TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

MỤC KIỀN LIÊN THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT


KHI PHẬT C̉N TẠI THẾ

Hiện t́nh Phật giáo trong ngoài nước, có những khía cạnh tiêu cực đôi khi làm cho những người Phật tử sơ cơ chóng mặt hoang mang. Trùng trùng duyên khởi, có cái này th́ có cái kia, đă hẳn, cho nên nh́n vào thực trạng sinh hoạt của tứ nhân bang Huyền Quang-Quảng Độ-Tuệ Sĩ, hay của nhóm Văn Pḥng 2 VH hải ngoại Tâm Châu-Hộ Giác-Viên Lư-Như Điển-Quảng Ba mới mấy được cái mặt trái của Bi Trí Dũng, của Giới Định Huệ, của Lục Ḥa. Bài Mục Kiền Liên của Tâm Đàn viết trong Mùa Vu Lan sẽ đưa ta về thời Phật c̣n tại thế để thấy rằng Phật c̣n sờ sờ ra đó mà một số người tự nhận theo Phật đă bê bối sa đọa rồi, th́ cách Phật hơn hai ngàn năm, nếu có Phật tử sa đọa bê bối th́ cũng là điều chẳng có ǵ khó hiểu. Nếu ai cũng quyết tu và tu được, th́ 5 giới cũng đủ rồi, đâu cần 10 giới cho Sa Di, 250 giới cho Tỳ kheo, 348 giới cho Tỳ kheo Ni, rồi 10 giới trọng, 48 giới nhẹ cho Bồ Tát xuất gia...Nếu ai cũng quyết tu và tu được, th́ Phật đă không phải nhọc công với 300 lần thuyết pháp trong 45 năm lận đận v́ thương yêu chúng sanh. Đó là một trong những bài học đáng giá về chuyện thời Phật c̣n tại thế và chuyện Thánh Chúng. Và nói đến Thánh Chúng th́ không thể không nói đến...  

MỤC KIỀN LIÊN THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT

 

TÂM ĐÀN

Có lẽ không một Phật tử nào lại không biết Mục Kiều Liên là một trong thập đại đệ tử của Đức Phật, với phép thần thông đệ nhất, với ḷng hiếu thảo cứu mẹ khỏi địa ngục dầu sôi lửa bỏng. Ḷng hiếu thảo của Mục Kiền Liên là tấm gương sáng ngời, và do đó cứ vào ngày rằm tháng bảy mỗi năm, những người con Phật đều làm lễ tưởng niệm để ôn lại bài học quư giá đó.

Tuy trong các chánh điện ngày nay chúng ta thường thấy những h́nh tượng trong đó bên trái Đức Phật là Ngài A Nan Đà và bên phải là Ngài Ca Diếp, nhưng vào thời khi Đức Phật mới đắc đạo được hai năm, các Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên quy y Phật, và đă nhanh chóng trở thành hai đại đệ tử luôn luôn ở kề cận Đức Phật. Bên trái là Mục Kiền Liên và bên phải là Xá Lợi Phất. Hai vị chỉ rời Đức Phật những khi phải đi hoằng hóa phương xa. Xá Lợi Phất chứng quả A La Hán hai tuần sau khi xuất gia và trở thành vị La Hán với trí huệ đệ nhất. Trong lúc đó Mục Kiền Liên chứng quả A La Hán chỉ một tuần sau khi xuất gia, và trở thành vị La Hán thần thông đệ nhất. Duyên nào đă đưa hai vị đến với Phật? Và thật ra thâm giao giữa hai vị sâu đậm đến mức nào đă khiến hai vị cùng nhau đồng tâm nhất trí tầm đạo?

                                                               *****

Tại thành phố nhỏ Kolita ở gần thủ đô Rajagaha của vương quốc Magadha nước Ấn Độ có chào đời một đứa bé trai. Cha mẹ đứa bé dùng tên thành phố Kolita để đặt tên cho con ḿnh. Gia đ́nh đứa bé thuộc ḍng họ Moggallana, một trong những ḍng họ Bà La Môn danh tiếng và bảo thủ nhất thời bấy giờ. Kolita được nuôi nấng lớn khôn trong cái khung cảnh giàu sang phú quư quyền cao chức trọng ấy đă không có dịp chứng kiến những cảnh đau khổ tang thương của cuộc đời. Kolita được giáo dục hoàn toàn theo truyền thống Bà La Môn, đề cao niềm tin vào luân hồi và luật nhân quả.

Vào ngày Kolita chào đời, một gia đ́nh bạn ở ngôi làng kế cạnh cũng có một đứa bé trai chào đời, tên là Upatissa. Với hoàn cảnh và địa vị tương tự, hai gia đ́nh rất thân thiện nhau. Hai đứa bé lớn lên trở thành hai người bạn thân thiết. Và t́nh bạn này đă kéo dài đến cuối cuộc đời của họ. Tuy vậy, tính t́nh hai người không hẳn giống nhau. Upatissa ưa mạo hiểm dám làm, trong lúc Kolita có khuynh hướng trau dồi tu tập và phát huy những ǵ đă đạt được. Tuy tính t́nh khác nhau, họ không bao giờ có những gây gổ tranh chấp. Ngược lại t́nh bạn của họ rất chân thành và sẵn sàng hy sinh cho nhau. Họ thân nhau đến nỗi không ai có ư t́m bạn gái cho riêng ḿnh. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều người giàu sang phú quư khác, họ say sưa theo nhịp sống của tuổi trẻ. Mỗi người lănh đạo một nhóm bạn vui chơi thỏa thích.

Hôm nay là mùa hội ở Rajagaha với đầy đủ những chương tŕnh giúp vui như nhảy múa, kể chuyện hài hước dân gian hoặc những truyền thuyết cổ xưa. Trong ngày đầu, đôi bạn thích thú thưởng thức những buổi tŕnh diễn. Họ náo nức chờ đợi ngày hội thứ hai. Nhưng dường như có cái ǵ đó làm họ mất vui. Cả hai đều mang một cảm giác như nhau, nhưng những nguyên nhân làm họ mất vui chỉ lờ mờ trong tâm trí, không rơ ràng. Đêm hôm đó những ư nghĩ lạ thường cứ ám ảnh họ. Kolita tự hỏi: “Những vở tuồng phù phiếm giúp ích ǵ cho chúng ta? Lạc thú giúp chúng ta ǵ chăng? Chỉ vài năm sau, những nghệ sĩ trẻ trung tài ba ấy sẽ già nua yếu đuối bệnh hoạn. Cuối cùng họ sẽ rời sân khấu của cuộc đời, và do ḷng khao khát thèm muốn, họ sẽ luân hồi chuyển thế tiếp tục những kiếp sống vô ư nghĩa. Và ḿnh cũng sẽ như vậy, không hơn không kém. Thay v́ phí phạm thời gian vào những vui chơi phù phiếm đó, tốt nhất là dùng những thời gian đó để đi t́m con đường giải thoát.”

Upatissa cũng có những suy nghĩ tương tự trong đêm đó. V́ vậy, sáng hôm sau gặp nhau, họ đồng tâm nhất trí tính chuyện xuất gia. Họ từ bỏ vinh hoa phú quư, quyết định bắt đầu một cuộc sống khổ hạnh, không nhà, lang thang đây đó. Những vị tu khổ hạnh như thế ngày nay chúng ta vẫn thấy ở Ấn Độ. Hai nhóm bạn của Kolita và Upatissa nghe vậy cũng bỏ nhà theo họ t́m thầy học đạo. Tất cả bọn họ từ biệt gia đ́nh, cắt tóc cạo râu, thay tất cả những áo quần và huy hiệu của giai cấp quư tộc bằng những mảnh áo màu vàng nhạt của những tu sĩ khổ hạnh. Vào thời điểm này, Phật Thích Ca vẫn c̣n là một thái tử và bắt đầu thành hôn.

Miền bắc Ấn Độ thời bấy giờ có rất nhiều triết học gia và những vị sư phụ truyền đạo. Những quan điểm triết học bao gồm chủ thuyết phi luận lư, chủ thuyết định mạng, hoặc chủ thuyết duy vật. Kolita và Upatissa không hứng thú vào những chủ thuyết này. Tuy nhiên ở thủ đô Rajagaha, sư phụ Sanjaya đă được họ chú ư. Sự nhập môn của hai người và cả đoàn tùy tùng đă làm cho Sanjaya càng thêm nổi danh. Không giống nhiều sư phụ khác, Sanjaya theo chủ thuyết hoài nghi, nhất là đối với những vấn đề triết học lớn như: Ngoài thế giới chúng ta c̣n có những thế giới khác không? Sau khi măn kiếp con người có thể tái sinh ở một thế giới khác không? Làm điều thiện ở kiếp này có được hưởng phước trong kiếp sau không? Một vị đắc đạo sẽ đi về đâu sau khi viên tịch?

Thông thường, những câu trả lời có thể có cho những câu hỏi trên đây là: hoặc khẳng định, hoặc phủ định, hoặc vừa khẳng định vừa phủ định, hoặc không khẳng định cũng không phủ định. Tuy nhiên Sanjaya cho rằng những câu trả lời trên đây không thể chấp nhận được, bởi v́ những câu trả lời đó hàm chứa quá nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. V́ vậy ông chủ trương rằng sự phê phán, nhất là đối với những vấn đề trọng đại nêu trên, cần phải dè dặt. Không thể khẳng định rằng thế giới hoàn toàn phi luận lư, hoặc hoàn toàn lệ thuộc vào định mạng, hoặc hoàn toàn duy vật. Do đó quan điểm của Sanjaya khác với những chủ thuyết nói trên. Ông thường dạy đệ tử rằng đối với những vấn đề không thể quyết đoán, chúng ta phải đứng vào lập trường vô tư không thiên vị, không chấp nhận bất cứ một khuynh hướng nào có thể dẫn đến một kết luận khẳng định. Cuộc đối thoại sau đây giữa Sanjaya và Ajatasattu, vua của quốc vương Magadha, chứng minh rằng chủ thuyết của Sanjaya là chủ thuyết hoài nghi:

Ajatasattu:      Xin ngài cho tôi biết những kết quả gặt hái được ngay trong kiếp sống hiện tại của một ẩn sĩ là ǵ?

Sanjaya:          Vâng, nếu ngài hỏi tôi có tồn tại một thế giới khác không, và nếu tôi nghĩ có, tôi sẽ nói có. Nhưng tôi không nói vậy. Và tôi không nghĩ thế giới khác là thế này hay thế này. Và tôi không nghĩ thế giới khác là thế khác. Và tôi không phủ nhận một thế giới khác. Và tôi không nói tôi không khẳng định cũng không phủ định một thế giới khác. Và nếu ngài hỏi tôi có tái sinh không, hoặc nhân tốt có gặt hái quả tốt không, hoặc một vị đắc đạo có tồn tại sau khi viên tịch không, câu trả lời của tôi vẫn như trên.

Ban đầu Kolita và Upatissa hy vọng rằng triết học của Sanjaya có chứa đựng cái ǵ đó sâu sắc hơn là một sự lẩn tránh. Hơn nữa ông ta có tài biện chứng, và không theo chủ nghĩa giáo điều, lại chưa t́m được một sư phụ nào hợp ư hơn. Tuy nhiên sau một thời gian ngắn, họ phát hiện rằng Sanjaya không thể giúp họ trả lời ư nguyện của họ: Con đường giải thoát khổ đau. Vả lại, chúng ta có thể giả định rằng, bằng vào sự tồn tại của tri thức trong quá khứ, phải có những thế giới tâm linh khác với thế giới chúng ta, và phải có thiện lai thiện báo. Nếu chỉ dừng chân ở sự hoài nghi, con đường t́m chân lư của họ sẽ không có lối thoát. Kolita và Upatissa muốn được chỉ giáo những điều mới lạ. Nhưng Sanjaya trả lời: “Chỉ có thế. Các ngài đă thấu hiểu toàn bộ triết học của tôi.” Họ đành phải bái biệt sư phụ.

Kolita, Upatissa và tất cả bạn bè lại tiếp tực lang thang trên những nẻo đường Ấn Độ, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây. Họ chịu tất cả những nhọc nhằn, từ những con đường đầy bụi bặm hiểm trở đến những thời tiết khắc nghiệt, khi th́ dưới cơn nóng bức, khi th́ dưới những cơn mưa tầm tă và gió rét buốt xương. Tất cả những gian khổ đó không làm họ dừng chân, trái lại, thúc đẩy họ tiến tới. Họ không muốn măi măi là nạn nhân của sinh lăo bệnh tử, của phiền muộn khổ đau. Họ có niềm tin mănh liệt sẽ t́m được chân lư vĩnh viễn thoát khỏi cảnh trầm luân đó. Suốt hành tŕnh, họ đă gặp khá nhiều nhà thông thái. Họ đă thảo luận nhiều với những vị này về Thượng Đế, thiên đàng và địa ngục, ư nghĩa của sự sống và sự cứu rổi. Tất cả chỉ là trống rỗng, không thể giúp được những ǵ họ đang t́m kiếm.

Vào thời Đức Phật, nhiều nhà thông thái thường hướng về một trong hai mục tiêu: hoặc đi t́m sự b́nh yên thanh thản của tâm hồn bằng thiền định, hoặc t́m cách thấu hiểu bản chất tối hậu của sự vật. Những người đi t́m bản chất tối hậu của sự vật thường có khuynh hướng nghiêng về luận lư thay v́ thiền định. Luận lư thường chỉ mang tính chất suy đoán. Trái lại đối với những người đi t́m sự b́nh yên thanh thản của tâm hồn, một khi đă đạt được trạng thái đó bằng phương pháp thiền định, họ thường duy tŕ được sự măn nguyện đó. V́ vậy họ tin rằng thiền định có thể dẫn họ đến mục đích tối hậu.

V́ thiếu sự dẫn dắt của một vị Phật, họ không hề ngờ rằng thật ra những trạng thái thanh tịnh đó vẫn chỉ là những sản khoái thế tục, v́ vậy vẫn chỉ là những động lực duyên nghiệp thuộc ṿng luân hồi sinh tử. Những thành đạt đó tuy có thể giúp họ tái sinh trong một cảnh giới cao hơn với những tuổi thọ dài hơn, nhưng cuối cùng những động lực duyên nghiệp kia sẽ tan biến, và họ sẽ tái sinh vào một thế giới khác, cũng chỉ là những ngục tù luân hồi như thế giới của chúng ta. Kinh thư cho biết Phật Thích Ca cũng như Kolita và Upatissa đă từng trải qua những tiền kiếp như vậy. Có thể ví những nhà ẩn sỹ này như người chỉ đến trước cổng nhà mà tưởng ḿnh đă ở trong nhà. Đối với những nhà luận chứng, họ chỉ thoáng nhanh qua ngôi nhà, rồi biến mất trong khu rừng chằng chịt của luận lư. Bằng trực cảm Kolita và Upatissa cũng có thể biết được cái giới hạn này. Tuy đă 43 tuổi đầu, họ vẫn không bỏ cuộc. Bây giờ họ trở về Rajagaha, chia thành hai nhóm, Kolita và Upatissa mỗi người dẫn đầu một nhóm. Như vậy may mắn để có thể gặp được một sư phụ như ư sẽ gấp đôi.

Trước đó không lâu, Đức Phật đă bắt đầu thuyết pháp tại Benares. Ngài cử một nhóm đệ tử gồm 60 vị La Hán đi công bố Phật Pháp trong dân gian. Sau đó Ngài đến viếng thủ đô Rajagaha của vương quốc Magadha. Vị vua của vương quốc này đă trở thành môn đồ của Ngài và đă tặng Ngài tu viện Trúc Lâm. Lúc Đức Phật ở tu viện Trúc Lâm là lúc Kolita và Upatissa trở về Rajagaha và trú ngụ tại nhà của sư phụ Sanjaya.

Một hôm Upatissa ra phố trong lúc Kolita ở nhà. Trên đường phố, Upatissa thấy một vị tu sỹ đi đứng chững chạc với phong thái trang nghiêm. Upatissa nghĩ thầm: “Vị này hẳn phải có một đạo hạnh thâm sâu, có thể là một vị La Hán.” Ông bèn đến vái chào và gợi chuyện. Vị tu sỹ tên Assaji, cho biết ông là đệ tử của Gotama thuộc ḍng họ Sakyan mà ông gọi là “Vị Đắc Đạo.” Khi Upatissa hỏi về giáo lư của Sư Phụ, Assaji khiêm tốn trả lời rằng ông chỉ là một đệ tử mới nhập môn của Sư Phụ, do đó không đủ khả năng đi vào chi tiết. Tuy nhiên ông đọc mấy vần thơ mô tả nội dung những điều ông đă học được. Mấy vần thơ này đă được Nyanaponika Thera và Hellmuth Hecker dịch sang Anh ngữ trong quyển Great Disciples of The Budda.như sau: 

Of those things that arise from a cause,

The Tathagata has told the cause,

And also what their cessation is:

This is the doctrine of the Great Recluse.

 Tạm phỏng dịch: 

Nếu muốn biết trầm luân từ đâu đến,

Và làm sao để diệt hết khổ đau,

Đấng Thế Tôn với lời dạy thâm sâu,

Niềm băn khoăn sẽ hoàn toàn tan biến. 

Upatissa mừng rỡ cáo từ Assaji và vội vă trở về nhà kể hết mọi chuyện cho Kolita. Cả hai mặt mày rạng rỡ như đang có ánh hào quang chiếu rọi. Thế là hai người cùng 250 bạn bè trong nhóm đến viếng Trúc Lâm, diện kiến và trở thành đệ tử của Phật. Đức Phật đặt Pháp danh cho Upatissa là Sariputta (tức Xá Lợi Phất) và Kolita là Mahamoggallana (tức Mục Kiền Liên). Mục Kiền Liên đă thành chánh quả A La Hán chỉ bảy ngày sau đó, và trở nên Vị La Hán Thần Thông Đệ Nhất. 

                                                             ***** 

Vào một ngày Uposatha (tức ngày 1, 8, 15 hoặc 23 của mỗi tháng âm lịch), sau mỗi canh giờ vào buổi tối, A Nan Đà khẩn xin Phật tụng kinh về những giới luật của tu viện. Phật chỉ yên lặng không trả lời. Khi trời tảng sáng Phật cho biết có sự thiếu thanh khiết trong điện. Mục Kiền Liên bèn “đọc” tâm tư từng người đang ngồi trong điện. Ngài phát hiện có một người, tuy vẫn ngồi yên lặng, nhưng trong đầu đang nghĩ đến tham sân si dục. Ngài tức th́ mời người đó rời khỏi điện.

Một lần khác khi Phật đang ở chung với 500 vị La Hán, để đảm bảo sự thanh khiết, Mục Kiền Liên “đọc” tâm tư của từng vị. Ngài hài ḷng thấy không khí chung quanh tuyệt đối thanh khiết.

Một hôm Xá Lợi Phất hỏi Mục Kiền Liên đang làm ǵ. Ngài đáp: “Đang hầu chuyện với Đức Thế Tôn.” Xá Lợi Phất: “Nhưng Ngài đang ở cách đây rất xa.” Mục Kiền Liên: “Ngài quên rằng tôi có thể nghe và nói chuyện với người ở xa vạn dặm rồi sao?”

Một hôm Xá Lợi Phất đang tịnh tọa. Bỗng Ngài cảm thấy đầu óc choáng váng nhức nhối. Mục Kiền Liên ngồi bên cạnh mỉm cười. Xá Lợi Phất: “Tại sao tôi đang đau choáng váng Ngài lại cười?” Mục Kiền Liên cho biết Xá Lợi Phất vừa bị một con ngạ quỷ đánh vào đầu. Xá Lợi Phất sực nhớ rằng Mục Kiền Liên có thần nhăn. 

                                                              ***** 

Kinh sách ghi chép rằng Mục Kiền Liên có rất nhiều phép thần thông. Ngài có thể đọc tâm tư của người khác. Ngài có thần nhĩ, thần nhăn, … Ngài cũng có thể dùng thuật phân thân để chu du nơi khác. Tất nhiên Phật Thích Ca c̣n có nhiều phép thần thông hơn thế nữa. Thích Nhất Hạnh trong quyển Old Path White Clouds mô tả Phật Thích Ca đă đạt đưọc một tâm thức tối thượng trong đêm đắc đạo: Bằng thiền định Ngài đă có thể thấy được sự hiện diện của vô số sinh linh khác đang ở trong cơ thể của Ngài và cũng chính là Ngài. Ngài thấy được tất cả những tiền kiếp của ḿnh cũng như sự sinh diệt của muôn vàn thế giới. Ngài cảm xúc được nỗi vui buồn của mọi sinh linh. Mỗi tế bào trong cơ thể Ngài đang chứa đựng tất cả vạn vật, không gian và thời gian. Ngài cũng thấy sự sinh diệt chỉ là những ảo ảnh như những ngọn sóng thăng trầm trên mặt biển. Đằng sau những ảo ảnh đó là chân lư vĩnh cửu, cũng như đằng sau những ngọn sóng bấp bênh là suối nguồn tươi mát. Ngài thấy được sinh linh lầm than chỉ v́ sinh linh chưa nhận thức được cái chân lư vĩnh cửu đó. Bây giờ Ngài đă đạt được những thính thị siêu việt, và chỉ cần tịnh tọa Ngài có thể nghe thấy khắp mọi nơi. Ngài đi vào tâm khảm của từng sinh linh và biết được sinh linh đang khát khao sự hiểu biết, ḷng từ bi và t́nh yêu thương. Và Ngài đă t́m ra con đường cứu độ chúng sanh: Bát Chánh Đạo.

Nói đến sự hiểu biết tối thượng là nói đến cái giới hạn ở ngoài tầm tay của chúng ta, kể cả khoa học. Rốt cục, đây chỉ là một niềm tin. Người có niềm tin sẽ cho là có, người không tin cho là mê tín dị đoan hay khoa học giả tưởng, v.v. Có lẽ quan điểm tốt nhất đối với vấn đề này là “có có không không”. Bạn cho là có, nó sẽ ngự trị trong tim bạn. Nhưng nếu bạn cho là không, nó cũng chẳng bao giờ quấy rầy bạn. Biết bao nhiêu sự kiện (ví dụ máy bay, tàu ngầm, truyền thanh, truyền h́nh, máy vi tính, bay lên mặt trăng, v.v.) thuở xưa người ta cho là không tưởng nhưng bây giờ đă thành hiện thực. Tam giác Bermuda vẫn là một vùng trời bí ẩn trên địa cầu, nơi đó đă biết bao nhiêu tàu bè và máy bay mất tích không để lại dấu vết. Một số khoa học gia đă có vài giải thích tương đối hợp lư: do những cơn băo và những luồng gió xoáy bất chợt đă làm máy bay và tàu bè ch́m xuống đáy biển, rồi sau đó những ḍng nước mạnh đă trôi dạt những máy bay tàu ch́m này đến một nơi khác không t́m thấy, nên những sự mất tích này được xem như huyền bí. Nhưng cũng có giả thuyết cho rằng những tàu bè mất tích đó có thể đă lạc vào chiều thứ tư của không gian. Không gian thông thường của chúng ta gồm ba chiều, và theo Einstein, cọng thêm một chiều thời gian nữa tạo thành không thời gian bốn chiều, ba chiều không gian và một chiều thời gian. Giả thuyết về tàu bè mất tích tại vùng tam giác Bermuda cho rằng không thời gian thật ra có đến năm chiều (hay có thể nhiều hơn nữa), một chiều thời gian và ít nhất bốn chiều không gian.

Trong quyển Hyperspace, nhà vật lư học Kaku nêu lên một số thí dụ về những chiều không gian huyền bí này: Giả sử có một giống sinh vật sinh sống trong một vũ trụ hai chiều không gian (cọng thêm một chiều thời gian). Giống sinh vật này chỉ có khái niệm nh́n ngang nh́n dọc hay nh́n chéo chứ không biết nh́n lên nh́n xuống là ǵ. Đối với họ, khái niệm chiều dài chiều rộng và diện tích là thông thường, nhưng khái niệm thể tích là một khái niệm không tưởng, một khái niệm họ cho là huyền bí hay mê tín dị đoan. Nhà tù đối với họ là một đường cong kín kiên cố, không cách thoát thân. Nếu vũ trụ của họ là một phần của vũ trụ chúng ta, chúng ta dễ dàng giải phóng những tên tù oan ức của giống sinh vật đó. Chúng ta chỉ cần tḥ tay từ chiều thứ ba xuống, bốc tên tù đó khỏi đường cong kín. Hành động của chúng ta đối với giống sinh vật đó là một phép lạ không thể giải thích được. Tên tù vốn đang ở trong ngục thất bổng biến mất không để lại dấu vết. Đối với tên tù chúng ta đang nâng lên dọc theo chiều thứ ba của vũ trụ chúng ta th́ sao? Đi dọc theo chiều thứ ba, tên tù thấy toàn những h́nh ảnh kỳ lạ. Tên tù không biết ḿnh đang lạc bước thiên thai hay đang bị đày xuống địa ngục. V́ tầm nh́n chỉ có hai chiều nên khi nh́n một vật thể trong vũ trụ chúng ta, tên tù chỉ có thể nh́n thấy lát cắt (cross-section) của vật thể đó. Tiếp tục di chuyển theo chiều thứ ba, tên tù thấy những lát cắt khác nhau (của cùng một vật thể trong vũ trụ chúng ta) và cứ ngỡ đó là những vật thể khác nhau. Tên tù đang đi vào một thế giới kỳ lạ, mọi sự vật biến hóa vô thường, c̣n lạ thường hơn cả Alice thám hiểm Wonderland!

Nếu vũ trụ chúng ta tồn tại những chiều không gian cao hơn, chúng ta cũng sẽ ngơ ngáo như tên tù nói trên mỗi khi bị lạc vào những chiều không gian đó. Chúng ta cũng chỉ nh́n thấy những “lát cắt” của cùng một sự vật rồi cho những lát cắt đó là những vật riêng rẻ với những cái tôi riêng rẻ. Đối với không gian thông thường của chúng ta, tháo gỡ hai ṿng xích kiên cố là điều không thể ngoại trừ chúng ta đập găy một trong hai ṿng xích đó. Nhưng trong không gian nhiều chiều hơn, toán học đă chứng minh rằng hai ṿng xích kia có thể tháo rời nhau mà không cần phải đập găy bất cứ ṿng xích nào. Từ một siêu không gian như thế, chúng ta có thể thấy được sự hợp nhất của sự vật, đồng thời khi muốn tháo gỡ những xiềng xích, chúng ta có thể tháo gỡ một cách dễ dàng không cần phải đập phá.

Không thời gian nhiều chiều cho ta một phương pháp (trong những phương pháp có thể có khác) nh́n sự vật sâu sắc hơn, rộng hơn tầm nh́n bằng năm giác quan thông thường của chúng ta. Chúng ta không cần phải đi vào chiều không gian thứ tư hay cao hơn để nh́n chiều sâu của sự vật. Có lẽ, như nhiều người thường nói, giác quan thứ sáu sẽ giúp chúng ta điều đó. Trước mặt Xuân Diệu có lẽ chỉ có cây bút và trang giấy, nhưng ông đă “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây.” Mỗi chúng ta đều có thể thả hồn như Xuân Diệu vậy. V́ không về thăm được, tôi cũng đă từng phân trần cùng mẹ:                                               

            Con họa bức tranh chân trời tím

            Rồi bước vào ngắt những v́ sao

Vẩn vơ với ánh nắng lụa đào

            Đă quên mất đường vào quê mẹ. 

Đối với Phật Thích Ca, trong khi Ngài vẫn tịnh tọa dưới cây Bồ Đề, tâm thức của Ngài có thể ở khắp mọi nơi. Có lẽ tâm thức của Ngài đang ở những chiều không gian cao hơn, chúng ta không thể h́nh dung được. Không phải Ngài đang thả hồn lăng mạn như chúng ta, trái lại, Ngài xem xét sự việc để t́m một hướng đi chân thiện mỹ cho chúng ta. Thân xác Ngài vẫn ngồi đó, dưới cây Bồ Đề, nhưng tâm thức Ngài ở khắp mọi nơi, một cách tức th́. “Tâm thức ở mọi nơi một cách tức th́” không có nghĩa rằng tâm thức là một cái ǵ đó có thể di chuyển khắp mọi nơi một cách tức th́. Trái lại, do vạn vật vốn luôn luôn ảnh hưởng tức th́ lẫn nhau mà Ngài - một vị đắc đạo - đă có thể “nghe” và “thấy” được vạn vật một cách tức th́.

Phải chăng những phép thần thông này hoàn toàn phi khoa học? Phương tŕnh bức xạ điện từ của Maxwell cho biết mỗi lời giải của những phương tŕnh này bao gồm hai nguồn sóng: Một đi xuôi theo thời gian vào tương lai và một đi ngược ḍng thời gian vào quá khứ. Cả hai nguồn sóng đều di chuyển với vận tốc ánh sáng. Lư thuyết hấp thụ bức xạ của Wheeler và Feynman (Wheeler-Feynman absorber theory) giúp chúng ta hiểu hai hạt vật chất tức th́ ảnh hưởng nhau như thế nào. Trong quyển Q is for Quantum, nhà vật lư học Gribbin có ghi lại lư thuyết này, tôi xin tóm lượt như sau:

Khi một điện tử (hay bất cứ một hạt vật chất mang điện nào khác) dao động, hạt điện tử phát sinh một trường bức xạ đối xứng đối với thời gian, gồm một sóng đi vào tương lai và sóng kia đi vào quá khứ. Khi sóng đi vào tương lai chạm phải một điện tử khác, hạt này sẽ hấp thụ năng lượng từ trường bức xạ do hạt thứ nhất phát ra, và do đó làm hạt thứ hai dao động theo. Sự dao động của hạt thứ hai tạo nên một trường bức xạ thứ hai. Nguồn sóng đi vào tương lai của trường thứ hai này nghịch bộ (out of phase) với nguồn sóng đi vào tương lai của trường thứ nhất nên chúng triệt tiêu lẫn nhau. Tuy nhiên nguồn sóng đi vào quá khứ của trường thứ hai th́ đồng bộ (in phase) với nguồn sóng đi vào tương lai của trường thứ nhất, do đó chúng bổ sung lẫn nhau, và nguồn sóng đi vào quá khứ này của trường thứ hai có thể trở về quá khứ gặp gỡ hạt điện tử thứ nhất. Sự gặp gỡ này làm cho hạt thứ nhất tiếp tục dao động, và nguồn sóng đi về quá khứ do sự dao động này gây ra triệt tiêu với nguồn sóng trở về quá khứ của trường thứ hai. Tóm lại sóng chỉ tồn tại trong khoảng không gian giữa hai hạt điện tử. V́ giữa khoảng không gian này, một sóng đi vào quá khứ (từ hạt thứ hai trở về hạt thứ nhất) đồng bộ với một sóng đi vào tương lai (từ hạt thứ nhất đến hạt thứ hai), sự liên hệ giữa hai hạt điện tử là tức th́.

Khái niệm đi vào quá khứ tương đối trừu tượng và xa lạ đối với chúng ta. Tôi đơn cử một thí dụ để cụ thể hóa vấn đề. Giả sử có một điện tử dao động từ trái đất vào năm 2001. Điện tử này phát ra một điện từ trường trong đó một trong hai nguồn sóng di chuyển dọc theo thời gian (đi vào tương lai) đến gặp một điên tử khác cách trái đất 8 năm ánh sáng. (Khoảng cách giữa mặt trời và trái đất là 8 phút ánh sáng. Như vậy khoảng cách giữa hai điện tử nói trên xa hơn nửa triệu lần khoảng cách giữa mặt trời và trái đất). Tám năm sau, tức năm 2009, trường điện từ của điện tử ở trái đất mới tác động lên điện tử kia. Điều này có thể làm chúng ta nghĩ rằng làm sao hai điện tử như vậy có thể ảnh hưởng nhau tức th́ được. Tuy nhiên bây giờ điện tử kia bắt đầu dao động và một trong hai nguồn sóng gây ra bởi sự dao động này ngược ḍng thời gian trở về quá khứ. Nguồn sóng này bắt đầu di chuyển vào quá khứ từ năm 2009. Sau một năm di chuyển, sóng này sẽ ở vào thời điểm 2008 (chứ không phải 2010!). Thêm một năm di chuyển nữa, sóng sẽ ở vào thời điểm 2007, v.v., và như vậy đúng vào năm 2001, sóng này sẽ gặp hạt điện tử trên trái đất ngay vào lúc điện tử trái đất này bắt đầu phát ra điện từ trường ban đầu! Nghĩa là sự trao đổi xảy ra một cách tức th́.

Tóm lại nếu bạn làm dao động một hạt điện tử trên địa cầu chúng ta, tất cả những hạt điện khác trong vũ trụ, cho dù có thể ở nơi xa xăm như thiên hà Andromeda cách trái đất hai triệu năm ánh sáng, hay xa xăm hơn nữa, sẽ tức th́ biết điều ǵ vừa xảy ra cho hạt điện đó. Hơn thế nữa, v́ sóng tương lai (phát ra từ hạt điện trên trái đất) và sóng quá khứ (đáp lại từ một hạt điện xa xăm nào khác) tiếp tục làm hai điện tử dao động, sự hiểu biết giữa hai hạt điện không những tức th́ mà c̣n muôn thuở. Chúng biết nhau tức th́, và biết nhau đời đời kiếp kiếp. Những hạt điện trong cơ thể chúng ta, trong năo chúng ta vẫn thường xuyên dao động. Và do đó tất cả những hạt điện khác trong vũ trụ cũng dao động theo, ḥa nhịp với chúng ta.

Những dao động đó của vũ trụ là những tín hiệu như đang muốn nói với chúng ta điều ǵ. Có thể là những lời than thở, những bài t́nh ca, những niềm hy vọng hay những nổi vui buồn mong manh. Nhưng cũng có thể là những chỉ điểm đang nhắc nhở chúng ta điều ǵ, hướng dẫn chúng ta những điều tốt đẹp. Điệu múa vũ trụ vẫn tiếp tục quay cuồng trong trái tim và khối óc chúng ta nhưng chúng ta không hề hay biết. Có thể chúng ta vẫn cố nh́n nhưng chẳng thấy bao nhiêu. Có thể chúng ta vẫn lắng nghe, nhưng nghe không được mấy. Chúng ta vẫn sống trong bầu khí quyển ấm áp mà thân thể như tê cóng trong vùng giá băng. Chúng ta muốn ḥa nhịp với điệu múa vũ trụ nhưng sự mê muội của chúng ta cứ cản trở. Đứng trước bao la và huyền bí, chúng ta chỉ là hạt cát biển Đông, nhỏ bé và yếu đuối. Nhưng những vị La Hán như Đức Mục Kiền Liên, hay những vị Phật như Đức Thích Ca Mâu Ni th́ lại khác. 

*****

Để kết thúc tôi xin kể một câu chuyện t́nh hầu bạn đọc: Có một cặp nhân t́nh trẻ tuổi, xứng đôi vừa lứa. Họ yêu thương nhau thắm thiết, luôn luôn khắn khít bên nhau. Tên nàng là Thùy Dung, c̣n chàng là Thanh Lữ. Một hôm v́ công việc làm ăn, Thanh Lữ phải đi xa. Tuy hai người rất buồn, nhưng họ không cần phải thề non hẹn biển không bao giờ bỏ nhau. Họ có một niềm tin mănh liệt vào t́nh yêu giữa hai người.

Kẻ ở người đi, không c̣n ǵ buồn hơn. Hằng ngày công việc chính yếu của Thùy Dung là chờ tin tức chàng. Thanh Lữ mới xa nàng chưa đầy nửa năm mà đă gởi cho Thùy Dung đến mấy chục lá thư. Có điều Thùy Dung lấy làm lạ là địa chỉ của Thanh Lữ luôn luôn thay đổi nên không cách ǵ nàng có thể gởi thư cho chàng. Chuyện t́nh này xẩy ra vào mấy thế kỷ trước. Nếu bây giờ th́ dễ hơn nhiều. Không điện thoại th́ internet. Thời đó xa nhau là ngh́n trùng. Cứ mỗi lá thư chàng gởi luôn luôn ghi chú rằng chàng phải đổi chỗ làm việc, đừng hồi âm. Thùy Dung buồn lắm. T́nh yêu của nàng là tuyệt đối. Nhưng Thanh Lữ có phản bội nàng chăng? Nàng lang thang trên những con đường phố với nỗi niềm bơ vơ và tràn đầy thất vọng.

Cuối cùng, chàng gởi nàng một lá thư thú tội: “Thật ra dù ở bất cứ nơi nào anh cũng có thể nghe thấy em cả. Do đó anh không muốn phiền em phải mất th́ giờ viết thư. Xa em nhưng anh vẫn thấy như đang ở bên em vậy. Tuy nhiên những ngày gần đây anh đọc được nét phiền muộn trên mặt em. Vậy từ nay anh để em biên thư cho anh nhé.”

Thùy Dung mừng quưnh, bèn gởi Thanh Lữ mấy vần thơ chất vấn: 

            Sao anh biết em đang buồn vơ vẩn

            Đang lang thang giữa đô hội phồn hoa

            Đang bơ vơ dưới ánh nắng chan ḥa

            Đang ch́m sâu trong nhạt nḥa mê muội? 

Và ngay sau đó Thùy Dung nhận được hồi âm: 

            Anh không những từ Hằng Nga Chú Cuội

            Từ nơi xa thăm thẳm những v́ sao

                        Mà anh đang ở bất cứ nơi nào

                        Và biết không, anh đang chào em đấy! 

Nếu độc giả hỏi tôi: “Sao anh chàng Thanh Lữ kỳ cục vậy.” Tôi không ngần ngại trả lời: “V́ Thanh Lữ chính là Mục Kiền Liên hiện thân!” I’am kidding!

 Tâm Đàn

Mùa Vu Lan 2005



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend