TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

CHUYẾN VỀ THĂM TỔ QUỐC - Nguyễn Mạnh Quang


CHUYẾN VỀ THĂM TỔ QUỐC 

   Nguyễn Mạnh Quang

(trích giaodiemonline.com - ĐDTB, ngày 18/12/06)

 

Lời Phi Lộ: Trước khi bạn đọc đoạn Kư Sự Chuyến Về Thăm Tổ Quốc, của giáo sư Nguyễn Manh Quang và Lư Thái Xuân (phu nhân) biên soạn. ĐDTB thân kính mời bạn đoc loạt bài chuyên đề nghiên cứu sử của GS Nguyễn Mạnh Quang trên giaodiemonline.com, mời bạn click vào, để nghiệm thức những công án lịch sử giáo sư Quang viết về hiểm họa Kytô giáo "giặc Vatican - giăc Tin Lành - giặc Mỹ DBHB" đối với Nhân loại và hiểm họa Việt gian Công giáo "giặc Khuyển Sinh Áo Đen Bản Địa" và Việt gian Tin Lành "giặc Tin Lành" Khảo cứu về lănh đạo VN - Chương 83 (Nguyễn Mạnh Quang) - VỀ CÁC YẾU TỐ LĂNH THỔ, QUỐC HIỆU VÀ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC - Nguyễn Mạnh Quang - Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội Cộng giáo La Mă (chương 84-85) - GS. Nguyễn Mạnh Quang

 

 

                          

 

Từ ngày rời khỏi quê hương sang lập nghiệp ở Hoa Kỳ, chúng tôi lúc nào cũng khắc khoải nhớ về cố quốc, chỉ mong có hoàn cảnh được về thăm lại nơi chôn nhau cẳt rốn và gặp lại những người thân thương.  Tuy là mong ước và nôn nóng như vậy, nhưng rồi cũng lần khân măi đến mùa hè năm 1999, chúng tôi mới có thể thực hiện được giấc mơ hồi hương đă ấp ủ trong gần 30 năm trời.  Sau nhiều năm sống ly hương, khi trở lại thăm quê nhà, tất nhiên là có nhiều bồi hồi và xúc động.  Đặc biệt là riêng cá nhân tôi, tính ra đă xa xóm làng có tới 44 năm rồi nếu tính từ ngày tôi di cư vào Sàigon.  Ấy là chưa tính thời gian kể từ thời điểm tôi thoát ly gia đ́nh đi làm liên lạc viên trong bộ đội  để đ̣i lại núi sông cho dân tộc.  Lúc ấy, vào cuối năm 1947, Liên Quân Pháp – Vatican tấn công vào thị xă Thái B́nh tàn phá thành phố này rồi rút đi

   Năm 1999 đó là lần đầu chúng tôi về thăm quê hương.  Cái buổi ban đầu ai mà không bỡ ngỡ ! Đă thế, vợ chồng tôi lại đem cả ba đứa con đều sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, không quen với phong thổ và khí hậu nhiệt đới, không quen với môi sinh và hoàn cảnh nghèo nàn thiếu thốn trăm bề của nước nhà vừa mới thoát ra cuộc chiến triền miên kéo dài cả ba mươi năm và bị Hoa Kỳ cấm vận (bao vây kinh tế) ṛng ră 19 năm trời. V́ thế, cả hai vợ chồng tôi phải hết sức thận trọng từ miếng ăn, miếng uống cho đến giấc ngủ do sự trái ngược về ngày và đêm gây nên.  V́ không chịu được cái nóng ở Hà Nội vào tháng Bảy dương lịch, cho nên mới đến ngày thứ tám, cả ba đứa nhỏ đều đ̣i trở lại Hoa Kỳ.  T́nh trạng này đă khiến cho chuyến về thăm tổ quốc lần đó của chúng tôi không được trọn vẹn. Chúng tôi chỉ có đủ th́ giờ đi thăm những người thân thương  rồi phải trở lại Hoa Kỳ, chứ không hề được đi thưởng ngoạn những nơi có danh lam thắng cảnh và cũng không có th́ giờ để lặn lội vào những làng bản trong các vùng nông thôn xa xôi khác để t́m hiểu dân t́nh.  V́ vậy mà chúng tôi chẳng biết ǵ về đời sống của người dân, đặc biệt là những người sống trong những nơi hẻo lánh.   Cả đến cố đô Huế là nơi được văn chương, thi, nhạc và nhiều người nhắc đến và ca ngợi mà chúng tôi cũng vẫn chưa có dịp ghé thăm.

   Cũng v́ thế mà từ đó, tôi luôn luôn có ư định rủ người bạn đời của tôi trở về quê hương một lần nữa để biết rơ đời sống của dân ta bây giờ ra sao, và đất nước ta ngày nay đă tiến bộ như thế nào ! Tôi thường tâm sự với anh Cả của tôi qua điện thoại về ước mơ này. 

   Cho măi đến cuối tháng 9/2006, chúng tôi mới có thể thực hiện được ư định này.    

   Trước khi ra phi trường Seatac vào đêm 25/9, tôi gọi điện thoại cho anh Cả ở Lào Cai biết là  chúng tôi sẽ về tới Hà Nội vào buổi sáng ngày 26/9/2006.   

   Khoảng 12 giờ trưa ngày 26/9/2006, phi cơ đáp xuống Phi Trường Nội Bài.  V́  nôn nóng  muốn gặp tôi,  anh tôi liền thu xếp về Hà Nội ngay sau khi nói chuyện với tôi.  

   Sau khi lấy được mấy cái va li hành lư, chúng tôi gọi xe taxi về thẳng khách sạn và điện thoại cho anh Cả biết là chúng tôi đă về tới khách sạn Thăng Long, nhưng dự trù là sế đến gặp người bạn cũ là anh Vũ Đ́nh Phiên ngay chiều hôm đó và ngày hôm sau sẽ đi thăm nhà văn Sơn Tùng để giao một  món quà của nguời bạn nhờ gửi.  Sau đó, chúng tôi sẽ cùng với anh Cả tôi về quê tôi thăm mồ mả tổ tiên và bà con làng xóm, rồi sẽ đi ngao du “thăm dân cho biết sự t́nh”.    

   Phiên là người bạn chí thân của tôi khi c̣n học với nhau ở tiểu học và mấy năm đầu ở bậc trung học sơ cấp (cấp II).  Chiến tranh đă làm cho chúng tôi xa nhau hơn nửa thế kỷ, tới bây giờ mới được tin nhau.  Tháng 3 năm 1955, khi tôi vào Sàig̣n lập nghiệp th́ Phiên ở lại miền Bắc tiếp tục học hết bậc trung học, lên đại học, rồi được gửi đi du học ở Nga và tốt nghiệp với bằng thạc sĩ (master) về cơ khí.  Khi về nước, Phiên được chỉ định đặc trách trong ngành cơ điện nông nghiệp và trở thành Phó Giám Đốc Trung Tâm Cơ Điện Nông Nghiệp và Ngành Nghề Nông Thôn (CAERI).  Khi chúng tôi sắp lên đường về nước, th́ nhận được thư Phiên do người con trai lớn 26 tuổi của Phiên đang du học ở Pháp chuyển đến. Phiên cho biết hiện đang cư ngụ tại Hà Nội.  Tôi rạo rực nhớ lại những đêm cùng Phiên ngủ chung giường ở một căn nhà trọ thời c̣n theo học lớp nhất tại làng Ḥe Thị, Tổng Bất Nạo, cũng gọi là Xă Đồng Tiến (Phụ Dực), và lúc học lớp Đệ Ngũ tại Trường Trung Học Nguyễn Du ở Cổ Hội (Thái Ninh) vào năm 1949

GẶP GIA Đ̀NH ANH CẢ, ĐI THĂM PHIÊN

VÀ ANH EM TRONG HỘI CHIẾU VĂN 

   Tôi vừa tắm rửa và thay quần áo xong, th́ cháu Phương (con trai lớn của anh Cả) cùng với Dũng (người tài xế) lái xe đến khách sạn Thăng Long t́m chúng tôi và cho hay đă làm chương tŕnh cho chúng tôi đi thăm tất cả những nơi mà chúng tôi muốn đi thăm. Nghe tôi có hẹn phải đi đến nhà Phiên,  Phương dùng xe hơi nhà đưa vợ chồng tôi đi.    

   Hàn huyên với Phiên chưa đầy 30 phút th́ bà xă của Phiên đă sắp bữa cơm rất thịnh soạn với gà luộc, chả cuốn, canh bí, chả lụa và nhiều món ăn khác với món bia Hà Nội.  Ngon  miệng, chúng tôi ăn khá nhiều và mềm môi uống tới hai chai bia.  Vừa ăn cơm vừa nói chuyện, chúng tôi ôn lại chuyện xa xưa.  Để tranh thủ thời giờ, tôi muợn điện thoại mời Giáo sư  Khoa đến gặp tôi ở nhà Phiên để tôi trao một số tiền do Giáo sư Trần Chung Ngọc quyên góp bạn bè ở Mỹ gửi về cấp học bổng cho các em học sinh  học giỏi và nghèo ở miền Bắc.  Gần nửa giờ sau, Giáo sư Khoa đến, nhập vào cùng uống bia và dùng cơm với chúng tôi.  Cả năm người chúng tôi  cùng cởi mở, chuyện tṛ như pháo nổ, giống như những người bạn rất thân xa nhau lâu năm mới gặp lại. Tới hơn 9 giờ, Giáo sư Khoa ra về.  Phiên và tôi tặng nhau mấy tác phẩm của chúng tôi biên soạn  trước khi gọi điện thoại cho cháu Phương hay để đến đón trở về khách sạn.   

   Vừa về tới khách sạn, chúng tôi nhận được điện thoại của anh chị Sơn Tùng chỉ đường đến nhà anh ở Phố Khâm Thiên và nhắc nhở buổi hẹn ngày mai vào 9 giờ sáng. Anh chị Sơn Tùng mời ở lại dùng bữa cơm đặc biệt có món bún ốc.   

   Ngay lúc đó, anh Cả tôi cũng đến gặp chúng tôi.  Lúc này mái đầu của anh tôi đă trắng xóa. Mới 6 năm về trước, tóc anh chỉ mới muối tiêu.  Sau những câu chuyện thăm hỏi, chúng tôi bàn đến ngày về thăm quê và chương tŕnh “đi đây đi đó” như đă dự trù.   

   Phương nói, “Cháu đă chuẩn bị một chiếc xe hơi (xe nhà của Phương) và người tài xế cho chuyến đi như ư muốn của chú thím, và cháu t́nh nguyện đi theo để làm hướng dẫn viên.”  Dự tính này của Phương quả là điều bất ngờ ngoài sức tưởng tượng đối với chúng tôi.    

   Lúc tôi từ giă miền Bắc vào Sàig̣n lập nghiệp, Phương chưa chào đời.  Phương sinh năm 1956, năm nay đă bước vào cái tuổi “tri thiên mệnh”.  

   Ngày đi cháu chửa chào đời,

   Ngày về cháu đă nên người tài danh.    

   Tôi vào miền Nam được mấy năm, anh tôi cũng đem cả gia đ́nh lên Lai Châu làm ăn, rồi chuyển về Lào Cai và định cư luôn ở thành phố này. Nguyên do v́ ở vùng này dễ làm ăn và anh tôi lại quen biết nhiều người ở đây từ khi c̣n làm lính Cụ Hồ tham dự chiến dịch tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.  Không phải chỉ riêng có anh tôi lên đây lập nghiệp mà có rất nhiều dân Thái B́nh cũng lên định cư  ở Điên Biên, Sơn La, Lai Châu và Lào Cai. Kể từ đó, gia đ́nh anh tôi chọn miền Tây Bắc này làm quê hương. V́ thế mà cả anh tôi lẫn cháu Phương và Dũng đều được coi như là các ông thổ địa  ở tất cả các miền Tây Bắc,  Việt Bắc  và Đông Bắc.  

   Tôi nói với cháu Phương, “Chuyến về thăm quê hương lần trước vào năm 1999, v́ vội vă quá, chú thím không đi Lào Cai, cho nên không gặp cháu và gia đ́nh của cháu.  Lúc đó, dân ḿnh vẫn c̣n nghèo.  Lần trở về này, chú thím hết sức vui mừng v́ thấy bây giờ dân ḿnh đă khá hơn ngày xưa rất nhiều.  Đặc biệt là lần này, may mắn cháu làm việc ở Hà Nội, lại có phương tiện xe hơi và tài xế giúp cho chú thím một chương tŕnh dài hơn mười ngày đi thăm thú nhiều nơi như thế này thật là tốn kém, tốn kém cả về tiền bạc lẫn th́ giờ.  Điều này làm cho chú thím hết sức ái ngại.”   

   Phương nói, “Cũng như chú, cháu thi vào Đại Học Sư Phạm, tốt nghiệp ra làm giáo viên cấp III.  Như chú đă biết, tiền lương của nhà giáo chỉ đủ cho cháu tiêu xài.  Cũng may mắn là từ ngày đổi mới đến nay, dân ta làm ăn dễ dàng, vợ cháu và gia đ́nh bên vợ cháu hùn hạp làm ăn buôn bán nên mới khá được như ngày nay.  Chú thím đi lâu ngày, xa xôi cả nửa ṿng trái đất, nhân lúc này sẵn có phương tiện, cháu phải tạo cơ hội cho chú thím đi đây đi đó thăm thú những nơi chú thím mong muốn để chú c̣n viết lách cho thỏa thích.” 

    Tôi c̣n đang ngần ngừ chưa nói ǵ, th́ anh Cả tôi nói, “Trước kia, cháu nó không khá như bây giờ, th́ không nói làm chi.  Bây giờ các cháu đă có phương tiện giúp cho chú thím đi đây đi đó, chú thím đừng có ngại ǵ hết!”    

   Tôi đồng ư và nói như pha tṛ, “Thôi th́, anh đă nói như vậy, th́ chúng em cũng đành phải cung kính bất như tuân lệnh.”  Chuyện văn, Anh Cả và Phương ra về, hẹn ngày mai gặp lại.    

   Tám giờ sáng hôm sau , Phương và Dũng đến chở chúng tôi tới thăm gia đ́nh nhà văn Sơn Tùng. Biết rơ chúng tôi sẽ gặp khó khăn để t́m ra địa chỉ, anh chị Sơn Tùng cho người cháu đứng ở ngoài đường Khâm Thiên, chờ sẵn để dẫn chúng tôi vào nhà.  Khi vào tới nhà, chúng tôi thấy có độ khoảng bốn năm người đang ngồi nói chuyện ở sàn nhà.  Phương chào hỏi mọi người và cáo từ ra về.  Chúng tôi xin phép anh Sơn Tùng vào pḥng trong để trao món quà của anh bạn nhờ chuyển.  Đồng thời, chúng tôi tặng riêng anh chị Sơn Tùng mấy cuốn sách do tôi biên soạn,  đă xuất bản và bán ở Hoa Kỳ.    

   Sau đó, chúng tôi ra  ngồi chung với mọi người ở ngoài pḥng khách.  Nhân danh là chủ nhà, anh Sơn Tùng đứng ra giới thiệu chúng tôi với từng người, và giải thích danh xưng Hội Chiếu Văn của nhóm. Hội Chiếu Văn có nghĩa là hội của những nhà văn ngồi cùng chiếu đàm đạo văn chương.  Tiếp theo, chúng tôi chuyển sang chuyện viết lách, chuyện lương tâm của người cầm bút.  Tất cả chúng tôi đều mới gặp nhau lần đầu mà nói chuyện cởi mở như thân nhau đă từ lâu.  Phải chăng được như vậy v́ chúng tôi có cùng chung những mối cảm xúc thắm thiết đối với quê hương và dân tộc?    

   Chuyện tṛ đến trưa mà vẫn chưa dứt.  Thấy khách vẫn tiếp tục kéo đến, và cảm thấy chuyện tṛ cũng tạm đủ, chúng tôi xin phép kiếu từ.  Anh Sơn Tùng, anh Phạm Quốc Vinh, anh Hồ Sĩ Bằng, anh Siêu Hải, anh Mai Hồng Niên và các anh bạn văn khác như c̣n bịn rịn, và nhắc nhở chúng tôi trước khi từ giă Hà Nội đi vào miền Nam thế nào cũng ghé lại một lần nữa để các anh tặng sách.  Chúng tôi hứa sẽ trở lại sau chuyến đi Tây Bắc.  

   Chiều tối ngày 27/9/2006, vợ chồng tôi dự bữa cơm của đại gia đ́nh anh Cả được tổ chức tại nhà Phương ở Khu Kim Liên (Hà Nội).  Tất cả các con và cháu của anh Cả ở Hà Nội đều hiện diện trong bữa cơm này: Anh Cả, vợ chồng tôi, Phương (con trai đầu ḷng của anh Cả), Chắt (người chị lớn của Phương), Tuấn, Huyền, Thanh (cháu nội và cháu ngoại của anh Cả), đứa con của Thanh, và Dũng nữa.  

   Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện.  Trong bữa cơm, ngoại trừ anh Cả và Chắt, tất cả đều xa lạ đối với tôi v́ khi tôi vào miền Nam lập nghiệp th́ chưa có những người cháu này.  Cũng v́ thế mà các cháu cho rằng chuyện đời tôi như là một huyền thoại.  Gần như tất cả mọi người trong bữa ăn đều đưa ra những thắc mắc về cuộc sống của tôi trong những năm đầu mới vào miền Nam và làm thế nào tôi lại có thể vượt qua những khó khăn về vật chất để theo đuổi việc học hành và thành đạt để hành nghề thày giáo rồi lại được đi du học ở Hoa Kỳ nữa.  Ngay cả người bạn đời của tôi cũng không rơ về giai đoạn này.  Nàng là người miền Nam, gặp nhau vào năm 1969 và thành hôn với tôi sau khi tôi du học ở Hoa Kỳ về, cho nên cũng mù tịt về cuộc đời tôi khi c̣n ở miền Bắc cũng như giai đoạn đầu lúc mới vào  miền Nam.    

   Để giải đáp những thắc mắc này, tôi hướng về phía anh Cả và nói, “Vấn đề này, em xin nhường lời cho anh.” Anh tôi là người hiểu rơ tất cả những chuyện của tôi khi tôi c̣n ở miền Bắc.  Cả những chuyện tôi học hành khổ cực ở miền Nam anh tôi cũng biết rơ ràng qua lời kể lại của các bà con tôi ở miền Nam.    

   Khi anh tôi vừa dứt lời th́ Cháu Phương hỏi, “Chú sinh sống ở Hoa Kỳ lâu năm, không hề liên lạc với Việt Nam, làm thế nào chú lại quen biết với các ông văn nghệ sĩ trong Hội Chiếu Văn và đặc biệt là nhà văn Sơn Tùng, một nhà văn rất nổi tiếng của Việt Nam hiện nay?”  

   Để giải đáp thắc mắc này, tôi định kể cho mọi người nghe câu chuyện giai thoại văn chương nói về chuyện nhà thơ Mai Lâm viết bài thơ Viếng Tản Đà:  

   Ôi thôi! Hỡi bác Tản Đà

   Suối vàng nay đă lánh xa cơi đời!

   Xa trông non nước ngậm ngùi…

   Tấm ḷng thương nhớ mấy lời viếng thăm.

   Nhớ ai vấn vít tơ tằm,

   Nước non bao kẻ đồng tâm hẹn ḥ…  

   Rồi được nhà thơ Tản Đà đáp lại bằng bài thơ Cười Mai Lâm.    

   Nực cười cho bác Mai Lâm,

   Thương nhau chi sớm mà lầm khóc  nhau?

   Suối vàng ai đă vội đâu?

   Mà cho ai nhớ, ai sầu hỡi ai!

   Tóc tơ vương vít c̣n dài,

   Con tằm c̣n trả nợ đời chưa xong.    

   Nhưng v́ câu chuyện đă khá dài mà đêm lại đă khuya, tôi muốn về khách sạn nghỉ để sáng hôm sau c̣n phải lên đường khởi đầu cho cuộc hành tŕnh sắp tới, nên tôi chỉ đọc có mấy câu thơ mà tôi nhớ mài mại không biết của tác giả nào, đại khái như sau:  

   Mới hay cái nợ văn chương,

   Tuy chưa biết mặt đă vương tơ ḷng,

   Tương phùng ai những ước mong.  

   Đọc xong mấy câu thơ trên đây, tôi chậm răi giải thích:  "Có ǵ đâu, trong thời buổi tin học và toàn cầu hóa như ngày nay, thế giới như thu gọn lại giống như một cộng đồng nhỏ hẹp.  Tiếng tăm của các nhà văn này do một số anh em trong nhóm Giao Điểm đă giao tiếp với họ từ trước.  Đồng thời họ cũng đă đọc một số bài viết của chú và các bạn khác.”  

   Hội Chiếu Văn gồm những nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay.  Họ nổi tiếng v́ nhiều lư do:  

   1.- Họ đều là những cựu chiến binh từng lặn lội theo cụ Hồ từ khi dân ta vùng lên tranh đấu đ̣i lại quyền làm người, đ̣i lại núi sông cho dân tộc, và đă từng tham dự chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatican từ những ngày đầu tháng 12/1953 cho đến chiều tối ngày 7/5/1954 khi toàn bộ chỉ huy của quân giặc kéo cờ trắng đầu hàng và bị bắt.     

   2.- Họ đều có những tác phẩm có giá trị gắn liền với lịch sử được rất nhiều độc giả mến chuộng.  Chẳng hạn như nhà văn Sơn Tùng với những tác phẩm Con Người Và Con Đường, Bác Ở Nơi Đây, và tác phẩm bán chạy nhất là cuốn Búp Sen Xanh, v.v…, nhà biên kịch và đạo diễn Phạm Quốc Vinh với những cuốn phim Bác Đi Chiến Dịch, Những Phút Cuối Đời Bác Hồ và Điện Biên Phủ Những Ngày Ấy, nhà văn Siêu Hải với những tác phẩm như Mảnh Trăng Tô Lịch, Ngọn Bút Trong Sương, Sông Lô, Sông Lô Xanh, Nắng Kinh Thành, Bóng Chiều Thăng Long và nhiều kư sự lịch sử như Đại Đội Sơn Pháo, Điện Biên Phủ, Đoàn Voi Thép Trong Chiến Dich Ḥa B́nh, v.v…,  nhà văn Hồ Sĩ Bằng với tác phẩm như Quỳnh Đôi Cổ Kim Sự Tích Hương Biên, và các nhà văn khác trong hội đều có những tác phẩm được rất nhiều độc giả ưa thích.    

   THĂM DÂN CHO BIẾT SỰ T̀NH  

   Sáng ngày 28/9, chúng tôi gồm năm người: Anh Cả, cháu Phương, Dũng (lái xe) và vợ chồng tôi khởi hành đi từ Hà Nội theo tuyến đường qua Phủ Lư, Nam Định (khoảng 80 cây số) vuợt Cầu Tân Đệ, dùng Quốc Lộ Số 10 (17 cây số) vào Thị Xă Thái B́nh, rồi lại tiếp tục dùng Đường Số 10 băng qua Cầu Bo, qua các huyện Tiên Hưng và Đông Quan, sang huyện Quỳnh Phụ (khoảng 27 cây số) về thăm quê nhà.  Ăn cơm trưa và nghỉ tại nhà người em út mấy giờ, xế chiều, chúng tôi lại dùng Đường Số 10 vượt qua các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lăng, An Lăo vào Kiến An, đi sang Hải Pḥng (khoảng 45 cây số), quẹo sang Đường Số 5 băng qua huyên An Dương, qua Phạm Xá, qua Thị Xă Hải Dương, qua Bần Yên Nhân, vào Hà Nội (khoảng 105 cây số).   

   Ngày hôm sau (29/9), sau khi đến thăm Viện Sử Học nói chuyện với ông Giám đốc của Viện là Tiến sĩ Nguyễn Văn Nhật và nhân vật phụ tá là Tiến sĩ Đinh Quang Hải, trao đổi ư kiến về một số vấn đề lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại, chúng tôi đi Thái Nguyên (khoảng 80 cây số) thăm người em lập nghiệp ở đây và thăm thú dân t́nh trong tỉnh này, nghỉ lại một đêm ở đây.  (Kể từ đây, v́ bận nói chuyện với mọi người trong xe cũng như với những người dân địa phương và quan sát cảnh vật, tôi không để ư độ xa của từng chặng đường, nên không nhớ rơ mỗi chặng đường dài bao nhiêu cây sơ.) 

    Ngày kế tiếp (30/9), từ Thái Nguyên, dùng Quốc Lộ 1B qua Đ́nh Cả, Vơ Nhai, Bắc Sơn, Đồng Đăng đi thăm Ải Nam Quan (nay gọi là Hữu Nghị Quan) đi tới tận cột mốc cây số 0 (0 Km).  Sau đó, chúng tôi  về ghé thăm Động Tam Thanh, Thành Nhà Mạc (ở ngay chân Núi Tô Thị), rồi dùng Quốc Lộ 1 về thăm Ải Chi Lăng và đi vào Thị Xă Bắc Giang, thăm thú phong cảnh, t́m hiểu dân t́nh và nghỉ lại một đêm.    

   Ngày kế tiếp (1/10), từ Bắc Giang,  đi Tuyên Quang vào thăm Tân Trào, thăm “Lán Nà Lửa”, nơi cụ Hồ Chí Minh đă sống và hoạt động với các nhà cách mạng khác trong mấy năm trước cái  ngày lịch sử có lệnh  “vùng lên giành lại chính quyền từ trong tay giặc”. Viếng thăm địa danh lịch sử này, ḷng tôi như bừng lên nhớ lại bài thơ Việt Bắc (không nhớ tên tác giả) mà tôi biết được khi đi làm liên lạc viên trong bộ đội, trong đó có mấy câu như sau:  

   Việt Bắc! Việt Bắc!

   Đây non cao trùng điệp,

   Đây rừng thẳm thâm u,

   Đây oai hùng vững trấn một chiến khu,

   Giang sơn cũ của đoàn quân giải phóng,

   Nơi xuất hiện cả bầu trời cao rộng!….       

   Sau khi nói chuyện với một số người dân địa phương mà hầu hết là người Tày, chúng tôi đi Yên Bái, rồi theo Đường 70 đi ngược lên Lào Cai để thăm gia đ́nh cháu Phương ở gần cửa khẩu Lào Cai. Nghỉ lại đây hai ngày hai đêm để t́m hiểu dân tỉnh ở tỉnh ven biên có cửa khẩu lớn nhất tiếp cận với Trung Quốc và đă giúp cho người dân thành phố này trở nên phồn thịnh.    

   Ngày 3/10, từ Lào Cai, chúng tôi theo Đường 40 ghé thăm Sa Pa một giờ, rồi chuyển sang Đường 32 ngược lên Cầu Sa Pa (bắc qua sông Nâm Na), lấy Đường 12 băng qua Mường Lay và Mường Cha (trong tỉnh Lai Châu) đi vào Điện Biên Phủ để thăm những chiến tích oai hùng của quân dân ta. Chiến tích này  đă làm  cho liên quân Pháp - Vatican thảm bại, khiến cho Pháp phải nghiêm chỉnh thương thuyết với chính quyền Kháng Chiến Việt Nam tại Hội Nghị Genève 1954, công nhận chủ quyền độc lập của dân ta và  rút quân về nước.  Liên Minh Pháp – Vatican tan vỡ kể từ đấy.   

   Sáng hôm sau (4/10), dùng Đường 279, chúng tôi đi qua Mường Ăng và Tuần Giáo, vượt Đèo Pha Đin (dài 32 cây số) băng qua Thuận Châu vào Sơn La thăm nhà tù Sơn La.  Có câu rằng “Trăm nghe không bằng một thấy”.  Nh́n thấy những pḥng giam tù nhân của thực dân Pháp với những chiếc cùm bằng những thanh sắt to lớn với bề ngang vào khoảng 15 đến 20 phân tây, bề dầy vào khoảng từ 4 đến 5 phân, tôi rùng ḿnh ghê sợ!    

    Năm 1950, sau khi Liên Minh Pháp – Vatican đem đại quân tấn công và chiếm đóng Vĩnh Bảo, Ninh Giang, Phụ Dực và nhiều nơi khác trong tỉnh Thái B́nh, tôi bị quân Pháp bắt giữ, rổi chuyển sang Ty Công An Kiến An của chính quyền Bảo Đại.  Ở đây, tôi bị tra tấn và thẩm vấn rồi chuyển đi làm lao nô tại Đồn Đông Tạ (Vĩnh Bảo) cùng với 49 tù nhân khác. Đồn này gồm khoảng gần 100 lính Bảo An Đoàn dưới quyền chỉ huy của tên bang tá Nguyễn Cao, có tên Cai Đen đặc trách coi tù.  Cả hai tên này đều có đeo sợi dây chuyền bằng vàng với h́nh chữ thập. Trong thời gian bị giam giữ và làm lao nô ở đây, anh em tù chúng tôi cũng bị cùm bằng những chiếc cùm giống như những chiếc cùm này, nhưng là những chiếc cùm bằng gỗ lim, (chứ không bằng sắt) và chỉ bị cùm vào ban đêm kể từ khi ăn xong cơm chiều v́ ban ngày phải đi làm lao nô cho đồn.    

   Những pḥng giam này (ở nhà tù Sơn La) nằm kế bên nhau ngăn cách với bên ngoài bằng những bức tường dày kiến cố.  Được biết rằng, ở trong những bức tường dày này, quân cướp xâm lăng Pháp - Vatican đă tra tấn, hành hạ, sát hại và giam giữ không biết bao nhiêu nhà ái quốc bằng những chiếc cùm sắt khổng lồ trên đây.  Sau tháng 3/1945, một số trong những nhà ái quốc này c̣n sống sót và khi thoát ra khỏi nhà tù, họ lại tiếp tục hiến thân cho đại cuộc cứu nước. Trong số những nhà ái quốc này, có các ông Trần Văn Giàu, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, v.v… 

     Nghỉ lại Sơn La một đêm, ngày kế tiếp (5/10), chúng tôi theo Quốc Lộ Số 6 băng qua Hót Lót, Yên Châu, Mộc Châu, vượt Đèo Pha Lư, đi qua Mai Châu, băng qua Mường Khến, quẹo vào thăm đập nước và Nhà Máy Thủy Điện Ḥa B́nh, rồi trở về Hà Nội.  Ở lại Hà Nội hai ngày hai đêm.  Một ngày (6/10) đi thăm các thắng cảnh như Chùa Một Cột, Nhà Văn Miếu, Đền Ngọc Sơn, đến chiều ghé thăm thân mẫu và gia đ́nh liệt nữ Đặng Thùy Trâm.   

    Đặng Thùy Trâm là một nữ bác sĩ đă hy sinh tại vùng Núi Ba Tơ, Đức Phổ, Quảng Ngăi vào ngày 22/6/1970 trong một trận đụng độ chỉ có một ḿnh cô đối đầu với những đợt tấn công  của hơn 100 quân lính Mỹ để mua thời gian cho thương bệnh binh trong bệnh xá dă chiến chạy thoát  

   Ngày hôm sau (7/10), trở lại thăm anh em trong Hội Chiếu Văn để tiếp nối những câu chuyện văn chương và nhận sách của anh em đă hứa cho.   

   Chiều tối ngày 8/10/2006,  giă từ gia đ́nh người anh Cả, chúng tôi lấy vé xe đi Sàig̣n của hăng du lịch Sinh Café Travel.    

   Sáng ngày 9/10, xe tới Huế,  ở lại đây một ngày một đêm để đi thăm Đồi Vọng Cảnh, Lăng Minh Mạng, Lăng Tự Đức, Lăng Khải Định, Chùa Thiên Mụ, đi thuyền rồng trên sông Hương, thăm dân t́nh Huế và vùng phụ cận.  So với khu phố cổ ở Hà Nội, Huế không xô bồ và khang trang hơn.    

   Tám giờ sáng hôm sau (10/10), chúng tôi bắt chiếc xe (của cùng hăng du lịch Sinh Café Travel) lên đường đi Hội An.  Khoảng 1 giờ chiều, xe tới nơi.  Sau khi dọn vào khách sạn Mỹ Châu, chúng tôi đi thăm thú dân t́nh ở thành phố này và vùng phụ cận.  Tám giờ tối ngày 11/10, chúng tôi đáp xe (cũng của hăng Sinh Café Travel) trực chỉ Sàig̣n và măi tới khoảng 8 giờ chiều ngày 12/10, xe mới tới nơi.  

   Sau khi dọn vào khách sạn, gọi điện thoại cho cô Thanh để yêu cầu đến gặp tại Khách Sạn Ḥa B́nh (Peace Hotel) để nhận một số tiền do Giáo sư Trần Chung Ngọc và thân hữu quyên góp cấp học bổng cho các em học sinh nghèo học giỏi ở miền Nam.      

   Ngày 13/10,  đến thăm gia đ́nh một người cháu ở Quận Tân Phú  và ở lại đến chiều tối để cùng đi nghe nhạc thính pḥng ở số 2 Đường Lê Duẩn.    

   Ngày 14/ 10, chúng tôi đi thăm gia đ́nh người anh và người em ở Long Thành đến hơn 7 giờ khuya mới trở về khách sạn.  

   Ngày 15/10, mướn xe, theo Quốc Lộ 1 đi qua Tân An, tới Ngă Ba Trung Lương quẹo về hướng Long Định, qua  Cai Lậy và Cái Bè rồi chuyển đường đi Đồng Tháp (cũ là Kiến Phong), qua Hồng Ngự về Phú Lâm (gần làng Ḥa Hảo) và Tân Châu để thăm  một vài người bà con.  Nghỉ lại Tân Châu hai đêm hai ngày.    

   Ngày 17/10,  từ Tân Châu  về Sàig̣n qua ngả Châu Đốc, đi qua Long Xuyên, băng qua Lộ Tẽ, Thốt Nốt (Phong Phú), B́nh Thuỷ đi vào Cần Thơ, ghé thăm Trung Tâm Khuyết Tật do bà Bùi Thị Hồng Nga làm giám đốc và thăm một người học tṛ cũ hiện c̣n đang dạy học tại một trường trung học ở trong thành phố này. Chiều tối hôm đó, chúng tôi mới về tới Thành Phố Hồ Chí Minh.  

   Sáng ngày 18/10,  đi Bến Cát (B́nh Dương) thăm Đại Nam Quốc Tự trong Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam do ông Hùynh Phi Dũng làm chủ.  Trên đường về Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi ghé thăm Suối Tiên.   

   Ngày 19/10, đi thăm một người bạn ở đương Lê Văn Sỹ, chiều tối cùng một gia đ́nh bà con đi xem văn nghệ Trống Đồng.   

   Ngày 20/10, sau 25 ngày và sau khi băng qua hoặc ghé thăm 56 tỉnh thành quận huyện trên ba miền đất nước, chúng tôi lên máy bay trở về Hoa Kỳ.  

   NHẬN XÉT  

   Trong phần nhận xét này, chúng tôi đặt trọng tâm vào hai mục:  

   A.- Nhận xét về Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam của ông Huỳnh Phi Dũng

   B.- Nhận xét về những tiến bộ do chính quyền đă thực hiện được.   

   A.- NHẬN XÉT VỀ TRUNG TÂM DU LỊCH ĐẠI NAM  

   Theo cô hướng dẫn viên cho biết, công tŕnh kiến trúc Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam  (gọi rắt là Trung Tâm Du Lịch Đại Nam) lớn hơn công tŕnh kiến tạo Thiên An Môn của Trung Quốc rất nhiều.  Người viết không nghĩ đến việc đem công tŕnh kiến trúc này so sánh với những công tŕnh kiến trúc ở Las Vegas (nằm trong tiểu bang Neveda ở Hoa Kỳ), v́ những người làm kế hoạch thiết lập thành phố ăn chơi lừng danh này có chủ trương gom hết các nền văn minh Âu Á vào thành phố này, và thiết kế của mỗi một trung tâm là một mô h́nh của một nền văn minh, nhưng lại không nói lên được nhiều khía cạnh văn hóa và lịch sử của nền văn minh đó.  C̣n Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam là một công tŕnh kiến trúc gồm rất nhiều cấu trúc với thiết kế biểu trưng cho những nét đặc thù của nền văn hóa cổ truyền dân tộc cũng như lịch sử Việt Nam và nói lên được rất nhiều khía cạnh khác.    

   Thành thật mà nói, theo sự hiểu biết  trong nghề dạy môn sử và đă từng đi du lịch qua Pháp, Đức, Bỉ, Ḥa Lan và Trung Quốc, chúng tôi đă được biết khá nhiều công tŕnh vĩ đại, nhưng  chưa thấy công tŕnh nào vừa vĩ đại, vừa cao siêu, vừa cao cả như công tŕnh kiến tạo Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam.    

   Vĩ đại v́ tầm vóc cũng như kích thước và những khu vực thiết kế trong dự án của trung tâm này quả thật là vừa rộng vừa lớn.  Trong khu trung tâm này có rất nhiều thiết kế ở riêng từng vị trí riêng biệt để cho du khánh đến thưởng ngoạn.  Theo cô hướng dẫn viên cho biết, khi hoàn thành và chính thức mở cửa vào năm 2010, du khách muốn thăm hết tất cả những thiết kế trong toàn bộ trung tâm th́ phải dành ra cả một tuần lễ mới có thể đi hết từ A đến Z được.  Cũng v́ thế mà ông chủ đă dự trù xây nhiều dăy khách sạn thích hợp với tất cả mọi túi tiền, để cho dân nghèo lẫn dân sang cũng đều có thể viếng thăm trung tâm này và ở lại đêm trong khách sạn.  Ngoài ra, c̣n có những gian hàng hay quán ăn, nhiều dăy tiệm bán đồ kỷ niệm và những đồ thiết dụng cho du khách.    

   Cao siêu v́ mỗi một thiết kế trong ngôi đền cũng như những thiết kế của mỗi một kiến trúc khác ở ngoài ngôi đền thờ này (cũng ở trong trung tâm) đều có mục đích diễn tả một ư nghĩa cao đẹp về văn hóa Á Đông hay lịch sử Việt Nam.  Chẳng hạn như việc sắp đặt thứ bậc trong bàn thờ tại gian chính điện, trên hết là tượng Đức Phật Tổ Như Lai (người được coi như là đại tổ giáo huấn nhân loại).  Thấp hơn một bậc là tuợng Quốc Tổ Hùng Vương, người dựng nước.  Bậc thứ ba (thấp nhất) là tượng nhà lăo thành cách mạng Hồ Chí Minh, người giữ nước v́ có công lănh đạo cuộc kháng chiến đánh đuổi Liên Minh Pháp - Vatican và Liên Minh Mỹ - Vatican để đem lại độc lập và thống nhất cho tổ quốc. Gian bên phải thờ Quốc Mẫu Âu Cơ trên đầu 54 dân tộc.  Gian trái là bàn thờ tổ của ḍng họ chủ nhân họ Huỳnh.  

   Một thí dụ khác nữa là 28 khung cửa ngăn cách phía bên trong ngôi đền với những hàng hiên ở bên ngoài đều có kích thước bằng nhau và số cánh cửa (7 hay 8) bằng nhau.  Tất cả 28 khung của này đều được khắc h́nh nổi những bức tranh của 28 câu chuyện lịch sử Việt Nam.  Khởi đầu bằng câu chuyện Hai Bà Trưng Khởi Nghĩa đánh đuổi Tô Định vào năm 40 và giữ nước được đến năm 43 th́ bị Tướng Mă Viện  đem đại binh sang đánh bại quân ta khiến cho Hai Bà phải trầm ḿnh trong ḍng sông Hát và dân ta lại rơi vào ṿng nô lệ của người Hán.  Tiếp theo là câu chuyện lịch sử nói về Bà Triệu Thị Trinh nổi lên chống chính quyền thuộc địa của nhà Đông Ngô, rồi cứ thế tiếp theo đến chuyện Vua Quang Trung đại thắng 280 ngàn quân Thanh vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, và sau cùng là câu chuyện chiến công thống nhất đất nước đem giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975.    

   V́ giới hạn của bài viết này, người viết chỉ đưa ra những ư nghĩa cao siêu trong hai thiết kế trên đây trong số hàng ngàn thiết kế trong ngôi đền này.  Ngoài ra, lại c̣n có hàng ngàn những thiết kế khác ở ngoài ngôi đền này nhưng cũng nằm trong Trung Tâm Du Lịch Đại Nam, tất cả đều mang những ư nghĩa về văn hóa lịch sử giống như trên.   

   Cao cả v́ công tŕnh vĩ đại này hoàn toàn là do ư kiến, tiền bạc và công lao của riêng gia đ́nh ông Huỳnh Phi Dũng.  Cao cả v́ mục đích của việc xây dựng công tŕnh này là để công hiến cho dân tộc và đất nước Việt Nam mà không hề có một tham vọng nào để phô trương cho cá nhân ông chủ Huỳnh Phi Dũng. Cao cả là v́ khu trung tâm này sẽ mở cửa miễn phí cho tất cả các du khách vào thăm và sẽ dùng tiền thâu nhập từ các khách sạn, các dẫy hàng ăn và các tiệm bán đồ thiết dụng cho du khách để bảo tŕ trung tâm. 

   Chúng ta biết rằng chủ đích của các triều đ́nh Ai Cập trong việc kiến tạo những chiếc kim tự tháp chỉ là nhằm để phô trương thanh thế oai phong và uy quyền của bọn bạo chúa Ai Cập mà thôi.  Chủ đích của triều đ́nh nhà Nguyễn cho xây các lăng tẩm của các ông vua Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định ở Huế cũng chẳng khác ǵ mục đích của việc xây các kim tự tháp của các tên bạo chúa Ai Cập. Tương tự như vậy, việc xây nên hàng triệu ngôi nhà thờ vĩ đại với những tháp chuông cao chót vót ở khắp nơi trên thế giới cũng chỉ có mục đích duy nhất là để phô trương thanh thế, oai phong và quyền lực của Giáo Hội La Mă.  Trong thực tế, cái lối phô trương thanh thế và quyền lực theo kiểu ngông cuồng và hợm hĩnh như vậy chẳng những đă không có ích ǵ cho ai cả, mà lại c̣n làm cho tài nguyên quốc gia bị khánh kiệt, và làm cho nhân dân dưới quyền bị cưỡng bách phải đóng góp tiền của (thuế khóa), phải đi làm lao nô phục dịch cho các công trường xây cất, khiến cho họ lâm vào t́nh trạng khốn khổ điêu linh, táng gia bại sản và không biết bao nhiêu ngàn hay triệu người đă phải bỏ mạng v́ những thứ vô bổ này.   

   Tất cả các công tŕnh kiến trúc này đều mang cái đặc tính ích kỷ với chủ trương phô trương cái oai phong và uy quyền của bọn vua chúa và của những người lănh đạo Giáo Hội La Mă.  Tất nhiên, những thứ kiến trúc to lớn đó không thể nào so sánh được với tính cách  vị tha, vĩ đại, cao siêu và cao cả của Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Và Lịch Sử Đại Nam.  Ông Huỳnh Phi Dũng chỉ mới 47 tuổi (vào năm 2006), một người suốt đời không có một chút quyền lực trong tay, đem tiền của tích lũy trong nhiều năm cần cù làm việc để tạo dựng nên công tŕnh này với mục đích duy nhất là để hiến dâng cho đất nước và dân tộc một di sản văn hóa và lịch sử.  Là người Việt Nam, chúng tôi cảm thấy vô cùng hănh diện có Trung Tâm Du Lịch Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam và hănh diện có ông Huỳnh Phi Dũng.  Cái chí, cái tâm và sự hy sinh của ông Dũng là cái chí, cái tâm và sự hy sinh của một nhà đại ái quốc và của một bậc thánh nhân.    
 

   B.- NHẬN XÉT VỀ NHỮNG TIẾN BỘ

   DO CHÍNH QUYỀN THỰC HIỆN  

   Nh́n lại toàn bộ chuyến đi, từ khi bước chân xuống phi trường Nội Bài cho đến ngày chót của cuộc hành tŕnh, trong suốt những chặng đường đi qua như đă kể trên, chúng tôi nhận thấy đất nước Việt Nam ta đă tiến bộ rất nhiều về nhiều phương diện: 

   Về phương diện Kinh tế: Chính quyền đă hoàn thành mỹ măn nhiều công tŕnh cho đất nước, góp phần vào việc nâng cao mức sống của nhân dân.  Cụ thể là:  

   1.- Đập nước trên sông Đà và nhà máy thủy điện Ḥa B́nh đă được hoàn thành vào ngày 20/12/1994. Một dự án khác tương tự như vậy cũng đă được hoàn thành tại Thác Bà nằm trên sông Chảy.  Các dự án khác tại Lai Châu, Sơn La cũng nằm trên sông Đà đang được tiến hành.  (Theo tài liệu của Công Ty Thủy Điện Ḥa B́nh). Nhờ vậy mà hiện nay (năm 2006), (1) hầu như toàn dân ta từ các vùng hẻo lánh trong các thôn bản hay lán ở các vùng thượng du, trung du, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đều có thể sử dụng điện thoải mái cho những nhu cầu căn bản.  (2) hàng năm vào mùa mưa, vùng châu thổ sông Hồng thoát khỏi được nạn nước lũ từ thượng du đổ về gây nên nạn lụt như đă xẩy ra vào đầu mùa thu năm 1945 mà người viết đă chứng kiến.  

   2.- Đường xá đă được mở rộng và trải nhựa.  Đặc biệt là những tuyến đường như Quốc Lộ Số 1A (chạy xuyên suốt từ Cửa Hữu Nghị cho đến thị xă Cà Mau), Đường Số 5 (Hải Pḥng – Hà Nội), Đường Sàig̣n - Cần Thơ – Ca Mâu đă được hoàn chỉnh gần giống như những xa lộ ở Hoa Kỳ.  Những con đường nối liền các tỉnh ở vùng trung du và thượng du mà chúng tôi đă đi qua đều được mở rộng và tráng nhựa, có nhiều quăng đường đang được tiến hành mở rộng và tu bổ cho được hoàn chỉnh hơn.  Ngay cả con đường đèo Pha Đin cũng đă được mở rộng và tráng nhựa phẳng ĺ.  Nhờ vậy mà c̣n đương từ Điện Biên Phủ đến Sơn La dài gần 200 cây số, trong đó có những đường đèo như Đèo Pha Đin dài 32 cây số khúc khuỷu, quanh co, lượn quanh sườn núi, lên dốc và xuống dốc, mà xe chúng tôi chạy chỉ mất có nửa ngày.  Từ Sơn La đi Hoà B́nh trở về Hà Nội dài hơn 300 cây số cũng chỉ mất có gần một ngày trời.  (Cũng nên biết, trước tháng 4/1975, đường từ Sàig̣n đi Rạch Giá dài 249 cây số: Xe Liên Trung chạy từ 6 giờ sáng đến 3 hay 4 giờ chiều mới tới nơi. Đường từ Sàig̣n đi Tân Châu dài 259 cây số: Xe Công Tạo chạy từ 6 giờ sáng đến hơn 4 giờ mới tới nơi.)    

   3.- Đường hầm xuyên qua đèo Hải Vân đă hoàn thành giúp cho việc giao thông và chuyển vận được mau chóng và tránh được những tai nạn chết người thường xẩy trên những khúc đường đèo này.    

   4.- Những cây cầu bắc qua sông Tân Đệ (từ Nam Định sang Thái B́nh), cầu Mỹ Thuận và nhiều cây cầu khác ở khắp nơi trên toàn quốc đă được hoàn thành.  Hiển nhiên là những cây cầu này đă giúp cho việc giao thông và chuyển vận được mau chóng.  Nhờ vậy mà kinh tế của đất nước được phát triển với nhịp độ mau hơn.  

   5.- Nông cụ đă được cơ giới hóa.  Nói chuyện với anh em nông dân ở Thái B́nh, chúng tôi được biết, ngày nay, nông dân tỉnh Thái B́nh cũng như ở các tỉnh khác trong miền đồng bằng Sông Hồng đều dùng:  

   a.- Máy cày để cày ruộng (phần lớn là thuê)

   b.- Máy bơm nước để bơm nước vào ruộng

   c.- Máy gặt và máy siết hạt (tách những hột lúa ra khỏi bông lúa)

   d.- Phân bón hóa học.  

   Nhờ vậy, người nông dân ở miền Bắc ngày nay không c̣n vất vả, cực nhọc như ngày xưa.  Cái cảnh hai sương một nắng cũng không c̣n nữa, và sản lượng lại được nâng cao. Những yếu tố này đă giúp cho người dân Bắc Bộ ngày nay sản xuất dư thừa lúa gạo,  không c̣n bị nạn đói đe dọa nữa.     

   Về phương diện cải tiến dân sinh: Cho tới nay, chính quyền cũng đă thực hiện được nhiều công tŕnh để cải tiến dân sinh.  Dưới đây là những sự kiện mà chúng tôi được chứng kiến:   

   1.- Tại các xóm, các phường, các khu hay các thôn, các xă và các huyện đều có thiết lập các Xóm Văn Hóa, Phường Văn Hóa, Thôn Văn Hóa, Xă Văn Hóa, Huyện Văn Hóa.  Nói chuyện với một người em  bà con ở Tân Châu, chúng tôi được biết là mỗi một đơn vị văn hóa như vậy đều có một uỷ ban đặc trách việc khuyến khích và hướng dẫn các hộ (gia đ́nh) thi đua hay noi gương nhau giáo dục con em sống đời đạo đức, kính trên, nhường dưới, ḥa thuận với mọi người, chịu khó học hành, siêng năng làm việc, không được chơi bời lêu lổng, không được cờ bạc, hút sách, không được tụ tập thành băng đảng phá làng phá xóm.    

   2.- Phát động phong trào khoan giếng lấy nuớc sử dụng trong việc ăn uống, giặt giũ và tắm rửa ở trong các vùng nông thôn.  Hiện nay (2006), những dự án này đă hoàn thành và ngay cả người dân ở các vùng hẻo lánh như ở Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Ḥa B́nh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phủ Lư, Thái B́nh, v.v… đều sử dụng nước máy hay nước lấy lên từ giếng nước khoan sâu xuống dưới đất.  

   3.- Phát động chiến dịch cổ động các gia đ́nh phải xây cầu tiêu có tráng gạch men và sử dụng giấy vệ sinh gần giống như các nước Âu Mỹ tân tiến.  Một người bạn gốc ở Cà Mau, hiện định cư tại Hoa Kỳ cho biết, nếu gia đ́nh nào không có khả năng làm cầu tiêu theo tiêu chuẩn như trên, chính quyền địa phương sẽ cho người đến tận nhà làm và gia đ́nh đó phải trả góp. Do đó, không lấy ǵ làm ngạc nhiên, trong chuyến đi ngót bốn tuần lễ vừa qua, đi đến đâu, chúng tôi cũng thấy nhà nhà đều có cầu tiêu với gạch tráng men và có sẵn một cuộn giấy đi cầu ở trong đó. Những vùng hẻo lánh như ở Mộc Châu (Ḥa B́nh) hay làng Ṭ ở Quỳnh Phụ (Thái B́nh) cũng đều sử dụng những cuộn giấy vệ sinh, chứ không c̣n sử dụng giấy vở học tṛ hay giấy báo như ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975.  

   4.- Trên những lộ tŕnh xuyên suốt như Tuyên Quang – Lào Cai, Hà Nội – Sàig̣n, Cần Thơ, v.v..  đều có những trạm nghỉ với những quán bán hàng và cầu tiêu công cộng để hành khách qua đường ghé lại ăn uống và “xả bầu tâm sự”, “trút hết nợ đời”.  

   5.- Nhờ đă hoàn thành được nhiều nhà máy thủy điện sản xuất điện cung cấp cho nhân dân, cho nên từ thành thị đến nông thôn, từ các lán, các bản ở các vùng rừng núi hẻo lánh trong vùng trung du và thượng du cho đến các làng thôn xa xôi ở các vùng đồng bằng Sông Hồng, Sông Mă, Sông Chu, Sông Thu Bồn, Sông Đồng Nai và Sông Cửu Long đều có điện dùng thoải mái.  

   6.- Hầu hết các gia đ́nh ở thành thị cũng như ở thôn quê hay rừng núi hẻo lánh đều có điện thoại trong nhà.  Đặc biệt là điện thoại cầm tay, người dân Việt Nam ở Việt Nam c̣n dùng nhiều hơn là người Việt Nam định cư ở Hoa Kỳ.  Gia đ́nh nào cũng sử dụng bếp gas (hơi đốt) trong việc nấu ăn.  Nhiều gia đ́nh có máy giặt trong nhà.    

   7.- Phát động phong trào làm sạch đường phố và phường khóm.  Qua những khóm, phuờng, khu, phố, xóm, làng văn hóa, nhân dân luôn luôn được khích lệ và nhắc nhở phải giữ ǵn vệ sinh chung, và phải hăng hái tham gia những chiến dịch làm đẹp phố phường.  Nhờ vậy mà đường phố và sông rạch ở Sàig̣n, Cần Thơ cũng như nhiều thành phố khác không c̣n dơ dáy như thời kỳ trước năm 1975  

   8.- Chính quyền tích cực đem hết những người mang bệnh cùi (hủi) tập trung vào một nơi riêng biệt để săn sóc cho họ.  Nhờ vậy mà tại những nơi như đường Lê Lai, Bùng Binh Sài G̣n, Lăng Ông (Bà Chỉểu), không c̣n thấy bóng một người cùi nào nữa.  

   9.- Trẻ em mồ côi lang thang đi ăn xin ở ngoài được tập trung vào các trại tập trung nuôi dưỡng cho các em ăn học và có những cán bộ chuyên nghiệp phụ trách trông coi các em.  Khi đến thăm nhà Văn Miếu ở Hà Nội vào chiều ngày 6/10/2006, người viết may mắn được nói chuyện với một cán bộ giáo dục hướng dẫn khoảng hơn 20 trẻ mồ côi từ 10 đến 13 tuổi từ Cà Mâu cũng đến thăm Nhà Văn Miếu.  

   10.- Chính quyền thẳng tay diệt trừ nạn ăn cắp và cướp giựt ở ngoài đường phố, đặc biệt là ở Sàig̣n.  Nhờ vậy mà du khách người Âu Mỹ rất thoải mái đi lang thang ở ngoài đường đến khuya mà không sợ nạn ăn cắp và cướp giật.    

   Với kinh nghiệm sống ở Sàig̣n từ năm 1955 cho đến năm 1964 và từ năm 1969 cho đến tháng 4/1975, người viết biết rơ t́nh trạng ăn cắp và cướp giật ở Sàigon hồi trước tháng 4/1975 thật là kinh khủng.  Tại sao lại như vậy?  Hồi đó, những khu phố nào có đông người qua lại mua bán thường là những nơi của những tay anh chị thi thố tài năng “mượn đỡ” và đều có một tay đầu nậu chỉ huy.  Những tay đầu nậu này đều ăn cánh chia chác với Ty Cảnh Sát địa phương và Tổng Nha Cảnh Sát.  Các nhân vật cảnh sát thứ bự có liên hệ đến vấn đề này đều là những người của các ông lớn ở trong Dinh Độc Lập hay của các ông Tướng hoặc là của các ông Linh mục có thế lực ở hậu trường sân khấu chính trị ở Sàig̣n.  Chính v́ t́nh trạng này mà nạn ăn cắp và cướp giật, đặc biệt là ăn cắp xe gắn máy ở Sàig̣n trong những năm 1954-1975 vô phương giải quyết,  không bao giờ hết được.    

   Về phưong diện giáo dục: Theo sự hiểu biết của người viết, ngay khi lên nắm chính quyền vào mùa thu năm 1945, chính  quyền Việt Minh (tiền thân của chính quyền Việt Nam hiện nay) đă đặc biệt quan tâm đến mặt trận chống giặc dốt và đă đề ra một kế sách hành động để tiến hành từng bước một: 

   Bước 1.- Thiết lập Nha B́nh Dân Học Vụ: Ngày từ khi mới lên nắm chính quyền, sau khi ban hành sắc lệnh thành lập Nha B́nh Dân Học Vụ vào ngày 8/9/1945, chính quyền Việt Minh tích cực kêu gọi nhân dân hăng hái tiếp tay mở các lớp b́nh dân học vụ để giúp đỡ cho những người mù chữ biết đọc biết viết.  Lời kêu gọi này được toàn dân vui mừng đón nhận và hăng say hưởng ứng.  Tiến-sĩ Đỗ Thi Nguyệt Quang ghi nhận sự kiện này như sau: 

    Nhiệm vụ của Nha B́nh Dân Học Vụ là quan tâm đến việc xóa nạn mù chữ, nâng cao tŕnh độ văn hóa cho thợ thuyền, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, khẳng định việc học chữ là bắt buộc và không mất tiền.  Sau khi thành lập Nha B́nh Dân Học Vụ không lâu, tháng 10/1945, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống nạn thất học, phát động trong cả nước phong trào thi đua “diệt giặc dốt”.  Với đường lối đứng đắn của Đảng, với sự chỉ đạo sát sao và cụ thể của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, cả nước đă dấy lên một phong trào xóa nạn mù chữ.  Phong trào đă được toàn dân nhiệt liệt hưởng ứng.  Người người đi học, nhà nhà đi học, đâu đâu cũng vang lên tiếng học vần.  Có thể nói, trong lịch sử, chưa bao giờ dân tộc ta lại ham học và đi học đông như thế.  Hàng triệu người tham gia học tập, kết quả là chỉ sau một năm phát động phong trào xóa nạn mù chữ, tính đến ngày 8/9/1946 cả nước đă có 74.950 lớp học b́nh dân học vụ, 95.660 giáo viên và 2.520.000 học viên biết đọc biết viết.  Đó cũng là thắng lợi bước đầu khá quan trọng của văn hóa giáo dục Việt Nam.” Viện Khoa Học Xă Hội Việt Nam, 50 Năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội, 2004), tr.  329).

    Bước 2.- Mở rộng nền giáo dục bằng chính sách cưỡng bách giáo dục lần lần từ Cấp 1 (tới năm chót bậc tiểu học) đến Cấp 2 (hết lớp 9) và Cấp 3 (hết lớp 12).  

   Bước 3.- Mở rộng các trường đại học lần lần cho đến khi các tỉnh đông dân trong các miền trên toàn lănh thổ đều có trường đại học có giá trị cả về lượng (bằng cách mở thêm nhiều phân khoa  có những ngành chuyên môn khác nhau) lẫn phẩm (bằng cách đào tạo thêm nhiều giáo sư có cấp bằng tiến sĩ, hậu tiến sĩ và khích lệ các giáo sư đi sâu vào các công tŕnh nghiên cứu trong lănh vực chuyên môn của họ). 

   Từ năm 1945 đến nay, chính quyền đă hoàn thành bước 1 và bước 2.  Bước 3 đang tiến hành và cũng đă đạt được rất nhiều thành quả.    

   Đến đây, người viết nhớ lại, vào năm 1945 đất nước ta bị cả ba thứ giặc làm cho dân ta khốn đốn.  Ba thứ giặc đó là:  

   1.- Giặc ngoại xâm là Liên Minh Pháp – Vatican. Quân giặc dă man này khinh rẻ, áp bức và bóc lột dân ta đến tận xương tận tủy.  Xin gọi thứ giặc này là “giặc bố”, “giặc mẹ”, giống như tín đồ Da-tô gọi Giáo Hội La Mă là Giáo Hội Mẹ.  Giặc bố giặc mẹ này đẻ ra hai thằng giặc con là:   

   2.- Giặc đói do chính sách bóc lột dân ta một cách hết sức dă man mà sinh ra. Thằng giặc đói này đă làm cho dân ta luôn luôn ở trong thảm cảnh cơ hàn khốn khổ, chỉ riêng mùa xuân năm Ất Dậu, nó đă sát hại dân ta tới gần hai triệu người.  

   3.- Giặc dốt do chính sách ngu dân của nhà cầm quyền gây ra. Thằng giặc dốt này có mặt ở khắp mọi nơi trên lănh thổ.  Vào năm 1945, có tới 99% dân ta mù chữ, và 1% gọi là biết chữ, nhưng cũng chỉ biết đọc biết viết và kiến thức cũng chỉ đủ làm tay sai cho quân cướp xâm lăng Pháp – Vatican mà thôi.  Cho tới năm 1945, cả tổng Tô Xuyên (quê hương của người viết) gồm tám làng với dân số trên 10 ngàn dân mà chỉ có hai trường làng, mỗi trường chỉ có một thày giáo (hương sư) với một pḥng học chứa khoảng 40 học sinh dạy chung cả ba lớp (Enfantin, Préparatoire và Élementaire).  Sách sử cho biết vào cuối thập niên 1930, dân số Việt Nam vào khoảng 23 triệu người mà chỉ có 6 trường trung học trong đó 3 trường dành riêng cho người Pháp và 1 trường đại học.  Đây là chính sách ngu dân của Liên Minh Pháp – Vatican với chủ trương ḱm hăm dân ta trong ṿng ngu dốt. Chính sách này được tiến hành song song với (1) chính sách bóc lột dân ta đến tận xương tận tuỷ và (2) chính sách áp bức, đàn áp dân ta một cách cực kỳ dă man bằng cách xây nhà tù nhiều hơn trường học. Về con số nhà tù nhiều hơn trường học, sử gia Jackeline Roussel ghi trong tác phẩm Phong Trào Tranh Đấu Giai Cấp Ở Việt Nam với nguyên văn như sau: 

    Nhà tù nhiều hơn trường học: Bọn đồ đệ của chính sách thuộc địa, lúc nào cũng luôn miệng nói mấy chữ “văn hóa” , “văn minh”.  Nghe bọn chúng nói, th́ nước Pháp phải có mặt ở Đông Dương v́ tŕnh độ ngu dốt của dân bản xứ, chưa đủ tŕnh độ để cai trị lấy ḿnh.  Theo lời lẽ bác ái cao thượng của chúng, th́ Pháp quốc chỉ chăm lo sao cho dân chúng sớm trưởng thành.  Chúng càng nói bao nhiêu th́ càng ḷi cái dối trá bây nhiêu. Ta thử xem việc học.  

    Tỉ số dưới đây, là những con số chính thức từ Phủ Toàn Quyền công bố trong những năm 1930, 1939, 1941: Những con số này cho ta thấy, năm 1930 toàn cơi Đông Dương có 4,806 ngôi trường.  Từ năm 1930 đến năm 1941 (trong 11 năm), bọn cai trị cố gắng làm thêm 850 nhà trường nữa.  Nhưng nếu số trường học đă ít như thế, số nhà tù lại gia tăng nhanh gấp bội, rất tốt đẹp: Năm 1939 có 14,450 nhà tù,.  Năm 1941, có tới 20,852 nhà tù.  Tính ra năm 1941, ta có 1 nhà trường cho 3,245 người dân, và 1 nhà tù cho gần 1,000 dân.  Tỉ số khá vinh dự cho nền văn hóa Pháp! Tất nhiên ta phải nhớ rằng trong hoàn cảnh ấy, tỉ số thất học trên toàn quốc trung b́nh là 60%, c̣n vùng thượng du th́ phải kể là 100%.  

    Điều đó chứng tỏ bọn bảo hộ không hề vội vàng lo nâng cao tŕnh độ văn hóa của dân Việt.  Hay là dân này không chịu học? Muôn ngh́n chứng cớ chứng tỏ tinh thần hiếu học của họ, nhất là chứng cớ về hội “Đông Kinh Nghĩa Thục” đă bác bỏ ngay lí lẽ trên.  Để rơ hơn, không ǵ bằng dẫn ngay lời nói của Louis Roubaud trong cuốn “Việt Nam”, có câu:  

    “Một bước mà dân bản địa trèo lên được, là một bước tụt xuống của người Âu… (hạng sau này) họ không chịu được là đôi bên có thể lên cùng một bước thang ngang nhau.  Nói trắng ra, bộ óc thực dân là như thế này: “Một người Việt được học là mất đi một tên cu-li.” Bọn thực dân có cảm tưởng làm một việc ngược với quyền lợi của chúng, nếu chúng mở mang sự học vấn cho dân bản xứ.”  

    Một nền học vấn chỉ tới trung đẳng và cao đẳng, cố nhiên là chưa mở mang ǵ.  Trong xứ 23 triệu dân chỉ có 6 trường trung học (trong đố 3 trường dành riêng cho người Pháp), và chỉ có một trường đại học. Một minh họa cho thấy sự thứ yếu của học vấn: Nha Học Chính Sàig̣n trông tồi tàn như một cái chuồng ngựa, đứng bên cạnh dẫy nhà nguy nga, là nơi chế thuốc phiện.  

    Điều khó khăn nhất mà thanh niên hiếu học Việt Nam gặp phải là con ma nghèo.  Ở Trung Bộ chẳng hạn, trẻ nhỏ tập viết, phải dùng que vẽ trên cát, hay chấm nước viết trên tấm gỗ, v́ giấy, bút và mực đắt quá.  Trong một xứ mà, năm 1937, 90% dân kiếm b́nh quân 80 quan mỗi tháng, sách vở th́ cũng đồng giá – hay có khi c̣n đắt hơn bên Pháp – th́ một cuốn sách giá 30 quan, một cuốn (sách ở bậc học) trung đẳng giá 70 quan (hay có khi là 100, hay 150 quan).  Dân nghèo làm sao mua nổi?  

    Việc thi hạch lại rào đón kỹ càng để hạn chế bớt học tṛ được lên trung đẳng.  Thi cấp bằng tiểu học Đông Dương – cũng như các thuộc địa khác – khó khăn, chặt chẽ hơn cả ở chính quốc.  Một điều cũng nói thêm, là mỗi năm, học tṛ được cấp học bổng du học cực kỳ ít ỏi.” (Jackeline Roussel, Phong Trào Tranh Đấu Giai Cấp Ở Việt Nam, do Hà Cương Nghị va Đỗ Văn Bái chuyển dịch).  Tài liệu này do bạn Vũ Huy Quang ở San Jose gửi tặng người viết.    

   Như đă tŕnh bày ở trên, thằng giặc dốt này và thằng giặc đói đều là con đẻ của Liên Minh Pháp Vatican ở Đông Dương. Cả hai thằng giặc con khốn nạn này cũng đă và sẽ xuất hiện ở bất kỳ nơi nào có thằng giặc bố Vatican liên kết với bất kỳ cường quyền hay bất kỳ đế quốc nào nắm quyền chính trị không chế nhân dân. Sự kiện này được sách sử ghi lại với nguyên văn như sau:       

    "Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rơ ràng. Nước Anh Tin Lành đă trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một  trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Ḥa Lan Tin Lành đă khởi  tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang danh xưng đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ư Đại Lợi sẽ thấy  sự tương phản về kinh tế, mức sống và tŕnh đồ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào t́nh trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu (theo chế độ Giáo Hoàng - NMQ). Chủ nghĩa tư bản cổ điển đă lỗi thời đă bị các quốc gia theo đạo Tin Lành từ bỏ để làm lợi cho đất nước.   

    Các chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Ṭa Thánh La Mă và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành."   

    (Nguyên văn: "The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England  had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic well-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibited down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it.  

    The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference between them and their Protestant counterparts." Malachi Martin, Rich Church Poor Church      (New York: G.P. Putnam's Sons, 1984), pp 155-156.   

   Chính v́ vậy mà chúng ta thấy các quốc gia Châu Mỹ La-tinh,  Phi Luật Tân, Marocco, Tunisia, Algeria, Rwanda, Congo, Madagascar, East Timor, Croatia, v.v… là những nơi mà thằng giặc bố Vatican đă liên kết với các đế quốc thực dân xâm lược Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Pháp và Đức Quốc Xă nắm quyền thống trị một thời, tất cả đều rơi vào t́nh trạng chậm tiến,  đói nghèo và giặc dốt hoành hành c̣n tệ hơn cả ở Việt Nam trong những năm 1884-1945. Sự kiện này chứng tỏ rằng ở đâu có thằng giặc bố Vatican hiện diện (quyền lực Vatican vươn tới), th́ ở đó hai thằng giặc đói và giặc dốt cũng xuất hiện và gắn bó với nhau như bóng với h́nh.  Căn cứ vào những sự kiện này, chúng ta có thể kết luận:   

    Chỉ cần tống cổ thằng giặc bố Vatican ra khỏi đất nước và có một chính sách giáo dục giải hoặc hữu hiệu để giúp cho nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa nh́n ra bộ mặt thật ghê tởm của cái thế lực mà văn hào Voltaire gọi là “cái tôn giáo ác ôn”, giống như nhân dân các nước Tây Âu đă làm  từ khi Cách Mạng Pháp 1789, là  dân ta có thể giải thoát được luôn cả hai thằng giặc dốt và giặc đói.”   

   Ngày nay, ở Việt Nam ta, cả ba thứ giặc khốn nạn này đều đă bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng coi chừng! Thằng giặc bố Vatican  vẫn c̣n đang cố gắng sử dụng nhóm thiểu số tín đồ Da-tô bản địa để trở lại Việt Nam! 

   Về phương diện chính trị.- Đi đến đâu, chúng tối cũng theo dơi báo chí, tiếp xúc và nói chuyện với nhiều người dân địa phương.  Nói chuyện với người dân ở bất cứ nơi nào, chúng tôi cũng đều thấy họ phát biểu rất tự do về thực trạng xă hội ngày nay.  Họ nói chuyện rất cởi mở và rất thoái mái.  Họ hồ hởi và sung sướng nói về những công tŕnh tốt đẹp mà chính quyền đă theo đuổi và đă thực hiện được.  Đồng thời, họ cũng không ngần ngại nói ra những nỗi bức xúc về những tiêu cực đă và đang xẩy ra mà không có một chút e dè sợ sệt ǵ cả.  Họ công khai nói ra những sai lầm của Đảng và Nhà Nước trong việc b́nh nghị các thành phần địa chủ và những cái quá đáng của những cán bộ phụ trách trong các đợt cải cách ruộng đất hồi thập niên 1950. Họ cũng công khai nói lên những bức xúc về những vụ tham nhũng mà chính Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp đă nói rơ:  

    Tuy nhiên, điều mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân quan tâm và lo ngại là bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, tiêu cực, quan liêu tham nhũng, lăng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng, đang làm giảm uy tín và sức mạnh lănh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng.  V́ vậy toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đồng tâm, nhất trí, t́m ra nguyên nhân yếu kém và biện pháp có hiệu lực, thực hiện bằng được nghị quyết về xây dựng chỉnh đốn Đảng, chống quan liêu, tham nhũng, lăng phí, tiêu cực, làm cho đội ngũ đảng viên thật sự hết ḷng v́ nước, v́ dân, tiếp tục nêu cao vai tṛ tiên phong gương mẫu trong nhiệm vụ cách mạng mới, như đă từng tiên phong gương mẫu trong chiến đấu.  Đây cũng là nhân tố quyết định đưa sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ Quốc tiến lên đúng định hướng xă hội chủ nghĩa.” Viện Khoa Học Xă Hội Việt Nam, 50 Năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xă Hội, 2004), tr.  23-24.  

   Cũng nên biết rằng, trong bất kỳ quốc gia nào và trong bất chế độ chính trị nào, người dân  luôn luôn có những bức xúc.  Bức xúc có thể phát sinh ra do chính sách sai lầm của chính quyền, hoặc là do những người lănh đạo hay các nhân viên các cấp trong chính quyền lạm dụng quyền hành, ức hiếp nhân dân để phô trương quyền uy hay để mưu đồ tư lợi.  Bức xúc cũng có thể phát sinh bởi các nhà lănh đạo hay các nhân vật có thế lực trong chính quyền lừa dối nhân dân.   

   Người Hoa Kỳ thường có những bức xúc về những lời hứa cuội của những người đắc cử vào các cơ quan hành pháp và lập pháp, cho nên họ thuờng nêu đích danh những người này để châm biếm và chế diễu mà không hề sợ bị trừng phạt hay bị trả thù.  Họ bức xúc về việc Tổng Thống Bill Clinton có chuyện t́nh lẩm cẩm với cô gái trẻ đẹp Monica Lewinsky ở trong Ṭa Bạch Ốc, rồi họ công khai viết báo tố cáo, đ̣i truy tố và xử tội (impeach) ông mà không sợ bị trả thù, không sợ bị trừng phạt và cũng không sợ bị mật vụ theo dơi.  Họ bức xúc về chuyện bà Maria được phong lên là Đức Mẹ Đồng Trinh mà trong thực tế bà ta đă có chồng (có thế là đă làm t́nh ít nhất là với hai người đàn ông), đă sinh ra 5 người con trai và ít nhất là hai người con gái, cho nên họ đă viết rơ chuyện này đưa vào sách sử để tố cáo Giáo Hội La Mă đă nói láo để mê hoặc và lừa bịp người đời hầu thủ lợi.  Dưới đây là đoạn văn sử mà họ viết để phơi bày việc làm lưu manh này của Giáo Hội La Mă:  

    “Bốn người anh em và nhiều chị em gái của ông Jesus đều được nói đến ở trong kinh sách của ông Mark 6.  (Không có căn bản nào trong bản văn này nói rằng những người anh chị em này là những người cùng cha khác mẹ hay là anh em con chú con bác đối với ông Jesus, và làm như vậy là phản lại động cơ giáo điều chủ nghĩa.) Tất cả các danh tính bà con của ông Jesus chứng tỏ rơ ràng cái tính chất thuần túy Do Thái của gia đ́nh ông ta. Tên mẹ của ông Jesus là Mary (Miriam) , tên bố ông ta là Joseph, và tên các người em của ông ta là James (Jacob), Judas và Simon (tên của những của những ông già đáng kính trong Cựu Ước) ”.   ["Four of Jesus' brothers and several sisters are mentioned in Mark 6.  (There is no basis in the text for making them into half brothers and half sisters or cousins, and to do so betrays a dogmatic motive.) All his relatives' names testify the purely Jewish character of the family: his mother's name was Mary (miriam), his father's, Joseph, and his brothers', James (Jacob), Judas, and Simon (names of Old Testament patriarchs)" Encyclopedia Britannica, Vol.  10, Ed.  1980, page 149.  

   Người dân Hoa Kỳ bức xúc về chuyện các ông giám mục và linh mục trong Giáo Hội La Mă có những hành động loạn dâm sờ mó và hảm hiếp hoặc sách nhiểu t́nh dục con nít và với  nữ tín đồ, cho nên họ mới viết những bản cáo trạng đưa ra trước ánh sáng công luận và công lư để đ̣i lại công đạo cho nạn nhân của băng đảng lưu manh buôn thần bán thánh  núp bóng tôn giáo này.    

   Người dân Hoa Kỳ được quyền nói lên những bức xúc như vậy mà không sợ bị trả thù, không sợ bị mật vụ theo dơi, không sợ bị lên án là chống Chúa, chống đạo Ki-tô,  mà chỉ là chống lại những hành vi bỉ ổi khốn nạn của  Giáo Hội La Mă và “bọn quạ đen” mà thôi.  Cũng v́ thế mà ta gọi chế độ chính trị của nước Hoa Kỳ là chế độ tự do dân chủ.  

   Chính quyền nào để cho người dân được quyền nói lên những nỗi bức xúc của họ mà không sợ bị trả thù, không sợ bị trừng phạt, không sợ bị khủng bố và không sợ bị mật vụ theo dơi, th́ chế độ đó được gọi là chế độ dân chủ tự do, tức là tôn trọng quyền tự do ngôn luận của người dân. Xin tạm gọi luận cứ trên đây là một quy luật. Theo quy luật này th́ chính quyền Việt Nam hiên nay là chính quyền biết tôn trọng quyền tự do ngôn luận của người dân, tức là một chế độ tự do dân chủ.  Như đă tŕnh bày ở trên, nhân dân Việt Nam hiên nay đă được hưởng những quyền tự do quư báu này trong đó có quyền hành xử tự do tôn giáo.  Bằng chứng là trong tháng 11/2006 vừa qua, chính quyền Hoa Kỳ đă lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách những quốc gia cần phải được quan tâm (CPC = Countries Particularly Concerned).  Nói cho rơ hơn, Việt Nam không c̣n là một quốc gia phải quan tâm về chuyện không có tự do tôn giáo nữa.  Sự kiện này được ông Minh Mẫn ghi nhận trong bài viết “Từ Bill Clinton đến G.  Bush” đề ngày 23/11/2006, đăng trên www.giaodiemonline.com tháng 11/2006, trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:   

    Đây không phải là một sơ suất, v́ cố vấn ngoại giao không thể không biết điều đó, cho thấy rằng Phật Giáo không phải là điều Mỹ bận tâm mà lâu nay các nhà sư cứ nghĩ Mỹ sẽ nâng đỡ Phật Gíao bằng những áp lực tự do Tôn Giáo, Nhân Quyền mà Mỹ đă dùng CPC như một áp lực để mặc cả với Việt Nam, thế là Việt Nam đă thắng khi tạo cho Mỹ vượt qua lá bùa CPC để chú hướng tới quyền lợi kinh tế cho Mỹ hơn là những mong mỏi khác của các tổ chức tôn giáo.  Mỹ giúp Việt Nam gia nhập WTO, tháo gỡ PNTR cũng không quan trọng bằng CPC, khi Mỹ tuyên bố gỡ bỏ lá bùa hộ mạng CPC của các tổ chức tôn giáo hải ngoại cũng là lúc Mỹ công khai tạt vào mặt các thành phần chống đối, bảo rằng quyền lợi của Mỹ quan trọng hơn yêu sách của những kẻ ăn nhờ ở đậu trên đất Mỹ; Tất cả vỡ mộng đau thương.”  

   Những sự kiện trên đây cho thấy rơ người dân Việt Nam ngày nay đă được quyền tự do công khai nói lên những bức xúc về những việc làm sai lầm của chính quyền.  Theo kinh nghiệm của người viết, điều này không hề xẩy ra ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.    

   Cũng nên biết rằng tự do tôn giáo không có nghĩa là để cho “bọn quạ đen” tự do lợi dụng nhà thờ hay bàn thờ Chúa làm nơi tụ tập  giáo dân để đoàn ngũ hóa họ thành những tổ chức như Đoàn Thanh Thiếu Niên Thánh Thể, Hội Nghĩa Binh, Hội Con Đức Mẹ, Công Giáo Tiến Hành, Đạo Binh Xanh, Hội Các Bà Mẹ Công Giáo, Hội Các Bà Ḍng Ba, Hội Thánh Giuse Lao Công, Ca Đoàn Trầm Mặc, v.v… rồi khuyến khích và xúi giục họ nổi loạn chống lại chính quyền, tạo cơ hội cho Ṭa Thánh Vatican kiếm cớ để vận động ngoại cường  đánh phá Việt Nam như Giáo Hội đă từng làm trong thế kỷ 19 và trong thời Kháng Chiến 1945-1954. Làm như vậy là phạm tội “phản quốc”, một trọng tội đối với dân tộc, đối với lịch sử, và sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.    

   KẾT LUẬN  

   Trong chuyến về thăm tổ quốc Việt Nam lần này, chúng tôi nhận thấy: Kinh tế và giáo dục được mở mang và đang được phát triển rất mạnh, y tế công cộng được cải thiện rất nhiều, tệ đoan xă hội được diệt trừ triệt để, mức sống của người dân đă được nâng cao, cao hơn ở miền Nam trước năm 1975. (Xin đừng đem mức sống của người dân ngày nay so sánh với mức sống phong lưu của những gia đ́nh của các ông sĩ quan trong quân đội, các viên chức trong chính quyền, những người làm sở Mỹ, đặc biệt là những tín đồ Da-tô (dựa thế các ông cha) và những người dựa thế các ông lớn trong chính quyền  để làm giầu v́ chiến tranh trong thời 1954-1975.)    

   Đi đến đâu chúng tôi cũng thấy đường xá trong các thành phố và những khúc sông có cầu bắc qua đều được giữ ǵn sạch sẽ.  Điển h́nh là mấy khúc sông nằm dưới Cầu Lê Văn Sỹ (Cầu Trương Minh Giảng cũ), dưới Cầu Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lư cũ), Cầu Đa Kao (Hai Bà Trưng – Phan Đ́nh Phùng (Vơ Di Nguy cũ).  Những chiếc cầu tiêu công cộng ở Sàig̣n không c̣n phóng ra cái mùi vị kinh khủng như ngày xưa nữa.  Cũng không c̣n cái nạn cùi hủi và ăn mày tràn ngập đầy đường như cái thời trước ngày 30/4/1975.  Đặc biệt là nạn ăn cắp, ăn cướp đường gần như bị diệt trừ tận gốc.  Ai đă từng sống ở Sàig̣n vào những ngày tháng trước ngày 30/4/1975 và bây giờ trở lại đây, th́ sẽ thấy rơ thành phố Sàig̣n ngày nay hoàn toàn khác với thành phố Sàig̣n của cái thời 1954-1975. Thời đó, Sàig̣n được mệnh danh là “Ḥn ngọc Viễn Đông” mà cùi hủi và ăn mày tràn ngập ngoài các đường phố.  Đặc biệt là nạn ăn cắp, ăn cướp giựt nhởn nhơ lộng hành, y hệt như ở Kinh Thành Rome nơi có Toà Thánh Vatican ngự trị.    

   Trên đây là những tiến bộ mà chúng tôi được nghe, được thấy, được chứng hiện nay tại quê nhà.  Có thể có nhiều tiến bộ khác nữa mà người viết không có cơ hội được biết đến.  

   Được chứng kiến những tiến bộ này, nếu không bị điều kiện hóa bởi chính sách ngu dân và nhồi sọ của Giáo Hội La Mă thành những hạng người “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” (câu nói thời danh của Linh Mục Hoàng Qùynh), nếu không bị ḷng hận thù v́ đă mất đi cái quyền ăn trên ngồi trốc, hét ra lửa mửa ra khói, làm oai làm phách, hống hách ngang tàng, đè đầu cới cổ nhân dân, hoặc là nếu không v́ đă mất đi cái danh hăo ông này bà nọ (trường hợp mấy ông trưởng giả học làm sang) của cái thời trước ngày 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam, và nếu không ôm cái mộng được Mỹ bồng về Việt Nam cho cầm quyền như ông Ngô Đ́nh Diệm của ngày xưa, th́ tất nhiên là không có người nào lại không mừng cho nước ta đă tiến bộ và đời sống dân ta đă được cải thiện.  Đặc biệt là dân ta không c̣n phải khổ công theo đuổi các cuộc chiến chống giặc xâm lăng, chống giặc đói và chống giặc dốt như cái thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây” và “Hai mươi năm chinh chiến từng ngày”.    

   Không ai chối căi được rằng những tiến bộ này đă làm cho tất cả toàn thể 54 dân tộc Việt phấn khởi và hết sức vui mừng: “Mừng lúa chín, mừng anh em, mừng đất nước qua rồi đêm đen…” (Phạm Thế Mỹ, Rạng Đông Trên Quê Hương Việt Nam).  Trên khắp nẻo đường đất nước, đi đến đâu, chúng tôi cũng cảm thấy như văng vẳng bên tai những lời ca vui mừng hồ hởi này. .  

   Hy vọng rằng  chúng ta không phải  chỉ “mừng cho đất nước qua rồi đêm đen…” mà  c̣n mong mỏi được mừng cái mừng khi dân ta tiến lên sánh vai ngang hàng cùng với những con rồng Á Châu: Đài Loan, Singapore, Nam Hàn và Nhật Bản. Mong lắm thay!     

   Nguyễn Mạnh Quang

   Tháng 11/2006

 

Đài kỷ niệm đèo Pha Đin

Cây đào Tô Hiệu ở nhà tù Sơn La

Chùa Thiên Mụ ở Huế vừa được phục chế

Đền thờ Khổng Tử ở Hội An

Một Trung tâm khuyết tật ở Cần Thơ

Đại Nam Quốc Tự trong Trung tâm VHLS Đại Nam
ở B́nh Dương



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend