TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

"TỔ CHỨC BÍ MẬT" OPUS DEI & JOHN PAUL II


ĐIỂM MẶT TƯỚNG GIẶC ÁO ĐEN ÁC MA  MAFIA VATICAN

 

        ÁC MA PIUS XII        ÁC MA JOHN PAUL II     ÁC MA BENEDICT XVI 

Pope Pius XIIPope John Paul II.jpg

EUGENIO PACELLI             KAROL WOJTYLA          JOSEPH RATZINGER

                                  (1876 - 1958)                        ( 1920 - 2005)                              (1927 - ?)

 

 

 

“TỔ CHỨC BÍ MẬT” OPUS DEI VÀ JOHN PAUL II

MỘT GÍAO HOÀNG CÁNH HỮU THÂM THÚY 

 

Opus Dei and John Paul II

A Profoundly Rightwing Pope

 

By Vicente Navarro (là Giáo sư về Chính sách Công quyền (Public Policy) tại Đại học Johns Hopkins University, USA và Đại học Pompeu Fabra, Spain). Thường Đức dịch

* * *

Nhận thức nổi bật về John Paul II được chế biến một cách bao quát trong phần lớn truyền thông phương Tây -ông ta là một người rất bảo thủ ( “truyền thống” là từ được dùng rộng răi) về tôn giáo nhưng tiến bộ về các vấn đề xă hội, như bằng cớ ông ta đă bênh vực người nghèo và quan tâm đến các quyền dân sự và quyền làm người (có lẽ đây là tiêu chỉ mà Vơ Văn Ái đă “mượn” để giương cao chiêu bài đấu tranh cho “quyền làm người Việt Nam” – chúng tôi sẽ bàn trong một bài viết khác –TĐ). Vai tṛ ư thức hệ then chốt của ông trong sự khai tử Liên Bang Sô-viết càng làm chứng thêm cho sự hiến dâng về tự do và dân chủ của ông. Sự ủng hộ của ông cho công đoàn đoàn kết Ba Lan Solidarnosc, vô số diễn văn ủng hộ người nghèo và những kẻ bị chủ nghĩa tư bản và toàn cầu hóa bỏ rơi đàng sau, và thường xuyên kêu gọi t́nh liên đới nhân loại - chưa kể đến sự chống đối cuộc xâm lăng Iraq của quân đội Mỹ, tất cả các điều này đă là biểu tượng cho thí dụ về sự tiến bộ trong phạm vi xă hội của ông.

 

Với nhận thức về John Paul II như vậy, vài yếu tố trọng điểm đă bị bỏ quên. Chúng ta hăy chi tiết nó. Ông ta đă từng được trui luyện cho triều-đ́nh-Vatican một thời gian dài trước khi được bầu làm Giáo hoàng, bởi một giáo phái cánh-cực-hữu có tên gọi là Opus Dei (tạm dịch là “Phụng Vụ Chúa”). Tổ chức bí mật này được thành lập bởi Monsignor (Catô La mă người Việt gọi là “Đức Ông”) Escrivá, một giáo sĩ Tây Ban Nha –kẻ trước đây từng là người “giải tội” riêng cho tên Tướng độc tài Franco, tổ chức những buổi họp tinh thần cho tên lănh tụ phát-xít Tây Ban Nha này. Opus Dei đă chọn lựa John Paul II làm nghề Giáo hoàng từ rất sớm, khi ông đang c̣n là Giám mục ở Krakow (Ba Lan --TĐ). Giáo phái bí mật này bị hấp lực về tinh thần chống-cộng và bảo thủ của ông ta.

 

Tổ chức Opus Dei đă tổ chức và cung cấp tài chánh cho những chuyến du lịch khắp nơi của John Paul II, phát triển mối quan hệ làm việc rất khắn khít giữa ông với tổ chức này.  Opus Dei chính là tổ chức đă phát triển chiến lược để đưa ông ta làm Giáo hoàng, phụ trợ bởi giám mục ở Munich, Joseph Ratzinger; các hồng y Mỹ gắn bó với Opus Dei như  Joseph Krol và Patrick Cody; và Hồng y Franz Kơnig ở Vienna (ông này về sau lánh xa tổ chức Opus Dei và Giáo hoàng).  Trung tâm “hành quân” của chiến dịch này là Villa Tevere, bộ chỉ huy của Opus Dei ở Rô-ma.

 

Ngay sau khi được bầu làm Giáo hoàng, John Paul đă chỉ định tổ chức Opus Dei thành một ḍng đặc biệt trách nhiệm trực tiếp với ông, mà không qua các giám mục.  Chung quanh ông là tổ viên của “ḍng” mà kẻ dễ nhận diện nhất là Navarro-Valls, một phóng viên của Opus Dei, làm việc cho tờ Abc, một tờ báo cực-bảo thủ từng ủng hộ chế độ Franco. Navarro-Valls được biết danh nhờ được tuyển chọn làm phóng viên tường thuật bằng các bài viết tâng bốc mọi chuyến xuất dương nước ngoài của Giáo hoàng. Ông ta đă phủ nhận các tiếng nói phê b́nh, chẳng hạn như Domenico del Rio của tờ báo Ư, La Republica.

 

Sau đó, Giáo hoàng đă bổ nhiệm một tổ viên Opus Dei khác là Angelo Sodano làm Bộ trưởng Ngoại giao của Vatican. Sodano từng là đại sứ của Vatican tại Chilê (Chí Lợi) trong suốt chế độ độc tài Pinochet, vừa là người bạn và cố vấn cho kẻ độc tài. Ông ta có nhiệm vụ tổ chức cuộc viếng thăm của Giáo hoàng với tên độc tài Pinochet năm 1987. Trong suốt cuộc thăm viếng này, ông hoàn toàn không đề cập đến vấn đề tự do và dân chủ ở Chilê. Ngược lại khi viếng thăm Cuba, Giáo hoàng lại công khai lên tiếng phê phán chế độ. Thế mà ông đă giữ im lặng khi viếng thăm Pinochet. Sau này, khi Pinochet bị giam giữ ở Luân Đôn (chờ ngày dẫn độ về Tây Ban Nha theo đ̣i hỏi của ông Chánh án Baltazar Garzon), Vatican –dưới ảnh hưởng của Sodano, đă đ̣i hỏi chính quyền Anh giao trả Pinochet trở về Chilê. Đồng thời, Sodano đă viện dẫn nhà thần học giải phóng Leonardo Boff –một trong những tu sĩ thân thuộc nhất của quần chúng Châu Mỹ Latinh là “một kẻ phản bội Giáo hội, một tên Du-đa giết Chúa.”  Dưới triều của Giáo hoàng John Paul II, người sáng lập tổ chức Opus Dei liền được phong thánh, chỉ 27 năm sau khi ông ta chết (một trong những duyệt xét mau chưa từng có). Trong lúc ấy, Giáo hoàng John XXIII và Giám mục Romero –người đă bị ám sát ở El Salvador v́ ông ta đă hổ trợ dân nghèo trong nước, phải ngóng chờ được phong thánh với thời gian dài gấp bội.

 

Tổ chức Opus Dei và Giáo hoàng thù nghịch sâu xa với thần học giải phóng. John Paul II đă lên án nó tại Nghị Hội Châu Mỹ Latinh II, được chủ tọa bởi tổ viên của Opus Dei là Monsignor (“Đức Ông”) Alfonso Lopez Trujillo, Tổng thư kư, và về sau là chủ tịch của Nghị Hội. John Paul II cũng không ưa “Ḍng Tên” –những người càng lúc càng muốn xác tín Giáo hội với những chế độ thiểu số đầu sỏ ở Châu Mỹ Latinh. Ông thay thế lănh đạo của ḍng này, bằng bổ nhiệm những giáo sĩ hết sức bảo thủ. Theo như tường thuật của một tu sĩ cựu-Ḍng-Tên Luis de Sebastian trong tờ Nhật báo Tây Ban Nha, El Periodico (ngày 5/4/2005), Giáo hoàng đă thường xuyên nhận những tường tŕnh từ Giám đốc CIA Mỹ -William Casey (một tín đồ Catô La mă) về những phong trào Ḍng Tên đang “gây tai họa” ở Châu Mỹ Latinh.

 

Những bài diễn văn của John Paul II về người nghèo khó thường chung chung và cực kỳ cao đạo trong cái vẻ thương người, và không hề động chạm đến nguyên nhân gây nên nghèo khổ. Như Tổng Giám mục Helder Camara đă có lần nói, “Khi tôi nói tới vai tṛ của Giáo hội là đứng với người nghèo, tôi được gọi là thánh; thế nhưng khi tôi kêu gọi phải làm cái ǵ đó để diệt nguyên nhân nghèo khổ, tôi bị gọi là tên cộng sản.”

 

John Paul II là một kẻ chính trị thâm sâu, luôn luôn đứng về phía quyền lực ở Châu Mỹ Latinh và Tây Ban Nha. Ông chẳng bao giờ đụng chạm đến nguyên nhân chính trị gây sự nghèo khổ, ông đẩy ra bên lề và tẩy chay các phong trào tôn giáo quần chúng ở Châu Mỹ Latinh từng kêu gọi những cải cách xă hội để nâng đỡ người nghèo, và (và hiệp thông với Hồng y Ratzinger, kẻ quản vệ cho tinh thần chính thống của Giáo hội) ông ta lên án các phong trào đó, truyền lệnh cho những nhân vật lănh đạo như Gustavo Gutierrez, Leonardo Boff, Jon Sobrino, và một số người khác phải giữ im lặng. Giám mục Romero đă viết trong sổ ghi chép của ḿnh rằng, khi ông lên án sự đàn áp tàn bạo bởi những kẻ phát-xít độc tài ở El Salvador, Giáo hoàng đă khiển trách ông là đă phê b́nh không cân xứng về chế độ độc tài Salvador, chế độ mà John Paul II đă coi như chính quyền chính thức.

 

Ở Tây Ban Nha, chính trị của John Paul rất cực đoan. Ông công khai ủng hộ đảng hậu thân Franco là Đảng B́nh Dân (Popular Party – người sáng lập là Fraga Iribarne, cựu Tổng trưởng Nội vụ của chế độ phát-xít Franco) ông ta đă đọc một bài diễn văn chống lại chính quyền Zapatero, thực sự được viết bởi kẻ lănh đạo Giáo hội Tây Ban Nha thân Đảng B́nh Dân. Mặc dù ông ta chống đối sự xâm lăng Iraq và các cuộc thả bom lên dân chúng Iraq, nhưng ông chẳng bao giờ lên án chế độ Franco (kẻ được Giáo hội Tây Ban Nha ủng hộ), ông cũng chẳng hề lên án Không lực Franco đă thả bom trên đầu dân chúng với sự trợ giúp với các máy bay của Đức Quốc xă. Khi ông được yêu cầu lên án các cuộc thà bom ở các đô thị bởi lực lượng phát-xít được Nhà thờ hổ trợ ở Tây Ban Nha, ông ta từ chối.

 

Thay v́ đẩy mạnh chương tŕnh xă hội trên thế giới, Giáo hoàng John Paul II trở thành một trở ngại chính bằng sự tạo dựng các vấn đề bảo thủ (như chống phá thai, chống ngừa thai, chống đồng tính luyến ái, và một số vấn đề khác), hơn là các vấn đề xă hội, trung tâm tranh luận chính trị. Sự tiến hóa về các tranh luận chính trị giữa những người Catô Mỹ là một thí dụ. Trong quá khứ, người Catô ở Mỹ thường bỏ phiếu cho Dân Chủ hơn là Cộng Ḥa, nhưng nay th́ không c̣n nữa. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004, nhiều hơn cử tri đă bỏ phiếu cho Bush (52%) hơn là Kerry (47%), và họ cho rằng lư do ủng hộ Bush là v́ vấn đề “giá trị”.

 

Dựa vào các bằng cớ đó, John Paul II, ông Giáo hoàng của “tổ chức bí mật” Opus Dei đă được coi như một h́nh tượng tiến bộ, là chuyện khác thường.

 

Trích Giao Điểm

Saturday, April 09, 2005

 

Vicente Navarro là tác giả cuốn “Những Con Rắn trong Vườn” (Serpents in the Garden)

Nguồn: http://www.counterpunch.com/navarro04082005.html



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend