TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ


Flag of CambodiaĐược đăng ảnh Flag 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* DẸP LOẠN QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr6 – tr 7 Liên Thành Biến Động Miền Trung)

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

NGHỈ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA HUẾ 

Nguyễn Hạnh Hoài Vy

 

Vào giữa thế kỷ 16, trong sử Việt đă xảy ra một xung đột trong gia tộc giữa cha vợ, con rể là Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm. Mối xung đột này xuất phát từ mâu thuẫn quyền lực ai là kẻ kế thừa trung hưng nhà Lê. Trịnh Kiểm không chấp nhận công lao hưng phục nhà Lê của cha vợ là Nguyễn Kim, nên khi Nguyễn Kim mất, nuôi tham vọng t́m cách giết hai em vợ để thống đoạt uy quyền. Người thứ nhất bị hạ thủ là Nguyễn Uông. Em ông là Nguyễn Hoàng lo sợ giả điên, một ngày nọ nghe danh ông Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm, bèn t́m đến Hải Dương vấn kế. Ông Trạng trả lời bóng gió: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Hiểu ư, Nguyễn Hoàng t́m đường xuôi Nam, vào trấn đất Thuận Hoá, vốn là nơi “Ô châu ác địa”. Trong lúc ra đi, Nguyễn Hoàng c̣n lôi kéo theo rất đông những ngươi đồng hương, nghĩa dơng ở Tống Sơn. Đến vùng Thanh Nghệ Tĩnh lại có thêm nhiều người hưởng ứng đem theo cả bầu đoàn thê tử, c̣n có các danh thần như Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống ... đi theo pḥ trợ. Nguyễn Hoàng được ḷng dân, bởi “ông là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tầm đến dân t́nh hết ḷng thu dụng hào kiệt, giảm sưu, hạ thuế khiến ḷng người ai cũng mến phục.” (Xem ‘Chín đời chúa, mười ba đời vua’ của Nguyễn Đắc Xuân, nxb Thuận Hóa, Huế 2001, trang 13). Chính v́ vậy, Nguyễn Hoàng c̣n được dân xưng tụng là Chúa Tiên. Dấu ấn đầu tiên của một vị Chúa tôn sùng Phật giáo là công tŕnh xây dựng chùa Thiên Mụ (1601). Từ tinh thần khởi đầu thấm nhuần giáo lư nhà Phật của Chúa Tiên là bước mở truyền thống chín đời Chúa bát ngát một tâm chất sùng đạo. Đời Chúa kế tiếp là Chúa Nguyễn Phúc Nguyên lập chùa Long Hưng, Bửu Châu (ở xứ Quảng), góp nhiều công đức cho Phật giáo, nên c̣n được dân xưng tụng là Chúa Săi, Phật Chủ. Ở đàng ngoài, tâm địa mưu bá đồ vương  của nhà họ Trịnh không dứt, lại lo sợ đến quyền lực Chúa Nguyễn ở phía Nam ngày càng củng cố, Đàng trong và Đàng ngoài lại xảy ra những phen tử chiến trong 3 đời Chúa kế tục : Chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan), Chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần), Chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái). Đến đời Chúa Minh Vương (Quốc Chuá Nguyễn Phúc Chu 1691-1725), xă hội Đàng trong đă chỉnh đốn, Quốc Chúa bành trướng thêm về phía Nam, rồi nảy ra ư đem binh Bắc phạt. Quốc Chúa lại mộ đạo Phật cách đặc biệt, nên có pháp hiệu là Hưng Long cư sĩ. Quốc Chúa mời sư Thích Đại Sán từ Trung Quốc sang Thuận Quảng hộ tŕ Phật pháp, đại trùng tu chùa Thiền Lâm (phủ Dương Xuân, Huế), mở đại giới đàn cho 1400 tăng sĩ thọ giới Tỳ kheo và Sa di, đúc đại hồng chung chùa Thiên Mụ, trùng tu chùa Kính Thiên, lập thêm chùa Giác Hoàng, mua hơn ngàn sách Kinh, Luật, Luận... để mở rộng nghiên cứu Phật pháp. Dấu ấn lớn nhất, phải kể là trong thời kỳ Chúa Quốc Vương, cuộc phân tranh Nam Bắc chấm dứt, bờ cơi yên ổn, xă hội thái b́nh. Đến hai đời Chúa kế Ninh Vương (Nguyễn Phúc Thụ) và Vơ Vương (Nguyễn Phúc Hoạt) vẫn tiếp nối sùng mộ đạo Phật. Chúa Ninh Vương khuyến dụ nhân dân xa lánh rượu chè cờ bạc, giữ vững luân thường đạo lư. Chúa Vơ Vương c̣n có pháp danh là Từ Tế Đạo nhân, xây dựng Đô thành Phú Xuân, tổ chức vương quyền, nội trị, và hoàn tất sự nghiệp mở mang bờ cơi về phía Nam đến tận vùng Hà Tiên, điểm cuối cùng của xứ sở vào năm 1757.

 

Trong các chế độ phong kiến có đặc điểm: thảng hoặc cũng xuất hiện những kẻ gian thần. Dưới thời Chúa Vơ Vương, có gian thần Trương Phúc Loan (cậu ruột của Vơ Vương) v́ mưu đồ tư lợi đă cố gán ghép Vơ Vương loạn luân với người em gái (con chú ruột) chính là đầu mối đưa tới sự sụp đổ của vương triều Chúa Nguyễn. Đến đời Chúa cuối cùng là Định Vương (Nguyễn Phúc Thuần), non sông bị quân Xiêm ngoại xâm, nội chiến Bắc Nam và quân khởi nghĩa Tây Sơn bùng vỡ. Định Vương bị Tây Sơn bắt giết, chấm dứt chín đời Chúa Nguyễn.

 

Trong đời Chúa Vơ Vương, có lẽ v́ nội trị đă ổn định (hay bởi ḷng đại dung của một ông Chúa Phật tử), nên việc ngoại giao trở nên phóng túng. Năm 1750, ở Đô thành Phú Xuân, Hội Truyền giáo ḍng Tên nở rộ : họ lập được hai nhà thờ, một cái của giáo sĩ Kofler (tay này đồng thời làm ngự y cho Vơ Vương), nhà thờ thứ hai xây ngay trong Đô thành. Tên Giám mục Lefèbre lại cho xây thêm một nhà thờ khác ở phường Đúc. Giáo hội Công giáo Việt Nam ngày nay, nếu hiểu biết, nên tôn thờ Vơ Vương thành bậc Đại Chúa mới phải, bởi nhờ ông mà đầu mối cho một liên hệ với đoàn quân truyền đạo và tập hợp giáo dân bản địa có nên cơ sở, mở rộng mối tham vọng khắn khít của thế chân vạc : thực dân-truyền đạo-đạo quân thứ năm hiện thực vào giữa thế kỷ 19...

                                                        

Như vậy, qua cơ động lịch sử, Huế trở thành một Kinh đô thứ hai sau Thăng Long, chỗ dừng chân của chín đời Chúa Nguyễn, c̣n là nơi tụ hội không chỉ là nhân dân từ các vùng Đàng ngoài theo gót Chúa đi vào, c̣n là di sản của những ḍng dơi quần thần pḥ Chúa Nguyễn để phục hưng Vua Lê nữa. Hậu duệ của đám quần thần này đến thời các Vua nhà Nguyễn tạo nên những “danh gia vọng tộc” ở Huế. Có những ḍng dơi yêu nước, anh kiệt, nhưng không thiếu những ḍng dơi bán nước cầu vinh. Trong cuốn kỷ yếu “Ngàn Năm Xứ Huế” (do Nguyễn Châu & Đoàn Văn Thông và nhóm Thương Huế xuất bản năm 1993, phần IV) có ghi lại một số ḍng dơi tiêu biểu như: Nguyễn Phước (xuất xứ từ vùng Triết Giang, lưu vực sông Dương Tử vào thời Thượng Cổ, sau di cư lần hồi đến lưu vực sông Hồng, đến ngụ cư làng Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa), Nguyễn Khoa (làng Trạm Bạc, tỉnh Hải Dương), Thân Trọng, Hồ Đắc (làng Chuồn), Trần Tiễn (ḍng Minh Hương), Nguyễn Tri, Phạm Doăn... Không rơ có phải v́ nhóm “Thương Huế” này chờ một dịp khác để kể tiếp vài ḍng họ nữa hay v́ tôn trọng sự thật lịch sử nên không thấy họ liệt kê vào hai ḍng họ rất “độc đáo”: Nguyễn Hữu (Bài) và Ngô Đ́nh (Khả) ?

 

Nét “độc đáo” này c̣n là đặc tính chung của một số ḍng họ ở vùng khác nữa, như :

 

Nguyễn Hữu Độ, thuộc một ḍng dơi theo đạo Ki-tô từ thời Bá Đa Lộc, được giao chức Kinh Lược Bắc kỳ, gia phong tước Quận Công, đứng đầu ‘tứ trụ triều đ́nh’: con gái được cất nhắc lên hàng nhị giai (ḥang quư phi) của Đồng khánh, con trai được truy tặng quan tước, một nhà vinh hiển cho tới lúc chết v́ ung thư bao tử vào ngày 18/12/1888” (Theo Vũ ngự Chiêu, ‘Các Vua Cuối Nhà Nguyễn’, tập 2, nxb văn Hóa, trang 480).

 

Nguyễn Thân, gốc Quảng Ngăi, được lănh ấn “Khâm mạng Đại thần” để đánh dẹp các phong trào Cần Vương ở Quảng Nam và B́nh Định, rất nhiều lần vào sinh ra tử cho quyền lợi Đại Pháp.” (Sách đd, trang 480).

 

Hoàng Cao Khải, gốc Hà Tĩnh, được cất nhắc từ tri huyện Hà Nội lên tuần phủ Hưng Yên để đánh dẹp chiến khu Băi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật.” (sách đd, trang 481).

 

Cao Xuân Dục là kẻ rất hăng hái, nhiệt t́nh dẹp “giặc” Cần Vương ở vùng Hà Nội.” (sách đd, trang 48).

 

Các ḍng họ này thường bùng lên “một phút” rồi chợt tắt, trong lúc hai ḍng họ Nguyễn Hữu và Ngô Đ́nh nhờ vào mối liên hệ thông gia tôn giáo-chính trị (Nguyễn Thị Giang, con gái của Nguyễn Hữu Bài kết hôn với Ngô Đ́nh Khôi) đă đưa ḍng họ Ngô Đ́nh bồng bềnh với quyền lực đến hơn nửa thế kỷ, mang một nét độc đáo vượt trội hơn cả, bao gồm các đặc tính sau:

 

- ḍng dơi vốn xuất thân từ khố rách áo ôm, nhờ ‘rửa tội’ mà mấy đời con cháu no cơm ấm cật.

- cung cúc phục vụ cho ngoại nhân (thế quyền lẫn giáo quyền).

- tâm chất th́ bán nước cầu vinh, nhưng lúc nào cũng cố mang chiếc áo quốc gia, dân tộc.

- đạo đức qua bộ mặt cuồng tín tôn giáo.

- cả hai đều phải “vào ra” cánh cửa các nhà tu Công giáo mà tạo quyền thế về sau.

 

Theo “Nhân Vật Giáo Phận Huế”, tập I (tác giả Lê Ngọc Bích, tài liệu lưu hành nội bộ), cho rằng “Nguyễn Hữu Bài vốn nguyên quán Thanh Hóa, là hậu duệ của Nguyễn Trăi” (trang 110). (Theo bảng phụ chú “Thế hệ ḍng họ” (trang 111), Hoài Vy ghi nhận có rất nhiều dấu hỏi cần phải được đặt ra trên phương diện sử liệu về mối liên hệ ḍng họ của ông Bài với Nguyễn Trăi, nhưng đây là một vấn đề khác cần được tŕnh bày ở một bài viết khác). Phêrô Giuse Nguyễn Hữu Bài, sinh ngày 18-9-1863 tại làng Cao Xá, phủ Vĩnh Linh, Quảng Trị. Thời thiếu niên, cha mất sớm, năm lên 10 tuổi mẹ ông xin linh mục Gioan Châu bảo trợ vào tiểu chủng viện An Ninh. Chính Linh mục Caspar (tên Việt: Lộc) có lần khen “Bài là một thanh niên tuấn tú, tương lai thành tài, đạt đức.” (trang 112), sau đó gời ông đi học chủng viện Pénang (Mă Lai). Học xong, Bài về nước vào đúng lúc ḥa ước Patenôtre Việt-Pháp vừa được kư kết, Bài được giới thiệu làm thừa phái Nha Thương Bạc (chức nhỏ tùng sự tại cơ quan ngoại giao của triều đ́nh, việc chính là làm thông ngôn). Năm 1887, ông được cử đi đánh giặc “thổ phỉ” miền thượng du Bắc kỳ trong 5 năm (sách đd, trang 113). Đây mới là chỗ có vấn đề! Giữa lúc thực dân dân Pháp tác oai tác quái trên khắp lănh thổ Việt Nam, giai tầng “phục dịch ngoại nhân bản địa” thăng quan tiến chức, trong lúc các phong trào Cần Vương yêu nước nổi lên kháng chiến khắp nơi. Ở Băi Sậy có Nguyễn Thiện Thuật, Tạ Hiện, Phạm Bành. Ở Thanh Hóa có Đinh Công Tráng với căn cứ Ba Đ́nh. Ở Bắc Giang có Hoàng Hoa Thám với chiến khu Yên Thế. Ở Hưng Sơn (Hà Tây) có Phan Đ́nh Phùng, Cao Thắng... Cao trào kháng chiến bùng nổ năm 1887, là kết quả một chuổi tiếp nối từ “Sau biến cố 1885, tầng lớp “kư lục” kiêm “thông sự” được đeo thẻ bài ở Ṭa Khâm, cái giai tầng được sự đỡ đầu bằng đề cử của các giáo sĩ ở ngoại quốc. Họ thành lập giai tầng trung gian bản xứ thay thế giai tầng Văn Thân nho sĩ và thường biện minh cho sự hợp tác với Pháp qua chiêu bài “thánh chiến” lập tân trào.” (Vũ Ngự Chiêu, sách đd, tập 2, trang 484)

 

Ngược lại với cảnh tượng nhốn nháo trên, hàng hàng lớp lớp sĩ phu trên lănh thổ phía Bắc, các anh hùng kháng Pháp nổi lên khắp nơi, th́ ông Nguyễn Hữu Bài lại được triều đ́nh (tất nhiên là qua mật lệnh của Pháp) được cử đi đánh dẹp “thổ phỉ” (theo Lê Ngọc Bích, sách đd). Thổ phỉ thật ra là một lối chơi chữ để tránh phải gọi là các anh hùng nghĩa quân chống Pháp, một lối chơi chữ ‘xách mé’ vô trách nhiệm, không biết hổ thẹn với lương tâm, không sợ phải mang tội với lịch sử dân tộc. Biết bao nhiêu anh hùng kiểu ‘thổ phỉ’ này đă bị bọn người bản xứ được "rửa tội" và đeo "thánh giá" vào người gài bẫy, giết hại để lập công với nước Đại Pháp !. Và cũng nhờ các công trạng đó, Bài được thăng tiến từ Bố chánh Thanh Hóa rồi ngóc đầu lên tới Thị lang Bộ Lại, Thượng tá Cơ Mật, Tham tri Bộ H́nh, sau cùng là Thượng thư triều đ́nh. Năm 1922, được đi sứ sang pháp, tháp tùng vua Khải Định với chức Hộ giá Đại thần, Bài ghé thăm kinh đô của con dân Chúa là Vatican, được Giáo hoàng Piô XI cho quỳ xuống hôn chân, tâm hồn Bài bốc lên tận mây xanh, làm bài thơ ca ngợi “Nước Thánh” như sau:

 

Nghe rằng La mă, nước văn minh,

Rằng mới qua xem thấy hiện h́nh.

Cung điện Giáo hoàng c̣n vị trí,

Thành tŕ Ư quốc đă kinh dinh.

Thần đồ, từ vũ, nên kỳ tuyệt,

Cổ tích lâu đài thật khủng kinh.

Yết kiến mông ơn chầu Thánh tọa,

Trăm phần danh giá, bội thêm vinh.”

 

(“Lịch Sử Giáo Phận Huế”, ‘Vịnh đi La mă’, trang 116. Theo chú thích của Lê Ngọc Bích, “thần đồ”: tượng ảnh, “từ vũ”: đền đài ).

 

Bài thơ ‘xuất thần’ ca tụng Vatican này đáng được Giáo hội Công giáo Việt Nam khắc bảng vàng để ghi nhớ tấm ḷng sắt son của những kẻ biết “hiếu nghĩa”.

 

Bản chất của Bài rất đáng được xếp loại vào giai tầng “trung gian” mà Vũ Ngự Chiêu đă mô tả rất cụ thể : “Vào thời điểm 1885, đây không c̣n là những lời cáo buộc vô bằng chứng nữa. V́ lư do này hay lư do khác, đa số tín đồ Ki-tô đă bị lọt vào ṿng ảnh hưởng của Pháp, và một thiểu số khác – v́ cuồng tín hay v́ danh lợi bản thân, hoặc cả hai – tích cực hợp tác hoặc phục vụ quân viễn chinh Pháp. Trên khắp chiến trường từ B́nh Thuận ra tới thượng du Bắc Việt, đại đa số thông sự, nho, lính tập, điềm chỉ, dẫn đường cho Pháp là giáo dân Ki-tô.” (sách đd, tập 2, trang 456).

 

Và danh lợi muốn bền vững cũng cần sự kết hợp gắn bó: “Ông Nguyễn Hữu Bài có một người bạn đồng liêu lớn hơn ông chừng một con giáp: ông Ngô Đ́nh Khả (1857-1923). Hai vị đều là lương đống của triều đ́nh, đồng hương, đồng đạo và đồng chí. Mỗi vị có những hoạt động khác nhau, nhưng hỗ trợ nhau.” (Theo Lê Ngọc Bích, sách đd – tập I, trang 125).

 

Khá khen cho cụ Lê Ngọc Bích dùng chữ để mô tả khá cụ thể: hai họ có rất nhiều cái “đồng”, nhưng đồng chí mang một nét “độc đáo” nổi bật. Ông Khả và ông Bài đă đồng chí ở những điểm nào ?

 

Trước hết, hăy nhắc lại tông tích của ông Khả là ai? – Micae Ngô Đ́nh Khả sinh năm 1857 nguyên quán làng Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng B́nh. Thuở nhỏ, Khả được cha là Giacôbê Ngô Đ́nh Niêm hay cho đi giúp lễ với một vị linh mục Pháp ở họ đạo Mỹ Duyệt Hạ (tổng Thạnh Xá, Lệ Thuỷ). Năm 1870, Khả được Linh mục Caspar (Lộc) cho đi học chủng viện Pénang. Học được 8 năm, đến năm 1878, nhưng “không thấy ơn Chúa gọi”, nên lấy vợ cho ấm thân. Lấy vợ lần thứ nhất với Madelêna Chĩu, bà này qua đời, lấy vợ lần nữa (năm 1889) với Anna Phạm Thị Thân. (Theo Lê Ngọc Bích, sách đd, trang 105-109, tập I).

 

Chúng tôi chưa biết có tài liệu nào nói đến việc ông có con cái ǵ với bà Chĩu hay không, riêng với bà Thân, đă đẻ ra một loạt quư tử Ngô Đ́nh, có người về sau làm tới tổng thống. Cũng như Bài, ông Khả đă “vào ra” chủng viện Pénang, làm thông ngôn, Cơ Mật viện triều đ́nh, quan hàm Chánh Tứ Phẩm, thăng đến Thượng Thư Bộ Công. Nét giống nhau độc đáo nữa, là 12 năm sau (1895) kể từ ngày Phêrô Giuse Bài ra Bắc trừng phạt “thổ phỉ”, Micae Khả được cử làm Phó tướng cho Nguyễn Thân ra Bắc đánh dẹp nghĩa quân “phản loạn” Cần Vương ở Vụ Quang (căn cứ kháng chiến của Phan Đ́nh Phùng). Khả thắng trận, nhưng chưa hả dạ, đào mă lấy xác cụ Phan trộn thuốc súng làm đạn, bỏ vào súng đại bác bắn cho tiêu xác trên sông Lam giang.

 

Đây là “tṛ chơi” độc đáo nhất của “cụ” Khả, đúng là “Đức lớn tài cao, trí có thừa; Đại thần Thị vệ tiếng khi xưa...” (‘Nhân Vật Giáo Phận Huế’, Lê Ngọc Bích, sách đd, trang 109).

 

Cái tâm chất “trí có thừa” này hẳn là một nhiễm-sắc-thể di truyền khó thoát : các hậu duệ của ông Khả

như Ngô Đ́nh Khôi – đă từng nổi danh với cách dùng mănh sành và nước lạnh để tra khảo những người làm cách mạng lúc ông làm Tổng đốc Quảng Nam, hay “cụ Ngô” hồi làm quan lớn cũng từng dùng đèn cầy hơ nóng hậu môn tù nhân ngay lỗ khoét của ghế ngồi để tra khảo tù nhân cách mạng. Có người đă cho rằng, một kẻ làm đến tổng thống, khi đă ra lệnh tấn công chùa chiền, bắt bớ hàng ngàn tăng ni, th́ việc ác nào cũng có thể làm. Hậu duệ Ngô Đ́nh Cẩn với ‘Chín Hầm’ ở gần Phủ Cam, Huế là nơi đă bức tử, hại sinh biết bao sinh mạng vô tội; hay một đứa con khác đă đi tu tới chức Giám mục rồi, mà vẫn đeo đẳng tinh thần:

 

Ngô Đ́nh Thục háo danh thèm chức tước,

Tiếm loạn quyền nên cả nước khinh khi,

Tu hành ǵ mà gian ác sân si!

Thế mà vẫn nghiễm nhiên làm Giám mục...”

(Nguyễn Mạnh Quang, ‘Thực Chất của Giáo Hội La Mă’,  tập 2, tác giả xb, trang 571).

 

Nhận định về công trạng của hai đại ḍng họ Nguyễn Hữu-Ngô Đ́nh đă đóng góp cho thế quyền (Đại Pháp) và giáo quyền (Giáo hội Công giáo Vatican) lớn tới đâu, chỉ có trong nội bộ của hai thế lực này biết thôi, nhưng có một câu vè trong dân gian ở Huế về hai nhân vật này   Đày vua có Khả, đào mă có Bài” vẫn c̣n là dấu hỏi. Dấu hỏi bởi, theo các tài liệu lịch sử Giáo hội Công giáo VN viết thường là ca tụng hai nhân vật “độc đáo” này hết lời, và tất nhiên câu vè dân gian trên được sửa lại:

 

Phế Vua không Khả, Đào mă không Bài” (“Nhân Vật Giáo Phận Huế”, sách đd, tập I, trang 115) để ám chỉ tới lập luận của chính họ: Bài đă từng “lên tiếng” ngăn chận, dù không thành Khâm sứ Mahé ngang ngược bắt khai quật lăng Vua Tự Đức lấy vàng ngọc châu báu vào năm 1907, dưới triều Vua Duy Tân. Ông Thượng Ngô Đ́nh Khả “phản đối” Pháp trong âm mưu truất phế và đày Vua Thành Thái (‘cũng chỉ lên tiếng thôi mà không thành’!). Cho tới hôm nay, các nhà viết sử ở nước ngoài chưa thấy ai nói rơ điều này một cách rạch ṛi cho thỏa ḷng dân Huế. Đến ngay cả tác giả Hoàng Trọng Thược trong “Hồ Sơ Vua Duy Tân” (Thanh Hương xuất bản 1984, Hoa Kỳ) cũng dùng tài liệu cũ vốn thiếu phần chính xác để xác nhận việc Ngô Đ́nh Khả không chịu kư tờ biểu vua thoái vị (trang 410). Nhưng với vai tṛ “Thị vệ” (đúng nghĩa là làm nhiệm vụ cảnh sát và báo cáo) báo cáo mọi hành vi, nhất cử nhất động của Vua Thành Thái lên quan Đại Pháp, th́ sự việc ông Khả có lên tiếng “phản đối’ âm mưu “truất ngôi, đày vua” có thật hay không cũng chẳng có giá trị thuyết phục nhân dân Việt thay đổi cái nh́n về bản chất và hành động của Bài và Khả.

 

Theo nhận xét qua phương pháp phân tích sử liệu của Vũ Ngự Chiêu (‘Các Vua Nhà Nguyễn’, tập 2), chúng ta thấy có sự mâu thuẫn giữa Giáo hội Công giáo (bản xứ + truyền giáo) và chính quyền thực dân về việc truất phế Thành Thái. Báo ‘L’Avenir de Tonkin’ (có cổ phần của Hội Truyền giáo) đă báo cáo về Paris rằng: “Có vẻ Thành Thái đă rửa tội trong một cơn bệnh nặng trước khi lên ngôi (1884). Hội Truyền giáo chẳng bao giờ chống lại vua; vài năm trước Hội đă vận động để cắt cử một giáo dân Ki-tô, Ngô Đ́nh Khả vào chức vụ thân cận cho phép hành xử trên vua những ảnh hưởng trực tiếp và liên luỹ...” (trang 583).

 

Quan điểm của chính quyền thực dân Pháp (qua đại biểu Khâm sứ F. Levecque, có khuynh hướng Tam Điểm (‘Freemason’ – vốn không ưa Công giáo Rôma) không quan tâm lắm tới một ông vua bù nh́n có “rửa tội” hay không, mà là một ông vua tương đối “tử tế”, biết vâng lời nước Pháp và quan Đại Pháp.

 

Trong lúc Hội Truyền giáo và nhóm Ki-tô th́ thích một ông vua đă rửa tội hơn, và điều quan trọng nhất là họ có khả năng kiểm soát và kiềm chế ông vua này không. “Ngô Đ́nh Khả – người được giao chức quan Thị vệ và an ninh Cấm thành – bị nghi là gieo rắc những ảnh hưởng tai hại trên vua.” (Vũ Ngự Chiêu, tập 2, sách đd, trang 585). Trong lá thư ngày 15/8/1907, Khả vận động 154 học sinh Quốc Tử Giám gởi Khâm sứ Levecque tỏ lộ rằng: “Yêu cầu Pháp ban cho họ một ông vua mà chỉ nguyên sự hiện diện đủ trấn an tinh thần binh sĩ và các liệt thần của đế quốc.” (sách đd, trang 585). Do đó, vấn đề Khả dù có chống việc “phế ngôi, đày vua”, không phải v́ ông ta thương xót ǵ triều đ́nh nhà Nguyễn, lo cho sơn hà xă tắc nước Nam, mà do điều đó có phù hợp với mưu đồ hợp tung giữa Bài và Khả, có được ḷng Giáo hội Mẹ, quyền lợi nước Đại Pháp và khả năng khuynh loát triều chính hay không ? Câu trả lời : ngày 3/9/1907, Nguyễn Hữu Bài, cùng Phủ Phụ Chính (tất nhiên trong đó có Khả) chấp nhận giải pháp của nước Đại Pháp, và hơn một tháng sau (17/10/1907), Vĩnh San (hoàng tử thứ hai mới 10 tuổi) lên ngôi, Thành thái phải rời Huế đi Bà-rịa, mở đầu cho cuộc đời tù đày long đong viễn xứ của ông vua giả điên này.

 

Một tài liệu khác trong “Lịch Sử Phật Giáo Huế” của Thượng tọa Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (nhà xb TP/Hồ Chí Minh 2000) lại trưng ra những chứng cớ đơn giản hơn, khẳng quyết Nguyễn Hữu Bài là kẻ đă đồng ư đào mă Vua Tự Đức : “Nguyễn Hữu Bài là người đă kư giấy để bọn thực dân Pháp quật lăng Vua Tự Đức. Điều này có thể không sai, bởi v́ ông đă nói với ông A. Delvaux là “nước Pháp đă mở rộng nền bảo hộ của họ một cách “cực chẳng đă”, nghĩa là điều nước Pháp không muốn, họ vẫn bị đẩy bởi sự vi phạm không ngừng các hiệp ước do triều đ́nh Vua Tự Đức gây nên.” (dẫn theo LSPGH, trang 355-356 A. Delvaux, ‘Quelques précisions sur une période troublé d’histoire d’Annam’ – Bulletin des Amis du Vieux de Hue số 3, năm thứ 28). Đây là lối luận định - tư tưởng đă như vậy th́ hành động không thể khác. Riêng Ngô Đ́nh Khả “là người đă kư giấy cho bọn thực dân Pháp đày Vua Thành Thái sang Réunion. Dân Huế c̣n truyền tụng “Đày vua ông Khả, đào mă ông Bài”” (trang 356). “Lịch Sử Phật Giáo Huế” đă kết luận về con người ông Khả rằng : “Mấy chữ sau đây của ông Nguyễn Đ́nh Ḥe nói về ông Ngô Đ́nh Khả, mà Louis Sogny trích lại trong bài viết của ông ở BAVH (Bulletin des Amis du Vieux de Hue), tưởng là quá đủ: “...un grand serviteur de la France...” Cho nên đối với nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, nhất là dân Huế, th́ ông Ngô Đ́nh Khả đă bị “tombé dans l’oubli depuis longtemps” như lời ông Nguyễn Đ́nh Ḥe đă nói vào đầu thế kỷ 20 này là điều hiển nhiên vậy.” (LSPGH, trang 357).

         

Đúng vậy, cái ‘tên’ Ngô Đ́nh Khả – “một đại-tôi-tớ cho nước Pháp” đă bị tiêu trầm trong ḷng người dân Huế một thời gian dài đằng đẳng, nhưng ḍng họ Ngô Đ́nh chỉ thật sự hoàn toàn “xóa sổ” vào ngày 13/12/1984, lúc Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục (con trưởng nam cuối cùng của ḍng họ Ngô Đ́nh) ĺa trần trong t́nh trạng “tù đày” (captivity) cô độc sau một thời gian dài công khai chống lại Vatican. C̣n một chút ảo vọng khác là Hồng y Nguyễn Văn Thuận (cháu ngoại của Ngô Đ́nh Khả (*)),  trong niềm mơ ước hoang tưởng của một số người Công giáo hoài Ngô ôm ấp viễn mộng một ông Giáo hoàng Việt Nam. đầu tiên – ngày 16/9/2002 cũng đă “về với Chúa”. Ngoài những “hậu duệ” bàng dân thiên hạ như Lữ-Giang-Tú-Gàn c̣n tỏ chút “Đôi ḍng ghi nhớ”, và những bùi ngùi, luyến thương công khai hoặc âm thầm khác; từ đây không biết c̣n có những tung hô “dựng đền tạc tượng” ḍng họ Ngô Đ́nh nữa hay không – cũng chỉ v́ những bâng khuâng tiếc nuối, mơ tưởng về đống của phù vân đă tan biến theo ḍng đời ?

 

Nguyễn Hạnh Hoai Vy

(Thu 2002 - hồi tưởng về 1.11.63)

 

(*) [Trích sau đây là một đoạn qua bản tin "Hồng y Nguyễn Văn Thuận từ trần" của website Diễn Đàn Pa-ri tháng 10 năm 2002 : “Theo thông tín viên của chúng tôi ở Roma, cách đây vài tháng, em trai của hồng y, ông Nguyễn Văn Tuyên, đă từ trần tại Houston, Texas. Ông Tuyên sống độc thân sau khi li dị, chết đơn độc không ai hay. Nhiều ngày sau, bạn bè mới phát hiện khi thấy đàn quạ bay vần vũ trên nóc nhà”].

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend