đó. Nên nhớ thời gian này, vua Thiệu Trị và Tự Đức đang thi hành chính sách cấm đạo. Gửi con cho các nhà truyền giáo nuôi là một việc làm nguy hiểm đến tính mạng như không. Cũng không một bà mẹ thương con nào nghĩ rằng thày kẻ giảng, hay giáo mục là người có chức, có phận trong một chế độ áp dụng chính sách bài Ki-tô. V́ càng có chức phận trong đạo, càng bị h́nh phạt nặng nề; nhẹ th́ khắc chữ lên mặt, lên trán, tập trung để giáo hóa; nặng th́ có thể lên tới án lưu đầy, tử h́nh. Trong số những hoàn cảnh bất khả kháng, có hai trường hợp đáng suy nghĩ: Thứ nhất, bà Châu quá nghèo khổ, đành giao cho con cho các giáo mục nuôi cho bớt gánh nặng. Hoặc, thứ hai, bà Châu đă “bán” con cho các giáo sĩ, và bản thân có thể cũng theo đạo, để được giúp đỡ về phương diện kinh tế.

 

Vào giữa thế kỷ XIX, “bán con” là một hủ tục quen thuộc tại Đại Nam (cũng như Trung Hoa). Cho đến thập niên 1940, tức khoảng 100 năm sau ngày Petrus Key làm con nuôi các cố đạo, vẫn c̣n tục lệ bán con nói trên.

 

Trong khi đó, v́ chính sách bài đạo của nhà Nguyễn, các giáo sĩ Ki-tô t́m đủ cách để gia tăng số tín đồ. Trong kế hoạch gia tăng giáo dân trên  có việc dùng tài lợi mua chuộc, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, và mua con nít của những gia đ́nh Lương nghèo khổ (như ăn mày) để huấn luyện làm thày kẻ giảng, và nếu đứa trẻ thông minh, có thể huấn luyện làm giáo mục bản xứ. Tại Cao Miên, số tiền các giáo sĩ bỏ ra để “rửa tội” cho mỗi người ngoại đạo lên tới hơn 100 quan vào năm 1858. Cũng năm này, tại các giáo phận, đại đa số những trẻ em được rửa tội đều đă sắp chết. Số trẻ em mồ côi hơặc con nhà nghèo bán cho các nhà tu hàng năm cũng khá quan trọng.(Xem Phụ Bản 2) Đa số “các chú” trong các “nhà Chúa Bl’7901;i” đều là cô nhi hay con nhà nghèo được giáo sĩ bỏ tiền ra mua về.

 

Thêm vào đó, từ năm 1840 tới 1845, t́nh h́nh Gia Định thành cực kỳ bất an. Loạn “Thổ dạy” lan tràn khắp nơi. Vùng Cái Mơn của gia đ́nh Petrus Key là một trong những địa phương bị thiệt hại nặng nhất. Phụ thân Petrus Key, nếu quả thực là một vơ quan nhỏ, lương bổng chẳng bao lăm. Một khi từ trần, thân mẫu ông có thể gặp nhiều khó khăn về sinh kế.

 

Cả hai điều kiện khách quan và chủ quan, cung cũng như cầu, đều mở cửa cho những người cha mẹ nghèo giao bán con cho các cố đạo nuôi. Cho tới khi có tài liệu chứng minh ngược lại, chú bé Petrus Key có nhiều phần trăm thuộc vào đa số “các chú” nói trên. (Hy vọng trong một tương lai gần, sẽ có được đầy đủ lư lịch và thông tín bạ của Petrus Key tại trường Collège général de Pinang

 

Houston, tháng 11/2000-1/2002

Trich NDVN, ngày 19/8/2009



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend