TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TẢN MẠN VỀ NGÀY 25 THÁNG 12 - ĐÔNG CHÍ HAY GIÁNG SINH?? - H̀NH CHÚA HÀI ĐỒNG


Flag of Cambodia Flag

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I & LÊ DUẨN II: Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp) gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.” (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

Bush and Blair, cartoon Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

* MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch....

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh

Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone... đọc tiếp

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

    

( Bạn đánh máy The Phallic Jesus vào ô Google, click “go” – tiếp đến click Image – tiếp đến click tấm h́nh thứ 16 “Jizzy 06 29 06 at 02:30 Jesus”. Bạn có được 253 h́nh ảnh “Chúa hài đồng” trưởng thành đẹp lắm)

 

TẢN MẠN VỀ NGÀY 25 THÁNG12

 

Trần Chung Ngọc

 

      Nhớ lại khi xưa ở Saigon, mỗi năm cứ đến tối ngày 24 tháng 12, tôi và người bạn thân thường đi t́m vui ở xung quanh nhà thờ Đức Bà.  Khu vực xung quanh nhà thờ đông nghẹt những người trẻ như tôi, nhưng không hiểu có bao nhiêu người thực sự “đi lễ” nhà thờ v́ biết đến Chúa Giê-su hay tin ở sự cứu rỗi của Chúa Giê-su hay chỉ là ham vui như tôi .  Tôi tin rằng số này không có nhiều mà chỉ v́ ham vui nơi đông đảo mà chúng tôi thường gọi là “đi lễ đi liếc” mà thôi.  Tôi chắc rằng hiện nay cảnh nhộn nhịp vào tối 24 tháng 12 ở xung quanh nhà thờ Đức Bà Saigon hay nhà thờ lớn Hà Nội cũng vậy.

   Từ ngày sang Mỹ đến nay, tôi đă có cơ hội t́m hiểu về thực chất ngày 25 tháng 12 mà người ta thường cho là ngày “giáng sinh” của Chúa Giê-su.  Trước khi tŕnh bày về ngày này trong lănh vực học thuật, trước hết tôi xin tŕnh bày xă hội Mỹ ngày nay đă “đối xử” với ngày lễ giáng sinh ra sao.  

   Tuy vào dịp này, trên TV cùng các nơi buôn bán công cộng (shopping mall) các bài ca quen thuộc đều được tŕnh diễn theo kiểu “hát ngày không đủ, tranh thủ hát đêm, hát thêm ngày chủ nhật”, nhưng tôi muốn nói lên một sự kiện ở trên nước Mỹ, một nước có thể nói đến 80% theo Ki Tô Giáo theo truyền thống gia đ́nh.          

     Nếu các độc giả ở Mỹ để ư th́ sẽ thấy từ nhiều năm nay, từ “Giáng sinh” cũng như từ “Phục Sinh” càng ngày càng được dùng ít đi trong mọi dịch vụ quảng cáo công cộng và trong học đường.  Năm nay, các dịch vụ buôn bán phần lớn đều quảng cáo cho “Mùa nghỉ lễ” (Holidays season) thay v́ “Mùa giáng sinh” (Christmas season); c̣n các trường đại học, trung học, tiểu học, th́ đă từ nhiều năm nay đều bắt buộc phải gọi kỳ nghỉ lễ “Giáng sinh” của Ki Tô Giáo là “kỳ nghỉ xả hơi mùa Đông” (Winter Break) cũng như bắt buộc phải gọi kỳ nghỉ vào dịp lễ “Phục Sinh” của Ki Tô Giáo là “Kỳ nghỉ xả hơi mùa Xuân” (Spring Break).  Những từ như   “lễ Giáng Sinh”  hay “lễ Phục Sinh” hầu như chỉ c̣n thu hẹp trong nội bộ Ki Tô Giáo.  Nhưng các dịch vụ buôn bán th́ khai thác triệt để những kỳ nghỉ lễ này để bán hàng. Năm nay, một số tín đồ Ki Tô Giáo lên tiếng hô hào người Ki Tô hăy tẩy chay, không mua hàng ở các tiệm đề “Happy Holidays” thay v́ đề “Merry Christmas”.  Nhưng đa số người Mỹ không phải là những kẻ cuồng tín, chẳng mấy quan tâm đến “Happy Holidays” hay là “Merry Christmas” mà cứ tiệm nào bán rẻ là họ đổ xô vào mua.  Nếu cần họ cũng xếp hàng từ 5 giờ sáng để khi tiệm mở cửa có thể chạy vào mua được món hàng quảng cáo hạ giá mà ḿnh muốn, v́ số lượng món hàng hạ giá chỉ có giới hạn và số giờ mua được hàng hạ giá cũng giới hạn, thường trong ṿng vài tiếng đồng hồ.  Cảnh này đă xảy ra sau ngày Lễ Tạ Ơn trên khắp nước Mỹ.  Hiện tượng giải trừ Christmas ra khỏi những nơi công cộng không chỉ có ở trên nước Mỹ mà c̣n thấy ở khắp Âu Châu, nhất là ở Anh.  Các nhân viên công sở hay công ty bị cấm không được trưng bầy bất cứ cái ǵ liên quan đến Christmas.  

     Ki Tô Giáo thường ồn ào rầm rộ trong mùa lễ “Giáng Sinh” của họ, tuy thật ra chẳng ai biết Chúa Giê-su của Ki Tô Giáo sinh ra năm nào, ngày nào, giờ nào, và ở đâu.  V́ không ai biết, nên Giáo hoàng Julius I, nhân danh là đại diện của Chúa trên trần, đă quyết định vào năm 350 là Giê-su sinh vào ngày 25 tháng 12.  Vậy ngày “giáng sinh” là ngày do giáo hoàng Julius I quyết định chứ không phải là ngày sinh thực của Giê-su mà không ai biết.  Nhưng từ đâu mà có ngày 25 tháng 12?  Ngày xưa, nhân dân khắp nơi thường là thờ mặt trời, thấy mùa Đông ngày càng ngày càng ngắn nên rất lo sợ bị mất đi dần ánh sáng của mặt trời.  Đến ngày Đông Chí, ngày lại bắt đầu dài ra, cho nên con người ăn mừng để ca tụng và tạ ơn mặt trời.  Giáo hội Công Giáo nổi tiếng là thường đi cầm nhầm những thứ của dân gian [đă được chứng minh có đầy trong Tân Ước] cho nên Giáo hoàng Julius I, vào năm 350, đă lấy ngày Đông Chí làm ngày giáng sinh của Giê-su, ngụ ư ánh sáng của Giê-su đă thắng sự tăm tối. Đây là một bước đi rất thuận tiện, vừa phù hợp với sự ăn mừng của dân gian, vừa nhốt tín đồ vào trong ṿng mê tín.  

     Nhưng về sau, người ta khám phá ra rằng Julius I đă vơ lấy ngày Đông Chí là ngày 25 tháng 12, tính theo lịch Julius (Julian Calendar).  Nhưng lịch này đă tính sai mất mấy ngày, về sau lịch Gregory mà chúng ta dùng ngay nay tính lại th́ ngày Đông chí phải là 21 tháng 12, có thể xê xích một chút nhưng không thể nào là ngày 25 được. Nhưng ngày 25 tháng 12 đă trở thành ngày lễ “giáng sinh” trong Ki-tô Giáo nên ngày nay Ki-tô Giáo vẫn tiếp tục ăn mừng “lễ Giáng Sinh” vào ngày 25 tháng 12, tuy không ai biết rơ ngày “giáng sinh” của Giê-su là ngày nào.    

   Thật vậy, những chi tiết về gia phả và sự sinh ra của Giê-su trong Thánh Kinh có quá nhiều mâu thuẫn nên không cho phép bất cứ ai khẳng định ông ta đích thực là con của ai, sinh ra ngày nào, và ở đâu.  Phúc Âm Matthew viết là Giê-su sinh ra trong triều đại của vua Herod, nhưng lịch sử lại chứng tỏ rằng Vua Herod chết vào năm – 4, nghĩa là 4 năm trước khi Chúa sinh ra đời.  Phúc Âm Luke cho rằng Giê-su sinh ra trong thời có cuộc kiểm tra dân số của Quirinius, Toàn Quyền Syria và Judea (Do Thái).  Nhưng lịch sử lại chứng tỏ rằng cuộc kiểm tra này xảy ra năm 6-7, nghĩa là 6-7 năm sau khi Chúa sinh ra đời.  Sự mâu thuẫn trong hai Phúc Âm trên là một bài toán nan giải cho các nhà thần học Ki Tô Giáo.  Cho nên rút cuộc họ dạy tín đồ là “cứ tin đi th́ sẽ được tất cả” và tín đồ, v́ cái “được tất cả” đó cho nên không cần biết đến những mâu thuẫn trong Thánh Kinh và tiếp tục tin rằng ngày “Chúa của họ sinh ra đời” đúng là ngày 25 tháng 12 theo Thường Lịch. Niềm tin này vô hại, chỉ lợi cho những nhà buôn bán, khai thác triệt để sự mê tín pha trộn với sự kém hiểu biết trong dân gian, để bán hàng.  

       Mặt khác, Thánh Kinh viết rằng Giê-su là con của Joseph, thuộc ḍng dơi vua David, một điều kiện để người Do Thái có thể chấp nhận Giê-su là đấng cứu tinh của dân Do Thái đang rên xiết dưới ách nô lệ của La Mă.  Thánh Kinh cũng lại viết rằng, Giê-su chính là con của Chúa Thánh Thần, một hồn ma thánh (Holy Ghost) phi vật chất.  Do đó, Giê-su là Con duy nhất của Thiên Chúa, và cũng do đó, Giê-su chính là Thiên Chúa, và cũng do đó, Giê-su chính là Chúa Thánh Thần, theo thuyết Ba Ngôi Nhất Thể của Ki Tô Giáo phịa ra mấy trăm năm sau khi Giê-su đă chết.  Tất nhiên, đă là Thánh Kinh của Ki Tô Giáo hoặc đă là những lời “Giáo hội (Công giáo) dạy rằng :....) th́ không thể nào sai lầm, cho nên tín đồ Ki Tô Giáo, bắt buộc phải tin mọi điều Thánh Kinh viết, hoặc bắt buộc phải tin những lời “Giáo Hội dạy rằng...” là không thể nào sai lầm.  Không tin th́ không được Giê-su cứu rỗi, cho lên Thiên Đường sống đời đời với ông ta, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, v́ chính Giê-su cũng đă chết rồi, và bây giờ không biết ở đâu, nhưng chắc chắn không phải ở trên thiên đường, v́ chính Giáo hoàng John Paul II đă phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên các tầng mây..   

      Giê-su sinh ra như thế nào? Ai là cha?  Có lẽ chỉ có ḿnh “Đức” Mẹ mới biết rơ ai là cha thực của Giê-su, nhưng v́ một lư do rất tế nhị nên Bà không nói ra, và những điều mà chúng ta biết về sự sinh ra của Giê-su là do 4 người viết Phúc Âm, không có người nào là tông đồ của Giê-su: Matthew, Mark, Luke, và John kể lại sau khi Giê-su bị đóng đinh trên cây thập giá, chết và táng xác, đă từ 20-30 năm (Mark), 50-60 năm (Matthew và Luke), hoặc tới cả 100 năm (John).   Mark và John đều không viết ǵ về “giáng sinh”, chỉ có Matthew và Luke, cóp nhặt hầu như nguyên văn của Mark và thêm vào chuyện “giáng sinh”, mỗi chuyện một khác. Mặt khác, chính Joseph, cha hờ của Giê-su, ḍng dơi vua David, cũng không biết ai là cha của Giê-su, nhưng không biết có lẽ đỡ buồn hơn là biết.    

      Tuy nhiên, trong Ki Tô Giáo không phải là không có những “phản đồ” hay “lạc đạo”, nghĩa là những người c̣n dám dùng đến lư trí, khả năng phán đoán của con người.  Điển h́nh là Giám mục Tin Lành John Shelby Spong, sau khi nghiên cứu kỹ Thánh Kinh, đă viết trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Về Sự Sinh Ra Của Giê-su (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus) như sau:   

      Giê-su được diễn giảng bởi những tín đồ Ki Tô lúc đầu theo những quan niệm về Thiên Chúa mà họ tin tuyệt đối, dựa theo h́nh ảnh của một ông vua trên trời.  Điểm chủ yếu là h́nh ảnh Giê-su ngồi bên phải của cái ngai Chúa Cha ngồi trên trời.  H́nh ảnh này phản ánh niềm tin huyền thoại phổ thông thời đó về một vũ trụ được coi như là một vương quốc.   Nhưng Giê-su đă được “sinh ra từ một người đàn bà”.  Sự sinh ra đời của Giê-su cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết.   Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có ǵ tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi ḿn chưa kiếm ra và chưa nổ.

   (Spong, John Shelby, Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper, San Francisco, 1992, p. 35: Jesus was interpreted by the early Christians in terms of their assumed and unquestioned concepts of God, modeled after the image of a heavenly king.  The focus was on the exalted Jesus seated at the right hand of the heavenly throne.   The image reflected the popular mythic understanding of the universe as a kingdom.. But he was “born of a woman”.. His origins were equally as scandalous as his means of death.  He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)    

    V́ sự sinh ra của Giê-su đặc biệt như vậy cho nên đi kèm với sự “giáng sinh” của Giê-su cũng có nhiều hiện tượng thiên nhiên không thuộc loại thiên nhiên mà thuộc loại hoang đường, v́ chúng trái với thiên nhiên.  Một trong những hiện tượng trái thiên nhiên này là ngôi sao ở Bethlehem, hay viết tắt theo tiếng Mỹ quen thuộc là S.O.B.  Chúng ta nên để ư là trong 4 Phúc Âm th́ chỉ có Matthew là đưa ra câu chuyện về S.O.B., c̣n 3 Phúc Âm kia đều không biết đến hiện tượng kỳ lạ này, và ngoài Matthew ra, không có bất cứ một tài liệu nào của bất cứ sử gia nào ở ngoài Ki Tô Giáo ghi nhận một hiện tượng kỳ lạ vô tiền khoáng hậu như là hiện tượng S.O.B.  Muốn hiểu rơ tại sao lại như vậy, chúng ta hăy đọc câu chuyện về S.O.B. này trong Tân Ước:   

   “Matthew 2: Sau khi Chúa Giê-su sinh ra ở Bethlehem xứ Giu-đê vào đời vua Hê-rốt, th́ có mấy nhà chiêm tinh từ “Đông phương” đến Jerusalem và hỏi: “Vua của dân Do Thái mới sinh ra đời ở đâu?   V́ chúng tôi đă nh́n thấy ngôi sao của Ngài ở “Đông phương” nên đến đây để thờ phượng Ngài.”  Khi vua Hê-rốt nghe được những điều này ông ta rất bối rối..   Rồi Hê-rốt, sau khi triệu mấy nhà chiêm tinh vào và hỏi kỹ khi nào ngôi sao hiện ra.  Rồi Vua sai họ đi đến Bethlehem...

   Họ liền đi, và ḱa, ngôi sao mà họ nh́n thấy ở “Đông phương”, đi trước họ cho đến khi dừng ngay trên chỗ ở của đứa trẻ.  Khi họ nh́n thấy ngôi sao, họ vô cùng mừng rỡ.”

   (Matthew 2:   Now after Jesus was born in Bethlehem of Judea in the day of Herod the king, behold, wise men from the East came to Jerusalem, saying, “Where is He who has been born King of the Jews?  For we have seen His star in the East and have come to worship Him.”   When Herod the king had heard these things, he was troubled...   Then Herod, when he had privily called the wise men, enquired of them diligently what time the star appeared.  And he sent them to Bethlehem....  

   They departed, and lo, the star, which they saw in the east, went before them, till it came and stood over where the young child was.  When they saw the star, they rejoiced with exceeding great joy. )   

     Chúng ta nên để ư là Thánh Kinh tiếng Việt dịch “from the East” và “in the East” là “từ Đông phương” và “ở Đông phương” chứ không phải là “từ phía Đông” và “ở phía Đông”.  Cách dùng từ này của Ki Tô Giáo có dụng ư như tôi sẽ tŕnh bày trong một phần sau. 

     Thánh Kinh là những lời mạc khải của Thượng đế của Ki Tô Giáo nên không thể sai lầm, lẽ dĩ nhiên là đối với các tín đồ Ki Tô Giáo.  Chúng ta không thể trách Thượng đế về sự hiểu biết của Ngài về vũ trụ tuy chính Ngài đă “sáng tạo” ra vũ trụ.  Cách đây 2000 năm th́ tŕnh độ hiểu biết của Thượng đế của Ki Tô Giáo ở trong Thánh Kinh chỉ có vậy.  Trăng sao là đèn đóm (xem Kinh Thánh, Nguyễn Thế Thuấn, Sáng Thế 1: 17) tối tối Thượng đế sai các thiên thần của Ngài mang ra treo trên ṿm trời và đến ngày tận thế mà “nhà tiên tri Giê-su”, alias Chúa Con, đă khẳng định là “sắp xảy ra”, ngay trong thời mà một số tông đồ của ông c̣n sống, th́ các tinh tú trên trời, nghĩa là những đèn đóm treo trên ṿm trời, sẽ rơi rụng như sung (Xem Thánh Kinh, Khải Thị 6: 13), và khi đó “trời sẽ tối đen như mực, trăng sẽ đỏ như máu”.  Với tŕnh độ hiểu biết về trăng sao như vậy cho nên Matthew mới viết nên hiện tượng kỳ lạ của S.O.B..  Chúng ta cũng không thể trách Thượng đế của Ki Tô Giáo là không biết rằng mặt trăng sáng là do ánh sáng của mặt trời chiếu tới.  Nếu trời tối đen như mực, nghĩa là mặt trời không c̣n ánh sáng, th́ tất nhiên mặt trăng cũng phải tối đen như mực, chứ không thể nào lại đỏ như máu.  Nhưng đó lại chính là những lời khải thị của Thiên Chúa toàn năng, toàn trí của Ki Tô Giáo, cho nên các tín đồ Ki Tô Giáo không thể không tin.  Bởi v́ không tin điều này th́ kéo theo việc không tin tất cả những điều khác mà Thiên Chúa đă khải thị, v́ không có một căn bản nào có thể dựa vào đó để mà quyết định lời khải thị nào đúng, lời khải thị nào sai?  Và như vậy th́ sẽ không được lên thiên đàng.  Vấn đề chính là ở chỗ này.   

     Trở lại câu chuyện S.O.B. trong Thánh Kinh. Trước hết, có lẽ chúng ta cũng nên biết thế nào là một ngôi sao? 

     Một ngôi sao chẳng qua chỉ là một khối cầu khí nóng (hot ball of gas), đúng ra là một khối cầu plasma gồm nhân nguyên tử Hydrogen (proton), nhân nguyên tử Helium và điện tử (electron), tụ lại với nhau do lực vạn vật hấp dẫn (gravity), và sáng v́ những hạt nhân nguyên tử trong đó đụng nhau với vận tốc rất cao đưa đến sự giao hạch (nuclear fusion), nghĩa là sự giao hoặc tổ hợp của hai hạt nhân nguyên tử nhẹ (proton) để tạo thành một nhân nguyên tử nặng hơn (Helium) và do đó phát ra nhiệt hay năng lượng.  Mặt Trời trong Thái Dương Hệ của chúng ta cũng là một ngôi sao.  

     Nhiệt độ của một ngôi sao là bao nhiêu độ?  Ở trung tâm, nhiệt độ của một ngôi sao vào khoảng từ 15 đến 60 triệu độ.  Kích thước của một ngôi sao là bao nhiêu?  Các khoa học gia thường lấy kích thước của Mặt Trời làm chuẩn.  Các ngôi sao thông thường có kích thước từ 1/10 cho tới 10 lần kích thước của Mặt Trời (có đường kính vào khoảng 1 triệu 400 ngàn cây số).  Do đó, kích thước của một vị sao là có đường kính từ 140,000 cây số đến 14 triệu cây số. Đường kính của trái đất chỉ vào khoảng 13,000 cây số. Sao ở cách xa chúng ta bao nhiêu?  Ngôi sao Proxima Centauri gần Thái Dương Hệ nhất, nghĩa là gần chúng ta nhất, cách chúng ta khoảng 1.3 parsecs, nghĩa là vào khoảng “40 Ngàn Tỷ” (40 x 10 12  = 40 trillion) cây số (km).  V́ ở cách xa trái đất như vậy nên các sao, dù vô cùng lớn, cũng chỉ là những điểm sáng trên bầu trời.    

     Các khoa học gia, trải qua 20 thế kỷ, đă chịu thua, không biết ǵ về S.O.B., một ngôi sao liên hệ đến “Đêm Thánh Bethlehem”.   Tại sao vậy?  V́ S.O.B. không nằm trong địa hạt khảo cứu của khoa học.  Khoa học không có khuynh hướng tin nhảm tin nhí.  Tại sao lại bảo là tin nhảm tin nhí?  V́ không có ngôi sao nào có thể lừng lững đi trước dẫn đường cho khách bộ hành đi từ Jerusalem đến Bethlehem rồi dừng ở trên một cái nhà trong đó Chúa Giê-su của Ki Tô Giáo vừa mới sinh ra như được viết trong Thánh Kinh, những lời mạc khải không thể sai lầm của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo.   Một ngôi sao không đi dẫn đường mà v́ trái đất quay nên ta thấy ngôi sao như đang di chuyển.  Nhưng sao ngừng có nghĩa là trái đất ngừng.  Nếu trái đất đang quay với vận tốc là 1040 miles/giờ ( 1670km/giờ) và đột nhiên ngừng lại th́ cái ǵ sẽ xẩy ra?  Xin để cho các vô thượng thiên tài trí thức Ki-Tô-Giáo như giáo hoàng Benedict XVI, các linh mục Cao Phương Kỷ, Đan-Minh, Vũ Đức, Chân Tín, Nguyễn Hữu Giải, Nguyễn Văn Lư, Phan Văn Lợi v..v.. cùng đám Tin Lành Tiến sĩ Lê Anh Huy, mục sư Huệ Nhật v..v.. giải đáp. 

     Mặt khác, khoảng cách từ Jerusalem tới Bethlehem vào khoảng 10 cây số.  Chúng ta có thể làm một thí nghiệm: định vị một ngôi sao trên trời rồi lái xe theo bất cứ hướng nào, Đông, Tây, Nam, Bắc, độ 10 cây số, xem xem vị trí của ngôi sao có thay đổi chút nào hay không?  Muốn hướng dẫn các nhà chiêm tinh đến đúng nơi Chúa Giê-su, nghĩa là Vua của Do Thái và của Do Thái mà thôi, như được viết trong Thánh Kinh, sinh ra đời, th́ S.O.B. phải dừng ngay rất gần trên mái nhà nơi “Chúa giáng sinh”.  Với kích thước, nhiệt độ của một ngôi sao như vậy th́ c̣n đâu là Chúa với chẳng Chúa, cả trái đất này sẽ bị thiêu hủy ngay tức khắc.   C̣n một ngôi sao ở đúng vị trí của ngôi sao trên trời th́ tôi thách đố bất cứ nhà thần học nào, từ giáo hoàng Công giáo trở xuống cho tới các đại trí thức Công giáo như Đỗ Mạnh Tri, Phan Thiết Nguyễn Kim Khánh, Tú Gàn Nguyễn Cần  v..v.., các đại trí thức Tin Lành như Lê Anh Huy, Nguyễn Thanh Vũ v..v.. trong Mucsu.net, có thể cho tôi biết là ngôi sao đó đứng trên ngôi nhà nào trên một diện tích 100 cây số vuông, nghĩa là diện tích một h́nh vuông mà mỗi cạnh có chiều dài là 10 cây số, khoảng cách từ Jerusalem tới Bethlehem?   Cũng v́ vậy mà đối với giới trí thức, S.O.B chỉ là một chuyện nhảm nhí, phi lôgic, phản khoa học.   

     Tuy vậy, chuyện nhảm nhí như vậy không chấm dứt ở đây mà c̣n được khai triển trong học thuật thần học của Ki Tô Giáo, một sự khai triển không kém nhảm nhí.  Học thuật thần học Ki Tô Giáo đă khai triển những chiêm tinh gia thành “Ba Vua” ở Đông-phương tuy rằng trong Phúc Âm Matthew không có chỗ nào nói đến con số 3 này.  Sau đó nền thần học Ki Tô Giáo c̣n diễn giải là “Ba Vua” đại diện cho 3 sắc dân: da trắng, da đen, và da vàng, đi từ Âu Châu, Phi Châu, và Á Châu đến.  Và môn “Thần Học Theo Cung Cách Á Châu” ngày nay đă diễn giải là các vua từ “Đông Phương” đến thờ phụng đứa bé Giê-su mới sinh ra đời.  Toàn là chuyện nhảm nhí v́ tất cả mưu toan thần học của Ki Tô Giáo đều quên mất một điều: đó là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo không biết rằng quả đất tṛn và cho đến thế kỷ 16, giáo hội Công Giáo vẫn tin rằng những điều viết trong Thánh Kinh là đúng, nghĩa là trái đất phẳng và dẹt như cái đĩa, có bờ mé.  Thứ đến, mở bản đồ thế giới ra th́ “Đông Phương” có 2 nước lớn là Ấn Độ và Trung Quốc.  Hai nước này cách xa Jerusalem bao nhiêu?  Gần là Ấn Độ, cách xa Jerusalem khoảng 4 ngàn miles hay 6,500 cây số, rồi đến Trung Quốc, cách Jerusalem khoảng 6,000 miles hay gần 10 ngàn cây số.  Khi đó mấy nhà chiêm tinh, tức ba vua ở Đông phương, may lắm th́ có lừa mà cưỡi.  Phải mất bao nhiêu ngày để có thể cưỡi lừa vượt từ 6,500 đến 10,000 cây số để đến thờ phụng một đứa con nít mới sinh ra đời ở Jerusalem mà họ đă nh́n thấy ngôi sao của hắn và biết là “Vua của Do Thái” mới sinh ra? Nên nhớ là khi họ được S.O.B. dẫn đến nhà đứa trẻ th́ đó là đứa trẻ sơ sinh chứ không phải là đă sinh ra được vài tháng hay vài năm.   

    Chuyện ngôi sao lạ, hay S.O.B., cùng những chuyện lạ khác trong Tân Ước ngày nay không c̣n là những chuyện lạ nữa trước khối lượng nghiên cứu hiện đại nhất của hàng ngàn học giả về Thánh Kinh và nhất là về nhân vật Giê-su.  

   Thật vậy, Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio,  nhận định rằng:     

     Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lư  giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

  1. Đức Mẹ đồng trinh

  2. Hiện thân của Chúa  (Thượng  đế hiện  thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê-su.)

  3. Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa

  4. Sự sống lại của Chúa.

  5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

  6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người   chết  cho ngày phán xét cuối cùng)

  7. Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha  phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

    [The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines

      as myth:

   1.  The virgin birth

   2.  The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

   3.  The work of Atonement (plan for salvation)

   4.  The resurrection

   5.  The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

 

  1. The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)

   7.  The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming) ]  

     Mặt khác, năm 1995, Giáo sư Thần Học Công Giáo Uta Ranke-Heinemann đă xuất bản cuốn Hăy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things) trong đó giáo sư đă phân tích rất kỹ và coi những chuyện trong Tân Ước như “Chuyện Giáng Sinh của Luke” (Luke’s Christmas Fairy Tale); “Chuyện Giê-su sinh ra từ Một Nữ đồng trinh” (The Virgin Mother); “Gia phả của Giê-su” (Jesus’ Genealogies); “Những phép lạ của Giê-su” (Miraculous Fairy Tales); “Ngày Thứ Sáu Tốt Đẹp: Ngày Chúa chết” (Good Friday); “Chuyện Judas phản Chúa” (The fairy Tale of Judas the Traitor); “Chuyện Phục Sinh” (Easter); “Chuyện Thăng Thiên” (Ascension) v..v.. đều là những chuyện trẻ con, không c̣n một giá trị nào trong thế giới của những người trí thức ngày nay.   

     Điều lạ ngày nay chính là hàng triệu người vẫn c̣n tin những chuyện lạ trong Thánh Kinh như là những sự kiện lịch sử, vẫn c̣n hàng triệu người tin rằng Giê-su thực sự sinh ra từ một nữ đồng trinh, kết quả sự xâm nhập vào thân thể của một Thánh Ma (Holy Ghost), tin rằng Giê-su đă sống lại và bay lên trời, hiện đang ở thiên đường v..v...  Và đây cũng chính là thảm họa của thế giới.   Sau đây tôi xin cống hiến quư độc giả vài tài liệu về “giáng sinh” trong xă hội Âu Mỹ.          

 

 

 

 giang sinh 2004

 

Người dịch:  Trần Chung Ngọc

 

 

[ Lời cáo lỗi của Giao Điểm: Do lỗi “typing”, trong đoạn văn trước đây :  Khoa di truyền học đă chứng minh như vậy, dựa trên những cặp chromosomes y, y của đàn bà và x, y của đàn ông” ; xin được sửa lại : “Khoa di truyền học đă chứng minh như vậy, dựa trên những cặp sex chromosomes khác nhau, x, x của đàn bà và x, y của đàn ông.” Thành thực cáo lỗi cùng quí độc giả. Web GĐ. ]

 

            Sau ngày Đông Chí, 21/12, là ngày Chúa Giáng sinh, 25/12.  Đến ngày Chúa Giáng Sinh mà không viết ǵ về “Giáng sinh” th́ quả thật là một thiếu sót.  Nhưng mỗi lần nghĩ đến “Chúa giáng sinh” và hậu quả của nó, từ thời Herod mà các trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi đều bị giết chỉ v́ cái “giáng sinh” này, và rồi bao nhiêu thảm cảnh của nhân loại xảy ra, thánh chiến, ṭa h́nh án xử dị giáo, săn lùng thiêu sống phù thủy, chinh phục cưỡng bách cải đạo v..v.., cũng chỉ v́ cái “giáng sinh” này, th́ đầu óc của tôi cứ như là đặc kịt lại, không thể viết lên lời nào.   Do đó, tôi đành lấy một số tài liệu cổ kim về huyền thoại giáng sinh để cống hiến quư độc giả.  Trước hết là “Một Bài Giảng Về Giáng Sinh” nổi tiếng của Robert G. Ingersoll, viết cách đây trên một thế kỷ.   Sau đến một vài nét về giáng sinh trong 2 tờ Newsweek và Time mới nhất, ngày 13 tháng 12, 2004.  Và sau cùng là một chuyện vui để tăng bầu không khí vui vẻ trong dịp Đông Chí.

 

 

MỘT BÀI GIẢNG VỀ “GIÁNG SINH”

[A CHRISTMAS SERMON]

By Robert G. Ingersoll

 

Người dịch:  Trần Chung Ngọc

 

 

Vài Lời Nói Đầu.-  Đây là bài giảng về Giáng Sinh nổi tiếng của Robert G. Ingersoll viết và đăng trên tờ Evening Telegram cách đây trên 1 thế kỷ, vào ngày 19 tháng 12, 1891.

 

            Phản ứng trước bài giảng này, Mục sư Tiến sĩ J. M. Buckley, chủ biên tờ Christian Advocate, cơ quan truyền thông của hệ phái Tin Lành Methodist, viết một bài “phê b́nh” mạ lỵ Ingersoll và kêu gọi quần chúng tẩy chay tờ Evening Telegram v́ đă đăng bài giảng như vậy về Giáng Sinh của Ingersoll.

 

            Bài phê b́nh của Buckley có nhan đề “Những Lời Nói Láo Vĩ Đại”.  Tờ Telegram chấp nhận sự đối thoại và ngay cùng ngày đó, đăng lên bài trả lời của Ingersoll.  Bài trả lời của Ingersoll đă vang ra khắp nước Mỹ.

 

            Sau đây là bài giảng về “Giáng Sinh” của Đại Tá, Luật Sư Robert G. Ingersoll và những điểm chính của ông trong bài trả lời Mục sư Buckley.

 

            Bài Giảng Về Giáng Sinh:  [A Christmas Sermon] 

 

Cái điều hay của ngày “giáng sinh” là không phải của Ki Tô Giáo – đó là ngày lễ dân gian, nghĩa là, của con người và rất tự nhiên.

 

            Ki-tô Giáo không đến với chúng ta với những Tin Mừng, mà là một thông điệp về sự đau khổ vĩnh viễn.  Nó đến với sự đe dọa trên những bờ môi của nó về những cực h́nh bất tận.

 

            Nó dạy vài điều hay – t́nh thương yêu và ưu ái trong con người.  Nhưng là một ngọn đuốc soi sáng tâm linh, một nguồn hạnh phúc của nhân loại, nó đă là một sự thất bại.  Nó đă đặt những hậu quả bất tận trên những hành động của con người, nghiền nát linh hồn của con người với một trách nhiệm quá lớn mà con người phải gánh chịu.  Nó chất đầy tương lai với sự sợ hăi và ngọn lửa thiêu đốt, và dựng lên Thượng đế của nó như là một tên cai ngục của một nhà tù vĩnh viễn, một nhà tù giam hầu hết tất cả mọi người trên thế gian.  Như vậy cũng chưa thỏa măn, nó c̣n tước bỏ quyền năng tha thứ của Thượng đế.

 

            Tuy vậy, nó cũng làm được một điều hay là mượn từ dân gian một ngày lễ cổ xưa và gọi đó là ngày lễ Giáng sinh.

 

            Trước khi Dê-su sinh ra đời rất lâu, Mặt Trời đă là nguồn sáng thắng trên sự tối tăm.  Vào khoảng thời gian mà chúng ta thường gọi là ngày giáng sinh, ngày bắt đầu dài ra.  Tổ tiên xa của chúng ta là những người thờ Mặt Trời, và họ ăn mừng sự chiến thắng của Mặt Trời trên đêm tối.   Một ngày lễ như vậy thật là đẹp đẽ và tự nhiên.  Ki-tô Giáo vơ lấy ngày lễ này, mượn từ dân gian một ngày lễ hay nhất.  [Thật ra th́ Ki-tô Giáo đă vơ lấy ngày Đông Chí theo lịch Julian tính sai là ngày 25 tháng 12 để làm ngày “giáng sinh” (sic) của Dê-su, về sau lịch Gregory mà chúng ta dùng ngay nay tính lại th́ ngày Đông chí phải là 21 tháng 12. Nhưng ngày 25 tháng 12 đă trở thành ngày lễ trong Ki-tô Giáo nên ngày nay Ki-tô Giáo vẫn tiếp tục ăn mừng “lễ Giáng Sinh” vào ngày 25 tháng 12, tuy không ai biết rơ ngày “giáng sinh” của Dê-su là ngày nào.  TCN]

 

            Tôi tin vào ngày giáng sinh cũng như bất cứ ngày nào khác mà chúng ta để ra để sống vui vẻ.  Chúng ta trong nước Mỹ làm việc quá nhiều và không đủ th́ giờ để vui chơi.   Chúng ta giống như người Anh..

 

            Ngày giáng sinh là một ngày vui để quên và tha thứ - một ngày tốt để vứt bỏ những thành kiến và sự sân hận – một ngày tốt để tỏa ánh sáng mặt trời trong tâm hồn và nhà cửa của chúng ta cũng như trong tâm hồn và nhà cửa của mọi người khác.

 

*         *

*

 

            Bài Trả Lời Mục Sư Tiến Sĩ Buckley: 

 

            Bất cứ khi nào mà một chủ biên bảo thủ Ki-tô tấn công một người không tin Chúa, chúng ta hăy cố t́m kiếm trong đó một chút tử tế, ḷng thương yêu.

 

            Người chủ biên ḥa nhă của tờ Christian Advocate kết tội tôi là đă viết ba điều sai lầm vĩ đại, và ông ta đă vạch ra những điều đó như sau: 

 

            Thứ nhất - Ki-tô Giáo không đến với chúng ta với những Tin Mừng, mà là một thông điệp về sự đau khổ vĩnh viễn.

 

            Thứ nh́ - Nó chất đầy tương lai với sự sợ hăi và ngọn lửa thiêu đốt, và dựng lên Thiên Chúa của nó như là một tên cai ngục của một nhà tù vĩnh viễn, một nhà tù giam hầu hết tất cả mọi người trên thế gian.

 

            Thứ ba - Như vậy cũng chưa thỏa măn, nó tước bỏ quyền năng tha thứ của Thượng đế. 

 

            Bây giờ, chúng ta hăy xét theo thứ tự ba điều sai lầm vĩ đại trên xem chúng có phù hợp với Tân Ước hay không – và có phải là chúng đă được giáo hội Methodist ủng hộ qua giáo lư của họ. 

 

            Tôi nhấn mạnh là Ki-tô Giáo không đến với chúng ta với những Tin Mừng, mà là một thông điệp về sự đau khổ vĩnh viễn.

 

            Theo giáo lư chính thống, Ki-tô giáo đă mang đến những “tin mừng” là nhân loại th́ hoàn toàn xấu xa đồi bại (depraved), tội lỗi, và tất cả mọi người đều ở trong t́nh trạng đă mất đi sự ân sủng của Thượng đế, và những người nào bác bỏ hay không tin vào cái tôn giáo mới này, th́ sẽ bị đau khổ trong ngọn lửa vĩnh hằng.

 

            Đó không phải là những “tin mừng”.

 

            Nếu những hành khách trên một chiếc tàu thủy lớn được bảo rằng con thuyền sắp ch́m, chỉ có vài người được cứu, và tất cả mọi người khác đều phải chết ch́m dưới đáy biển, họ có cho đó là những “tin mừng” hay không?   

 

Chúng ta thường cho rằng đấng Ki-tô tất nhiên biết rơ nhiệm vụ của ḿnh là ǵ và tới để hoàn thành nhiệm vụ đó.   Ông ta nói:

 

“Đừng tưởng rằng ta xuống đây để mang lại ḥa b́nh trên trái đất.  Ta không tới để mang lại ḥa b́nh mà là gươm giáo.  V́ ta tới để làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn (Matthew 10: 34-36).”

 

Theo sự phán xét của tôi, đây không phải là những “Tin Mừng”

 

Bây giờ đến thông điệp về sự đau khổ vĩnh viễn.  Đấng Ki-tô nói: 

 

“Rồi ta sẽ nói với những kẻ ở phía bên tay trái: “Hăy cút đi cho khuất mắt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, để đi vào ngọn lửa vĩnh hằng nhúm sẵn cho quỷ và những thiên thần của nó” [Tiếng Anh nguyên văn là, Mat. 25: 41: “Depart from me, you cursed, into the everlasting fire prepared for the devil and his angels” nhưng Kinh Thánh Tin Lành tiếng Việt đă dịch “devil and his angels” là “ma quỉ và những quỉ sứ (của) nó”.  Dịch angel là quỉ sứ chắc là để tránh một điều hiển nhiên trong Kinh Thánh là Quỷ cũng có những thiên thần làm tay sai y như Thượng đế.  TCN]

 

“Và những kẻ này sẽ bị trừng phạt vĩnh viễn, nhưng những kẻ công chính (nghĩa là những tín đồ Methodist) sẽ được sống đời đời.”

 

“Kẻ nào không tin th́ sẽ bị đày đọa vĩnh viễn.”

 

“Kẻ nào không tin Chúa Con sẽ không thấy được sự sống, nhưng sẽ phải gánh chịu sự phẫn nộ của Chúa Cha giáng lên đầu chúng.” 

 

Như chúng ta biết, rằng chỉ có một số nhỏ là những người tin (believers), rằng trong 18 thế kỷ qua, không tới 1 trên 100 người chịu chết cho đức tin, do đó hầu hết mọi người chết đều đi xuống hỏa ngục, chúng ta có thể nói không sai là: “Ki-tô Giáo đă đến với một thông điệp về sự đau khổ vĩnh viễn”. 

 

Bây giờ đến điều “sai lầm vĩ đại” thứ hai: Ki-tô Giáo chất đầy tương lai với sự sợ hăi và ngọn lửa thiêu đốt, và dựng lên Thiên Chúa của nó như là một tên cai ngục của một nhà tù vĩnh viễn, một nhà tù giam hầu hết mọi người trên thế gian. 

 

Trong Cựu Ước, không có chỗ nào nói về sự trừng phạt trong một đời sau, không có chỗ nào nói về những ngọn lửa thiêu đốt bất tận và sự đau khổ vĩnh viễn của con người dưới hỏa ngục.  Khi Jehovah giết xong một kẻ thù ông ta cảm thấy thỏa măn, sự trả thù của ông ta chấm dứt khi nạn nhân chết.  Nhưng trong Tân Ước, chúng ta được bảo rằng sự trừng phạt trong một đời sau th́ vĩnh viễn, và những làn khói của những sự đau khổ khi bị thiêu đốt th́ sẽ bốc lên măi măi.

 

Cái giáo lư độc ác này, những đoạn văn đáng sợ này, đă chất đầy tương lai với sự sợ hăi, và ngọn lửa thiêu đốt.  Căn cứ vào các đoạn trên th́ Ki-tô Giáo đă xây một nhà tù, trong đó hầu hết mọi người trên thế gian bị giam và chịu sự đau đớn, và Thượng đế là viên cai tù.  Những cánh cửa nhà tù này chỉ mở để nhận những tù nhân [và không bao giờ mở để cho người trong đó ra ngoài].

 

Giáo lư về sự trừng phạt này là sự ô nhục xấu xa của những ô nhục xấu xa [the infamy of infamies].  Như tôi thường nói, những người nào tin vào sự trừng phạt vĩnh viễn, vào công lư của sự tạo nên đau đớn vĩnh viễn, th́ bị ít nhất là hai chứng bệnh: sự trai đá của trái tim và sự thối rữa của óc [the petrifaction of the heart and putrefaction of the brain]. 

 

Vấn đề tiếp theo là, có phải Ki-tô Giáo đă tước bỏ quyền tha thứ của Thượng đế?

 

Giáo hội Methodist cũng như các giáo hội Ki-tô khác đều dạy rằng, đời sống này chỉ là một thời kỳ tạm bợ [Điều này Ingersoll viết không sai, v́ hàng ngày tín đồ Công Giáo Việt Nam thường cầu Kinh Nhựt Khóa trong đó có câu: “Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn chim muông cầm thú. xin cho tôi đặng về quê thật hiệp cùng Vua Đa-Vít” mà không hề biết rằng Vua David chỉ là một tướng cướp, một bạo chúa, hoang dâm vô độ, vô đạo đức và cuồng sát. TCN], không có cơ hội nào để sửa đổi sau khi chết, v́ Thượng đế không cho một cơ hội nào để hối lỗi trong một đời sau.

 

Đây là giáo lư về thế giới của Ki-tô Giáo.  Nếu tín lư (dogma) này đúng th́ Thượng đế sẽ không bao giờ thả một linh hồn ra khỏi hỏa ngục – không bao giờ xử dụng quyền tha thứ.

 

Thượng đế và những kẻ được cứu sẽ vui đến mức nào khi biết rằng hàng tỷ và hàng tỷ (billions and billions) con cái, cha mẹ, anh chị em, vợ chồng bị kết tội giam vào nơi tù ngục tối tăm vĩnh viễn, và không bao giờ có thể nghe thấy một lời tha thứ.  [Ingersoll viết bài này vào năm 1891, khi đó những văn phẩm đe dọa sự trừng phạt của Thượng đế c̣n tràn ngập trong Ki-tô Giáo.   Ngày nay, rất ít khi các nhà truyền giáo nói đến hỏa ngục và chính Giáo hoàng John Paul II cũng đă thú nhận là không làm ǵ có hỏa ngục dưới ḷng đất. TCN]

 

Nhưng đây chính là sự hứa hẹn trong Tân ước về nguồn hạnh phúc và sự vui sướng bất tận cho những người ĺa xa cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, bây giờ và trong một đời sau.

 

Đối với tôi, thật rơ ràng là Ki-tô Giáo không mang lại những “tin mừng” mà là mang tới một thông điệp về sự đau khổ vĩnh viễn – và nó thực sự đă chất đầy tương lai với sự đau khổ, thực sự làm cho Thượng đế thành một cai tù của một nhà tù vĩnh viễn, nơi cư trú của hầu hết mọi người, và tước bỏ quyền tha thứ của Thượng đế.  Trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy vài đoạn về ḥa b́nh và ḷng nhân từ cũng như những đoạn về chiến tranh và những sự độc ác như là những răng nanh của một con dă thú (cruel as the fangs of a wild beast).  Theo Giáo lư Ki-tô, Thượng đế có một nhà tù vĩnh viễn, trong đó có sự đau khổ vĩnh viễn, sự đau đớn cùng cực về tinh thần và vật chất (agony) vĩnh viễn. 

 

Tôi nghĩ ǵ về những lời mà Tiến sĩ Buckley nói về tờ Telegram v́ đă đăng bài giảng về Giáng sinh của tôi?

 

Chủ biên tờ Christian Advocate (Buckley) không có một ư niệm nào về sự tự do trí thức (intellectual liberty).  Ông ta phải biết rằng không nên mạ lỵ người nào chỉ v́ người đó không đồng ư với ông ta.  [Đây là đạo đức của tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô, không đủ kiến thức và lư luận để bênh vực đạo ḿnh, nên luôn luôn dùng những danh từ hạ cấp để mạ lỵ những người nói động đến đạo của họ, dù những lời này không sai sự thật]

 

Lấy quyền nào mà Tiến sĩ Buckley đă bất đồng ư kiến với Hồng Y Gibbons?, và quyền nào mà HY Gibbons đă bất đồng ư kiến với TS Buckley?  Cùng một quyền mà tôi bất đồng ư kiến với cả hai. 

 

Tôi không khuyên bất cứ ai đừng đọc những sách của Ca-tô hay của giáo hội Methodist.  Nhưng tôi bảo họ rằng hăy tự ḿnh t́m hiểu – vững niềm tin vào những điều chân thật và loại bỏ những điều sai lầm, và trên hết là hăy ǵn giữ khả năng suy tư của con người. 

 

Tiến sĩ Buckley muốn hủy diệt tờ Telegram – muốn mọi người Ki-tô đoàn kết để trừng phạt tờ Telegram – v́ tờ này đă đăng một bài mà Tiến sĩ Buckley không đồng ư, đúng ra là bài đó không đồng ư với ông ta.

 

Đă quá muộn rồi.  Ngày đó đă đi vào quá khứ của Tây phương.  Ngài Tiến sĩ thần học đă mất đi quyền lực của ḿnh.   Tiếng sấm thần học đă mất đi ánh sáng của tiếng sét – nó không c̣n ǵ nữa ngoài những tiếng ồn khó chịu, làm vui ḷng những kẻ phát ra chúng, nhưng chỉ làm tṛ cười cho những người nghe.

 

Tờ Telegram không có ǵ phải sợ.  Đó là một tờ báo theo nghĩa cao nhất – rất tỉnh thức, ra đúng giờ, tốt với bạn bè, ḥa ái với kẻ thù, và chân thật đối với quần chúng.

 

Người ta có thể gọi tôi là một con quỷ, có thể bảo là tôi không đủ khả năng để nói lên sự thật, hay là tôi nói láo, nhưng tất cả đều không chứng tỏ ǵ.  Những luận cứ của tôi không thể bị phản bác.  Lư tưởng tôi tŕnh bày (ở đây chỉ có một phần) quá vĩ đại, quá thiêng liêng, để có thể bị hoen ố bởi một nhân vật thiếu hiểu biết và xảo quyệt. 

 

Tôi biết rằng con người thường phải hành động với ánh sáng trí thức mà họ có, v́ vậy tôi xin nói: Hăy có thêm nhiều ánh sáng nữa. 

 

*         *

*

 

Thêm Vài Trích Dẫn Từ 2 Tờ Newsweek Và Time:

 

            Hai tờ báo có nhiều độc giả nhất ở Mỹ, tờ Newsweek và tờ Time, số ngày 13 tháng 12, 2004, đều có một bài dài về chuyện Dê-su sinh ra đời.  Chúng ta có thể đọc trong đó nhiều chi tiết xung quanh huyền thoại giáng sinh của Dê-su.

 

            Chúng ta có thể biết tại sao chỉ có hai Phúc Âm Matthew và Luke là viết về sự sinh ra của Dê-su và lại viết rất khác nhau, trong khi Phúc Âm viết đầu tiên là Phúc Âm Mark và Phúc Âm sau cùng, John lại không viết ǵ về sự “giáng sinh của Chúa Con” và các phần c̣n lại của Tân

ước cũng không viết ǵ về sự tích Dê-su sinh ra đời.. 

 

            Theo tờ Newsweek, trong Phúc Âm Luke thiên thần Gabriel hiện lên trước Mary và báo cho Mary là Con Ma Thánh (Holy Ghost) sẽ làm cho Mary mang thai, nhưng trong Phúc Âm Matthew th́ Joseph (hôn phu của Mary) không biết ǵ về chuyện thiên thần Gabriel hiện ra, cảm thấy nhục nhă v́ Mary có mang trước khi ăn nằm với ḿnh, nên định kín đáo bỏ Mary, nếu không nhờ có một thiên thần báo cho biết trong một giấc mộng là cái thai Mary đang mang là của con Ma Thánh (Holy Ghost).  [Ngày nay, người nào c̣n tin thiên thần hiện ra hay thiên thần báo mộng là những sự thực lịch sử th́ người đó tất nhiên có đầu óc thuộc loại oxymoron].  V́ thế trong nhiều năm sau những người Ki-tô phải đối đầu với những lời buộc tội Chúa của họ là đứa con hoang, có thể là con của Mary và một tên lính La Mă.  Ngày nay, vào đầu thế kỷ 21, một số học giả cho rằng những câu chuyện về giáng sinh chỉ là những phát minh trong thế kỷ đầu để củng cố điều khẳng định Dê-su là đấng cứu thế.

 

(In the Gospel of Matthew, Joseph, knowing nothing about Gabriel’s appearance, is humiliated by the news that his future wife is pregnant, and “was minded to put her away privily”.  In later years Christians had to contend with charges that their Lord was illegitimate, perhaps the illicit offspring of Mary and a Roman soldier.  Now, at the beginning of the 21st century, some scholars treat the Christmas narratives as first-century intentions designed to strenghthen the seemingly tenuous claim that Jesus was the Messiah). 

 

            Chuyện Dê-su là Con Thượng đế chỉ là một mưu chước quen thuộc để khuyến dụ quần chúng đă quen thuộc với Kinh Thánh Do Thái [Cựu ước] (a device familiar to the audience accustomed to the Hebrew Bible).  Huyền thoại Giáng sinh của Dê-su dập theo những huyền thoại sinh ra đời của Alexander the Great và Caesar Augustus và ngay cả của Plato và Romulus, quen thuộc với dân Hi Lạp và La Mă.  Nhưng bất kể những kết quả nghiên cứu hiện đại, người Ki-tô tin là tin, không cần biết, không cần hiểu, như Mục sư Tin Lành H. B. London phát biểu: “Tuy những người khác có thể đặt nghi vấn về giá trị lịch sử của những vấn đề như Dê-su sinh ra từ một trinh nữ, cái chết và sự sống lại của Dê-su Ki-tô, chúng tôi th́ không”

 

(Though other people may question the historical validity of the virgin birth, and the death and the resurrection of Jesus Christ, we don’t)

 

và Mục sư London thú nhận “Đức tin của chúng tôi có phần nào giống như là của trẻ con” (Our faith is somewhat childlike).  Quan điểm của London được số đông quần chúng ủng hộ (London’s view has vast public support).     [Tưởng chúng ta cũng nên biết Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được ngôi vị Giáo sư Thần Học Ca-tô [The first woman in the world to hold a chair of Catholic theology] đă viết cuốn Hăy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con (Putting Away Childish Things) trong đó bà ta đă coi tất cả những chuyện về giáng sinh của Matthew và Luke, Dê-su sinh ra từ một nữ trinh (Virgin Birth), sự xuất hiện của những thiên thần (angels), Gia phả của Dê-su (genealogies), những phép lạ Dê-su làm (Miraculous Fairy Tales), Phục sinh (Easter), Thăng thiên (Ascension), chết để chuộc tội (Redemption by Execution) đều là những chuyện trẻ con đều phải dẹp bỏ.  Nhưng đối với Tin Lành th́ tin là tin, không có thắc mắc. TCN]

 

            Nước Mỹ đa số theo Tin Lành, và v́ Tin Lành có đức tin như của trẻ con, nên một cuộc thăm ḍ ư kiến của Newsweek cho biết 82% tin Dê-su là Thượng đế hay Con Thượng đế, 79% tin vào huyền thoại Dê-su sinh ra từ một trinh nữ, và 67% cho rằng chuyện giáng sinh – từ sự hiện ra của thiên thần Gabriel đến ngôi sao ở Bethlehem (S.O.B.) – là đúng như lịch sử (historically accurate). [Lẽ dĩ nhiên những người này không hiểu thế nào là một ngôi sao và không hiểu rằng nếu không có tinh khí của đàn ông th́ Mary chỉ có thể sinh con gái, cũng như nếu Thượng đế lấy một cái xương sườn của Adam để “clone” thành ra một người khác th́ người đó chỉ có thể là Steve (đàn ông) chứ không thể là Eve. Khoa di truyền học đă chứng minh như vậy, dựa trên những cặp sex chromosomes khác nhau, x, x của đàn bà và x, y của đàn ông.  TCN] 

          

            Tờ Time cũng có những thông tin tương tự và c̣n nói rơ tên của người lính La Mă lăng nhăng với Mary là Panthera.  Riêng về chuyện S.O.B. và những Magi đi theo ngôi sao để đến chầu Chúa mới sinh th́ tờ Time đưa ra nhiều chi tiết hơn.  Theo tờ Time th́ danh từ Magi trong Phúc Âm Matthew rất mơ hồ (vague) v́ nó có thể chỉ những nhà chiêm tinh (astronomers), những nhà thông thái (wise men), hay những người làm tṛ quỷ thuật (magicians).   Nhưng lịch sử giáo hội Ca-tô nổi tiếng về ngụy tạo, nên vào thế kỷ 2, những Magi đă được đôn lên làm các Vua miền Đông (As early as the 2nd century, they were promoted to Kings (from the East)).  Con số Magi mới đầu thay đổi từ 2 đến 12, sau cùng được định là 3.  Đến thế kỷ 8, Giáo hội đặt tên cho 3 ông vua này là Melchior, Gaspar và Balthasar và có mầu da khác nhau: trắng, nâu, và đen (không có da vàng trong này).  Đến chuyện S.O.B. th́ c̣n vui hơn nữa.  Học giả Ki-tô A. N. Wilson, tác giả những cuốn Đám Tang Thượng Đế (God’s Funeral) và Dê-su: Một Cuộc Sống (Jesus: A Life) lưu ư: “Những nhà thiên văn học sẽ không bao giờ kiếm thấy S.O.B thật v́ S.O.B. là vật trong sự tưởng tượng của chúng ta” (Astronomers will never find the real star of Bethlehem because the real star of Bethlehem is a thing of our imagination).  C̣n Linh mục Raymond Brown, một học giả Ki-tô nổi tiếng, theo dơi hành tŕnh của S.O.B trong Phúc Âm Matthew và đưa ra nhận xét về cái S.O.B. như sau:  “Một thiên thể được lái như một chiếc xe, quay chiều đi tới ba điểm.  Một ngôi sao mọc lên ở phía Đông, đi sang phía Tây đến Jerusalem, rồi quay đầu xuống phía Nam tới Bethlehem, và rồi dừng trên một ngôi nhà, phải là một hiện tượng ở trên trời chưa từng thấy trong lịch sử thiên văn học.  Vậy mà (ngoài Phúc Âm Matthew) không có một sự ghi nhận nào trong thời đó.” (A celeatial body engaged in a maneuver a little like a car attempting a three-point turn.  “A star that rose in the east, appeared over Jerusalem, turned south to Bethlehem, and then came to rest over a house” would have constituted a celestial phenomenon unparalleled in astronomical history. Yet it did not receive notice in the records of the time.) 

 

Để kết luận, sau đây là vài đoạn trong bài “Tôi Muốn Ǵ Cho Ngày KờRít-Mát” của Robert Green Ingersoll viết trên tờ The Arena, Boston, Tháng 12, 1897:  

   Nếu tôi có quyền năng để tạo ra những ǵ tôi muốn cho ngày KờRít-Mát th́ tôi sẽ làm cho các Vua Chúa từ nhiệm để nhường chỗ cho người dân.  Tôi sẽ bắt các nhà quư phái tước bỏ nhăn hiệu quư tộc của ḿnh và trả lại đất đai cho người dân.  Tôi sẽ bắt Giáo hoàng phải vứt bỏ đi cái mũ ba tầng, cởi bỏ những bộ quần áo thiêng liêng, và thừa nhận rằng ông ta không phải là hành động thay Chúa  -- không phải là không thể sai lầm – mà chỉ là một người Ư b́nh thường.  Tôi sẽ buộc các hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục và mục sư phải thừa nhận rằng họ chẳng biết ǵ về thần học, chẳng biết ǵ về thiên đường và hỏa ngục, chẳng biết ǵ về số phận nhân loại, chẳng biết ǵ về ma quỷ, thiên chúa hay thiên thần.  Tôi sẽ bắt họ phải nói với những đàn chiên của họ là hăy tự ḿnh suy nghĩ,  xứng đáng với tư cách của đàn ông và đàn bà, và hăy làm tất cả để tăng hạnh phúc của con người.  Tôi sẽ làm cho các giáo sư đại học, thầy giáo ở mọi trường, kể cả các lớp học ngày chủ nhật, đồng ư là chỉ dạy những ǵ họ biết, chứ đừng dạy những thứ mà họ đoán ṃ như là những chân lư đă được chứng minh.  

WHAT I WANT FOR CHRISTMAS.

By Robert Green Ingersoll

The Arena, Boston, December 1897 

     If I had the power to produce exactly what I want for next Christmas, I would have all the kings and emperors resign and allow the people to govern themselves.

     I would have all the nobility crop their titles and give their lands back to the people. I would have the Pope throw away his tiara, take off his sacred vestments, and admit that he is not acting for God -- is not infallible -- but is just an ordinary Italian. I would have all the cardinals, archbishops, bishops, priests and clergymen admit that they know nothing about theology, nothing about hell or heaven, nothing about the destiny of the human race, nothing about devils or ghosts, gods or angels. I would have them tell all their "flocks" to think for themselves, to be manly men and womanly women, and to do all in their power to increase the sum of human happiness.

     I would have all the professors in colleges, all the teachers in schools of every kind, including those in Sunday schools, agree that they would teach only what they know, that they would not palm off guesses as demonstrated truths. 
 

HAPPY HOLIDAYS

 

 

 

 

            Lễ giáng sinh là một ngày vui mà không kể chuyện vui là một sự thiếu sót.  Câu chuyện như sau (dựa theo một cái Joke của Frank Zindler), có vui hay không tùy theo người đọc có biết thưởng thức hay không: 

 

            Có một cô gái đến kỳ khai hoa măn nguyệt đến thăm bác sĩ.  Sau khi khám, bác sĩ lấy bút để ghi vào hồ sơ và nói:

 

-           Cô cho biết tên chồng cô.

 

-           Tôi không có chồng.

 

-           Vậy tên người bạn trai cũng được.

 

-           Tôi không có bạn trai. 

 

Ông bác sĩ bèn ra kéo màn cửa sổ và cứ đứng ngó ra ngoài.  Sau một hồi lâu, cô gái sốt ruột hỏi:

 

Sao bác sĩ cứ đứng ngó ra ngoài hoài vậy, tôi c̣n phải đi về chứ.

 

Ông bác sĩ trả lời:

 

Ngày xưa, khi hiện tượng này xảy ra th́ có một ngôi sao mọc lên ở phía Đông.  Tôi không muốn bỏ qua cảnh này. 

 

MERRY CHRISTMAS TO ALL

 

Trích giaodiemonline.com

ĐDTB, ngày 15/12/06



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend