TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TÂM THƯ GỬI TRANG CHỦ “AMY TAN” NGUYỄN VĂN HÓA


TÂM THƯ GỬI TRANG CHỦ “AMY TAN” NGUYỄN VĂN HÓA

 

TÂM ĐẠT TRẦN THÔNG

 

 

    Trên hai năm, Tâm Đạt Trần Thông không có muốn liên lạc Email và điện đàm với “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, cho đến khi biết “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa bị anh em Giao Điểm khai trừ và chấm dứt nhiệm vụ “Người tài xế t́nh nguyện” của trang web Giao Điểm vào tháng 6 năm 2006.

 

    Nhưng “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, vẫn cưỡng chiếm và sống bám vào danh xưng domain name giaodiem cho đời ḿnh. Thật vậy, danh xưng của sách báo và web Giao ĐiểmChuyển Luân, đă được những học giả, nhà nghiên cứu, sử gia và những người Việt thao thức đối với tổ quốc và dân tộc, kể cả bè lũ Mỹ con=thằng bồi=con ở=Việt gian Petrús Key Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Giang, Đinh Quang Anh Tháicác đài Việt gian ăn phân NED DBHB ( VOA, BBC, RFI, RFA…) và các đài, báo chí, Internet…của Mafia Việt gian Công giáo Chống Cộng Cho Chúa, CCBK,CCCB, CC JESUSMA, CCQA, CCQA (ĐDTB)…trong nước và các quốc gia trên thế giới có người Việt định cư, có máy vi tính đều truy cập 2 mạng lưới này. Không những thế, nhà nước Việt Nam từ hơn mấy chục năm nay rất cảm phục và  thank you quư anh em trí thức ở Mỹ và Úc có tấm ḷng yêu nước như những dân quân kháng chiến cách mạng Việt Minh đánh cho Mỹ cút - Ngụy nhào, dũng mănh can đảm phi thường là khai thị lịch sử cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta do uncle Hồ Chí Minh lănh đạo, trước đàn Chó Sói Việt gian Công giáo La Mă, là một tổ chức chính trị phản động nghĩa là không coi đó là một tôn giáo (Trần Bạch Đằng), hy sinh quá lớn về tài chánh và tâm huyết trí tuệ, phát hành sách báo và web Giao Điểm và Chuyển Luân, cung cấp những tài liệu lịch sử quư giá vô cùng, mà trước đây những nhà nghiên cứu, sử gia…miền Bắc và trung tâm lưu trữ Quốc gia Hà Nội không có (thư giáo sư Hoàng Tuệ gửi cho TĐ), mà những tài liệu này, cống hiến cho nhà nước một phần nào định hướng chính sách điều hành quốc gia đối với tệ nạn tiêu cực cán bộ nhà nước và đảng, đối sách Mỹ DBHB và hiểm họa Thiên Chúa Giáo La Mă, bằng chứng bài của Trần Văn Anh, bài Liên Minh Thánh của cụ Trần Văn Kha, mỗi khi phái bộ đặc nhiệm Mafia La Mă quỳ gối nhà nước ta, xin cho Vatican được (âm mưu) bang giao với Việt Nam, đă trao cho họ đọc một vài lần bản copy của TVA và TVK, trong lúc đang trao đổi luận bàn thương thảo. Nhất là toàn bộ những sách báo và bài viết giáo sư Trần Chung Ngọc, Hoàng Nguyên Nhuận và anh em Giao Điểm và Chuyển Luân, cũng được lưu trữ trong đại thư viện Ban Tư Tưởng Văn Hóa Đảng (BCT), các bộ Quốc pḥng, Công an, Giáo dục và Khoa học Chính trị…và hàng ngàn đảng viên hưu trí tâm huyết trung kiên với đảng đều có trọn bộ sách báo GĐ in tại Mỹ và Việt Nam.     

 

    Qua những lời tuy hơi dài, nhưng để minh chứng rằng “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, phải cưỡng chiếm và sống bám danh xưng Giao Điểm là điều đương nhiên. Và cũng cho chúng ta thấy bản chất “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, không có bản lĩnh tự tin ở ḿnh, tự thành lập trang web www.a,b.c.d,com …hay www.amytan.us, không cần phải cưỡng chiếm danh xưng Giao Điểm.

 

    Theo Tâm Đạt “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa “đừng sợ” sẽ không có nhiều người đọc và truy cập, “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, có thể bị Alzheimer’s, anh là “Người tài xế t́nh nguyện” của trang web Giao Điểm, đă được hàng ngàn độc giả toàn cầu truy cập những bài viết tham luận - nghiên cứu - dịch thuật - phiếm luận….bút hiệu Thường Đức - Nguyễn Hạnh Hoài Vy - Tinh Đẩu- Hoài Vy…có thể sánh cùng tri thức với giáo sư Trần Trung Ngọc, Hoàng Nguyên Nhuận, Đỗ Hữu Tài, Bùi Kha, Hồng Quang….thế sao anh Hóa vẫn cưỡng chiếm và bám chặt domain GĐ, sao dzậy “Amy Tan “ Hóa? 

 

    Tâm Đạt, nhớ lại những ǵ từ ngày có trang web Giao Điểm từ năm 2001 cho đến tháng 6/2007, đă có những lần Tâm Đạt, phản đối “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, posted lên nhiều bài không đúng với đường hướng chủ trương anh em Giao Điểm và có thể gọi là phản động chui sâu trong tổ chức Giao Điểm (Tâm Đạt chỉ là cảm t́nh viên của Giao Điểm), từ đó TĐ, không muốn góp ư giám sát những bài posted của “Amy Tan” Hóa, để tổ chức Giao Điểm, phải giám sát “Amy Tan” đi đúng đường hướng và chủ trương GĐ. Tuy thế, trước một năm “Amy Tan” bị băi nhiệm “Người tài xế t́nh nguyện” của trang web Giao Điểm đă điện đàm và yêu cầu TĐ làm giám sát cho “Amy Tan” và luôn luôn tỏ ḷng trọng kính gs Trần Chung Ngọc… nhân cách của một người đáng trọng kính… quan trọng hơn, sự hy sinh này xuất phát từ tinh thần “Đại Giác” do mức tu hạnh nào đó của một người phật tử tri hành…Sự hy sinh ấy cần phải nói rơ thêm nhờ vào sự lao tác của sáng tạo, của trí tuệ…qua những bài viết “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa đă từng bày tỏ lập trường quyết liệt đối với Thiên Chúa Giáo La Mă và tâm chất bái kính giáo sư Trần Chung Ngọc như thế nào?, được trích dẫn dưới đây, và nhiều lần điện đàm “Amy Tan” đều bái kính sự hy sinh Bồ Tát Trần Chung Ngọc và không thích làm việc chung với dân Huế và Trung Kỳ.

 

    Tâm Đạt c̣n nhớ, ngày họp Giao Điểm tại nhà “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, luôn tiện TĐ muốn nh́n thấy chân tướng “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, mà TĐ đă hoài nghi “Amy Tan” chui sâu và phá nát tổ chức GĐ, cho nên đă posted trên mạng GĐ những bài viết phản đông đánh phá Phật giáo để chạy tội Việt gian phản quốc tổ chức chính trị Việt gian Công giáo theo thực dân đế quốc Pháp-Vatican-Mỹ xâm lăng và đô hộ Việt Nam trên 100 năm, và đề nghị “Amy Tan” chuyển giao web GĐ cho tổ chức GĐ, là “Amy Tan” Hóa trao passwood, có thế anh Hóa được hưu trí, v́ quá mệt mỏi và không c̣n sáng suốt để đảm nhận chức trang chủ GĐ, tuy nói thế, anh Hóa lại ngụy ngôn rằng phải có kiến thức và tŕnh độ kỷ thuật computer (sic),v́ thế “Amy Tan” Hóa, lại phải tiếp tục hy sinh (bám chặt) đảm nhận vai tṛ “Người tài xế t́nh nguyện” mà thôi (sic). Trong thời gian TĐ ở nhà “Amy Tan” vài ngày, cho dù “Amy Tan” làm đặc nhiệm chui sâu trong GĐ, nhưng trong tiềm thức và máu anh Hóa một ḷng bái kính giáo sư Trần Chung Ngọc, mà trên 60 bài viết của  “Amy Tan” Hóa rất có giá trị và vị thế cao quư trong Văn Học Sử Việt Nam của Thế Kỷ 21 bao gồm: nghiên cứu, sử học, dịch thuật và khảo cứu…“Amy Tan” Hóa, cũng có đôi ḍng tôn kính viết về giáo sư Trần Chung Ngọc và nhất là trong những lần đàm thoại bất cứ đề tài ǵ, “Amy Tan” Hóa, phản xạ tự nhiên lại vinh danh giáo sư Trần Chung Ngọc, là thần tượng của đời ḿnh.

 

    Tâm Đạt, không ngờ “Amy Tan” Hóa vẫn c̣n bám chặt web GĐ để phá nát tổ chức GĐ, cho nên trở về Houston, yểm trợ và hợp tác tối đa cho ĐDTB, nhờ công ty website thực hiện hai trang webs, tốn chỉ trên $ 1,300.00 (một ngàn, ba trăm dollars), cho những ai không biết kiến thức computer, chỉ biết đánh máy trên key board và 8 động tác là có thể điều hành trang web. Chứ như với cao học điện toán “Amy Tan” Hóa có thể thiết lập cho ḿnh nhiều trang websites, chỉ đóng lệ phí đầu tiên cho mỗi trang web vào khoảng trên 100 dollars, và mỗi năm chỉ đóng $10 cho mỗi domain name mà thôi. Thế mà, tổ chức GĐ đă đóng cho “Amy Tan” Hóa để mua server giá $2,000.00, cho trang web GĐ (2 ngàn dollars, trong đó có $500.00 TĐ và $500.00 TCN , không phải là thành viên GĐ, h́nh như giáo sư TCN yểm trợ thêm $500 kỳ II)    

 

    Trang web GĐ BỘ MỚI tháng 7/2006, bút hiệu “Amy Tan” Hóa thật sự minh chứng làm đặc nhiệm chui sâu trong tổ chức GĐ, và xác nhận ta đây đang trở về tŕnh độ “ăn đong chính trị” cấp cán bộ Dân vận Xă của VNCH, vẫn dùng bút hiệu Thường Đức, Nguyễn Hạnh Ḥai Vy, Tinh Đẩu…tâm chất và lư tưởng cách mạng nhân bản là giải hoặc và giải trừ giặc áo đen Vatican, giặc Khuyển sinh áo đen bản địa, giặc Tin lành và Mỹ DBHB, ngày nào năm xưa, tiếp nối truyền thống cách mạng thân sinh của “Amy Tan” Hóa là liệt sĩ Nguyễn Văn Lộc, tiểu đoàn trưởng bộ đội Việt Minh, đặc trách hoạt động đánh Pháp ở Thừa Thiên, có nhiều chiến công diệt nhiều giặc Pháp, lính tập, lính đạo và lính Việt gian Bảo Đại, và cuối cùng đă hy sinh v́ ốm bệnh, lúc “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa chỉ được hai tuổi. Sau ngày, Đại Thắng Mùa Xuân 75, gia đ́nh, mẹ và anh em “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa được truy phong là gia đ́nh liệt sĩ cách mạng và “Amy Tan” Hóa, được nhà nước và Đảng nâng đỡ cho tiếp tục học thành tài Kỷ sư Nông Lâm Súc         

 

    Nay vẫn dùng những bút hiệu, Thường Đức, Tinh Đẩu, Hoài Vy, Nguyễn Hạnh Hoài Vy, Nguyễn Văn Hóa và Amy Tan…hiện tượng “Amy Tan” Hóa viết một số bài trên mạng www.giaodiemamytan.us với văn phong thô tục biến chất “ăn đong chính trị” của cán bộ Dân vận Xă VNCH, để đánh phá, ngụy bôi đen một vài cá nhân tổ chức GĐ, nhất là lại viết những lời bất kính và thô tục đối với giáo sư Trần Chung Ngọc, tưởng rằng sẽ bôi đen giáo sư TCN, nhưng đâu ngờ, cho chúng ta nhận diện bản chất ty tiên, không tự tin và phản bội của con người “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa, và cưỡng chiếm danh xưng domain name GĐ, để vận đông quyên tiền phi pháp. Trong cái domain name Giao Điểm BỘ MỚI:

 

Giaodiem,us

550 Showers Dr, Suite #D2

Moutain View, Ca 94040

 

“Sự hổ trợ của mạnh thường quân, xin gởi về:

Ngân phiếu xin tạm để trống tên người nhận trong thpời gian đầu. Cảm tạ

 

    C̣n về đời sống cá nhân “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa th́ lắm chuyện đồi bại, Tâm Đạt không muốn nói đến chuyện đời tư của kẻ khác (nhưng nếu cần).

 

    Tâm Đạt, trích dẫn một vài bài điển h́nh của  “Amy Tan” Nguyễn Văn Hóa viết về thần tượng Trần Chung Ngọc cũng như giới thiệu một số tác phẩm của giáo sư Trần Chung Ngọc, hoặc viết riêng, hoặc viết chung với các tác giả khác:  “Công Giáo Chính Sử”;  “Đức Tin Công Giáo”; “Chúa Giê-su Là Ai?  Giảng Dạy Những Ǵ”; và cuốn “Linh Mục Trần Lục:  Thực Chất Con Người và Sự Nghiệp” viết chung với Bùi Kha [Hồng Quang] v..v…

 

Cũng qua những bài viết đó, “Amy Tan” Hóa đă từng bày tỏ lập trường quyết liệt của chính “Amy Tan” Hóa đối với Thiên Chúa giáo như thế nào và trích dẫn lại một số đoạn mà “Amy Tan” Hóa đă viết và nhấn mạnh một số câu cho rơ ràng dưới đây:

 

1-  Câu hỏi thứ ba: Phải chăng người phụ trách web GĐ [ông Hóa] hơi thiên vị và trọng vọng tác giả Trần Chung Ngọc v́ ông có ‘background’ là giáo sư đại học và có bằng tiến sĩ khoa học? –Đây là thắc mắc có hậu ư, v́ có người nghĩ rằng ông Trần Chung Ngọc là cây viết chính về “Công giáo”, loại trừ ông tức là hết người “chống Công giáo”!. Biết vậy, nhưng vẫn xin thưa, điều đó không đúng và không thể tầm thường như vậy, v́ lẽ trong nhóm tác giả, hay thân hữu hợp tác với GĐ không chỉ có gs Trần Chung Ngọc mới có bằng tiến sĩ. Rất nhiều người khác có văn bằng này nữa. Nhưng tôi có trọng kính gs Trần Chung Ngọc, v́ lẽ đương nhiên qua sự cộng tác làm việc, ông đă thể hiện nhân cách của một người đáng trọng kính. Năm nay, gs Trần Chung Ngọc đă bước vào lứa tuổi “thất thập cổ lai hy”, trong agenda mỗi ngày của ông, có cả trách nhiệm tự nguyện trông coi mấy đứa cháu nhỏ cho bố mẹ chúng đi làm, thế mà ông vẫn dành được thời giờ để sử dụng máy vi tính, để viết bài cho Giao Điểm. Những bài của ông viết thường rất cẩn trọng và tốn nhiều tâm lực, những ai theo đuổi nghiệp viết lách ư thức rơ điều này. Nhưng điều quan trọng hơn, sự hy sinh này xuất phát từ tinh thần “Đại Giác” do mức tu hạnh nào đó của một người phật tử tri hành. Tôi có người anh kế đọc xong các bài viết của gs Trần Chung Ngọc, tới nhà hỏi: Ông TCN năm này bao nhiêu tuổi rồi?  Tôi trả lời theo sự hiểu biết của ḿnh, và anh ấy đă thốt lên sự ngạc nhiên, thú vị: Vậy mà sao ông viết văn như một người thanh niên! Thưa vâng, chỉ có những người phật tử Việt mới có thể tạo sinh hiện tượng “hóa trẻ” độc đáo này, họ dứt khoát chối từ “Vui chơi nơi hàn cốc thâm sơn..., đồ thích chí chất đầy trong một túi” để tiếp tục vung thanh kiếm giữa cơi người mê muội.

 

…Để trở lại với câu hỏi, tôi xin thừa nhận rằng, trong mục tiêu “Giải hoặc Gia-tô” th́ gs Trần Chung Ngọc là người viết dồi dào, đều tay nhất. Và tất nhiên, muốn cho nội dung của web Giao Điểm củng cố và nối tiếp giá trị của nó, cần phải có nhiều người hy sinh như anh Trần Chung Ngọc.

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

2-  Trong Thư Gửi Bạn Đọc Và Các Tác Giả Giao Điểm, “Amy Tan” Hóa viết:

 

    C̣n chừng một tháng nữa là đúng ngày kỷ niệm sinh nhật năm thứ nhất của trang nhà GĐ, chúng tôi chân thành cảm ơn sự ủng hộ nồng nhiệt của quí vị, từ trong cũng như ở ngoài nước. Sự ủng hộ này đă làm kiên tâm thêm sự hy sinh không quản ngại của chúng tôi. Đó là một phần thưởng lớn lao về tinh thần. Sự hy sinh ấy cần phải nói rơ thêm nhờ vào sự lao tác của sáng tạo, của trí tuệ qua các cây viết  tư tưởng chủ lực của GĐ như các tác giả Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, Bùi Kha [Hồng Quang], Hoàng Nguyên Nhuận, Nguyễn Chấn (Charlie), Phan Mạnh Lương, Nhật Nam, những tác giả đă đóng góp và tạo dựng nên những tác phẩm nức ḷng dân tộc như “Đối thoại với Giáo hoàng John Paul II”, các “Tuyển tập Phật giáo trong thế kỷ mới” v.v...

 

--------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

3 Điển h́nh là bài viết sau đây:

 

 

Vài ḍng ... về tác giả Trần Chung Ngọc

 

Nguyễn Văn Hóa

 

“Trong hơn một thập niên qua, cái tên Trần Chung Ngọc đă trở thành quen thuộc trong cộng đồng Phật tử hải ngoại nói riêng, cộng đồng người Việt nói chung. Sự quen thuộc ấy xuất phát từ hàng chục bài biên khảo thuần tuư giáo lư Phật pháp, khoa học sâu sắc, ông c̣n là tác giả (hoặc viết chung) của trên 10 cuốn sách nghiên cứu, tranh luận về tôn giáo (đặc biệt về đạo Công giáo Rô-ma) mang tính phê phán triệt để, không nhân nhượng. Tính triệt để ấy không mang cảm tính, nhưng dựa trên một bộ óc khoa học khách quan thuần lư, hơn thế nữa một tinh thần yêu dân tộc rất mạnh. Yếu tố  thứ hai này rất quan trọng, bởi không có nó, hẳn tác giả không có đủ nhiệt t́nh để ngồi vào bàn viết lao động trí óc không biết mệt mỏi ở vào lứa tuổi đă “về hưu” cần sự nghỉ ngơi, hay nói cho đúng với tinh thần Phật giáo hơn th́ lẽ ra đă buông bút “giải nghiệp”.

 

Nếu chúng ta ṭ ṃ, thử vào Internet, t́m kiếm tên “Trần Chung Ngọc” trong các diễn đàn (Forums) cách nay cả muời năm - ở thời điểm tác giả c̣n là một giáo sư  môn Vật lư ở đại học Wisconsin và cho đến hôm nay, chúng ta sẽ ngạc nhiên t́m thấy các tư tưởng của tác giả đă vô t́nh tạo nên một “hiện tượng” qua các tranh luận của các người tham dự (netters): bênh vực, ủng hộ cũng như phản đối... Nhưng tinh ư, chúng ta sẽ nhận ra ngay những người bênh vực tác giả thường là những người có lương tri trí thức (qua phẩm chất ngôn ngữ, cung cách lư luận, tầm hiểu biết...), những kẻ chống đối bao giờ cũng thuộc thành phần tầm thường, hoặc hoạt đầu chính trị. Và chúng tôi tin tưởng rằng, những người bênh vực ông thật sự đại biểu cho đa số thầm lặng: đọc, hiểu, chia xẻ mà không cần phải lên tiếng.

 

Kể từ ngày Giao Điểm tạo dựng một website (23-4-2001) cho tới nay, tên tuổi Trần Chung Ngọc đă vượt các đại dương, chuyển tải nội dung các công tŕnh sáng tác của ông đi khắp thế giới, đặc biệt là ở trong nước. Từ  Bắc vô Nam, các thành phần trí giả, chuyên viên, sinh viên, công cán, viên chức nhà nước, chức sắc các tôn giáo v.v... đă thực sự làm quen với “tinh thần Trần Chung Ngọc”. Qua các sự kiện này cộng thêm với vai tṛ và trách nhiệm của một trang chủ, chúng tôi không thể không viết những lời giới thiệu về ông, để đánh tan một vài ngộ nhận hoặc xuyên tạc  khó tránh. Nhưng muốn viết cho nghiêm túc về một nhân vật như ông, chúng tôi cần phải viết bằng một tiểu luận (không những đi vào nội dung các tác phẩm, c̣n liên hệ tới những khía cạnh khác về con người, sự nghiệp, tâm lư, hoàn cảnh ...). Chúng tôi biết là chưa có điều kiện để thực hiện điều đó trong lúc này, v́ vậy cấp kỳ viết một vài lời giới thiệu về ông là một điều cần thiết.

 

Cũng như những bậc trí giả Việt Nam vang danh một thuở vừa qua: các cụ Hoàng Xuân Hăn, Trần Văn Giàu, Nguyễn Đăng Thục, Đào Duy Anh, Lê Văn Siêu, Nguyễn Khắc Viện, Tạ Quang Bửu... mặc dù được đào tạo từ chuyên môn về khoa học, toán học, nhưng v́ sự giới hạn của “ngôn ngữ” khoa học, đa số đều quy về một điểm là đi sâu vào lănh vực văn hóa: tham cứu thêm về khoa học nhân văn, xă hội qua các bộ môn: triết học, văn học, chính trị, xă hội, lịch sử... , trong đó có vấn đề tôn giáo - mới có thể khai phóng, thỏa măn cho khát vọng tri thức của ḿnh. Ông Trần Chung Ngọc không tránh khỏi thông lệ này. Điều đó hẳn nhiên là một đặc điểm, đồng thời cũng là ưu điểm. Như một triết gia có căn bản về toán học cung cấp cho họ một khả năng lư luận tinh nhuệ; một kiến thức khoa học thực nghiệm cung cấp cho những người nghiên cứu về lịch sử, tôn giáo một tinh thần quán triệt, chân xác hơn, bởi điều rốt ráo của bộ môn lịch sử cũng như tôn giáo, là những sự kiện xă hội (social facts), chủ-khách-thể là con người. Ngoại trừ đức Phật hướng đạo con người là đừng tin vào những điều ǵ như truyền thuyết, kinh điển, sách vở, tuyên truyền... (1) ; khác với các tôn giáo của Tây phương, trong đó có Thiên Chúa giáo, đều “trói buộc” (religion từ gốc Hy Lạp = “religio”) con người vào niềm tin, cứ tin sẽ thấy, cứ tin sẽ được. Chính v́ lư do này mà các tín đồ không cần biết, không cần đọc Thánh kinh, lại không nên thắc mắc, t́m hiểu, chỉ cần vâng lời và làm theo lời chỉ dạy từ kẻ chăn chiên mới thật sự là một tín đồ ngoan đạo. Đây là lư do rất thuận lợi cho sự tuyên truyền, nhồi sọ hướng dẫn người dân mù quáng vào những mục tiêu chính trị, khi cần. Khi chúng ta phải đụng chạm tới niềm tin mù quáng này, có nghĩa là chúng ta sẽ đụng chạm tới quyền lợi của một số người do sự mù quáng từ đám đông mang lại cho họ.

 

Trong cuốn sách mới xuất bản gần đây, “Chúa Giê-su là ai? giảng dạy những ǵ?” (Giao Điểm xuất bản Mùa xuân 2002), trong phần “Lời nói đầu”, tác giả Trần Chung Ngọc viết: Tôi không chủ trương gây hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự ḥa hợp trong khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rơ tín ngưỡng của nhau và t́m những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo... ”. (2) Từ ư thức về nhu cầu “mở mang dân trí” này, cùng với tinh thần yêu dân tộc rất mạnh của tác giả như chúng tôi đă đề cập, Trần Chung Ngọc c̣n biết rằng: Tuy nhiên, làm công việc bạc bẽo này, tôi ư thức được rằng, đưa ra những sự thật về Ki Tô giáo có thể sẽ phải đối diện với nhiều nguy hiểm cay đắng, hiểu lầm và ngay cả những phản ứng cuồng tín, nhưng tôi cho rằng sự yên lặng lại c̣n mang đến nhiều nguy hiểm lớn hơn cho dân tộc và quốc gia”. (3) Nh́n được sự “nguy hiểm lớn hơn” này, hẳn nhiên ông đă phải nắm được bài học lịch sử của quá khứ, của hiện tại, và dự phóng một ước mơ về tương lai hoàn thiện là có thể “triệt tiêu” được những mầm mống nguy hiểm của ngày qua. “Công việc” ấy nó cụ thể như  hành động sáng tạo văn chương theo nhà văn Trần Hữu Thục: “Hành vi viết, động tác viết nói chung đă trợ lực cho âm thanh, hoặc thay thế âm thanh trong nhu cầu biểu lộ trạng thái nội tâm và chuyển tải đến tha nhân, đến thế giới, đến tương lai”. (4)  Tương lai? Th́ cả hai đều hướng về tương lai cả đấy, nhưng “viết” để thức tỉnh người dân v́ lợi ích của dân tộc chắc hẳn phải đối diện với một thách thức và trọng trách lớn hơn.

 

Với tâm thức của kẻ sĩ Việt th́ ai cũng phải đồng ư rằng Người dân Việt, với bản chất hiền lành, mộc mạc, “dĩ ḥa vi quư”, không bao giờ muốn gây sự hiềm khích giữa các khối dân chúng có tín ngưỡng khác nhau. (5) Tinh thần hiếu ḥa ấy có được là nhờ vào “giáo lư Tam giáo truyền thống Việt Nam đă từng rung động nông dân từ Nam chí Bắc..., v́ nó phản chiếu nguyện vọng xa xăm thâm kín của các dân tộc nông nghiệp Đông Nam Á châu...” (6) Đó là đặc ân không chỉ dành cho nông dân, cho giới sĩ phu, mà c̣n là “mẫu người lư tuởng của Phật tử Việt Nam” đă có từ trước thuở Hai Bà Trưng khởi nghĩa, biểu hiện trong “Lục độ tập kinh” (7).  Tinh thần “dĩ ḥa” chỉ đảo ngược khi bị những kẻ “bạo ngược tham tàn” cướp đất nước họ, v́ “đất nước là ư niệm thường trực nổi cộm trong tâm khảm người Việt, là đầu mối suy tư chiêm nghiệm của họ". (8) Giáo sư Lê mạnh Thát đă khẳng định tinh thần này như sau: “Cho nên, dù đất nước có bị thay đổi, có bị huỷ diệt đi chăng nữa, trong quá tŕnh tồn tại của vũ trụ, th́ trước mắt họ phải thương yêu đồng bào, sông núi của họ, nói cách khác họ phải thương yêu quê hương ḿnh”. (9)

 

Tinh thần yêu quê hương thuần chất trên chỉ thật sự bị lũng đoạn khi bóng dáng truyền đạo Ki Tô giáo đổ ập lên đất nước ta ở vào giai đoạn manh nha sự chia rẽ v́ phân tranh quyền lực ( Trịnh – Nguyễn). Sự tuyên truyền đạo mới gặp sự đối kháng tinh thần của nông dân và sĩ phu, tầng lớp tăng lữ ngoại xâm này bắt đầu dựa lưng vào thế lực thực dân thanh toán chủ quyền quốc gia Việt Nam bằng đại bác và súng trường vào tháng 7 năm Mậu Ngọ 1858. Quốc gia Việt Nam thua trận trước sức mạnh vũ khí mới, nhưng bản chất văn hóa thâm kín này không bao giờ bị huỷ diệt. Thành phần thực dân có tŕnh độ văn hóa ư thức vấn đề này, và hơn ai hết thành phần giáo sĩ truyền đạo trực tiếp đối đầu với thành tŕ văn hóa dân tộc không lay chuyển nổi của dân tộc Việt, họ thực hiện xây dựng nên một tầng lớp xă hội mới, vốn xuất thân từ bộ phận xă hội thấp kém, tách rời với tinh thần văn hoá nông nghiệp nhân bản và đạo lư mà các chế độ phong kiến chưa có cơ hội đưa họ vượt thoát lên trên để ḥa ḿnh vào cộng đồng văn hóa dân tộc. Tầng lớp xă hội mới này đứng ở ưu thế vượt trội vào thời kỳ chính sách Thiên-Chúa-giáo-hóa dưới chế độ của ông Ngô Đ́nh Diệm, cũng là lúc đă bị sức đề kháng của văn hóa dân tộc đánh bại toàn diện. Với truyền thống đă được đào luyện và dẫn dắt, hậu huệ của “tầng lớp xă hội mới” trong quá khứ, ta có thể gọi là tầng-lớp-trí thức-Công-giáo-Rô-ma, thường nhập nhằng và ḥa lẫn với tầng lớp tu sĩ Công giáo các cấp. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, hai lần phân chia đất nước sau mấy trăm năm hoàn toàn thoát nạn, chủ quyền và sự phát triển quốc gia từng bước được xây dựng, tầng lớp xă hội hỗn hợp trên, một mặt quy hướng về dân tộc để t́m lại căn cước của chính ḿnh, mặt khác cố ngóc đầu lên để thu hồi ưu thế đă bị lịch sử dân tộc đánh tan. Sự thu hồi ưu thế này thể hiện qua hai h́nh thức: hành động chính trị thực tiễn (chống lại kẻ đă tước đoạt quyền lực của ḿnh, khi cần thiết th́ lộ diện, khi yếu thế th́ núp bóng dưới các chiêu bài), hai là đánh bóng lại một thuyết lư đă tàn tạ theo thời đại. Ngày nay, qua các biến cố suy đồi và phi đạo lư từ trung tâm đầu năo của Giáo quyền Rô-ma, việc sử dụng Thánh kinh để xiển dương một tinh thần đạo đức, rao giảng đức tin làm chỗ dựa vững chắc cho hành động chính trị là công việc trái cựa, lỗi thời. Nhưng có vẻ như tầng lớp trí-thức-Công-giáo-Rô-ma không muốn chấp nhận thực trạng này, v́ vậy họ cố nhắm mắt luôn trước những dữ kiện lịch sử: không phải dân tộc Việt Nam, nhưng chính từ các quốc gia đă từng tạo điều kiện và hỗ trợ cho ưu thế của họ đă đi tiên phong trong việc đào mồ chôn thế lực giáo quyền phong kiến phản động: nuớc Pháp mở đầu bằng những luật lệ chống Ḍng Tên (anti-Jésuit laws) từ năm 1879 – dập tắt quyền lực của Giáo hội trong chính phủ năm 1904, nền giáo dục ở Áo (Austria) đă giải phóng các trường học ra khỏi sự khống chế của Giáo hội năm 1868, các tu sĩ Ḍng Tên bị trục xuất ra khỏi nước Đức năm 1872, tách rời Giáo quyền ra khỏi Nhà nước năm 1918, và sau cùng là nước Mỹ... (10) Đối với các quốc gia phương Tây, Cách mạng và Pháp chế là phương tiện dập tắt thế lực giáo quyền, và là điều kiện tiên quyết đưa xă hội họ tới dân chủ. Trong hiện tại sự truyền đạo và rao giảng đức tin của các Giáo hội ở các quốc gia này chỉ t́m thấy sự tự do như  những kẻ đi bán hàng (salesmen), nhưng những hành động củng cố đức tin của giới trí thức Công giáo Rô-ma gốc Việt không nhắm tới việc rao hàng mà thể hiện một khát vọng chính trị. Một lần nữa, tập hợp của 15 tác giả trong cuốn sách “Hai ngàn năm một thuở: Chứng từ của một số người Công giáo” do ông Đỗ Mạnh Tri chủ xướng, Tin Nhà xuất bản ở Paris vừa qua bộc bạch khát vọng này. Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả một phần (trong chương 4) bài phê b́nh ông Đỗ Mạnh Tri trong cuốn sách: “Nhận diện một số trí thức Công giáo ...” của tác giả Trần Chung Ngọc sắp ra mắt trong nay mai.

 

Nếu trong văn hóa dân tộc Việt Nam, cứu lấy một người đă biểu hiện tinh thần Bồ Tát rồi, th́ “v́ tương lai” của hàng triệu người trên đất nước ta, tác giả Trần Chung Ngọc chấp nhận thách thức “hiểm nguy” mà viết ta gọi là tinh thần ǵ? Thấy việc phải mà làm, thấy việc không phải là phản ứng, chính là phản ứng văn hóa. Một số người Phật tử có thể không đồng ư với thái độ sống hùng khí này, bởi “an trần lạc đạo” có thể là cố làm cho tai điếc, mắt đui, trí thoảng khoái, chỉ đọc, nh́n, làm những ǵ mang lại sự an lạc cho tinh thần. Đó có thể là con đường giải thoát mang lại hạnh phúc cá nhân, nhưng một số không nhỏ người Phật tử khác, dù chưa cần phải quy y h́nh thức, mang danh, định vị... khi đă ư thức chân lư không tin vào những điều tuyên truyền, xảo ngôn, trá ngữ th́ phải hiểu rằng “phản ứng văn hóa” của ông Trần Chung Ngọc đă thể hiện trọn vẹn tinh thần Bi-Trí-Dũng.

 

Ghi chú:

 

(1). Thích Nhật Từ, “Kinh tụng hằng ngày”, nxb. Đạo Phật Ngày Nay, 2002, các tr. 98, 99

 

(2, 3). Trần Chung Ngọc, “Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những ǵ?”, nxb Giao Điểm, “Lời nói đầu”, các trang trong phần “Lời nói đầu”.

 

(4). Trần Hữu Thục, “Viết và Đọc”, nxb Văn Học, 1999, tr. 23

 

(6). Nguyễn Đăng Thục, “Thiền học Việt Nam”, Phật Học Viện Quốc tế, Hoa kỳ, 1986, tr. 483

 

(7, 8, 9). Lê Mạnh Thát, “Tổng tập Văn học Phật giáo”, nxb Thành Phố HCM, tập I, 2001, tr. 508, 508. Xin đọc 4 bài kệ trong “Lục độ tập kinh” các trang 505, 506.

 

(10). Bernard Grun, “The Timetables of History”, nxb Touchstone Book, 1982, các niên biểu 1868, 1872, 1879, 1904, 1918.

 

-----------------------------------------------------------------------------------------------

 

4- Đọc "CÔNG GIÁO CHÍNH SỬ", tác giả Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xb P.O.Box 2188, Garden Grove, Ca.92842 USA – giá 18 Mỹ kim.

 

Nguyễn Văn Hóa

 

hoa63@hotmail.com

 

 

Đi vào nội dung của "Công Giáo Chính Sử”

Công Giáo Chính Sử là một cuốn sách khảo cứu về tôn giáo, dày gần 500 trang. Công việc đầu tiên của tôi trước khi đọc một cuốn sách là xem mục lục, sau đó duyệt xét về thư mục trước khi đi vào nội dung.

Trước hết về thư mục, tác giả đă sử dụng đến trên 200 tác phẩm nghiên cứu về Gia Tô giáo, các tác giả hầu hết là các học giả, sử gia danh tiếng; đặc biệt có nhiều tác giả là giám mục, linh mục, hoặc trí thức được đào tạo từ môi trường giaó dục Gia Tô La Mă (một số lớn tài liệu xuất bản vào giữa các thập niên 80, 90). Một việc làm đáng ghi nhận khác là tác giả đă cẩn thận phân loại và giới thiệu tài liệu theo từng chủ đề cho những ai muốn tham khảo sau nầy. Những yếu tố đó đủ chứng minh tác giả Trần Chung Ngọc đă làm việc hết sức cần mẫn, tốn phí rất nhiều thời giờ và tim óc để hoàn thành cuốn sách nầy.

Nội dung sách có tám chương, không kể phần kết. Bốn chương đầu tŕnh bầy các nhận định tổng quát về Gia Tô giáo; lịch sử h́nh thành và phát triển; sách lược bành trướng của Gia Tô giaó trên thế giới. Hai chương (năm và sáu) nói về Kinh Thánh và Học Thuật Gia Tô.

Chương bảy nhận định về các phép lạ (Huyền thoại Fatima, Lourdes, La Vang). Chương tám, chương cuối cùng và cũng là chương quan trọng nhất: Gia Tô giáo Việt Nam. Với chương mục được phân chia hợp lư như vậy, tác giả Trần Chung Ngọc đă đưa người đọc khai phá sự hiểu biết của ḿnh qua các tŕnh tự:

* Nếu bạn muốn hiểu thế nào là một tôn giáo mang các đặc tính: đẫm máu nhất, vô lư nhất, lố bịch nhất, tàn bạo nhất; một tôn giáo xây dựng trên sự mê tín và cố chấp; một tôn giaó nuôi dưỡng hận thù và tham vọng, thánh hóa sự diệt chủng và chuyên chế: Chương một là một giải đáp.

* Đa số các tín đồ Gia Tô giáo dù cuồng tín, nhưng ít khi cầm tới cuốn Kinh Thánh, th́ những câu hỏi như: tại sao có Cựu Ước và Tân Ước ? Thuyết Chúa ba ngôi, đức Mẹ đồng trinh vô nhiễm. Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại. Chuyện Thiên đường và Địa ngục. Ngày phán xét sau cùng – đă tạo nên những câu hỏi nhức nhối không có lời giải đáp. Bằng những luận cứ vững vàng và những sử liệu tôn giáo xác thực, tác giả Trần Chung Ngọc đă gỡ rối cho các tín đồ Gia Tô.

* Với một bản chất tôn giáo "phản tiến bộ" như vừa chứng minh, Gia Tô La Mă giáo đă phát triển ở Âu Châu bằng lịch sử truyền giáo: tiêu diệt văn hóa của các tôn giáo hoặc tín ngưỡng khác, tạo động lực tinh thần cho các cuộc "thánh chiến", thiết lập những ṭa h́nh án xử tội các người dị giáo, và bằng sự xuyên tạc của Kinh Thánh đă bách hại tàn bạo dân Do Thái.

Đối với thế giới, Gia Tô La Mă giáo, song song với súng đạn đă dùng chính sách ngu dân và sát hại để truyền giáo ở các xứ Phi Châu, Nam Mỹ – là nơi hiện nay có số tín đồ đông nhất. Nhưng hậu quả của các chính sách ngu dân này sẽ như một con dao hai lưỡi, một khi người dân ở các vùng đất này mở mang trí tuệ và nhận chân được sự thật âm mưu của các nhà truyền giáo.

* Ở Á Châu, trừ Phi Luật Tân ra, Giáo hội Gia Tô đụng phải thành tŕ kiên cố về văn hóa và truyền thống dân tộc; cho nên ở Ấn Độ cho tới nay chỉ có 1% số người theo và đang gặp phải sự đối kháng mạnh của phong trào bài Ki Tô giáo: "Tôi đ̣i hỏi chính phủ Ấn Độ phải đuổi cố những kẻ đang dụ dân Ấn cải đạo, và phá hoại văn hóa, ngôn ngữ và y phục của dân chúng" (Lời của lănh tụ bài Ki Tô, ông B.L. Sharma, tr.167).

* Ở Trung Quốc, kết quả có chừng 4 phần ngàn người theo và hiện nay độc lập không lệ thuộc Vatican. Ở Nhật Bản, Gia Tô bị khước từ bằng bạo lực triệt để... chỉ c̣n lại một phần tử nhỏ nhưng hoàn toàn thoát ra khỏi sự kiểm soát của Ṭa Thánh La Mă. Ở Việt Nam, không may sự truyền giáo được hổ trợ và kết thúc với đội quân xâm lăng Pháp, đến nay chưa tới 8% dân số, nhưng lại hoàn toàn nô lệ vào Vatican.

Việc tín đồ không đọc, hay bị ngăn cấm đọc Kinh Thánh nhiều khi là điều may cho Giáo hội; bởi có người đọc xong sẽ thấy "Cựu ước cho chúng ta biết những sự khủng khiếp mà Thượng đế đă làm. Tân ước, những sự khủng khiếp mà Thượng đế sẽ làm" (Nhận xét của Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do lỗi lạc Mỹ thế kỷ thứ 19, tr.212). Với tŕnh độ tu sĩ sẽ thấy trong Kinh Thánh:

"Trăi qua nhiều thế kỷ, sự sùng tín Kinh Thánh đă dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt, tạo tâm lư tôn sùng và nhiều lầm lạc khác" (nhận xét của mục sư Ernie Bringas, tr.193).

Với tŕnh độ của một khoa học gia nhận xét "Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh Kinh với một óc phê phán th́ chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi" (khoa học gia Ira Cardiff, tr.198).

Và một bậc lăo thành tín đồ Gia Tô Việt Nam, bác sĩ Nguyễn Văn Thọ sau khi đọc Kinh Thánh bằng chữ quốc ngữ đă từng "điên cái đầu" v́ "dịch sai, dịch bậy, thêm, bớt nhiều đoạn mâu thuẫn nhau..." (tr.183,184), chẳng khác chi việc "lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia" (ư của cố linh mục Kim Định).

Tất nhiên trong hơn bốn mươi trang sách để bàn về những sai trrái của Kinh Thánh không thể nào nói hết, nhưng "Công Giáo Chính Sử" đă tŕnh bày đầy đủ về những sai lầm, nguỵ trá căn bản nhất của Kinh Thánh.

Người ta thường thắc mắc và dễ lầm lẫn qua sự tuyên truyền về đạo đức, cao quư của các Giáo hội Gia Tô là đă tạo ra những con người đạo đức. Nh́n một ông già, một phụ nữ quỳ gối với những nét mặt thành khẩn, đê mê cầu nguyện, miệng thầm đọc những câu kinh với nội dung nhiều khi rất vô nghĩa, ta dễ đồng hóa họ với sự đạo đức. Thật ra đó chỉ là trạng thái mê mẫn của thần kinh, thường dễ có nơi những người yếu đuối, dễ thụ cảm với bổn phận – ḷng siêng năng, sự ép buộc về kỷ luật, tính sợ hăi nhưng kiêu căng muốn tự chứng thực là một kẻ trong sạch tuyệt đối, sự cô đơn và một phần biểu lộ tính tự phô trương âm thầm. Nhưng nhờ vào đâu, đạo Gia Tô La Mă có thể tạo nên một hiện tượng con chiên sùng tín phổ biến như vậy ? Tác giả trả lời : nhờ vào "Học thuật Gia Tô" (Catholic Scholarship). Đây là điểm độc đáo ít có sử gia người Việt nào đề cập tới. Vậy "Học thuật Gia Tô" là cái ǵ ? Là

"bao gồm những lư thuyết Thần học mơ hồ để bảo vệ đức tin Gia Tô, chủ yếu nhắm vào giới trí thức; những sách lược tuyên truyền về "những cái hay" nhưng sai sự thật của Giáo hội để thu hút và giữ tín đồ" (tr.219).

Tương tự như một đảng chính trị, Giáo hội cần có cán bộ, đảng viên để thực hiện mục tiêu này: -đó là thành phần linh mục, những:

"cán bộ truyền giáo trung kiên, kiến thức thực sự không có là bao, nhưng rất hữu hiệu trong vấn đề uốn nắn đầu óc giaó dân ngay từ lúc sơ sinh vào một niềm tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu, và nhất là tuyệt đối theo lệnh của Vatican, chứ không phải để mở mang đầu óc con người" (tr.240).

Nhưng lương tri con người vẫn c̣n đó, cho nên đă có những tu sĩ Gia Tô "phản tỉnh" để phô bày và chứng minh cho nhân loại hiểu được học thuật "nguỵ tín" trên như tổng giám mục Peter de Rosa, giám mục John Shelby Spong, và của hàng chục linh mục khác. Bằng chứng liệu cụ thể, tác giả cho chúng ta thấy sự nguỵ thiện của đạo Gia Tô về một xă hội văn minh, sự tự do, các quan niệm về thánh nhân, từ thiện... (như bà Mẹ Teresa), chiêu bài "Ḥa hợp tôn giáo" chỉ là sự mâu thuẫn, giả dối, che đậy các mục tiêu bảo vệ và duy tŕ quyền lực tinh thần trên bề mặt, quyền lợi vật chất thế tục trong thực chất.

Để củng cố cho bản chất được nguỵ trang đó, ṭa thánh Vatican phải tạo ra những hiện tượng phù hợp. Hiện tượng đó là những "phép lạ": những huyền thoại về "Fatima, Lourdes, La Vang" đă được Trần Chung Ngọc "giải mật" hoàn toàn; và qua các nhận xét từ công tŕnh nghiên cứu của các học giả Avro Manhattan, André Lorulot, Paul Blanshard; của các linh mục James Kavanaugh, Trần Tam Tỉnh th́ chắc chắn không c̣n sử liệu, tài liệu nào có thể phản bác được nữa.

Qua chiều dài dày đặc của nhận xét, lư luận và trích dẫn trong bảy chương đầu, tôi cho rằng đă đầy đủ cho những ai chưa hiểu về đạo Gia Tô La Mă sẽ hiểu; những ai đă hiểu rồi sẽ biết thêm... Nhưng chương tám, chương cuối cùng không những đă được mổ xẻ, phân tích chi ly, c̣n là bản án lịch sử về "Gia Tô La Mă giáo Việt Nam".

Chúng ta thường kết án Nguyễn Ánh là kẻ "rước voi về dày mă tổ", nhưng tội trạng của Nguyễn Ánh xét cho cùng, chỉ là tham vọng quyền lực trong sự u tối. Không có Nguyễn Ánh này th́ vẫn có Nguyễn Ánh khác. Thủ phạm chính đă dẫn dắt sự xâm lăng của Pháp là các giáo sĩ truyền đạo như Bá Đa Lộc, Huc, Retord, Pellerin, Gauthier, Puginier v.v... đă có những hoạt động gián điệp cho Pháp và tiếp tay với người bản xứ làm nội ứng (tr.362).

Một nhân vật đă bị lịch sử Việt Nam ghi ơn một cách lầm lẫn là giám mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ. Thật ra ông chỉ là kẻ kế thừa sử dụng và phát triển quốc ngữ như phương tiện để truyền đạo song song với công việc gián điệp cho mục tiêu xâm lăng. Kết quả là giám mục Đắc Lộ đă thành công cả hai mặt: xâm chiếm bằng vơ lực, và để lại một nền đạo lư trên đất nước mà giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang đă gọi là nền đạo lư "Thiên La Đắc Lộ: tổng hợp sách lược truyền đạo tàn bạo, cường quyền thắng công lư của Giáo hội Công giáo và sự cuồng tín, gian manh, xuyên tạc" (tr.355).

Qua 75 trang của chương tám, với những lập luận vững chắc, những sử liệu dẫn chứng mà giá trị xuất xứ của nó không thể nào chối bỏ được, tác giả đă cống hiến cho người đọc một kết luận dứt khoát: Sự đau khổ của dân tộc Việt Nam trong hơn một trăm năm qua và vẫn tiếp tục âm ỉ trong hiện tại, không phải chỉ do quân đội thực dân Pháp, mà c̣n bởi bàn tay "ma dẫn lối, quỷ đưa đường" của Bộ Truyền Giáo hải ngoại, dưới sự chỉ đạo của Vatican. Họ đă dụ dỗ, mua chuộc, xúi bẩy, huấn luyện, truyền vào năo trạng của một vài phần tử trong xă hội Việt Nam vốn là "tầng lớp cặn bă của xă hội Việt Nam thành một đám nô lệ cho Vatican, coi thường luật lệ quốc gia và không ngần ngại phản quê hương" (tr.381). Điều đó đă được chứng thực là "nếu không có những hành động nội ứng, tiếp tay với một mức độ đáng kể của tín đồ Gia Tô Việt Nam th́ chưa chắc Pháp đă lập nỗi nền đô hộ ở Việt Nam trong gần một trăm năm" (tr.398). 

Triết lư của "Công Giáo Chính Sử”

Nhiều người có dịp đọc một vài cuốn sử về "Công Giáo Việt Nam" viết bởi các tu sĩ, trí thức Gia Tô có lúc ḷng phải nổi dậy "sân hận", dù đọc với thiện ư cố t́m vài "điểm đẹp" tối thiểu nào đó để mà có thể cảm nhau được. Sân hận không những v́ sự thiếu lương thiện trí thức của họ, mà bởi những xuyên tạc lộ liễu. Tôi thí dụ: đọc cuốn "Lịch Sử Giaó Hội Công Giáo" (của linh mục Bùi Đức Sinh, tốt nghiệp Cao học sử Canada, xb. năm 1972). Ở chương "Giáo hội VN thời tử đạo", trang 340, khi viết về giáo sĩ Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) đă biện hộ cho ông như sau: "Việc ngài nhúng tay vào chính trị cũng chỉ mong cho xứ truyền giáo này được một ông vua công giáo hay ít là có thiện cảm với công giáo, để việc truyền bá Phúc Âm có tự do". Lập luận như vậy, linh mục Sinh đă tự xác nhận Bá Đa Lộc có nhúng tay vào chính trị, bằng thay đổi tôn giáo của một ông vua, đúng nghĩa là thao túng triều chính, đảo ngược các trât tự xă hội hiện hữu. Nhưng ở phần cuối, cùng trang, linh mục Sinh đă trích dẫn một đoạn của sử gia Louvet (trường phái Vatican) rằng:

"Người ta có thể phê phán đức cha Bá Đa Lộc đă nhúng tay vào các âm mưu "thực dân" (nếu thực sự có, nhưng không bao giờ người ta có thể đổ những lỗi ấy cho giaó hội công giaó, ví Bá Đa Lộc không phải là giáo hội, và giáo hội không bao giờ tán thành một vị thừa sai làm chính trị, nhất lại là âm mưu chính trị làm lợi cho nước Pháp, khi mà giáo hội không phải là của riêng nước Pháp, của riêng Ư hay Tây Ban Nha, nhưng là của mọi dân tộc nh́n nhận giáo hội làm Mẹ" (Bùi Đức Sinh, sđd, tr.340).

Không cần tŕnh độ cao học sử của linh mục Sinh, ta vẫn có thể hiểu được ông Sinh v́ cố biện hộ cho Bá Đa Lộc, đă vô t́nh tố cáo Bá Đa Lộc có âm mưu thực dân. Đây là cuốn sử được coi là "đứng đắn" nhất của một tu sĩ Gia Tô viết về đạo "Công Giáo", và việc phụ chú bằng trích dẫn trên chứng minh cho sự đứng đắn này; nó c̣n có nghĩa là chỉ muốn nói ra một nữa phần của sự thật ! Không may đoạn văn trên đă tự tố cáo lối lư luận lưu manh của kẻ xâm lăng và chạy tội cho giáo hội Gia Tô La Mă một cách trân tráo. Đó cũng là "phương pháp luận sử học" của giáo hội Gia Tô, mà chúng ta sẽ t́m thấy đầy rẫy trong các cuốn sách của các trí thức Gia Tô cho xuất bản ở hải ngoại. Bản chất trí trá, xuyên tạc lịch sử nầy là một chứng bệnh chỉ có ở các người trí thức Gia Tô, mà tác giả Trần Chung Ngọc đă từng gọi là những "đầu óc khuyết tật" (astrolabe mentality).

Có lẽ từ niềm "sân hận" trí thức đó, là một trong các lư do thúc đẩy tác giả viết cuốn khảo cứu tôn giáo nầy, v́ như phần mở đầu tác giả đă nói "thứ nhất để đánh đổ những mưu toan xuyên tạc lịch sử, lấy lại công bằng lịch sử, và thứ nh́, với hy vọng những sự thực nầy sẽ giải phóng một số người có đầu óc tiến bộ, cởi mở, và tôn trọng sự thực" (tr.2). Mong đạt được ư nguyện đó, chắc hẳn tác giả cũng chỉ muốn nhắm tới mục đích cuối cùng là "dĩ ḥa vi quư" như tinh thần của tổ tiên đă truyền lại từ ngàn đời. Nhưng muốn cái "ḥa" được vĩnh cửu, không phải là cái ḥa-chiêu-bài, nhưng là ḥa-từ-tâm. Có Tâm th́ phải có trí tuệ dẫn đường. Trí tuệ là cái biết, cái hiểu. "Công Giáo Chính Sử" cung cấp cho sự hiểu biết nầy. Bởi vậy, tôi nghĩ CGCS không phải chỉ viết cho các tín đồ Gia Tô, mà các Phật tử, các tín đồ tôn giáo dân tộc khác và các người Cộng Sản cũng phải đọc nữa.

Ngựi Cộng Sản cần phải đọc CGCS (…) v́ họ đă không c̣n hiểu được giám mục Đắc Lộ là ai, giờ nầy lại coi ông như kẻ có ơn với đất nước; đến nỗi tác giả phải than rằng "Giờ này vẫn c̣n những người có đầu mà không có óc muốn tôn vinh ông, dựng bia đá tượng đồng thờ phượng, đặt tên ông trên đường phố cùng hàng với tên các danh nhân lịch sử Viêt Nam..." (tr.355).

Một số lớn dân chúng miền Nam trong 20 năm chinh chiến trước đây, v́ cuộc sống bị bủa vây bởi các thế lực vô minh, và với nỗi sợ hăi đă chấp nhận thái độ sống từ sự hiểu sai tinh thần Nho giáo "khôn cũng chết, dại cũng chết, biết th́ sống". Cái biết nầy là cái biết an phận cúi đầu, biết luồn lách, ươn hèn nhằm vinh thân cho bản thân và gia thế. Kinh nghiệm chỉ mới ngày qua thôi: có những Phật tử hôm trước vừa mới cúi đầu lể Phật ở quê nhà, vài hôm sau đến trại tị nạn phải khai là theo đạo thờ cúng ông bà tổ tiên, v́ bị mấy "nhóc t́" Gia Tô tuyên truyền khai đạo Phật sẽ bị phái đoàn di trú "bác" hồ sơ định cư. Và xa hơn nữa, với một thế hệ trí thức trẻ ở miền Nam trước đây, tối ngày chỉ biết ngất ngưỡng trong tâm cảm "hai mươi năm nội chiến từng ngày" cũng nên đọc Công Giáo Chính Sử. V́ dù có theo đạo "ông bà tổ tiên", có khổ đau với "nội chiến" từng ngày đi nữa, nhưng không ai có thể phủ nhận ḿnh là người dân tộc. Cho nên biết sống là phải biết phá vỡ bức tường im lặng của mơ màng và sợ hăi để thét vang đất trời : kẻ thù chính thức của dân tộc Việt Nam là đạo Gia Tô La Mă (Roman Catholicism !).

Đó là cái hào khí của kẻ "trí", và chỉ có tinh thần hào khí ngất trời này mới biết xóa bỏ hận thù là chuyện dễ dàng như một cái thở phào. Tác giả Trần Chung Ngọc hẳn cũng mang "tinh thần" đó, nên đă tha thiết mong ước người anh em Gia Tô trở về với đại gia đ́nh dân tộc; và theo tôi, con đường ngắn nhất để trở về là can đảm chấp nhận sự thật. Có sự can đảm đó rồi, th́ người anh em sẽ hiểu phải làm ǵ để đạt được sự độc lập trong suy nghĩ và hành động của một người yêu nước.

Trong sự phấn khởi ḥa đồng với niềm mơ ước đó, tôi trân trọng mời gọi toàn thể dân tộc hăy t́m đọc "Công Giáo Chính Sử".

Nguyễn Văn Hóa

March 18, 1999

 

Giao điểm vừa tái bản (năm 2000) cũng với giá 18 Mỹ kim. Liên lạc mua sách và ngân phiếu xin đề Giao Điểm, P.O. Box 2188, Garden Grove, CA 92842. USA.   Điện Thoại: (323) 222-4444.  Ngoài Hoa Kỳ xin gửi thêm $2 cước phí.

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

5- Vài lời giới thiệu về tác phẩm Nhận Diện Một Số Trí Thức Công Giáo qua cuốn 'Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo'" của giáo sư Trần Chung Ngọc

 

Nguyễn Văn Hóa

 

Nhận Diện Một Số Trí Thức Công Giáo, qua cuốn ‘Hai Ngàn Năm Một Thuở, chứng từ của Một Số Người Công Giáo’” của giáo sư Trần Chung Ngọc đúng ra là một cuốn sách vừa mới ráo mực. Nếu chưa kể tới một số bài phụ lục khác, với 12 tiểu đề mà chúng tôi đă tạm phân chia cho dễ đọc khi lên trang web, cũng đă ngót ngoét 200 trang sách. Viết xong một cuốn sách th́ công việc đầu tiên tác giả phải nghĩ tới là việc in ấn, xuất bản và phát hành, thế mà tác giả Trần Chung Ngọc lần này muốn cống hiến gần như toàn bộ cuốn sách cho các độc giả của trang nhà Giao Điểm. Đây không phải là trường hợp đặc biệt, mà hầu như lúc nào ông cũng mang một tâm nguyện như vậy. Tiền bạc ông không màng, danh ông không thiết, chỉ có động cơ duy nhất là ông muốn gởi tới người nhận nó như một món quà về sự hiểu biết, về sự thật, mà ta thường gọi là tri thức. Tri thức là vốn liếng chung của mọi người. Cũng như “Hai Ngàn Năm Một Thuở, Chứng Từ Của Một Số Người Công Giáo” là tập hợp tri thức của  15 tác giả trí thức Công giáo [1]. Nhưng tri thức, tự nó là một khối kiến thức chết, có khi là sai lầm, nếu chúng ta không biết vận dụng nhận thức để đánh giá, soi sáng nó. Như vậy, nhận thức mới đích thực là một vận động của chất xám, trí óc. Động tác của của sự vận động trí óc có hệ thống, chính là phê b́nh. Đối với tâm chất hiền ḥa truyền thống của người dân Việt, chúng ta thường mang tinh thần “một sự nhịn, chín sự lành” – và với các bậc trí cũng vậy thôi, chúng ta ngại phê b́nh. Không dám phê b́nh, sợ động chạm, sợ mất ḷng ... vô h́nh trung, chúng ta trở về cái ṿng lẩn quẩn, thu nhận tri thức như một loài nhai lại. Phải chăng đó là một trong các lư do khiến người Việt chúng ta thiếu những tư tưởng gia sáng tạo, một nền triết học có hệ thống?

 

Nói tới tinh thần “sợ” phê b́nh, cách nay chừng nửa thế kỷ, nhà phê b́nh văn học Vũ Ngọc Phan có nhận xét như sau:

 

Nếu theo tôn chỉ của các nhà phê b́nh có tiếng ở Âu châu, phê b́nh tức là dẫn đường cho độc giả, tức là đọc giúp cho độc giả, tức là vạch rơ chỗ hay và chỗ dở của tác giả. nghĩa là chỉ rơ cho tác giả con đường nên theo, th́ một khi đă có đủ các loại văn khác, mà không có loại văn phê b́nh, văn chương có thể ví như một con thuyền không chèo, không lái. Có người sợ hai chữ ‘phê b́nh’ và bảo : nghe nó làm sao ấy. Người ta sợ như thế chẳng khác nào mấy cậu du học sinh Việt Nam ở Pháp, không muốn người ngoại quốc bảo ḿnh là người Việt Nam mà giả vờ ḿnh là người Xiêm hay người Nhật, chỉ v́ một lẽ dân tộc Việt Nam c̣n là một dân tộc hèn yếu” [2].

 

Đây là một nhận xét tinh tế và mẫu mực của một bậc tiền bối. Ngày nay, dù có thể có nhiều lư thuyết phê b́nh (văn học) nói chung khác nhau, tựu trung vẫn chuyên chở yếu tố “vạch rơ, chỉ rơ” trên, bởi nếu thiếu nó, sự phê b́nh sẽ rơi vào tính cách nước đôi, ba phải. Tác giả cũng như độc giả đă không học hỏi, thu nhận được một điều ǵ cả từ người phê b́nh. Đó là t́nh trạng chậm tiến về nhận thức.

 

Đồng thời với cuốn sách của tác giả Trần Chung Ngọc, chúng tôi có đọc được bài “Điểm Sách” của ông Nguyễn Hùng Vũ phê b́nh cuốn sách “Hai Ngàn Năm Một Thuở,...” được đăng hai kỳ trên tạp chí Phật Giáo Việt Nam số 118 và số 119 [3]. Đọc xong hai số báo này (phải chờ đến ba tháng sau mới đọc được phần kết luận), chúng tôi thất vọng v́ lối phê b́nh “nước đôi” của ông Nguyễn Hùng Vũ; như ngày xưa ông Vũ Ngọc Phan cũng từng nhận xét về Thiếu Sơn (Lê Quư Sĩ) tương tự: “Tác giả... là một nhà phê b́nh mềm mỏng và thủ cựu. Mềm mỏng v́ cái giọng nước đôi của ông không làm mếch ḷng ai cả, nhưng cũng không làm lợi cho ai, cả độc giả lẫn tác giả” [4]. Ở trang kế tiếp, ông Phan c̣n nhấn mạnh tính “nước đôi” có nghĩa là : “Lối nước đôi ấy bắt buộc ông dùng những câu vẫn vơ ở những chỗ đáng lư ông phải tỏ bày thẳng thắn một ư kiến rơ ràng”. [5].

 

Lối nước đôi của ông Nguyễn Hùng Vũ là dùng những lời khen để che phủ những phần tưởng như là “chê”, nhưng thật ra là những phê b́nh vớ vẫn. Đại để những lời khen trừu tượng tiêu biểu như:

 

- “Hầu hết đều có những đóng góp ư kiến sáng suốt và thiết thực trong việc tạo dựng một Việt Nam hậu cộng sản” [6]. Sáng suốt và thiết thực như thế nào không thấy nói đến.

 

- “(Tất cả bài viết đều giá trị, nhưng bài viết khúc chiết nhất về những vấn đề này là bài của Giáo sư Tri với những lư giải triết lư chính trị tinh vi)” [7]. Tác giả đóng ngoặc đơn và chúng tôi không hiểu lư do của sự đóng ngoặc này, cũng như không thấy người điểm sách chứng minh “triết lư chính trị tinh vi” của ông Đỗ Mạnh Tri ra sao?

 

- “Ông Tri đă có khả năng đăi cát ra vàng, lọc ra được  cái “giá trị” trong một câu chuyện giả, nắm bắt được “ư nghĩa” trong câu chuyện vô lư.... Bài thuyết pháp của ông đă hóa giải và tháo gỡ được một số định kiến và những “khung cố chấp” thô thiển về chữ nghĩa đă làm cho con người ngộ nhận lẫn nhau. Tŕnh độ nhận thức về triết lư tin mừng của ông cao độ và tâm ông nói lên sự trung kiên, nhẫn nại và hiền ḥa, là những đức tính làm nền tảng cho con người” [8]. Về phần này, chúng tôi cũng không hiểu ông Nguyễn Hùng Vũ muốn ám chỉ “định kiến, ‘khung cố chấp’ thô thiển” là ai ? Nếu không định danh điều này rơ ràng, người ta sẽ nghĩ là ông Vũ đă ám chỉ tới một tập thể, hay là “định kiến” của tập thể. Lối viết như thế thiếu ngay thẳng.!

 

Những lời khen tặng trong phần vào đề của ông Nguyễn Hùng Vũ mang tính cách vuốt đuôi vớ vẫn, làm những điều ông phê b́nh sau đó đă trở nên vô nghĩa, và mâu thuẫn .

 

Chúng tôi thiết nghĩ, những ai c̣n muốn giữ sự e dè, kiêng nể, khéo léo kiểu “tâm lư ông già” th́ không nên viết phê b́nh, điểm sách. Phê b́nh, theo tính cách này, không những nó làm u tối cho tác giả và người đọc, vô t́nh tạo thêm những hạt sạn mới mà lẽ ra chúng ta cần nhặt ra từ tác phẩm.

 

Đưa một thí dụ về tinh thần thiếu nghiêm túc về phê b́nh trên để các bạn đọc chuẩn bị tinh thần trước khi đọc cuốn sách phê b́nh “Nhận Diện Một Số Trí Thức Công Giáo...” của ông Trần Chung Ngọc. Văn phong, công tŕnh chọn lọc tài liệu chứng minh, khả năng đọc sách mênh mông, tinh thần lư luận khúc chiết rành mạch của tác giả đă trở thành quá quen thuộc với số đông độc giả, v́ vậy những lời giới thiệu khác đối với chúng tôi đă không c̣n cần thiết...

 

Chú thích:

 

[1].Hai Ngàn Năm Một Thuở-Chứng Từ Của Một Số Người Công Gíao, 15 tác giả do Đỗ Mạnh Tri đề xướng, giá 10 mỹ kim, sách dày 255 trang, nhà xuất bản Tin 2000,  Pháp

 

[2].Vũ Ngọc Phan , Nhà Văn Hiện Đại – Phê b́nh Văn học , quyển Ba, 1959, trang 633

 

[3]. Phật Giáo Việt Nam do Ḥa Thượng Thích Măn Giác chủ nhiệm; số 118 ngày 02/5/2002 và số 119 ngày 02/8/2002

 

[4] Như trên [2], trang 637

 

[5] Như trên [2], trang 639

 

[6] Tạp chí Phật Giáo Việt Nam, dẫn như trên [3], trang 77

 

[7] Như trên, trang 77

 

[8] Như trên, trang 82

 

------------------------------------------------------------------------------------

 

6- Giới thiệu sách Chúa Giêsu là ai? Giảng dạy những ǵ” Của Gs Trần Chung Ngọc 

 

Nguyễn Văn Hóa 

    Trong ṿng hai năm qua, chương tŕnh truyền h́nh của đài Discovery đă chiếu đi chiếu lại cho các khán giả trên đất Mỹ và Âu châu được tường tận thưởng thức bộ phim tài liệu khảo cổ giá trị này. Nhưng trong tác phẩm “Giêsu là ai? Giảng dạy những ǵ?” của giáo sư Trần Chung Ngọc không những đào sâu thêm các chi tiết về một nhân vật Giêsu huyền thoại hóa qua “ba bằng cớ về sự ngụy tạo”, ông c̣n nêu bật lên nội dung và ư nghĩa của những lời giảng dạy của Giêsu {dù chúng ta có đồng ư nhân vật Giêsu là một nạn nhân của sự huyền thoại hóa hay không} qua Kinh Thánh về “gia đ́nh, quốc gia, luân lư đạo đức (bài giảng trên Núi)” và những phần ṇng cốt nhất trong Sách Mathiơ (Matthew). Cuốn sách này đă được nhà xuất bản Giao Điểm phát hành vào cuối năm 2002, nhưng tác giả lại muốn cống hiến ṭan bộ nội dung cuốn sách cho các độc giả trong nước. Đó là một cuốn sách có thể dùng như một cẩm nang đầy đủ nhất cho những ai muốn có câu trả lời đích xác, trọn vẹn nhất về nhân vật Chúa Giêsu.

 

Nguyễn Văn Hóa 29.4.2003

----------------------------------------------------------------------------------

 

Nhưng gần đây, khi hết hợp tác với nhau, ông Hoá lại ăn trúng ǵ không rơ mà lải nhải mâu thuẩn với chính ông ta về ông giáo sư Trần Chung Ngọc qua bài giàn dựng phỏng vấn Amy Tan, trong đó có đoạn như sau:

 

“Ông Trần chung Ngọc, thời gian ban đầu có vài bài viết khá. Thí dụ: Phật Giáo giữa hai ư thức hệ Công-Cộng, nhưng dần dà, tôi thấy ông này viết rập khuôn, có khi lập đi lập lại một số đoạn trích dẫn của tác giả Âu Mỹ nào đó mà ông đắc ư. Bài viết của ông Trần chung Ngọc th́ dài ḍng, thường từ 20 đến 30 trang đánh máy, nhưng các đoạn ngoại văn nguyên tác trích dẫn  chiếm đến gần một nửa rồi. Càng đọc người ta càng thấy nhàm chán, đơn điệu, rất-là-monotone! Đây là h́nh thức viết dễ dăi nhất: chọn lựa một số sách, một số tác giả mà ḿnh nghĩ là chống Công Giáo La Mă dữ dội nhất, trích từng đoạn rồi dịch ra, rồi chứng minh, rồi liên hệ đến đạo Công Giáo La Mă bản xứ, như Việt Nam chẳng hạn. Có một số bài viết tạo được ư nghĩa nào đó, nhưng theo tôi, không rộng và sâu… Trên phương diện tuyên truyền, đối với một thành phần quần chúng nào đó, sẽ có tác dụng, nhưng cũng có thể bị phản tác dụng, nếu tác giả cứ ôm đồm và tham lam về nguồn tài liệu sử dụng. Đối với thành phần trí thức cao, th́ ảnh hưởng rất hạn chế, nhưng có thể gây một số tác động đối với thành phần học sinh trung học, hay sinh viên vài năm đầu.”

 

ĐDTB, ngày 11/2/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend