TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 75


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?.

...Có thật như vậy không?......

 

                           Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

                            Nguyen TT Vo Van Kiet gop y cho du an Dung Quat

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….  

 

             ***********

  

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

*********** 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

 Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

 

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

 

 

 

 

 

 

 

The Victors   The Victors       

NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 75 

 

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt-Mỹ, cũng là kết thúc chính sách thực dân đế quốc Pháp-Mỹ tại Đông Dượng Việt-Miên-Lào. Nói cho cùng, cuộc trường kỳ kháng chiến của ba dân tộc Việt-Miên Lào đồng tâm hiệp lực “ Đánh cho Mỹ cút – Việt Miên Lào gian nhào ”, dành  độc lập, chủ quyền và vẹn toàn lănh thổ của từng quốc gia Đông Dương bị thực dân đế quốc Pháp-Mỹ đô hộ trên 100 năm.

 

    Kết thúc chiến tranh Việt Nam là kết thúc chiến tranh Mỹ-Đông Dương, mà đế quốc Mỹ ngụy ngôn chiến tranh Việt Nam ( Vietnam War: nội chiến ) hay  chiến tranh Việt-Mỹ ( American-Vietnam War: mà Quân đội Nhân dân Việt Nam là chủ lực chính của Quân đội Nhân dân Đông Dương đối đầu với Quân đội Mỹ chiếm đóng tại Đông Dương ), để chạy tội ác diệt chủng trên 3 triệu người Việt-Miên-Lào, dưới bom đạn Mỹ và vũ khí sinh hóa  chất độc da cam & CBU…

 

    Tư Tưởng Hồ Chí Minh chủ đạo chiến thuật-chiến lược Chính trị - Quân sự - Ngoại giao - T́nh báo đang bện liên kết thần sầu chung cho ba dân tộc Việt-Miên-Lào, và nhất là khả năng, giá trị của bản lỉnh và trí tuệ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam quyết đánh cho Mỹ cút phải cuốn cờ chiến bại tháo chạy khỏi Đông Dương vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Việt Nam 

 

    V́ thấu rơ ước mơ của mỗi dân tộc, thoát gông xiềng đô hộ thực dân đế quốc Pháp-Mỹ, dành độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước và nhất là đoàn kết thực ḷng giúp nhau đánh xâm lược.

 

    Cho nên thống nhất đất nước chính quyền Việt-Miên-Lào không xía vào nội bộ, mà cùng nhau hợp tác kinh tế- ngoại giao-quân sự-văn hóa đồng tiến lên phát tiển, xóa đói, giảm nghèo, cơ khí hóa, bảo tồn phong tục tập quán, dân giàu nước mạnh và văn minh tiến bộ…..

 

    Chiến thắng, chiến tranh Đông Dương trong đó có Khía Cạnh Ngoại Giao đă được cấp lănh đạo kháng chiến Miên –Lào, ủy nhiệm cho lănh đạo Việt Nam kinh qua vận động và đấu tranh ngoại giao với Mỹ và Quốc tế, được các sử gia, nhà nghiên cứu và học giả Thế giới ca ngợi chiến thắng kinh ngạc Khía Cạnh Ngoại Giao Trong Chiến Việt Nam, khả năng chiến thuật, chiến lược ngoại giao của Lê Duẩn-Lê Đức và đảng CSVN hoặch định chiến tranh ở Bắc Việt….. chính Kissinger trong sách Hồi Kư ( Memoires ) đă nói rằng: Lê Đức Thọ đối xử với Kissinger như là: “ một ông thầy giáo nghiêm khắc rầy một đứa học tṛ kém khả năng ”  ( Tựa Préface, tr 4 )

 

    ĐDTB, trích đăng trọn bài ( gồm có 3 phần ) Khía Cạnh Ngoại Giao Trong Chiến Tranh Việt Nam của trang nhà BBC, ngày 6-12-23 /4/05, cho chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh và đảng CSVN đă lợi dụng và vận dụng chủ nghĩa Cộng Sản, để được Liên sô- Trung quốc và Quốc tế hết ḷng ủng hộ kháng chiến toàn dân Việt nói riêng và dân tộc Đông Dương nói chung, đánh đuổi thực dân đế quốc Mỹ.

 

    Đă được, BBC chuyển dịch tích từ tiểu luận mang tiêu đề “ Victory by Other Means: The Foreingn Policy of thr Democratic Republic of Vietnam”, in  trong tập why the North Won the Vietnam War ( Mars Jason Gilbert chủ biên, NXB Palgrave Macmillan ấn hành năm 2002 ) của Willam Duiker.

 

   “ William Duiker, tác giả quyển “Hồ Chí Minh: A Life” (2000), cho rằng cần phải nhìn nhận, dù đã có sai lầm gì tại Washington hay Sài Gòn, thì chiến thắng của người cộng sản ở Việt Nam là một thành tựu gây kinh ngạc và là bằng chứng cho khả năng chiến thuật, chiến lược của những người hoạch định chiến tranh ở Bắc Việt, cũng như ý chí và lòng hy sinh của nhiều triệu người ủng hộ trên toàn quốc

 

     Ông cũng cho rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt, trong hai thập niên, đã thành công trong việc vận động tình hình quốc tế để nhận sự ủng hộ mà thường là miễn cưỡng của các đồng minh chính, cũng như giành được cảm tình từ nhiều dân tộc trên thế giới.”

 

   Cho chúng ta biết rằng, Toàn dân và đảng CSVN chủ động cuộc chiến đem đến thắng lợi chung cho nhân dân Đông Dương, trước sức ép của Trung quốc không muốn Việt Nam thống nhất, và nhất là âm mưu thâm độc của Nixon “ ngoại giao bóng bàn với TQ” “ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trước sức mạnh Hạm Đội 7 bảo vệ vùng biển VN ”….

 

    Cho dù “… quan hệ Trung – Việt đã ngày càng căng thẳng. Các viên chức Bắc Việt nói thẳng ra là Hà Nội đã từng phạm sai lầm khi nghe theo lời khuyên của TQ tại Geneva 1954”, đă được “…Các lãnh đạo Việt Nam đã khéo léo tận dụng mâu thuẫn Trung – Xô để nhận sự giúp đỡ từ cả hai nước. Họ cũng biết cách thực hiện việc hòa đàm theo hướng tạo ra ấn tượng trước công luận là Hà Nội rất uyển chuyển, trong khi trên thực tế không bước vào đàm phán thật sự cho đến một thời điểm do tự họ quyết định….”

 

    Nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, xin giới thiệu nhận định sau đây của một trong những chuyên gia kỳ cựu về Việt Nam, William Duiker nguyên là nhân viên ngoại giao tại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong thời gian chiến tranh. Nhận bằng tiến sĩ ở ĐH Georgetown University, trong nhiều năm cho tới khi về hưu năm 1997, ông là giáo sư khoa Lịch sử ở ĐH bang Pennsylvania.

 

    Ông là tác giả của nhiều tập sách về Việt Nam như The Communist Road to Power in Vietnam (1981), Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam (1994), Vietnam: Revolution in Transition (1995) và Hồ Chí Minh: A Life (2000).”…   (BBC)    

 

 

 

KHÍA CẠNH NGOẠI GIAO TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

alt     

 

Vì sao những người cộng sản đã chiến thắng trong cuộc chiến ở Việt Nam?

 

 

Đã có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Có người quy trách nhiệm cho các sai lầm từ các nhà hoạch định chính sách Mỹ; người lại phân tích về khả năng lãnh đạo và chiến lược của những người cộng sản.

 

William Duiker, tác giả quyển “Hồ Chí Minh: A Life” (2000), cho rằng cần phải nhìn nhận, dù đã có sai lầm gì tại Washington hay Sài Gòn, thì chiến thắng của người cộng sản ở Việt Nam là một thành tựu gây kinh ngạc và là bằng chứng cho khả năng chiến thuật, chiến lược của những người hoạch định chiến tranh ở Bắc Việt, cũng như ý chí và lòng hy sinh của nhiều triệu người ủng hộ trên toàn quốc.

 

Ông cũng cho rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt, trong hai thập niên, đã thành công trong việc vận động tình hình quốc tế để nhận sự ủng hộ mà thường là miễn cưỡng của các đồng minh chính, cũng như giành được cảm tình từ nhiều dân tộc trên thế giới.

 

Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, xin giới thiệu nhận định sau đây của một trong những chuyên gia kỳ cựu về Việt Nam.

 

Cái nhìn từ phía Việt Nam

 

Bản tiếng Việt là phần trích từ tiểu luận mang tiêu đề “Victory by Other Means: The Foreign Policy of the Democratic Republic of Vietnam”, in trong tập Why the North Won the Vietnam War (Marc Jason Gilbert chủ biên, NXB Palgrave Macmillan ấn hành năm 2002).

 

Đến cuối thập niên 1950, trong những người cảm tình với Việt Minh tại miền Nam xuất hiện thêm sức ép đòi một quan điểm cứng rắn hơn để bảo vệ cuộc cách mạng. Chính quyền Diệm ở Sài Gòn đã tăng cường nỗ lực đàn áp mọi phe đối lập. Tháng Giêng 1959, vấn đề được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Trung ương Đảng (năm 1951, đảng Cộng sản đã đổi tên thành đảng Lao động).

 

Một số lãnh đạo trong đảng phản đối khả năng tăng cường võ lực, không chỉ vì làm thế sẽ mất lòng các đồng minh của Hà Nội, mà còn vì lý do miền Bắc chỉ mới bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH bằng chương trình hợp tác hóa kéo dài ba năm.

 

Ông Hồ Chí Minh bày tỏ thận trọng để tránh khiêu khích Mỹ. Nhưng ông Lê Duẩn, nhân vật đang lên lúc này, vừa hoàn tất một chuyến đi bí mật vào Nam và ủng hộ có hành động mạnh mẽ. Cuối cùng, đảng ra một thỏa hiệp, đồng ý việc tái tục chiến tranh cách mạng trong Nam, nhưng mức độ đấu tranh chính trị và võ trang tới đâu thì vẫn chưa được giải quyết.

 

Sau đó, ông Hồ đi Bắc Kinh và Moscow để giải thích quyết định và xin ủng hộ. Nhưng Moscow không cam kết, còn Trung Quốc bày tỏ thận trọng. Mao Trạch Đông nói với vị khách rằng điều kiện ở Đông Dương và thế giới chưa chín muồi. Ông nói có thể mất 100 năm để thống nhất VN. Đó không phải là thông điệp mà những đồng chí nhiệt huyết của ông Hồ ở Hà Nội muốn nghe.

 

Một nguyên do của chính sách thận trọng là việc cần khảo sát thái độ của Mỹ. Sau hội nghị Geneva 1954 chính phủ Eisenhower đã ủng hộ mạnh mẽ ông Ngô Đình Diệm với việc mời ông thăm chính thức Washington năm 1957. Tuy nhiên, đến cuối thập niên này, xuất hiện lo ngại ở Washington do có sự chống đối Diệm tại miền Nam và có xung đột giữa chính phủ hoàng gia Lào với lực lượng Pathet Lào. Lúc này có viễn cảnh Mỹ đưa quân can thiệp vào Lào, nên Hà Nội đã phải cảnh báo Pathet Lào không đẩy nhanh tình hình đi đến chỗ tiêu diệt chính phủ hoàng gia ở Vientiane.

 

Cùng lúc, Hà Nội có thêm một vấn đề là cuộc xung đột ý thức hệ giữa Moscow và Bắc Kinh. Việc Hà Nội muốn duy trì quan hệ tốt với cả hai nước này chắc chắn đã cản trở việc đưa ra một chính sách hoàn chỉnh cho việc thống nhất.

 

Tuy nhiên, lúc này những thay đổi trong chính sách của Hà Nội đã xuất hiện. Họ thành lập một mặt trận mới – Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam – để lãnh đạo phong trào ở miền Nam. Mục tiêu công khai của mặt trận là buộc cố vấn Mỹ rút khỏi miền Nam và thành lập chính phủ liên hiệp. Để trấn an người nước ngoài và các nhân tố trung dung ở miền Nam, không hề có sự nhắc tới CNCS hay về liên hệ trong tương lai với Đảng cộng sản.

 

Nếu một trong các mục tiêu của việc thành lập mặt trận là giảm bớt sự nghi ngờ của Mỹ về liên hệ giữa phong trào nổi dậy trong Nam và miền Bắc, thì mục tiêu này đã không mấy thành công. Ngay sau khi đắc cử năm 1961, tổng thống Kennedy ra lệnh thành lập một nhóm để đánh giá tình hình miền Nam và đề xuất biện pháp ngăn việc cộng sản chiếm Sài Gòn.

 

Nhưng Washington lúc này lo ngại nhiều hơn về tình hình ở Lào. Không muốn đưa quân Mỹ vào nước này, Kennedy chọn giải pháp có hội nghị hòa bình ở Geneva để ngừng bắn và thành lập chính phủ trung lập tại Lào.

 

Việc đưa vấn đề Lào ra bàn hội nghị, đối với Hà Nội, là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang tìm lối ra khỏi Đông Dương. Trong các cuộc họp, ông Hồ Chí Minh nói rằng Hoa Kỳ, nước không có quyền lợi an ninh cốt tử trong khu vực, chỉ muốn giữ thể diện tại Đông Dương. Với niềm tin đó, Hà Nội đi tìm phương thức đưa Mỹ ra khỏi miền Nam thông qua đàm phán để thành lập một chính phủ liên hiệp mà bề ngoài sẽ trung lập nhưng rồi người cộng sản sẽ nắm đa số.

 

Tuy vậy, Hà Nội đã có lạc quan sai về Washington. Sự nghi ngờ cộng sản và nỗi sợ về thuyết domino tiếp tục chi phối chính trị ở Mỹ. Mặc dù các cuộc thăm dò nhau đã diễn ra trong mùa hè 1962, nhưng Nhà Trắng mau chóng mất kiên nhẫn khi họ nhận ra rằng Bắc Việt không có ý định làm theo sự bảo đảm của Liên Xô rằng Bắc Việt sẽ không lợi dụng thỏa thuận ở Lào để tăng cường vận chuyển người và thiết bị vào miền Nam thông qua ngả Lào.

 

Khi viễn cảnh Mỹ rút khỏi miền Nam bị khép lại, Hà Nội quay lại lựa chọn quân sự. Tháng 12-1963, Trung ương đảng xem xét khẩn cấp đề nghị tăng tốc sức ép quân sự ở miền Nam với hy vọng chiến thắng nhanh chóng trước khi Washington kịp quyết định có can thiệp hay không. Tuy vậy, một quyết định như thế sẽ tăng khả năng chiến tranh rộng lớn. Lúc này, Bắc Kinh không thấy có vấn đề lớn với chiến tranh vì họ đã sẵn sàng chấp nhận nguy cơ để được Hà Nội ủng hộ trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Nhưng nó có thể làm Liên Xô giận dữ vì kể từ sau khủng hoảng tên lửa Cuba 1962, Liên Xô đã muốn cải thiện quan hệ với Mỹ.

 

Cuộc tranh luận lúc này trở nên nóng bỏng vì nhiều người trong đảng, trong đó có Hồ Chí Minh, vẫn miễn cưỡng không muốn gây hiềm khích với Moscow hoặc khiêu khích Washington. Nhưng ông Lê Duẩn và đồng minh đã chiếm ưu thế và cuối cùng, đề xuất được thông qua.

 

Để làm dịu những người còn nghi ngờ, đảng quyết định là sẽ không đưa quân chính quy miền Bắc vào Nam. Đảng cũng gửi thư cho một số nước đồng minh hứa rằng cuộc chiến sẽ chỉ khoanh vùng trong ranh giới miền Nam.

 

Tuy nhiên, Hà Nội lúc này đã đánh giá sai khi họ nghĩ rằng trước xung đột tăng lên ở miền Nam, Mỹ sẽ giảm bớt sự có mặt. Chính phủ Johnson thông qua các biện pháp đe dọa tăng cường vai trò của Mỹ trong cuộc xung đột. Tháng Tám 1964 sau khi xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ, Nhà Trắng nhanh chóng ra lệnh không kích trả đũa vào miền Bắc.

 

Vài tuần sau đó, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch đưa những đơn vị bộ đội miền Bắc đầu tiên vào Nam. Quyết định này càng làm mất lòng Moscow, nhưng được Bắc Kinh đồng ý. Dù vậy, Trung Quốc cũng không muốn bị đưa vào thế đối đầu với Washington và Mao Trạch Đông cảnh báo Hà Nội không được phản ứng quá mức với Mỹ.

 

Tháng Mười 1964, Nikita Khrushchev bị phế truất và một bộ máy lãnh đạo mới lên thay, do Leonid Brezhnev đứng đầu. Mặc dù diễn biến này không có bao nhiêu tác động đến quan hệ Xô – Trung, nhưng nó có tác động quan trọng tại Hà Nội. Lý do là các lãnh đạo mới ở Moscow hy vọng sẽ cô lập Trung Quốc trong phe cộng sản, và trở nên dễ chịu hơn trước lời kêu gọi giúp đỡ của miền Bắc. Từ đó trở đi, Liên Xô trở thành nguồn cung cấp thiết bị quân sự cho Hà Nội.

 

Nhưng không dễ để duy trì quan hệ với cả Liên Xô và Trung Quốc. Bắc Kinh rất bất mãn vì Hà Nội nhận viện trợ tăng cường từ Liên Xô. Khi Đặng Tiểu Bình đi thăm Hà Nội tháng 12 năm đó, ông yêu cầu miền Bắc từ nay phải từ chối giúp đỡ của Moscow và dựa vào Bắc Kinh. Các vị chủ nhà từ chối và Trung Quốc, lo ngại VN sẽ ngả theo Moscow, đành nhượng bộ. Cuối cùng thì Hà Nội đã học được cách sử dụng sự chia rẽ theo hướng có lợi cho mình. Nhưng mầm mống của những rạn nứt về sau với Bắc Kinh đã được gieo từ đây.

 

Giờ đây khi hai đồng minh chủ chốt đã cam kết ủng hộ với điều kiện chiến tranh không được lan ra biên giới miền Nam, Hà Nội có được một số lợi thế để giải quyết tình hình đang biến chuyển ở miền Nam.

 

Mùa đông 1964-1965, tình hình chính trị ở Sài Gòn đã đến điểm hỗn độn khi các chính thể liên tiếp thay đổi. Ở nông thôn, lực lượng Việt Cộng tận dụng sự lộn xộn và thực thi chiến thuật chủ động hơn.

 

Theo đánh giá của tình báo Mỹ lúc này, Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam kiểm soát 80% tổng số đất đai ở miền Nam.

 

Dấu hiệu tiến triển này đưa đến một khoảnh khắc vui mừng ở Hà Nội rằng chiến thắng đã trước mặt. Tại cuộc họp tháng Hai 1965, các lãnh đạo đảng quyết định không gửi thêm quân từ miền Bắc vào nữa. Họ hy vọng lực lượng Việt Cộng trong Nam đủ sức lật đổ chế độ Sài Gòn vào giữa mùa hè.

 

Với tư tưởng ấy, Hà Nội quay lại nỗ lực ngoại giao trong tháng Tư, khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra tuyên bố ‘Bốn điểm’ nổi tiếng. Tuyên bố kêu gọi một thỏa hiệp dựa trên việc Mỹ rút quân, việc quay lại các điều khoản hiệp định Geneva, một thỏa thuận hòa bình dựa trên nghị trình của Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam, và việc thống nhất hai miền trong hòa bình không có nước ngoài can thiệp.

 

Nhưng đề xuất này nhanh chóng gây ra tranh cãi, do Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam gần như ngay lập tức đưa ra tuyên bố ‘Năm điểm’. Nó có vẻ đòi Mỹ rút quân trước khi có thể có hòa đàm.

 

Các viên chức Mỹ cũng lo ngại rằng điểm số Ba trong Bốn điểm của Hà Nội có thể đòi hỏi việc đầu hàng hoàn toàn của chính thể ở Sài Gòn.

 

Washington tìm cách giải thích thông qua đường ngoại giao, nhưng Hà Nội không tỏ ra mặn mà. Và sau vài cuộc gặp trong mùa hè, Hà Nội đột ngột chấm dứt liên lạc.

 

Theo sử gia Robert Brigham, Hà Nội rút khỏi đàm phán chủ yếu vì họ cân nhắc quan điểm của người trong Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam, những người lo ngại rằng mình sẽ bị Hà Nội bỏ rơi.

 

Nhưng còn một yếu tố khác nữa, đó là kết luận của tổng bí thư Lê Duẩn rằng Washington lúc này chưa sẵn sàng có nhượng bộ lớn tại bàn đàm phán. Như ông viết trong Thư vào Nam, thì Hà Nội không muốn đàm phán cho đến khi những người cách mạng chiếm ưu thế rõ rệt trên chiến trường.

 

Tuy nhiên, đến cuối mùa hè 1965, rõ ràng lực lượng Việt Cộng chưa đủ sức lật đổ chế độ miền Nam. Sự tăng cường quân Mỹ tại miền Nam buộc Hà Nội nhận thức rằng họ phải tăng cường quân từ miền Bắc vào.

 

Người ủng hộ mạnh mẽ cho quan điểm này là tướng Nguyễn Chí Thanh, người đưa ra chiến lược tấn công gây sức ép cho quân Mỹ và quân miền Nam trên toàn miền Nam để buộc đối phương đầu hàng.

 

Hà Nội cũng không cắt đứt hoàn toàn ngả thương thuyết, nhưng ông Lê Duẩn và các đồng minh trong đảng quyết định hiện chưa đúng lúc cho đàm phán.

 

Việc tăng tốc chiến tranh khiến Hà Nội càng cần phải có sự trợ giúp từ các đồng minh. Moscow có thể hài lòng chừng nào Hà Nội ngăn không để chiến tranh lan ra khỏi biên giới miền Nam. Nhưng các viên chức Liên Xô bày tỏ bất mãn là lãnh đạo Việt Nam không tham vấn với họ về kế hoạch chiến tranh.

 

Như thường lệ, quan hệ với Bắc Kinh tỏ ra phức tạp hơn. Hà Nội muốn Trung Quốc không chỉ là người giúp đỡ quân sự mà còn là vật cản đường khiến Mỹ ngại không mở rộng chiến tranh ra khỏi biên giới miền Nam.

 

Trong những tháng đầu năm 1965, Bắc Kinh hứa với Hà Nội rằng Trung Quốc sẽ là ‘hậu phương lớn’ của cách mạng VN, cung cấp trợ giúp quân sự và nếu cần, đưa cả quân Trung Quốc vào để giúp các đồng chí VN đạt mục tiêu. Trong tháng Tư, hai nước ký thỏa thuận cho phép triển khai quân TQ vào miền Bắc. Hai tháng sau đó, các cuộc thảo luận song phương ở Bắc Kinh đồng ý rằng Trung Quốc sẽ phản ứng trước bất kì nỗ lực tăng tốc chiến tranh của Mỹ.

 

Tuy nhiên, trên thực tế, một số lãnh đạo TQ ngày càng lo ngại họ có thể bị kéo vào thế đối đầu trực tiếp với Mỹ. Bắc Kinh bắt đầu tỏ dấu hiệu với Washington rằng, mặc dù họ sẵn sàng can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, nhưng cũng không có ý định khiêu khích xung đột với Mỹ. Thông điệp ngụ ý nếu Washington không trực tiếp đe dọa Trung Quốc, TQ sẽ không trực tiếp can dự vào cuộc chiến.

 

Sau một cuộc thảo luận căng thẳng trong mùa hè tại Bắc Kinh, Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Hà Nội về việc gửi phi công chiến đấu TQ và cự tuyệt đề nghị của Liên Xô thành lập mặt trận thống nhất trợ giúp cho miền Bắc.

 

Nhưng mặc dù các lãnh đạo TQ thận trọng trong việc xác định mức độ can dự, thì khả năng TQ có thể can thiệp đã là yếu tố quan trọng khiến chính quyền Johnson không có giải pháp cứng rắn hơn trong chiến tranh. Ngoài ra, trong các năm kế tiếp, sự trợ giúp quân sự của Trung Quốc đã tăng mạnh, trong khi số lượng nhân viên quân sự và dân sự Trung Quốc phục vụ tại miền Bắc tăng trên 100.000 người.

 

Nhưng điều này cũng không giải quyết được các khác biệt giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Tình huống trở nên căng thẳng trong cuối thập niên 1960 khi các chiến sĩ Hồng vệ binh đến thăm Hà Nội bắt đầu khoe các khẩu hiệu cách mạng trước mặt các vị chủ nhà. Các lãnh đạo ở Hà Nội có cách bày tỏ sự không hài lòng của họ, với các bài báo xuất hiện nói về truyền thống ‘xâm lược thời phong kiến’ của Trung Quốc. Tín hiệu này nhanh chóng được Bắc Kinh để ý. Đặng Tiểu Bình nói với Lê Duẩn vào tháng Tư 1966 rằng “nếu sự có mặt của chúng tôi khiến các bạn tức giận, chúng tôi sẽ rút lui ngay tức thời.”

 

Chiến trường

 

Trong lúc đó trên chiến trường, Hà Nội lo ngại về các tổn thất nhân mạng và vật chất, trong lúc chưa thấy các lợi ích rõ ràng. Đến đầu năm 1967, đã có sự không hài lòng xuất hiện trong một bộ phận quân nhân và viên chức tại Hà Nội. Một số thậm chí bày tỏ hy vọng theo đuổi con đường đàm phán. Lúc này phong trào phản chiến tại Mỹ và trên thế giới lan rộng, và Hà Nội có một ít lạc quan rằng chính quyền Johnson có thể có nhượng bộ lớn để chấm dứt chiến tranh.

 

Tháng Giêng 1967, ngoại trưởng Bắc Việt, Nguyễn Duy Trinh, ra dấu hiệu với Washington rằng nếu chiến dịch đánh bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt vô điều kiện, viễn cảnh đàm phán sẽ mở ra. Hà Nội lúc này đã từ bỏ đòi hỏi là Mỹ phải chấp nhật cả Bốn điểm trước khi mở đàm phán. Tuy nhiên, Washington thấy thông điệp của Hà Nội vẫn mơ hồ và cuối cùng họ bác bỏ, xem đó là chưa đầy đủ.

 

Dù vậy, chính quyền Johnson chưa mất hết sự quan tâm đến đàm phán. Vào tháng Sáu, lại có thêm các tiếp xúc; lúc này Nhà Trắng có đề xuất mới, mà thường được biết với tên gọi công thứ Pennsylvania hay công thức San Antonio.

Đề nghị nói sẽ tạm ngưng đánh bom miền Bắc nếu hòa đàm bắt đầu và rằng miền Bắc phải bảo đảm sẽ không lợi dụng tình thế để gia tăng nỗ lực quân sự ở miền Nam.

 

Tại Hà Nội, một số tỏ ý quan tâm đề nghị. Nhưng vì lúc này đã có kế hoạch tổng tấn công ở miền Nam vào đầu năm sau, nên cuối cùng Hà Nội bác bỏ đề nghị.

Các nhà chủ chiến hy vọng rằng một cuộc tấn công lớn sẽ làm tình hình miền Nam thêm bất ổn và buộc Mỹ phải nhượng bộ.

 

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân diễn ra vào cuối tháng Giêng 1968. Các sử gia đã tranh luận nhiều về mục tiêu của chiến dịch này. Nhưng các nguồn từ miền Bắc cho thấy rõ là bản thân Hà Nội không chắc chắn về kết quả sẽ đạt được.

Điều này phản ánh quan điểm của ông Lê Duẩn, trích dẫn lại từ Lênin, rằng “chúng ta phải đánh và rồi sẽ chờ xem”.

 

Mục tiêu cao nhất của Hà Nội là kết hợp tấn công vũ trang và nổi dậy để lật đổ chế độ Sài Gòn, đưa đến đàm phán và Mỹ rút quân. Nhưng mục tiêu tối thiểu của họ là gây bất ổn tại miền Nam đủ để Mỹ phải tìm đường đàm phán theo các điều kiện bất lợi.

 

Kết cục là trận Mậu Thân đem lại kết quả lẫn lộn. Lực lượng Việt Cộng chịu tổn thất nặng nề và không lật đổ được chế độ Sài Gòn.

 

Nhưng chiến dịch đã có tác động lớn đến dư luận tại Mỹ vốn trước đó ủng hộ chiến tranh, và thuyết phục được nhiều viên chức Mỹ rằng họ không thể giành chiến thắng với một cái giá chấp nhận được. Nhà Trắng sau đó miễn cưỡng quyết định gia tăng nỗ lực để có đàm phán hòa bình.

 

Nhưng chiến dịch đã có tác động lớn đến dư luận tại Mỹ vốn trước đó ủng hộ chiến tranh, và thuyết phục được nhiều viên chức Mỹ rằng họ không thể giành chiến thắng với một cái giá chấp nhận được.

 

Nhà Trắng sau đó miễn cưỡng quyết định gia tăng nỗ lực để có đàm phán hòa bình.

 

Đột phá đầu tiên diễn ra vào đầu tháng Tư 1968, khi Hà Nội đồng ý mở thảo luận với các đại diện Mỹ nhằm tìm thỏa thuận cho việc Mỹ dừng ném bom vô điều kiện. Đây được xem là phương thức đem lại vòng đàm phán đầu tiên.

 

Quyết định của Hà Nội lập tức gây ra vấn đề với Trung Quốc, nước mà trong ba năm qua đã cảnh báo Hà Nội không được bỏ đi tuyên bố Bốn Điểm như tiền đề cần thiết trước khi tham gia đàm phán.

 

Trong cuộc gặp ông Phạm Văn Đồng trong tháng Tư, ông Chu Ân Lai chỉ trích VN vì muốn có sự ngừng đánh bom tạm thời. Ông gọi điều này sẽ khiến lực lượng cách mạng ở miền Nam mất đi chủ động.

 

Ông Đồng phản bác lại là Hà Nội chỉ muốn dùng ngoại giao để vận động dư luận thế giới chống lại Mỹ và buộc Washington phải nhượng bộ.

 

Khi Chu nói Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm giao thiệp với Mỹ hơn, ông Đồng nói lời cảm ơn nhưng cũng nói thêm “chúng tôi là người đang chiến đấu chống Mỹ và đánh bại họ.” Ông kết luận vì thế Hà Nội chịu trách nhiệm cho việc thực hiện các hoạt động ngoại giao và quân sự.

 

Đến mùa thu, TQ nhắc lại sự chỉ trích khi Hà Nội đồng ý mở thảo luận với Mỹ, Mặt trận dân tộc giải phóng và chính quyền Sài Gòn tại Paris.

 

Tuy vậy đến lúc này quan hệ Trung – Việt đã ngày càng căng thẳng. Các viên chức Bắc Việt nói thẳng ra là Hà Nội đã từng phạm sai lầm khi nghe theo lời khuyên của TQ tại Geneva 1954.

 

Kết quả là Mao Trạch Đông đành tán thành với chiến lược vừa đánh vừa đàm của Hà Nội.

 

Trên thực tế, Bắc Việt tiếp tục dùng đàm phán ở Paris chủ yếu như một diễn đàn để vận động dư luận, trong lúc đồng thời tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang trong miền Nam.

 

Tháng Chín 1970, ông Phạm Văn Đồng nói với Chu Ân Lai rằng Bắc Việt không có ảo tưởng về một giải quyết ngoại giao tại thời điểm này vì Washington vẫn đang tìm kiếm chiến thắng trên chiến trường.

 

Lúc này các điều kiện mà Hà Nội đặt ra tại đàm phán là: thiết lập thời biểu cho việc Mỹ rút quân hoàn toàn, phế bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trước khi thành lập một chính phủ liên hiệp.

 

Ông Phạm Văn Đồng nói những điều kiện không nhằm để xem xét nghiêm túc mà chỉ để dồn Mỹ vào thế bí và vận động dư luận có cảm tình với phong trào cách mạng ở miền Nam và trên thế giới.

Ông nhấn mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao đóng vai trò hữu ích đồng thời cùng nỗ lực quân sự trên chiến trường.

 

Cú sốc Nixon

 

Nhưng đến đầu thập niên 1970, Hà Nội đột nhiên chứng kiến một thực tế mới không dễ chịu khi Trung Quốc quyết định nối lại tình thân với Mỹ.

 

Đối với các lãnh đạo ở Hà Nội, đây là cú đánh vào chiến lược của họ, do chiến lược này dựa trên tiền đề là sự thù địch Trung – Mỹ là yếu tố cố định trên chính trường thế giới. Giờ đây Bắc Việt đối diện khả năng là Trung Quốc sẽ hùa theo Mỹ để tước bỏ những thành tựu cách mạng của Bắc Việt.

 

Trung Quốc thì nhấn mạnh quan hệ cải thiện Trung – Mỹ có thể có lợi cho sự thống nhất Việt Nam vì khi đó, Mỹ sẽ giảm bớt lo ngại về sự bành trướng cộng sản ở Đông Nam Á và sẽ tập trung vào các khu vực khác.

 

Nhưng Hà Nội không chia sẻ quan điểm này.

 

Lo ngại của Hà Nội có vẻ được chứng thực phần nào khi Trung Quốc sau đó tin rằng Washington đang định tìm một sự rút lui trong danh dự ra khỏi Đông Dương.

Giờ đây Bắc Việt tập trung nỗ lực cho hy vọng mở một đợt tổng tấn công mới tại miền Nam. Nếu thành công, nó có thể bào mòn uy tín chính quyền Sài Gòn và buộc Mỹ có thêm nhượng bộ trong hòa đàm.

 

Đợt tổng tấn công cuối tháng Ba 1972 thể hiện ưu thế của lực lượng Bắc Việt trước quân đội miền Nam – lúc này chiến đấu mà không có sự hỗ trợ của bộ binh Mỹ. Tuy vậy, các đợt không kích của Mỹ đã giúp phản pháo và chính quyền Sài Gòn vẫn tồn tại.

 

Trong mấy tháng kế tiếp, các nhà lãnh đạo Bắc Việt đánh giá tình hình dựa trên thực tế mới. Vào tháng Bảy 1972, ông Chu Ân Lai khuyên ông Lê Đức Thọ hãy mềm dẻo hơn trong hòa đàm và nếu cần thì thừa nhận Nguyễn Văn Thiệu như một thành viên tiềm năng trong một liên minh tay ba tương lai.

 

Ông Thọ tỏ ra ngờ vực, vì đối thủ chính của Nixon trong chiến dịch tranh cử tổng thống 1972, nghị sĩ Dân chủ George McGovern, đang vận động dựa trên cương lĩnh sẽ rút quân Mỹ ngay tức khắc ra khỏi miền Nam.

 

Nhưng đến đầu mùa thu, tình thế cho thấy rõ là thượng nghị sĩ McGovern sẽ chịu thất bại trong bầu cử, trong lúc Nixon đe dọa gia tăng sức ép quân sự của Mỹ ở VN sau bầu cử nếu không đạt được thỏa thuận hòa bình.

 

Ngày 8-10, ông Lê Đức Thọ từ bỏ việc yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Thay vào đó, ông chấp nhận kế hoạch kêu gọi một ‘sự ngừng bắn có hiệu lực’ và việc công nhận hai thực thể hành chính ở miền Nam – chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và chính phủ cách mạng lâm thời.

 

Một hiệp định cuối cùng được ký ở Paris tháng Giêng 1973.

 

Đối với nhiều thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, thỏa thuận Paris nhắc họ nhớ về sự phản bội ở Geneva 1954, và các lãnh đạo Bắc Việt đã phải nỗ lực bảo đảm với họ rằng mục tiêu thống nhất chưa bị lãng quên.

 

Nhưng trên thực tế, có vẻ Hà Nội không cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải hoàn tất việc thống nhất. Giờ đây khi quân Mỹ đã rút, các lãnh đạo Bắc Việt tin rằng chiến thắng chỉ là vấn đề thời gian.

 

Trong hội đàm ở Bắc Kinh tháng Sáu, Chu Ân Lai nói: “trong năm, mười năm kế tiếp, Nam Việt Nam, Lào và Campuchia cần xây dựng hòa bình, độc lập và trung lập.” Ông Lê Duẩn có vẻ đồng ý, nói rằng Bắc Việt không vội vã trong vấn đề đưa chính quyền miền Nam thành chính quyền XHCN và nhắc tới khả năng 10 – 15 năm.

 

Cuối cùng thực tế là đã không lâu đến như vậy. Khi chính quyền Thiệu không thực hiện các điều khoản hiệp định Paris và tấn công các khu vực do đối phương kiểm soát ở miền Nam, Bắc Việt thay đổi kế hoạch và mở tổng tấn công đầu năm 1975.

 

Quyết định gây ra một vài lo ngại ở Bắc Kinh và Moscow, nhưng khi Washington không phản ứng, sự kháng cự ở miền Nam nhanh chóng suy sụp và Sài Gòn thất thủ ngày 30-4. Việc thống nhất diễn ra một năm sau đó và chính thể mới soạn ra kế hoạch chuyển hóa XHCN trên toàn quốc vào cuối thập niên.

 

Kết luận

 

Sau 1975, các nguồn chính thức ở Hà Nội quy chiến thắng là nhờ các yếu tố: sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước của nhân dân, và thiên tài chiến lược của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

 

Ít có sự nhắc tới vai trò của ngoại giao hay sự viện trợ của các đồng minh của Hà Nội. Các lãnh đạo Việt Nam, khi bước vào sự tranh chấp gay gắt với Trung Quốc, liên tục giảm nhẹ sự hỗ trợ mà họ đã nhận từ bên ngoài. Sự giúp đỡ của Bắc Kinh giờ đây bị mô tả như là nhằm phục vụ mục tiêu ích kỷ của Trung Quốc.

 

Tuy vậy, ngoại giao thực ra là vũ khí quan trọng cho đảng trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

 

Các lãnh đạo Việt Nam đã khéo léo tận dụng mâu thuẫn Trung – Xô để nhận sự giúp đỡ từ cả hai nước. Họ cũng biết cách thực hiện việc hòa đàm theo hướng tạo ra ấn tượng trước công luận là Hà Nội rất uyển chuyển, trong khi trên thực tế không bước vào đàm phán thật sự cho đến một thời điểm do tự họ quyết định.

 

Dĩ nhiên, Hà Nội đã có nhiều nhượng bộ đáng kể để có hiệp định Paris 1973. Nhưng đối với các nhà chiến lược Việt Nam, nhượng bộ tại Paris không có tính thực tế vì họ nhận thức rằng một khi Mỹ đã rút khỏi miền Nam, chính quyền Sài Gòn không phải là đối trọng với miền Bắc.

 

Bắc Việt có vẻ đã nghĩ rằng sẽ còn mất một khoảng thời gian trước khi có chiến thắng cuối cùng, và sẵn lòng chấp nhận một thỏa hiệp về một chính phủ liên hiệp mà phía Mặt trận miền Nam sẽ giữ ưu thế. Nhưng việc Nixon từ chức tháng Tám 1974 đã đem lại một tình thế mới.

 

Trích BBC, ngày 6-12-23 / 4 / 2005

 

* Click đọc tiếp những bài dưới đây

 

* NHỮNG TIẾNG SÚNG CUỐI CÙNG 30 THÁNG 4 NĂM 1975

* CHIẾN THẮNG 30/4/75: GIÁ TRỊ CỦA BẢN LỈNH VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM

* KỶ NIỆM 30 NĂM CUỘC CHIẾN

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend