TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

VÀI NHẬN XÉT VỀ VẤN ĐỀ DỊCH LAI TÂM KINH CỦA LINH MỤC SƯ CIA NHẤT HẠNH


Flag of CambodiaFlag of Vietnam.svgFlag

   

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

 

 

***********

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

*********** 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

VÀI NHẬN XÉT VỀ VẤN ĐỀ DỊCH LAI TÂM KINH

CỦA LINH MỤC SƯ CIA NHẤT HẠNH

 

Lê Tự Hỷ

 

Việc dịch lại Tâm Kinh của Thiền sư Nhất Hạnh tuy theo ư thầy là dành riêng cho các đệ tử của thầy trong Làng Mai khi thầy nói với “các con” của thầy, nhưng v́ thầy là một bậc thầy có uy tín rất lớn trong Phật giáo của thế giới, cho nên việc dich lại đă gây lên sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu Phật học.

 

* LÁ TRUYỀN ĐƠN “BÁT NHĂ LÀ MỘT CÔNG ÁN THIỀN” CỦA LINH MỤC SƯ NHẤT HẠNH

Cho chúng ta quán chiếu hiện tượng chống Việt Nam DBHB Mỹ của ông đạo khùng linh mục sư Nhất Hạnh Chân Không.Rô MaGiáo Làng Mai...để rồi chúng ta thị kiến bản chất Nhất Hạnh Chân Không là Linh mục, mà đời tôi là linh mục nên suốt đời đi hoang Việt gian phản quốc cầu viện ngoại bang,...là vận đông liếm chân dân biểu, nghị sĩ và các nhà nước thực dân đế quốc Mỹ-Âu Châu (là con...đối với nhân dân ta) áp lực ngoại thương, cấm vận, cho đến đem quân tấn chiếm Việt Nam như Iraq và Afghanistan (hội chứng chiến tranh xâm lược Việt Nam luôn ám ảnh đế quốc thực dân Mỹ-Pháp-Vatican), chẳng làm được ǵ với nhân dân ta và đất nước ta đă từng đánh cho thực dân đế quốc Mỹ-Pháp-Vatican chiến bại tháo chạy tán loạn trước sức manh toàn dân ta chỉ cơm vắc muối gừng và quần cụt, ông đạo khùng c̣n nhớ không?

 

* Lột Mặt Nạ Âm Mưu Đánh Phá Phật

Thiền sư Thích Nhất Hạnh và các môn sinh

Linh mục sư NHCK ca đoàn trưởng đang điều hợp hát thánh ca  Làng Mai

Giáo Một Cách Ti Tiện, Xảo Trá ..Của Nhất Hạnh   Phật Giáo trên thế giới đang phải đối phó với sách lược xâm lăng văn hóa và tôn giáo của Ki-tô Giáo, một sách lược mà Tiến Sĩ C. de S. Wijesundera ở Tích Lan lên án là “tấn công Phật Giáo một cách ti tiện, xảo trá, và đại quy mô.” ....th́ chúng ta lại được dạy bởi ông đạo khùng “linh mục sư” Nhất Hanh Chân Không khoát áo cà sa và nâu ṣng đă được chúng ta kính trọng từ trước phải quán chiếu để mà tu tập theo Giê-su: ...

 

Tống Bắt Tăng Sinh Hết Hạn Trạm Trú Và Tu Học Vẫn Ở Lỳ Có Phải Bạo Hành Không?   Tống bắt 400  tăng sinh giáo phái Làng Mai, của ông đạo Nhất Hạnh Chân Không Việt gian phản quốc, cầu viện ngoại bang áp lực đất nước ta " ...hết hạn đăng kư tạm trú với chính quyền...và hết hạn phải xin phép tổ chức lại khóa tu là 3 tháng...”  rời  khỏi Tu viện Bát Nhă, là điều phải làm đem lại an ninh và ổn định khu vực nói riêng và cho đất nước nói chung, chứ không phải là bạo hành hay đàn áp tôn giáo (chế độ độc tài gia đ́nh trị Cần lao Công giáo Ngô Đ́nh Diệm, được ghi vào lịch sử Mỹ và Việt Nam, đă đàn áp tàn bạo Phật giáo Việt Nam, phải không Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân?)

* “LINH MỤC SƯ” NHẤT HẠNH CHÂN KHÔNG XIN GIỮ CHO ĐẠO PHẬT ĐƯỢC TRONG SÁNG “Ở Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp,  mỗi năm đến ngày giáng sinh, chúng tôi luôn luôn tổ chức lễ Giáng Sinh rất long trọng, tại v́ đa số các thiền sinh đều có nguồn gốc Ki Tô giáo. Ngày giáng sinh rất nhiều thiền sinh Tây phương về Đạo Tràng Mai Thôn như con cháu về nhà tổ phụ. V́ vậy vào đêm Giáng Sinh tôi luôn luôn  giảng một bài về Phật và về Chúa.” (trích nguồn: 30-Avril-NinhBinh_Du..> )...

 

    Những phát biểu trên tạo cho người đọc cảm thấy đây có vẻ như là một tôn giáo thờ chung “Phật & Chúa” mới được h́nh thành, hay c̣n gọi là pháp môn Làng Mai, mà Sư ông vừa đóng vai tṛ là tu sĩ Phật giáo để giảng về đạo Phật, vừa đóng vai tṛ của một linh mục để giảng về đạo Chúa,  xem tu viện Phật giáo như là nhà tổ phụ của các đạo Chúa -Tổ phụ Abraham, hay nhà của tổ phụ là Làng mai, tùy theo cách hiểu của mỗi người . Và cũng có thể hiểu ngược lại là xem nhà thờ cũng như là chùa!...

 

* Một Cái Nh́n Khác Về Vụ Tu Viện Bát Nhă ông đạo Nhất Hạnh Chân Không, là Việt gian phản quốc, đă vọng ngữ đ̣i thay Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc ca. Đa Nuyên Đa Đảng (chỉ có một và chỉ một Việt Minh Cộng Sản Đảng lănh đạo đất nước Việt Nam, có chủ quyền, độc lập, thống nhất, dân giàu, hùng cường, phát triển...như độc đảng Tư Bản Mỹ). Ông ta không có tư cách con Dân Việt Hào Hùng đối với đất nước ta, nh́n trực tâm ông ta (con dân Mẫu quốc Pháp), th́ ông ta cũng như những ông đạo khùng cứu thế David Koresh, Jim Jone, Sun Myung Moon, John Paul II, Benedict XVI...mà thôi 

 

BIẾN LOẠN TU VIỆN BÁT NHĂ CỦA GIÁO PHÁI LÀNG MAI "PHÁP MÔN THIỀN ÔM" [I] NDVN: Trong một vài lần điện đàm với anh Tâm Đạt Trần Thông, về vụ Biến loạn Bát Nhă, của hơn 400 tăng sinh Giáo Phái Làng Mai, tu theo “PHÁP MÔN THIỀN ÔM”. Theo anh Tâm Đạt, trong kinh Phật, có 84 ngàn Pháp môn như là: Pháp Môn Niệm Phật – Pháp Môn Thiền Định – Pháp Môn Khổ Hạnh – Pháp Môn Tam Bộ Nhất Bái...và nay có thêm pháp môn “PHÁP MÔN THIỀN ÔM” của giáo phái Làng Mai do đấng cứu thế sư ông Nhất Hạnh Chân Không sáng lập (Làng Mai là một giáo phái Tin Lành, do một ông sư Việt Nam, chứ không có Pháp Môn Làng Mai, tu pháp môn "PHÁP MÔN THIỀN ÔM" ...

 

BIẾN LOẠN TU VIỆN BÁT NHĂ CỦA GIÁO PHÁI LÀNG MAI "PHÁP MÔN THIỀN ÔM" [II]     people: thich nhat hanh, face

Cho nên đă đến lúc, Nhân Dân Việt, Ban Biên tập nhandanvietnam.orgTâm Hằng Nguyễn Đắc Xuân (... v́ nghỉ rằng vị tu sĩ thốt ra điều này đă được ta kính trọng từ trước...) và Tâm Đạt Trần Thông, hăy Lột Mặt Nạ Con Tḥ Ḷ Giáo Sĩ Kytô Nhất Hạnh Chân Không Giáo Phái Làng Mai, mặc áo Cà Sa, đă Lừa Bịp truyền đạo Kytô, ngụy danh tu pháp môn “PHÁP MÔN THIỀN ÔM"  ...Chúng ta, hăy lột mặt nạ sự tráo trở, lừa bịp Phật tử Việt Nam của mục sư sư ông Nhất Hạnh Chân Không, là chúng ta cùng đọc bài viết: VÀI Ư KIẾN XUNG QUANH VỤ TU VIỆN BÁT NHĂ II, của Giáo sư Trần Trung Ngọc dưới đây...

 

* GIÁO PHÁI LÀNG MAI “PHÁP MÔN THIỀN ÔM”: Sinh Hoạt Tâm Linh Tại Tu Viện Lộc Uyển Ngày 24 tháng 12 năm 2000 từ 8 am đến 11 pm: Lễ mừng Giáng Sinh..... Buổi trưa nghỉ ngơi để chuẩn bị chương tŕnh văn nghệ và buổi cơm tối. Đăc biệt bữa cơm tối đêm lễ Giáng Sinh, các món ăn được xem là rất thịnh soạn và được dọn sẵn từng bàn....Chương tŕnh văn nghệ gồm nhiều bài hát, một vỡ kịch mừng Giáng Sinh do quư Thầy và quư Sư cô Thường Nghiêm, Hà Nghiêm, Quang Nghiêm, Trung Nghiêm, Thắng Nghiêm và thiền sinh Mỹ-Việt đồng tŕnh diễn xuất sắc. Hai cháu Hoàng Ánh và Chân TămFee Le) song ca bài The Twelve Days of Christmas thật dễ thương. Các Sư cô c̣n hướng dẫn đại chúng cùng vui trong nhịp vũ tập thể.... Trong ánh sáng lung linh của những cây nến, đại chúng thiền hành chung quanh đồi và tập trung ở giữa cùng đồng ca bản nhạc Silent Night (Đêm Thánh Vô Cùng), lời Pháp, lời Anh, và lời Việt....Vũ trụ và ḷng người trong giờ phút mầu nhiệm đó như được ḥa nhập làm một để nuôi dưỡng chánh niệm trong từng bước chân, trong từng hơi thở, trong mỗi con người và mọi người.

 

SỰ THẬT VỀ TU VIỆN BÁT NHĂ (Bảo Lộc I)  Khi được lănh đạo Nhà nước Việt Nam tiếp kiến, Sư ông Thích Nhất Hạnh liền đưa ra đề nghị 10 điểm, trong đó có những điểm như: "Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam, giải thể Ban Tôn giáo chính phủ...". (đúng là Việt gian Nhất Hạnh ngă mạn 'Y không phải là đảng viên CSVN', không khác ǵ tên Khùng Jesus, David Kresh, Jim Jone, Thanh Hải Vô Thương Sư... NDVN) Nh́n nét mặt tự măn của ông...Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận khóa tu theo Pháp môn Làng Mai, chứ chưa công nhận Giáo hội Làng Mai - Pháp quốc tại Việt Nam, và... “... Thượng tọa Thích Đức Nghi, trụ tŕ Tu viện Bát Nhă đă đồng ư cho Sư ông Thích Nhất Hạnh dùng Tu viện Bát Nhă làm nơi tu tập Pháp môn Làng Mai, đồng thời kư đơn bảo lănh cho gần 400 tu sinh đăng kư tạm trú với chính quyền.... Riêng GHPGVN, Ḥa thượng Thích Hiển Pháp - là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư kư, Trưởng ban Phật giáo quốc tế Trung ương Giáo hội, chỉ kư cho phép tổ chức khóa tu theo giới hạn của từng khóa tu là 3 tháng, hết hạn phải xin phép tổ chức lại...”

 

* SỰ THẬT VỀ TU VIỆN BÁT NHĂ (Bảo Lộc II)  Việc Thượng tọa Thích Đức Nghi thôi không bảo lănh cho tăng sinh Pháp môn Làng Mai tu tập tại Tu viện Bát Nhă đă khiến cho những phần tử cực đoan trong Làng Mai khó chịu. Lập tức, họ tung lên mạng Internet những luận điệu sai trái, bịa đặt. Thậm chí họ c̣n cho rằng “Tu viện Bát Nhă dựng chuyện để  chiếm đoạt tài sản hàng tỉ đồng của Pháp môn Làng Mai”. Tuy nhiên, nếu nh́n lại những sự kiện đă xảy ra, nhất là năm 2006, lúc Thượng tọa Thích Đức Nghi cùng đoàn tăng, ni Tu viện Bát Nhă sang Pháp. Trước khi trở về Việt Nam, đoàn của Thượng tọa Thích Đức Nghi đă thưa với Sư ông Thích Nhất Hạnh, là: “Ḥa thượng không nên nêu ra những quan điểm chính trị v́ như thế sẽ rất khó cho chúng con”. Nghe xong, Sư cô Chân Không, bảo: Sư ông (tức Thích Nhất Hạnh) rời Việt Nam hơn 40 năm để làm chính trị

Tôi nghĩ chúng ta không nên v́ t́nh cảm mà vội khen, chê một cách thiếu cơ sở, mà nên góp ư trên hai vấn đề: Lí do thầy đưa ra để dịch lại Tâm Kinh có chính đáng hay không, và Bản dịch lại có tốt hơn các bản cũ hay không?

 

Như thế là tôi đă vâng theo lời dạy của đức Phật trong kinh Kālāma: chớ vội tin lời của bất kỳ ai…kể cả lời của ngài, mà phải suy nghiệm, so sánh …, áp dụng rồi mới có thể chấp nhận hay không. Và thật ra, thầy Nhất Hạnh cũng đă làm như thế đối các bậc thầy, tổ của chính thầy khi thầy dịch lại Tâm Kinh. Trong tinh thần đó, và với ḷng vô cùng tôn kính thầy Nhất Hạnh, tôi xin nêu ra một số suy nghĩ như sau:

 

I. Lí do thầy Nhất Hạnh nêu ra để dịch lại Tâm Kinh có chính đáng không?

 

1. Lí do chính:

 

Tâm Kinh do một vị Bồ tát nói ra, nhưng vị Tổ (nào đó) thiếu khéo léo trong khi biên tập khiến cho hậu thế hiểu sai hơn 2000 năm nay [1].  

 

Nhưng thầy Nhất Hạnh không đưa ra bản gốc chữ Phạn nào của Tâm Kinh mà thầy cho là vị Tổ ấy biên tập thiếu khéo léo.  V́ vậy mà học giả Jayarava mới cho rằng thầy Nhất Hạnh chỉ dựa trên bản Hán dịch chứ không dựa trên bản Phạn mà dịch lại [2]. Ông Jayarava cho rằng thầy Nhất Hạnh có nêu ra vài từ Phạn là cốt để đệ tử của thầy và những khác người vững tin ở thầy, chứ thực chất thầy không dùng bản Phạn văn nào cả!. Jayarava dẫn chứng là trong bản dịch lại của thầy Nhất Hạnh có câu: “Giác ngộ điều ấy xong, bồ-tát vượt qua được mọi khổ đau ách nạn” (Bản Việt văn); “and with this realisation he overcame all Ill­being” (Bản Anh văn). Theo Jayarava câu “bồ tát vượt qua mọi khổ đau ách nạn” là câu chỉ  có trong bản Hán dịch mà không có trong các bản Phạn.

Tôi đă t́m trong 6 bản Hán dịch của Tâm Kinh th́ thấy 4 bản: Cưu Ma La Thập (Taishō 250), Huyền Trang (Taishō 251), Lợi Ngôn (Taishō 253) và Trí Tuệ Luân (Taishō 254) có câu “độ nhất thiết khổ ách“ là “vượt qua mọi khổ cách”, c̣n 2 bản: Pháp Nguyệt (Taishō 252) và Pháp Thành (Taishō 255) th́ không có câu này

 

Với các bản Phạn, tôi đă t́m thấy một số như sau:

 

(1) Những bản Phạn văn xưa nhất  trên lá bối tại Nhật bản mà F. Max Muller và Bunyiu Nanjio sưu tầm được và cho xuất bản tại Oxford năm 1884 [3]

(2) Bản Phạn văn do P.L. Vaidya cho in [4]

(3) Bản Phạn văn trong của Edward Conze [5]

 

Trong tất cả những bản Phạn văn này, không có câu Phạn nào ứng với “độ nhất thiết khổ ách” cả.

 

Có thể nào ngài Huyền Trang đă dùng một bản gốc chữ Phạn khác những bản trên đây? Chúng ta cũng được biết là trên đường đi Tây vực, ngài Huyền Trang đă được môt nhà sư ở chùa Không Huệ, tại Ích Châu dạy cho bài Tâm Kinh, nhờ tụng bài này mà ngài vượt qua được mọi khổ ách, chướng ngại trong cuộc hành tŕnh gian nan [6] cho nên khi dịch Tâm Kinh ngài đă thêm vào “độ nhất thiết khổ ách” để nhấn mạnh cái “dụng” của Tâm Kinh?

 

     Cũng nên lưu ư là trước ngài Huyền Trang hơn 200 năm, ngài Cưu Ma La Thập  đă dịch Tâm Kinh từ Phạn ra Hán văn (Taishō 250), trong đó có câu “vượt qua tất cả khổ ách”. Cho nên rất có thể bản Tâm Kinh mà ngài Huyền Trang được một vị sư dạy tại chùa Không Huệ là bản dịch của Cưu Ma La Thập, đă có sẵn “vượt qua tất cả khổ ách” nên về sau ngài dịch, ngài thêm vào.

 

Nhân đây, một câu hỏi khác được nêu ra: Nhiều bậc thầy đưa từ Ấn Độ qua Trung Quốc nhiều bộ kinh Phật bằng Phạn văn để dịch ra chữ Hán. Chỉ riêng ngài Huyền Trang đă chở về Trung Quốc 74 bộ kinh, dịch ra chữ Hán thành 1335 tập, trong đó có Mahāprajñāpāramitā (Đại Bát Nhă Ba La Mật Đa) gồm 600 tập; Mahāvibhāṣā (Đại T́ Bà Sa) gồm 200 tập; và Yogācārabhūmi (Du Già Sư Địa) gồm 100 tập. v.v… Nhưng tại sao bản dịch th́ c̣n mà bản gốc Phạn th́ hầu như mất hết ? Phải chăng người Trung Quốc đă cố ư “thủ tiêu bản gốc chữ Phạn” trong t́nh thần “Đại Hán”? Cho rằng Trung Quốc là nhất thiên hạ, các dân tộc xung quanh đều là “man di” mặc dầu nhiều khi phải đi học người ta. Ngay như chữ Phạn dùng viết kinh Phật mà lúc đầu đă từng bị người Trung Quốc xem thường là “Hồ ngữ” là tiếng của “rợ Hồ”. Chính v́ mất bản gốc Tâm Kinh cũng như rất nhiều bản gốc những Kinh, Luận khác mà ngày ngay các nhà Phật học mới khổ! Câu chuyên thầy Nhất Hạnh dịch lại Tâm Kinh và phản biện của Jayarava cũng do mất bản gốc Tâm Kinh mà ra!

 

2. Các dẫn chứng của thầy Nhất Hạnh về sự hiểu sai do Tâm Kinh gây ra.

 

    Thầy Nhất Hạnh đưa ra 2 thí dụ để dẫn chứng.

 

Trong thí dụ 1, chú tiểu tin Tâm Kinh nên nói rằng “không có mũi”. Vị thầy bèn lấy tay vặn mạnh mũi của chú khiến chú đau kêu la, để chứng tỏ “không có mũi” là sai. Từ đó thầy Nhất Hạnh kết luận: Bản dịch Tâm Kinh của ngài Huyền Trang không ổn do thiếu vài từ, gây hiểu lầm. Có thật vậy không? Theo logic, th́ việc một chú tiểu hiểu sai chữ “không” trong Tâm Kinh không chứng minh được bản dịch Tâm Kinh là sai. Ngay cả việc vị thầy “kéo mũi chú tiểu cho chú đau” để chứng tỏ “có mũi” cũng không chứng minh được vị thầy ấy đă hiểu đúng chữ “không” trong Tâm Kinh. Bởi v́ sao? Trong Tâm Kinh, các thuật ngữ như “không” là đặc ngữ ở tầm rốt ráo (liễu nghĩa, ultimate, Phạn: paramārtha, nitārtha) trong cảnh giới của chư Phật. Trong khi chú tiểu dùng chữ “không” ở tầm qui ước đời thường (không liễu nghĩa, conventional, concealing, Phạn: saṃvṛti, neyārtha). Và ngay cả cái hành động kéo mũi của vị thầy cũng ở tầm qui ước đời thường.

      

Trong thí dụ 2: Câu “Chư Bụt ba đời tạm thời bày đặt” trong bài kệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ không có nghĩa là “ Chư Phật ba đời bày đặt nói điều không đúng” mà chỉ có nghĩa “chân lí không thể diễn tả được bằng ngôn từ, v́ dùng ngôn từ là đă dùng khái niệm có sẵn trong đầu, là đă sai chân lí, tức là không có ngôn từ diễn tả đúng được chân lí, cho nên chư Phật ba phải đời mượn tạm ngôn từ để nói về chân lí. Câu tiếp theo “Không chẳng phải sắc, sắc chẳng phải không” là một thủ thuật của nhà thiền là dùng câu nói ở tầm qui ước đời thường để “đấm mạnh” vào nhà sư khiến nhà sư “bặt đi” cái bám víu vào “không” cũng ở tầm qui ước thế gian của nhà sư kia, chứ không có nghĩa Tuệ Trung Thượng Sĩ nói ngược Tâm Kinh ở tầm liễu nghĩa.

 

     Tóm lại, thầy Nhất Hạnh đưa ra 2 thí dụ để kết luận theo qui nạp là bản dịch Tâm Kinh là sai, nhưng theo ư chúng tôi là chưa đủ thuyết phục. Việc “sai” hay “không sai” của Tâm Kinh sẽ được biện giải rơ hơn ở phần dưới đây  

 

II. Bản dịch lại Tâm Kinh của thầy Nhất Hạnh có tốt hơn các bản dịch cũ hay không?

 

   Ở đây lại gặp vấn đề: thế nào là tốt hơn. Chúng ta có thể tạm nêu ra hai tiêu chuẩn của” “tốt hơn”: phản ảnh đúng nội dung của bản gốc hơn, và tinh gọn hơn với văn phong thuần Việt hơn và nhuần nhuyễn hơn.

 

  1. Về nội dung:

 

Chính v́ thầy Nhất Hạnh không đưa ra bản gốc nào cả cho nên tôi chỉ có thể căn cứ trên bản Hán dịch của ngài Huyền Trang [7] là bản được dùng nhiều nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên-Đại Hàn và Việt Nam ta, và những bản Phạn [3, 4, 5] đă nêu trên đây để so sánh với bản dịch mới của thầy. 

 

a). Câu đầu:

 

Trong bản Hán dịch của ngài Huyền Trang: “Quán-Tự-Tại Bồ-Tát hành thâm Bát-nhă Ba-la-mật-đa thời , chiếu kiến ngũ-uẩn giai không , độ nhất thiết khổ ách ” [7]

 

        Trong các bản Phạn “āryāvalokiteśvaro bodhisattvo gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma: pañca-skadhastāṃśca svabhāva-śūnyān paśyati sma [Edward Conze th́ thay “gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ” bởi từ kép, nên thành: “gambhīrāṃ prajñāpāramitā-caryāṃ”] [ 5.]

 

Thấy Nhất Hạnh dịch thành:  

 

“Bồ-tát Avalokiteśvara, trong khi quán chiếu sâu sắc với tuệ giác qua bờ, bỗng khám phá ra rằng tất cả năm uẩn đều trống rỗng, tất cả đều là cái không. Giác ngộ điều ấy xong, bồ-tát vượt qua được mọi khổ đau ách nạn”.

 

     Bản tiếng Anh của thầy:

 

“Avalokiteshvara while practicing deeply with the Insight that Brings Us to the Other Shore, suddenly discovered that all of the five Skandhas are equally empty, and with this realisation he overcame all Ill­being” [1]

 

  Với câu dịch này của thầy Nhất Hạnh, tôi có vài điều xin được phép tŕnh bày

 

Thứ nhất: Trong câu Hán văn, các ngài không dịch từ Phạn “prajñāpāramitā” mà phiên âm thành “Bát Nhă Ba La Mật Đa”. V́ sao?, bởi v́ không phải các ngài không thấu hiểu từ “prajñāpāramitā” mà chính v́ quá thấu hiểu, nên các ngài thấy không có từ nào ngắn gọn trong chữ Hán mà có thể chuyển tái được nội hàm của từ “prajñāpāramitā” cho nên đành phải phiên âm. Thầy Nhất Hạnh đă dịch “prajñāpāramitā” thành “Tuệ giác qua bờ”. Theo tôi là “không chính xác” bởi v́ “prajñāpāramitā” là một từ kép loại “mô tả hạn định” (tatpuruṣa) của hai từ “prajñā” và “pāramitā”, cho nên trong từ kép này th́ từ thứ 2 : “pāramitā” là từ chính, nó là danh từ giống cái, có nghĩa “sự vượt ngưỡng đời thường”, “sư làm cho hoàn hảo”, “sự vượt qua bờ bên kia”; c̣n từ thứ 1: “prajñā” là tự phụ, nó là danh từ giống cái, có nghĩa “tuệ giác”. Vậy “prajñāpāramitā” là một danh từ giống cái (theo giống của từ thứ 2), có nghĩa “sự làm cho hoàn hảo của tuệ giác” hay “sự làm cho tuệ giác hoàn hảo” hay “sự làm cho qua bờ của tuệ giác” hay “sự làm cho tuệ giác qua bờ”. Đầy là một quá tŕnh động, một pháp tu chứ không phải là kết quả tĩnh của quá tŕnh ấy là “tuệ giác qua bờ”. V́ vậy câu chữ Hán : “hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa” chính là thực hành “quá tŕnh tu làm cho tuệ giác qua bờ” chứ không phải hành cái kết quả là hành cái “tuệ giác qua bờ”. Câu Phạn văn, nói rất rơ: “prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo” = “prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇaḥ” = “đang thực hành các nghi thức trong pháp làm hoàn hảo tuệ giác” hay “đang thực hành quá tŕnh trong pháp làm cho tuệ giác qua bờ”

Thứ hai: Trong bản Phạn văn có 3 động từ: (i) caramāṇaḥ = đang thực hiện (Chủ cách (Nominative) số ít giống đưc của Hiện tại phân từ caramāṇa của động từ car (I carati) là thực hành); (ii) vyavalokayati là quan sát kỹ từ trên xuống, soi xét; (iii) paśyati là thấy. Trong bàn Hán dịch, ngoài 3 động từ tương ứng: “hành”, “chiếu”, “kiến” c̣n thêm động từ thứ 4 là “độ” (vượt qua). Trong bản dịch của thầy Nhất Hạnh, thầy bỏ động từ “hành” mà chỉ có “quán chiếu”, “khám phá ra”, thầy thêm vào động từ “ giác ngộ”, và giữ y động từ thứ 4 trong bản Hán dịch “vượt qua”. Việc loại bỏ động từ “hành” (đang hành = caramāṇa) đă khiến cho quá tŕnh động là quá tŕnh “đang tu để thực chứng” của vị Bố tát “đang thực hành pháp tu làm cho tuệ giác qua bờ” trở thành trạng thái tĩnh, là vị Bồ tát không tu mà đă có sẵn “tuệ giác qua bờ”, (chữ của thầy “với tuệ giác qua bờ”). Đây quả là một điều vô cùng đáng tiếc v́ làm cho Tâm Kinh mất đi cái quí giá nhất của lời dạy của Bố tát “phải tu mới thực chứng”, chứ không tu, chỉ nghe kể th́ biết là cái biết do người khác nói lại chứ bản thân không thật biết, đây không phải cách tu theo Phật! Hơn nữa , với tuệ giác qua bờ có sẵn th́ biết ngay mọi sự chứ cần ǵ phải “quán chiếu sâu sắc” mới “bỗng khám phá ra”. Việc thêm động từ “giác ngộ” với câu “giác ngộ điều ấy xong” có cần thiết không v́ không đưa thêm vào một chút ǵ mới khi mà trước đó đă “khám phá ra năm uẩn là không” tức là đă “ngộ” ra rồi.

 

Thứ ba: chữ “thâm” trong câu Hán văn “hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa”, thầy Nhất Hạnh đă dịch thành một trạng từ “sâu sắc” phụ nghĩa cho động từ “quán chiếu” . Qua bản tiếng Anh của thầy: “while practicing deeply with the Insight that Brings Us to the Other Shore” thẩy dịch chữ “thâm” thành “deeply” là một adverb (trạng từ) phụ nghĩa cho từ “practicing”. Điều này so với câu Hán “hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa” cũng đă không “khớp” v́ “thâm” ở đây là “tính từ” bổ nghĩa cho danh từ “Bát Nhă Ba La Mật Đa” để có nghĩa “pháp tu làm cho tuệ giác qua bờ là pháp tu thâm sâu”. Nếu trạng từ th́ câu Hán văn ắt phải là “thâm hành Bát Nhă Ba La Mật Đa”.

 

Chúng ta thử xem trong câu Phạn “gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo”, từ gambhīrāyām là Vị trí cách (Locative) số ít giống cái của tính từ “gambhīra”, nghĩa là sâu xa, thâm sâu. Nó bổ nghĩa cho prajñāpāramitāyām là Vị trí cách (Locative) số ít giống cái của danh từ giống cái “prajñāpāramitā”. Cho nên “gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo”  là “đang (/trong khi) thực hành quá tŕnh trong pháp làm cho tuệ giác qua bờ sâu xa”.

 

Như vậy, trong Hán văn cũng như trong Phạn văn th́ “sâu xa” là tính từ bồ nghĩa cho danh từ “Bát Nhă Ba La Mật Đa” chứ không phải là “trạng từ” bổ nghĩa cho động từ nào cả.

Đó là chỉ đứng về mặt ngữ nghĩa của câu văn. C̣n đối với thực chất, bản chất của vấn đề, ngài đă là bậc Bồ tát, th́ một khi ngài “thực hành” một pháp tu nào th́ dù ở đâu, lúc nào ngài cũng thực hành với tâm trí như nhau, chứ không thể lúc này ngài thực hành “sâu xa” lúc khác ngài thực hành “cạn”!

 

Thứ tư: Câu Hán văn: “chiếu kiến ngũ-uẩn giai không “được thầy Nhất Hạnh dịch thành: “quán chiếu sâu sắc với tuệ giác qua bờ, bỗng khám phá ra rằng tất cả năm uẩn đều trống rỗng, tất cả đều là cái không” . Câu Phạn văn tương ứng: “ vyavalokayati  sma : pañca-skadhastāṃśca svabhāva-śūnyān paśyati sma”.

 

Các bậc thầy như Ḥa thượng Thích Trí Thủ [7], Ḥa thượng Thích Thành Từ [8] dịch “chiếu kiến ngũ-uẩn giai không ” thành “soi thấy năm uốn đều không”. Qua câu Phạn “ vyavalokayati  sma : pañca-skadhastāṃśca svabhāva-śūnyān paśyati sma” có nghĩa “ngài đă soi (xem xét kỹ) năm uẩn và đă thấy chúng không có tự tính” hay “ngài đă soi năm uẩn và đă thấy tự tính của chúng là không”. Trong câu này, tính từ “śūnya”  nghĩa là “không”, danh từ “svabhāva”, nghĩa là tự tính, bản chất riêng. Cho nên từ “không” trong câu Hán văn, ứng tính từ Phạn “śūnya” và từ Anh “emty” là môt đặc ngữ dùng ở tầm liễu nghĩa (ultimate, paramārtha, nitārtha), với nội hàm là “không có tự tính”. Qua danh từ trong Hăn vẵn là “không”, trong Phạn là “śūnyatā”, Anh là “emptiness” với nội hảm là “sự không có tự tính”. “śūnyatā” = “sự không có tự tính” đă được ngài Nāgārjuna (Long Thọ ) triển khai trong tác phẩm Madhyamakaśāstra (Trung Quán Luận) mà chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: “śūnyatā” = “sự không có tự tính” tương đương với “pratīyasamutpāda” = “tính duyên khởi”, nghĩa là mọi sự vật do nhân duyên ḥa hợp mà thành chứ không tự có. Vậy để cho đơn giản, chúng ta có thể nói “sự không có tự tính” là “sự không tự có”, cho nên thuật ngữ “không” ở đây có thể hiểu là “không tự có”

 

    Như vậy “không” trong câu Hán văn, “śūnya” trong câu Phạn không phải là không có ǵ cả, mà có thể có những thứ ǵ đó nhưng không có tự tính, hay không tự có. Vậy không thể dịch thành “trống rỗng” như thầy Nhất Hạnh. V́ tính từ “trống rỗng” có nghĩa “bên trong không có ǵ cả”, th́ không đúng với đặc ngữ Hán “không” hay Phạn “śūnya” trong văn cảnh diễn tả ở tầm mức liễu nghĩa này là “không tự có”.

 

b). Câu mà thầy Nhất Hạnh cho là thiếu từ nên thêm các từ “có có”, “có không”

 

Câu Hán văn: “ Xá-Lợi-Tử! thị chư pháp không tướng, bất sinh , bất diệt, bất cấu , bất tịnh, bất tăng , bất giảm”. Câu Phạn văn tương ứng: “ iha śāriputra sarva-dharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā avimalā anūnā aparipūṇāḥ [P.L Vidya  thay “avimalā” bởi “na vimalā” và  “anūnā aparipūṇāḥ” bởi “nonā na paripūṇāḥ” [4]].

 

Thầy Nhất Hạnh dịch thành: “ Này Śāriputra, tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không, không hiện tượng nào thực sự có sinh, có diệt, có có, có không, có dơ, có sạch, có thêm và có bớt”. Câu tiếng Anh của thầy: “Listen Sariputra, all phenomena bear the mark of Emptiness; their true nature is the nature of no Birth no Death, no Being no Non ­being, no Defilement no Immaculacy, no Increasing no Decreasing”.

 

Để hiểu câu này, phải hiểu thuật ngữ “không tướng” (Hán văn”, dịch qua Việt thành “tướng không”. Nếu chỉ căn cứ vào “không tướng” và “tướng không” th́ sẽ không hiểu được các ngài muốn nói ǵ. Cần xem câu Phạn văn: sarva-dharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā avimalā anūnā aparipūṇāḥ” = “sarva-dharmāḥ śūnyatā-lakṣaṇāḥ anutpannāḥ aniruddhāḥ amalāḥ avimalāḥ anūnāḥ aparipūṇāḥ”. Trong câu này, śūnyatā-lakṣaṇāḥ là Chủ cách (Nominative) số nhiều giống đực của tính từ śūnyatā-lakṣaṇa, nó là một từ kép bahuvrīhi (từ kép ngoài), “śūnyatā-lakṣaṇa” có nghĩa “có/(với/ mà) đặc tính là sự không có tự tính”, nói gọn “có đặc tính không có tự tính” hay “đặc trưng bởi không có tự tính” hay “có đặc tính không tự có) (having the character of emptiness, marked by (/with) emptiness, characterized by emptiness). Đó là ư nghĩa của “có tính không”. Như vậy các ngài dùng từ “có tướng không” để nói nghĩa “có tính không”, tức “có đặc tính không có tự tính”, “có đặc tính không tự có” ; và do đó : “tướng không” tức là “tính không” là “đặc tính không có tự tính” hay “đặc tính không tự có”.

 

Theo đó câu Phạn: “iha śāriputra sarva-dharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā avimalā anūnā aparipūṇāḥ” có nghĩa

 

“Này Xá Lợi Phất, tất cả các pháp đều có đặc tính không có tự tính, không tự sinh, không tự diệt, không tự dơ, không tự sạch, không tự thiếu, không tự đủ” . Ở đây, theo tôi chữ “không tự” là vô cùng quan trọng v́ nó nói lên ư nghĩa rất rơ của duyên khởi, mọi sự vật đều do duyên hợp mà thành. Bản dịch nào không có chữ “không tự” th́ chưa đủ nghĩa.

So với câu dịch của thầy Nhất Hạnh:

 

“ Này Śāriputra, tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không, không hiện tượng nào thực sự có sinh, có diệt, có có, có không, có dơ, có sạch, có thêm và có bớt”, tôi thấy nổi lên 2 vấn đề:

 

(1) phần câu của thầy:

 

 (*)  “không hiện tượng nào thực sự sinh, diệt, có, không, dơ, sạch, thêm và bớt” th́ hoàn toàn đồng nghĩa với:

 (**)  “mọi hiện tượng thực sự không sinh, không diệt, không có, không không, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt”

 

Vậy tại sao thầy không dùng câu (**) với dạng “A không B” là dạng đơn giản và sát với câu Phạn hơn, mà thầy lại dùng câu (*) với dạng “không A có B”, tức dạng phủ định (của phủ đinh) là dạng phức tạp và xa với câu Phạn?

 

Chúng ta biết trong triết học Phật giáo có lí thuyết “apoha” (Phạn, có nghĩa lư thuyết loại trừ) thường được dùng để xác định một phạm trù P: v́ không có thể dùng ngôn từ để diễn tả trực tiếp P được cho nên dùng cách gián tiếp nói rằng đó là cái (không (không P). Chẳng hạn không thể dùng ngôn từ ngắn gọn nào để định nghĩa được khái niệm “con ḅ”, nhưng có thể chỉ ra những cái không phải “con ḅ”, rồi mới nói “con ḅ” là khái niệm c̣n lại sau khi đă loại trừ đi những cái không phải “con ḅ”. Nhưng ở đây không phải trường hợp như thế v́ trong câu (**) đă có “không” cho từng cắp khái niệm đối nghịch nhau (sinh, diệt), (dơ, sạch), (thêm, bớt), nghĩa là câu ban đầu đă dùng “apoha” rồi  

 

(2) Trong câu Phạn có 3 cặp (sinh, diệt), (dơ, sạch), (thiếu, đủ).

 

Thầy Nhất Hạnh thêm một cặp (có, không). Việc này có đưa đến cái ǵ mới trong nội dung không?  Hăy xem lại câu dịch của thầy:

 

     “ Này Śāriputra, tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không, không hiện tượng nào thực sự có sinh, có diệt, có có, có không, có dơ, có sạch, có thêm và có bớt” hay tương đương với:

     “ Này Śāriputra, tất cả mọi hiện tượng đều mang theo tướng không, mọi hiện tượng thực sự không sinh, không diệt, không có, không không, không dơ, không sạch, không thêm và không bớt”.

 

Tôi nghĩ  “không có” đă hàm chứa trong “không sinh”; và “không không” đă hàm chứa trong “không diệt”. Cặp “không có”, “không không” cũng đă hàm chứa trong “đều mang theo tướng không” theo cách dịch của thầy, bởi “mang theo tướng không” chính là “không có tự tính” như tôi đă dịch thành: “ “Này Xá Lợi Phất, tất cả các pháp đều có đặc tính không có tự tính, không tự sinh, không tự diệt, không tự dơ, không tự sạch, không tự thiếu, không tự đủ”.

 

Như vậy, tôi nghĩ việc thêm vào cặp (có, không) của thầy Nhất Hạnh đă không đưa thêm ư mới ǵ, mà làm câu dài hơn. Có lẽ nào thầy nghĩ đến “bất bát” của ngài Long Thọ mà thêm vào 2 cái (có, không) nữa cho đủ 8 cái ?. Nhưng ở đây Tâm Kinh chỉ nói về “tính không” tức “duyên khởi”, về “sự không tự có” của các pháp chứ không nói về “bất bát” của một hiện tượng

 

c). Câu mà thầy Nhất Nhất Hạnh cho là gây mâu thuẩn với các câu trên:

 

     Câu Hán văn của ngài Huyền Trang: “Thị cố không trung vô sắc, vô thọ , tưởng , hành , thức. Vô nhăn , nhĩ , tỷ thiệt , thân , ư ; vô sắc ,thanh , hương , vị ,xúc , pháp ..”.

     Câu Phạn văn: “tasmācchāriputra śūnyatāyāṃ na rūpaṃ na vedanā na saṃjñā na saṃskārā na vijñānaṃ na cakṣuḥ-śrotra-ghrāṇa-jihvā-kāya-manāṃsi na rūpa-śabda-gandharasa-spraṣṭavya-dharmāḥ …”

     Những từ quan trong nhất cần phải hiểu thấu đáo trong câu này mới có thể hiểu ư nghĩa được câu Phạn văn này trong Tâm Kinh, đó là “śūnyatāyām” và “na”. śūnyatāyām là Vị trí cách (Locative) số ít giống cái của “śūnyatā”. Mà  “śūnyatā” = “không” = “sự không có tự tính” = “sự không tự có” = “sự do nhân duyên ḥa hợp mà thành”. Cho nên “không” ở đây không phải là “một vật”, nó là một tính chất, nó không chiếm một phần nào trong không gian nào cả. Vị trí cách ở đây không phải để chỉ “nơi chốn” v́ bản thân “śūnyatā” = “không” không chiếm một phần nào trong không gian cả. Vị trí cách ở đây không phải chỉ vị trí trong không gian mà để diễn tả một t́nh huống (situation) trong đó cái ǵ đang xảy ra, cho nên có nghĩa như “khi, trong khi, trong trường hợp …”.

     Lưu ư rằng trong đoạn trên, Bồ tát Avalokiteśvara (Quán Tự Tại) đă dạy “mọi sự vật” (tất cả các pháp) đều không có tự tính, đều không tự có, mà do nhân duyên ḥa hợp mới thành. C̣n đoạn này là Bồ dạy cách tu làm sao cho trực nhận, cho thực chứng điều đó, chứ không phải nghe dạy như thế mà học thuộc ḷng th́ không thể nào thực chứng được. Cho nên các từ “na” = “không” theo sau ở đây có nghĩa là “không trụ vào, không bám vào, không căn cứ vào,…”. V́ vậy câu Phạn văn trên có nghĩa:

    “Cho nên, Xá Lợi Phất,  trong khi tu để nhận ra tướng không của các pháp th́ không bám víu vào các khái niệm sắc, thọ, tưởng, hành, thức,  mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp…”

    Nhưng nếu dịch śūnyatāyām thành “trong cái không” (như thầy Nhất Hạnh) hay “trong tướng không” như quí ngài Trí Thủ hay Thanh Từ mà không kèm theo giải thích th́ rất dễ gây hiểu lầm là  “cái không”, “tướng không” chiếm một phần trong không gian, và đang nói tới “phần bên trong cái phần trong không gian ấy” là không đúng, sẽ gây mâu thuẩn.

    Có lẽ v́ dịch thành “trong cái không” theo nghĩa không gian cho nên thầy Nhất Hạnh nhận ra cái mâu thuẩn với ư của câu trên khi dịch những chữ “na” theo sau thành “không có”. V́ vậy, vẫn giữ ư nghĩa “trong cái không” theo nghĩa không gian mà thầy Nhất Hạnh đă né không dịch trực tiếp một loạt chữ “na” thành “không có” bằng cách chuyển ư “không có” này để dịch thành “không có mặt như những thực tại riêng biệt” trong câu dịch lại của thầy:

 

“Chính v́ vậy mà trong cái không, năm uẩn là h́nh hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức đều không có mặt như những thực tại riêng biệt. Mười tám lĩnh vực hiện tượng là sáu căn, sáu trần và sáu thức cũng đều không có mặt như những thực tại riêng biệt; mười hai khoen nhân duyên cùng sự chấm dứt của chúng, bốn đế là khổ, tập, diệt và đạo cũng không có mặt như những thực tại riêng biệt; tuệ giác và chứng đắc cũng đều như thế.

 

  Qua tiếng Anh của thầy:

 

“That is why in Emptiness, Body, Feelings, Perceptions, Mental Formations and Consciousness are not separate self entities. The Eighteen Realms of Phenomena which are the six Sense  Organs, the six Sense Objects, and the six Consciousnesses are also not separate self entities. The Twelve Links of Interdependent Arising and their Extinction are also not separate self entities. Ill­being, the Causes of Ill­being, the End of Ill­being, the Path, insight and attainment, are also not separate self entities

 

    Việc dịch ra câu này của thầy Nhất Hạnh, ngoài việc khiến người đọc nghĩ “cái không” chiếm một phần trong không gian, c̣n chuyển “lời dạy về cách tu” của Bồ tát thành câu mô tả với ư “mọi cái từ sắc, thọ, tưởng, …, ư thức giới” “đều không có mặt như những thực tại riêng biệt”. Mà ư này th́ Bồ tát đă dạy ở đoạn trên rồi!, đó là mọi hiện tượng đều không tự có như tôi đă nêu ra. Tâm kinh vô cùng súc tích th́ đoạn dưới không thể trùng lắp ư với đoạn trên

 

2. Về văn phong:

 

Tâm Kinh là bài kinh để tụng hàng ngày giúp nhận ra, trực nhận, thực chứng tính không của vạn pháp, bằng cách tu để đưa tuệ giác vượu qua bờ. V́ vậy cần súc tích, ngắn gọn để người học dễ thuộc, dễ nhớ. Ngài Huyền Trang dịch thành 260 chữ, các ngài Trí Thủ, Thanh Từ dịch rất súc tích, ngắn gon thành khoảng 283 chữ. Thầy Nhất Hạnh dịch thành dài hơn gồm khoảng 363 chữ do thầy đưa thêm vào các giới, trạng từ và có một số chỗ lặp ư.

    Thầy Nhất Hạnh cố ư Việt hóa như thầy dùng từ Bụt thay cho Phật, nhưng so ra trong bản dịch lại của thầy th́ có cả 3 thứ chữ: chữ Việt, chữ Phạn (với hai từ Avalokiteśvara và Śāriputra), chữ Hán việt như các thầy khác c̣n đặc biệt thầy dùng từ “đế” trong “bốn đế”.

 

Kết luận:

 

Theo nhận xét của tôi

 

(1) Thầy Nhật Hạnh đă việt hóa từ Phạn “prajñāpāramitā” thành “tuệ giác qua bờ” mà tôi đă biện giải là không chính xác bởi v́ “prajñāpāramitā” là một “pháp tu làm cho tuệ giác qua bờ” chứ không phải “tuệ giác qua bờ”

(2) Thầy đă bỏ qua chữ “hành” (caramāṇa) trong Tâm Kinh, khiến lời dạy “phải tu” pháp  “làm tuệ giác vượt qua bờ ” của Bồ tát mới có ngộ được “năm uẩn đều không” trở thành “không tu” mà đă có sẵn “tuệ giác qua bờ”

(3) Thầy cho rằng Tâm Kinh cũ thiếu cặp (có, không) nên thầy đă thêm vào. Nhưng tôi đă biện giải là “không thiếu” thêm vào là “

(4) Thầy đă khiến người học hiểu “không”, “cái không”, “tướng không” là cái chiếm một phần trong không gian, và từ đó thầy cho rằng Tâm Kinh cũ chứa mâu thuần. Tôi đă biện giải là Tâm Kinh cũ không mâu thuẩn

(5) V́ cho rằng Tâm Kinh cũ chứa mâu thuẩn nên để tránh cái mâu thuẩn ấy, thầy đă đổi ư câu văn trong Tâm Kinh cũ, khiến cho một đoạn trong Tâm Kinh lặp lại ư của đoạn trên

(6) Bản dịch của thầy chứa nhiều giới từ, trạng từ và một vài chỗ lặp ư nên dài hơn những bản dịch cũ. 4@5l@4@11@9@11@9@5xe" o:preferrelative="t" o:spt="75" coordsize="21600,21600">

 

 

Sachhiem, Lê Tự Hỷ, ngày 25/11/2017

ĐDTB, ngày 30/1/2018

 

***************

 

Tài liệu tham khảo:

 

1. HT. Thích Nhất Hạnh dịch,  Bản Dịch Tâm Kinh Mơi Bằng Văn Trường Hàng,  https://thuvienhoasen.org/a21491/tam-kinh-tue-giac-qua-bo

2. Ayarava, http://jayarava.blogspot.co.uk/p/about-jayaravas-raves.html; Phê B́nh Thích Nhất Hạnh đă biến đổi Tâm Kinh (Việt dịch bởi Phước nguyên, https://thuvienhoasen .org/a28848/jayarava-phe-binh-thich-nhat-hanh-da-bien-doi-tam-kinh)

3. F. Max Muller & Bunyiu Nanjio,  The Ancient Palm-Leaves: Containing The Pragna-Paramita-Hridya-Sutra And The Ushnisha- Vigaya-Dharani, pp. 17-22; 27-30; 48-59

4. P.L Vaidya, Mahāyāna-sūtra-saṅgraha I, The Mithila Institute, Darbhanga, 1961,  Ấn Độ, năm 1961

5. Edward Conze, Thirty Years of Buddhist Studies, Munshiram Manoharlal, New Delhi, 2000 pp. 148-167

6. Tuệ Sỹ, Dẫn vào Tâm Kinh Bát Nhă, https://thuvienhoasen.org/a23445/dan-vao-tam-kinh-bat-nha

7. Tâm Như Trí Thủ, Tâm Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa, http://tuvienquangduc.com.au/ kinhdien/kinhbatnha.html 

8. H.T. Thích Thanh Từ, Nghi Thức Sám Hối Sáu Căn & Tam qui Ngũ Giới, Thiền Viện Trúc Lâm, 1999  

 

Nguồn: tác giả gửi



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend