TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

ĐẠO QUÂN THỨ NĂM (1947 - 1954).... LIÊN HỆ THỰC DÂN VÀ CÔNG GIÁO VIỆT NAM


Flag of Cambodia Flag

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I & LÊ DUẨN II: Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp) gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

Tin Thế Giới & Việt Nam

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.” (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 
* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

Bush and Blair, cartoon Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

* MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch....

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh

Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone... đọc tiếp

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

* Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

NDVN: Trích đăng bốn bài viết: “Đạo Quân Thứ Năm (1947 - 1954)", Charlie Nguyễn, “Liên Hệ Thực Dân Và Công Giáo Việt Nam” Nguyễn Văn Trung, trên mạng giaodiemonline.com, Điều Khoản Thứ 9 Của Ḥa Ước 1874, Báo ĐDTB, số 87, tháng 3 & 4 năm 2004, Và “Trận Địa Pháo”, Đ́nh Lâm Thanh, của Tạp Chí Xây Dựng, số 593, ngày 6/1/07. Cho chúng ta thấy rằng, từ ngày thực dân Pháp - Mỹ xâm lăng và đặc ách đô hộ trên đất nước ta. Bọn giáo sĩ thực dân Kytô và bọn Việt gian giáo sĩ, cùng giáo dân ngu nghiện đạo, đă dựa vào quyền lực thực dân đế quốc Pháp - Mỹ - Ngụy VNCH bức hiếp và cướp đọat tài sản đất nước Dưới hai chế độ Cần lao Công giáo Diệm Thiệu, linh mục và giám mục tại nhiều địa phương c̣n quyền thế hơn các viên chức chính quyền. Chẳng những thế nhiều chức quyền địa phương như Tướng Vùng, Tỉnh tưởng, Quận trưởng, Trưởng ty ….nhậm chức đều phải đến hầu lănh chúa áo đen linh mục và giám mục địa phương, và họ chỉ là kẻ thừa hành ngoan ngoăn ….đă được:

 

Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đă viết: “ … Người nông dân Việt Nam bị hành h́nh bằng lưỡi lê của nền “ văn minh ‘’ tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm … [ Tổng Tập Văn Học Việt Nam, 1980, tập 36, NXBKH, trg 244 ] ….và viết cuốn ( Le Procès De La Colonisation Fracaise ) vào năm 1925, về chuyện đất đai, cùng thời đó có ông Nguyễn Thế Truyền và một nhóm Cách mạng Việt Nam ở Pháp, viết nhiều sách báo tố cáo tội ác thực dân Pháp và cho Giáo hội Công giáo 200 ngàn mẫu ta đất ở Vĩnh Long ( thực dân Pháp cướp đất cho GHCGVN ) Không những thế viên thanh tra chính trị Toàn quyền, ông Aurousseau (?), đă viết tài sản GHCGVN ở Việt Nam ( khi cuộc đô hộ Việt Nam mới vững chân) c̣n lớn hơn là tài sản của Chính phủ Đông Pháp ( gồm có Việt Miên Lào ) ( trích Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolo II, của Vũ Trọng Minh, tr 243 – 244 )…

 

Cho nên, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người, v́ lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng , cũng như Ngụy quân Ngụy quyền, bọn tham ô, gian thương.bóc lột nhân dân trong thời đánh Mỹ, đă bỏ đơn vị và dân nghèo chạy lên thành phố tỵ nạn chiến cuộc, trước khi quân giải phóng kháng chiến Việt Minh chiếm lại đất cho dân. Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc Phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ ǵ tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất Click đọc HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TÀ ĐẠO LINH MỤC LƯU MINH HOÀNG D̉NG GIUSE NHA TRANG NỔI LOẠN

 

Bốn bài viết trích đăng dưới đây, là một trong những hàng triệu chứng liệu trong thư khố, sử liệu thế giới và Việt Nam, về cuộc xâm lăng đô hộ của thực dân đế quốc Pháp - Mỹ - Vatican và bọn Đạo Quân Thứ Năm Ngụy Việt gian Công giáo ngu nghiện đao tàn hại bốc lột…nhân dân ta.

 

 

ĐẠO QUÂN THỨ NĂM CÔNG GIÁO

(1947-1954)

Charlie Nguyễn

 

 

I. Hoạt động chính trị quân sự của Công Giáo miền Nam Việt Nam.

Leroy. Ảnh: N.M.H. (chụp lại từ ảnh tư liệu của ông Lê Quang Tṛ (Chín Quang), nguyên Bí thư huyện uỷ B́nh Đại).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(a) Tiểu sử đại tá Jean LeRoy : Ông là nhân vật chủ yếu trong các hoạt động của Công Giáo miền Nam trong giai đoạn lịch sử 1947-54. LeRoy sinh năm 1920 tại xă B́nh Đại, tỉnh Bến Tre, gia nhập trường sĩ quan Tông (Sơn Tây) và ra trường với cấp chuẩn úy năm 1940. Năm 1943, y được cử làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn lính Raddhé ở Thủ Đầu Một. Cuối năm 1945, LeRoy cùng với quân đội Pháp tái chiếm Saigon; kế đến y thành lập những đơn vị partisans (biệt động quân) đánh chiếm Mỹ Tho, Cái Răng, B́nh Thủy, Cái Vồn, Phụng Hiệp và nhiều quận lỵ Nam Kỳ. Năm 1950, chính phủ Nguyễn Văn Thinh cử y làm tỉnh trưởng Bến Tre

(b) Lực lượng vơ trang UMDC (Các đơn vị lưu động bảo vệ tín đồ KiTô Giáo) : Vào tháng 7-1947, Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương là tướng De Latour cho phép Jean LeRoy thành lập 3 Chiến Đoàn Lưu Động Công Giáo để bảo vệ Bến Tre. Lực lượng vơ trang này mang tên “Unités Mobiles de Défense des Chrétiens”, viết tắt là UMDC, do LeRoy làm Thanh Tra với cấp bậc đại úy. Năm 1948, lực lượng vơ trang này đổi thành “Tiểu Đoàn Phụ Lực Quân” (Forces Suppletifs) thuộc quân đội viễn chinh Pháp do LeRoy chỉ huy với cấp bậc Trung Tá. Năm 1950, Leroy được thăng cấp Đại Tá.

 

Điều khôi hài là đạo quân của LeRoy được tổ chức giống như một doàn “Thập Tự Quân” (the Crusade): Phù hiệu và quân kỳ của UMDC là h́nh Thập Giá mầu xanh lơ (blue) trên nền cờ vàng có thêu 4 chữ La Tinh “PRO DEO ET PATRIA” (V́ Chúa và Tổ Quốc). Khẩu hiệu “V́ Chúa” có thể chấp nhận được v́ mục tiêu của đạo quân này là “bảo vệ Đạo”; nhưng khẩu hiệu “v́ Tổ Quốc” th́ cần phải đặt vấn đề: LeRoy là một sĩ quan Pháp, UMDC lúc này đă trở thành một lực lượng phụ lực của quân đội viễn chinh Pháp. Như vậy, khẩu hiệu “V́ Tổ Quốc” phải được hiểu là “Tổ Quốc Pháp” chứ không phải là “Tổ Quốc Việt Nam”.

 

Trong mấy năm kế tiếp, UMDC được tổ chức thành 88 đơn vị, mỗi đơn vỉ có 71 người (60 binh sĩ, 1 sĩ quan, 1 thượng sĩ, 3 trung sĩ và 6 hạ sĩ). Tổng số quân gồm có khoảng 6,200 người. Đoàn quân này mở các cuộc hành quân từ Saigon - Chợ Lớn đến Biên Ḥa, Long An, Mỹ Tho, G̣ Công, Bến Tre, Long Xuyên, Sóc Trang, Bạc Liêu, Trà Vinh, ....

 

(c) Đảng “Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Việt Nam” : Sau khi Vatican lên tiếng kết án chủ nghĩa Cộng Sản, ṭa ổng Giám Mục Saigon tích cực ủng hộ LeRoy và một số nhân sĩ Công Giáo như Jean Baptist Đôn và Huỳnh Công Hậu đứng ra lập “Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo”. Mục tiêu của đảng này là bảo vệ Đạo, ủng hộ Bảo Đại nắm chính quyền và thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, ủng hộ giải pháp Việt Nam gồm có 3 kỳ phân lập và Nam Kỳ tự trị. Năm 1952, lực lượng UMDC bị sát nhập vào Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Từ 1954, LeRoy định cư tại Pháp và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa.

 

II. Hoạt động chính trị quân sự của Công Giáo miền Bắc Việt Nam.

 

Tên Đại Việt gian lănh chúa khu Bùi Chu Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi

 

1. Phong Trào Quốc Gia Tự Vệ : Phát Diệm là tên của một làng Công Giáo thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh B́nh. Bùi Chu là tên một xă Công Giáo thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Từ 1945, Phát Diệm thành trụ sở Ṭa Giám Mục Phát Diệm dưới quyền cai quản của giám mục Lê Hữu Từ. Từ 1950, Bùi Chu thành Ṭa Giám Mục địa phận Bùi Chu dưới quyền của giám mục Phạm Ngọc Chi.

 

Sau khi Nhật đảo chánh năm 1945, linh mục Hoàng Quỳnh, lúc đó là Tổng Tuyên Úy đoàn thanh niên Công Giáo Phát Diệm, đă lập chiến khu tại Chi Nê và vơ trang Đoàn Thanh Niên Công Giáo thành Lực Lượng Tự Vệ.

 

Đêm 20-8-1945, Hoàng Quỳnh mang quân từ chiến khu Chi Nê về cướp chính quyền tại huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Nho Quan và Thường Tín.

 

Năm 1949, quân Pháp chiếm Bùi Chu và Phát Diệm, Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo đổi tên thành “Phong Trào Quốc Gia Tự Vệ” liên lạc trực tiếp với quốc trưởng Bảo Đại.

 

2. Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam : được thành lập do nghị định của Bộ Trưởng Nội Vụ Huỳnh Thúc Kháng, thuộc Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến cho phép. Liên Đoàn Công Giáo có mục đích tập họp tất cả các hội đoàn Công giáo thành một khối chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của giáo hội, gây t́nh thân thiện giữa đồng bào Lương-Giáo, v.v... Đây là một tổ chức hữu danh vô thực.

 

Tên Đại Việt gian lănh chúa khu tự tri Phát Diệm Anselmô Tađéo Lê Hữu Từ

3. Khu an toàn của những người “quốc gia” : Giám mục Lê Hữu Từ được chủ tịch Hồ Chí Minh cho giữ chức “Cố Vấn Tối Cao” trong Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Lợi dụng chức vụ này, giám mục Lê Hữu Từ đă tránh cho Phát Diêm không bị “tiêu thổ kháng chiến” và tản cư. Ngoài ra, vào tháng 9-1947, chính phủ Hồ Chí Minh đă cử một phái đoàn về Phát Diệm để trao cho “cố vấn tối cao” Lê Hữu Từ một văn thư trong có đoạn như sau : “ ... Tôi muốn san sẻ một phần trách nhiệm bằng cách nhường hẳn quyền cai trị toàn quận Kim Sơn gồm 40 xă ấp (trong đó có 32 giáo xứ) với khoảng 150,000 dân. Các cơ quan hành chánh và quân sự của chính quyền sẽ rút đi hết để Cố Vấn toàn quyền tổ chức....”.

 

Từ đó xuất hiện “Khu An Toàn Phát Diệm”. Các cán bộ chính quyền phải rút ra hết và không được phép xâm nhập trở lại. Phát Diệm trở thành “Đất Thánh” an toàn cho 60,000 người tỵ nạn từ các nơi đổ về, hầu hất đều là những thành phần đảng phái chồng Cộng, các người hoạt động chính trị bị Việt Minh truy nă, trong số đó có vợ chồng Trần Văn Chương, Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Diệm.

 

4, Lực Lượng Tự Vệ Công Giáo Bùi Chu – Phát Diệm trở thành phụ lực quân cho quân đội Pháp: Bùi Chu – Phát Diệm là khu tự trị trực thuộc quốc trưởng Bảo Đại. Sĩ quan Pháp không có quyền ra lệnh cho quân nhân Việt Nam. Tuy nhiên, giữa quân đội Pháp và lực lượng Tự Vệ Công Giáo có một qui ước về hệ thống đóng quân theo h́nh Tam Giác: một đồn binh Pháp đóng ở giữa, th́ có 3 đồn Tự Vệ Công Giáo đóng ở 3 góc, với đường kính 10 km.

 

Quân đội Pháp có nhiệm vụ bao bọc che chở cho các đồn Tự Vệ Công Giáo bằng các loại vũ khí nặng. Trước khi hành quân, quân đội Pháp phải mở những cuộc tảo thanh mở đường.

  

III. Hoạt động chiến tranh tâm lư hiểm độc của các giám mục Việt-Pháp họp tại Hà Nội ngày 9-11-1951

 

Từ năm 1948, thực dân Pháp bị quân kháng chiến Việt Nam đánh trả rất ác liệt trên khắp các mặt trận khiến cho chúng lâm vào t́nh trạng lúng túng và lo sợ. Các giáo dân hoang mang chỉ sợ Pháp thua bỏ chạy th́ họ sẽ bị bỏ lại và lâm vào t́nh trạng nguy hiểm v́ sẽ bị “Việt Minh trả thù” !

 

Vào cuối năm 1951, t́nh trạng Công Giáo Việt Nam thật bi đát v́ “sự hỗn loạn xao xuyến đang đè nặng trên tâm hồn giáo dân” nên các giám mục (9 Pháp, 5 Việt) thuộc các hội Truyền Giáo tại Việt Nam, đă họp tại Hà Nội để soạn thảo và công bố Thư Chung của các Giám Mục họp tại Hà Nội ngày 9-11-1951 (bản chánh bằng tiếng Pháp).

 

Phân tích bức thư chung này, chúng ta sẽ thấy các giám mục đă đưa ra những đón tâm lư chiến rất thâm hiểm. Họ thừa biết cuộc tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp là không có chính nghĩa, nên sẽ bị mọi người Việt Nam yêu nước, dù là Cộng Sản hay không Cộng Sản, chống trả mănh liệt. Do đó, họ khôn khéo lái “t́nh yêu Tổ Quốc” theo một hướng khác. Các giám mục lư luận: “Ư niệm Ki Tô Giáo về Tổ Quốc không loại trừ những quốc gia khác mà chúng ta cũng phải yêu mến bởi v́ tất cả chúng ta đều là con của cùng một Chúa. (La notion chrétienne de Patrie n’exclut pas les autres nations que nous devons aimer aussi par ce que nous sommes tous fils du même Dieu). Điều này có nghĩa rằng: “các giáo dân Việt Nam cũng phải yêu nước Pháp và người Pháp v́ họ và ta đều là con một Chúa !”

 

Đa số các giáo dân quê mùa đă nghe theo những lời nói trên của các giám mục, v́ là “những anh em con cùng một Chúa” (fils du même Dieu) . Mỗi khi bọn lính Pháp bị tử trận, các xác chết được họ coi bọn giặc Pháp đồng đạo đưa vào nhà thờ để cho cha xứ “làm phép xác” và làm lễ cầu hồn cho chúng. Mấy bà già thấy bọn lính Pháp chết đă tỏ ra thương xót, có người c̣n lấy tràng hạt của họ đeo vào cổ xác lính tây.

 

Trái lại, sau mỗi lần hành quân tại mấy làng lân cận, bọn lính tự vệ Công giáo bắt những người lương mà chúng nghi là “Việt Minh”. Bọn chúng trói những ngựi đó và giải lên đồn Tây. Khi tiếp nhận những người này, bọn lính Pháp có thói quen dùng báng súng đập thằng vào ngực vào mặt các nạn nhân khiến cho họ vung máu tung tóe. Bọn lính tự vệ Công giáo không hề cảm thấy thương xót đồng bào ḿnh, trái lại dù cho chúng bắn giết họ chăng nữa, chúng cũng không hề hối hận, v́ chúng đă nghe theo bọn giám mục coi những người kháng chiến là “Cộng Sản vô thần”, là “con cái ma qủi” hoặc “kẻ thù của Thiên Chúa” (des enemis de Dieu). Giết “Cộng Sản Vô Thần”, cũng như giết “con cái ma qủi” hoặc “kẻ thù của Thiên Chúa” chẳng khác nào giết một con rắn độc, chẳng những không có tội mà c̣n có công trước mặt Chúa và giáo hội nữa ! Do đó, bọn vệ sĩ Công giáo tha hồ giết người và gây tội ác mà không phải ăn năn hối hận ǵ cả !

 

Bọn giám mục không có một lư luận chính đáng nào để có thể biện minh cho sự có mặt của những đoàn quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam. Bọn Pháp trở lại Việt Nam chỉ có một mục tiêu duy nhất là tái chiếm thuộc địa Đông Dương mà chúng đă bị mất sau 1945. Trong thư chung ngày 9-11-51, các giám mục không hề đả động tới vấn đề xung đột Pháp-Việt mà chỉ đề cập đến vấn đề xung đột giữa giáo hội Công giáo và Cộng Sản: giáo hoàng Pio XII đă tuyên bố: Không một ai có thể cùng một lúc vừa là Công giáo vừa là Cộng sản. Người Công giáo gia nhập đảng Cộng Sản là phản bội giáo hội. Các giáo dân đều bị cấm không được theo Cộng Sản, và không được làm bất cứ điều ǵ có thể giúp Cộng sản lên nắm chính quyền...

 

Bọn giám mục nói quá nhiều về Cộng Sản làm cho giáo dân Việt Nam quên mất hành động quân Pháp trở lại xâm lăng Việt Nam và do đó họ quên mất nghĩa vụ của người công dân là kháng chiến chống Pháp để cứu nước !

 

Cuối cùng, các giám mục hô hào giáo dân hăy “kháng chiến” , nhưng không phải là kháng chiến chống Pháp mà là “kháng chiến chống Cộng Sản” và “trung thành với Chúa” (Alors résistez, très cher frères, soyez fidèles à notre Dieu).

 

Thư chung của các giám mục viết tại Hà Nội ngày 9-11-1951 (nguyên văn bằng tiếng Pháp) được tất cả các linh mục thuộc các giáo xứ trên toàn quốc Việt Nam đọc tại nhà thờ và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bài giảng để phổ biến đến toàn thể giáo dân Việt Nam. Đây chỉ là một trong nhiều bằng chứng cụ thể vể hoạt động chiến tranh tâm lư của hàng ngũ giám mục Việt cũng như Pháp.

 

Cũng xin nói ở đây là “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam” (HĐGMVN) hiện nay đă được thành lập do sắc chỉ ngày 24-11-1960 của giáo hoàng Gioan XXIII. Thư chung ngày 9-11-1951 nói trên đây không phải là sản phẩm của HĐGMVN mà là của 14 giám mục (9 Pháp, 5 Việt) thuộc các Hội Truyền Giáo tại Việt Nam. (Les ordinaires des Missions du Vietnam).

 

Mặc dù danh xưng có khác, nhưng bản chất đầu óc nô lệ và truyền thống bán nước của bọn giám mục trẻ hiện nay so với bọn giám mục già xưa kia (Nguyễn Bá Ṭng, Ngô Đ́nh Thục, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Văn Đoàn, Trịnh Như Khuê) chắc chắn chẳng có ǵ khác nhau. Muốn vô hiệu hóa sự tác hại của đạo quân thứ năm Công giáo, tôi thiết nghĩ việc tiên quyết là phải giải tán HĐGMVN. HĐGMVN là cơ quan chỉ huy tối cao của giáo hội Công giáo Việt Nam (chiếm 7 – 8% dân số) . Chính quyền cần phải chú ư theo dơi nội dung các Thư Luân Lưu hoặc Thông Cáo của HĐGM, bởi v́ các thư này thường có tác dụng rất lớn về tâm lư đối với toàn khối 7 triệu giáo dân, và do đó sẽ có tác dụng đối với vận mệnh của Tổ Quốc.

 

Charlie Nguyễn

5/2004

 

Dưới đây là nguyên bản Thư Chung bằng tiếng Pháp và bản dịch Việt ngữ của Giuse Phạm Hữu Tạo :

 

Lettre Commune Des Ordinaires Réunis A Hanoi

(texte original en francais)

9 novembre 1951

 

Nos bien chèrs frères,

 

 

Les ordinaires des Missions du Vietnam réunis à Hanoi sous la présidence de son Excellence Monseîgneur le Délégué apostolique, ont jugé qu'il est de leur devoir de coordonner leurs efforts en vue de coopérer plus efficatement à l'oeuvre de pacification des coeurs et restauration chrétienne qui s'impose à l'heure actuelle.

 

Les Êvêques du Viêtnam, émus de la confusion qui règne dans les esprits, croient de leur devoir de préciser la notion de la Patrie. Le Patriotisme, c'est l'amour de la Patrie, et la Patrie étymologiquement, c'est la terre des ancêtres. La Patrie, c'est donc une extension de la famille, l'une comme l'autre se rattachent à la vertu de piété, et par conséquent nous ne pouvons que l'encourager et le développer au même titre que les autres vertus chrétiennes. La notion chrétienne de Patrie n'exclut pas les autres nations que nous devons aimer aussi parce que nous sommes tous fils du même Dieu.

 

Animé par le sentiment de notre grave responsabilité devant Dieu et d'une grande affection pour vous tous, nos très chers frères, nous estimons qu'il est de notre devoir de vous mettre en garde contre le très grand danger du communisme athée, qui est le plus grand danger existant de nos jours. Le communisme est la négation de Dieu, la négation de toute religion, la négation de l'existence d'une âme immortelle, la négation des droits de la personne humaine et de la famille. Il y a la plus entière opposition entre l’Église Catholique et le communisme à tel point que notre Saint Père le pape a déclaré qu'il est absolument impossible d'être à la fois communiste et catholique et que tout catholique qui adhère au parti communiste est par le fait même séparé de L’Église. Non seulement, il vous est interdit d'adhérer au Parti Communiste, mais vous ne pouvez pas coopérer avec lui ou faire quoi que ce soit qui puisse de quelque facon amener le Parti Communiste au pouvoir.

 

Le danger est si grave et les conséquences possibles si terribles que nous nous sentons obligés de vous mettre en garde aussi contre les détours et les ruses employés par les communistes pour tromper le peuple, ruses qui ne servent que les seules fins des communistes.

 

En premier lieu, ils font preuve d'un grand zèle pour les réformes sociales et mettent en avant leur doctrine comme un remède aux maux sociaux de nos jours. Ils se cachent aussi sous le masque du patriotisme et cherchent par leur prétendu zèle pour le bien être de leurs compatriotes à rallier le peuple sous leur bannière. Mais ce ne sont là que des moyens pour atteindre leurs fins inavoués et une fois au pouvoir, ils installent une dictature impitoyable. Ce ne sont plus les intérêts des pauvres et des ouvriers, ni les intérêts de la Patrie qui comptent, ce sont uniquement les intérêts du communisme. Ainsi dans les pays sous le joug communiste, règnent la suppression de tout les biens et la persécution des milliers de nos frères catholiques, ces derniers vivent dans la terreur, ils dépérissent en prison, payant même de leur sang leur fidélité à la foi.

 

Alors résistez, très chers frères, ne vous laissez pas tromper, soyez fidèles à notre Dieu. Veuillez, soyez vigilants, restez ferme dans la foi.

 

Et vous, chers prêtres, enseignez la doctrine sociale de l'Église, instruisez les peuples des vertus chrétiennes de charité et de justice. Prêtres et fidèles, vivez intensément votre vie chrétienne selon les maximes de L'Évangile. La charité des premiers chrétiens a amené la conversion du monde: la charité, c'est à dire supporter son prochain, lui pardonner, lui vouloir et réellement lui faire du bien. L'amour du Christ a vaincu la haine, votre charité vaincra la haine des enemis de Dieu. Que voire voie soit toujours un témoignage pour Dieu, le Christ et l’Église.

 

Pour conclure, nous vous répétons encore avec saint Paul: “Veillez, restez ferme dans la foi, soyez vigilants, soyez forts, tout ce que vous faites, faites-le dans la charité” (I Cor. XVI, 13-14).

 

Nous demandons à nos prêtres de lire la présente lettre dans les Églises et leurs Oratoires. A tous, prêtres et fidèles, nous donnons de tout coeur notre bénédiction paternelle. Grace et paix vous soit données de la part de Dieu, notre Père, et du Signeur Jésus Christ.

 

Hanoi, le 9 novembre 1951

 

- John Dooley, Délégué apostolique en Indochine.

- Jean Baptiste Chaballier, Vicaire apostolique de Phnom-Penh.

- Pierre Ngô Đ́nh Thục, Vicaire apostolique de Vĩnh Long.

- Jean Cassaigne (Sanh) - de Saigon.

- Marcel Piquet (Lợi) - de Qui Nhơn.

- Jean Marie Maze (Kim) - de Hưng Hóa.

- Anselme Tadée Lê Hữu Từ - de Phát Diêm.

- Jean Baptiste Urritia - de Huế.

- Pierre Marie Phạm Ngọc Chi - de Bùi Chu.

- Domonique Hoàng Văn Đoàn - de Bắc Ninh.

- Joseph Maide Trịnh Như Khuê - de Hanoi.

- Fr. Félice Pérez (Hiên) - Provicaire apostolique de Haiphong.

- Bernard Illomera (Yên) - Provocaim apostoloque de Thái B́nh.

- Paul Renaud (Ái) - Provicaire apostolique de Kontum.

 

Thư Chung Của Các Giám Mục Công Giáo La Mă Họp tại Hà Nội

ngày 9 tháng 11 năm 1951

(bản dịch của Giuse Phạm Hữu Tạo)

 

Anh em thân mến,

 

Chúng tôi, những giám mục của Hội Truyền Giáo tại Việt Nam họp tại Hanoi, dưới quyền chủ tọa của Đức Ông Khâm Mạng Ṭa Thánh, đă thấy bổn phận của chúng tôi là phải kết hợp những nỗ lực để công tác hữu hiệu trong sự mưu t́m an b́nh cho ḷng người và phục hoạt đạo Chúa hiện nay.

 

Là những giám mục tại Việt Nam, xao xuyến trước sự hỗn loạn đang đè nặng trên tâm hồn giáo dân, nghĩ rằng bổn phận của chúng tôi là phải xác định rơ ràng ư niệm Tổ Quốc! Ái quốc là t́nh yêu dành cho Tổ quốc, tổ quốc theo ngữ học là mảnh đất của tổ tiên. V́ vậy, tổ quốc chính là sự nối tiếp của gia đ́nh, cả hai ràng buộc với nhau trong sự sùng kính, nên chúng tôi phải khuyến khích sự phát triển ngang nhau với những lẽ đạo khác. Ư niệm của đạo về Tổ Quốc không hề bỏ ra ngoài các quốc gia khác mà chúng ta phải yêu mến v́ thất cả chúng ta đều là con cái Chúa!

 

Tác động bởi trách nhiệm nặng nề của chúng tôi trước Chúa và với một t́nh yêu lớn dành cho anh em, chúng tôi thấy cần phải nhắc nhở các anh em hăy cảnh giác trước hiểm họa Cộng sản vô thần là một hiểm họa lớn nhất trong thời đại chúng ta, Cộng sản chối bỏ Chúa, chối bỏ tín ngưỡng, chối bỏ linh hồn bất diệt, chối bỏ nhân quyền và gia đ́nh. Lại c̣n có sự chống đối toàn diện ác liệt giữa Cộng sản và giáo hội, đến nỗi đức thánh Cha đă phải tuyên bố quyết liệt rằng không thể nào có thể vừa là Công giáo vừa là Cộng sản. Và người Công giáo khi gia nhập đảng Cộng sản, bằng hành vi ấy đă xa ĺa giáo hội. Không những anh em bị cấm không được gia nhập đảng Cộng sản, mà anh em c̣n không được cộng tác để làm bất cứ điều ǵ để có thể đưa đảng ấy lên cầm quyền. Hiểm họa quá lớn và những hậu qủa rất ghê sợ, nên chúng tôi cũng buộc ḷng phải cảnh giác anh em trước những lèo lái hay xảo thuật Cộng sản đă dùng để lừa bịp dân chúng chỉ nhằm chiếm đoạt được mục tiêu của họ.

 

Trước hết, họ đă chứng tỏ có nhiều nhiệt t́nh để cải cách xă hội và đề ra lư thuyết như là phương thuốc chữa trị những tệ đoan xă hội. Họ không che dấu mặt nạ yêu nước và cũng t́m cách đặt ra sự nhiệt t́nh làm như lo cho hạnh phúc đồng bào để quy tụ dân chúng dưới mầu cờ của họ. Nhưng đó chỉ là những phương tiện nhắm đạt tới những mục tiêu không tưởng của họ và khi cầm quyền rồi, họ áp đặt một nền độc tài tàn nhẫn. Không c̣n nữa những phúc lợi của người nghèo hay của giới công nhân lao động, cũng chẳng c̣n quyền lợi ǵ của tổ quốc nữa, mà chỉ c̣n quyền lợi của Cộng sản thôi. Bởi vậy, ngự trị trong các nước Cộng sản là sự tước bỏ mọi phúc lợi và sự đàn áp hàng ngàn anh em Công giáo, những người này phải sống trong sợ hăi, chết rũ trong tù ngục, phải đổ máu ra để bảo vệ đức tin.

 

Vậy xin anh em hăy chống cự, đừng bị mắc lừa, hăy trung thành với Chúa! Xin hăy thức tỉnh và sống mạnh bằng đức tin. Và qúy vị, những linh mục, hăy giảng dậy học thuyết xă hội Công giáo, dậy cho giáo dân những đức tính Công giáo về bác ái và công b́nh. Linh mục và giáo dân hăy sống đạo theo đúng với những lời dậy trong Thánh kinh. Đức bác ái của những người Công giáo đầu tiên là hoán cải thế giới. Đức bác ái là giúp đỡ đồng loại, tha thứ cho họ và thực sự làm những điều tốt cho họ. T́nh yêu của đấng Ki-tô đă thắng hận thù, t́nh yêu của anh em cũng sẽ thắng kẻ thù của Chúa. Ước ǵ con đường anh em đi là sự làm chứng cho Chúa, đấng Cứu Thế và Giáo hội.

 

Để kết thúc, chúng tôi xin nhắc lại với anh em lời nói của thánh Phao-lồ:”Xin hăy vững mạnh trong đức tin, hăy thức tỉnh và hăy mạnh dạn trong mọi việc của anh em làm trong t́nh bác ái!”

 

Chúng tôi xin các linh mục đọc thư này trong các nhà thờ và nhắc nhở trong bài giảng. Với các linh mục và các anh em, chúng tôi ban phép lành thần phụ của chúng tôi. Xin Chúa Trời là Cha của chúng ta, và đấng KiTô ban ơn sủng và sự b́nh an cho các anh em.

 

Hanoi, ngày 9-11-1951

 

kư tên : 14 giám mục (9 gốc Pháp, 5 gốc Việt)

 

Việt gian Phạm Ngọc Chi và các Bà sơ báo cáo tin tức cho Pháp

LIÊN HỆ THỰC DÂN VÀ CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN TRUNG

 

 

LANESSAN

 

Lanessan là ông quan thuộc địa đầu tiên gây dựng cho chế-độ thực-dân ở Đông-Dương một chủ-nghĩa, một chính-sách hẳn hoi. Chủ-nghĩa ở đây chưa hẳn là một hệ tư-tưởng hoàn toàn, nhưng chủ-yếu chỉ là một đường lối, kế-hoạch nhằm xác-định những tiêu-chuẩn hướng-dẫn hành-động cụ-thể là việc cai-trị thuộc-địa.

.

Ông là một người trí-thức, giáo-sư thạc-sĩ sinh-vật học ở trường Y-khoa Paris, tác-giả nhiều sách nghiên-cứu khoa-học và sau khi được Chính-Phủ cử đi tham-quan các thuộc-điạ Pháp và được đặt làm toàn-quyền Đông-Dương, ông viết nhiều sách biên-khảo về thuộc-điạ.

 

Có lẽ Lanessan là người tiêu-biểu hơn cả về đường lối chính-trị cao trong những buổi đầu của chế-độ thực-dân.

 

Đọc những sách ông viết, người ta không thấy cái giọng sảo-quyệt và thái-độ khinh bỉ người Việt như Lyautey (Xin xem Phụ chú ở cuối bài về ông Tây Lyautey này). Ngược lại h́nh như ông vẫn giữ được thái-độ nghiên-cứu trong khi khảo sát thực tại thuộc-địa như thái-độ của một chuyên-viên, một nhà kỹ-thuật.

 

Đă hẵn ông tin ở thuộc-điạ và nhằm phục-vụ quyền-lợi thuộc-địa của nước Pháp. Nhưng v́ ông cho rằng chỉ phục-vụ tốt, lâu dài quyền-lợi đó khi những người lănh-đạo thuộc-địa không vụng-về và bạc-đăi quá người bản-xứ. Đó là đường lối chính-trị cao. Có lẽ khi ông làm toàn-quyền, ông cũng khôn-khéo, dè-dặt, biết điều đối với người bản-xứ qua một vài vụ khó xử mà ông đă trích-dẫn làm ví-dụ trong các sách của ông.

 

Trong cuốn “Sự bành-trướng thuộc-điạ của nước Pháp” (1), hơn một ngh́n trang, ông nghiên-cứu về điạ-lư, khí-hậu, dân-tộc, văn-hóa các thuộc-điạ của Pháp để đặt một cơ-sở lư-thuyết có tính-chất thực-tiẽn, cho việc khai-thác thuộc-điạ. Trong sách, có một phần bàn về Đông-dương. Có lẽ đây cũng là một trong những công-tŕnh biên-khảo đầu-tiên của người Pháp về đất đai sông ng̣i, khí-hậu, sinh-vật ở Việt-Nam.

 

Một nguyên-tắc căn-bản mà Lanessan rút ra được từ công tŕnh biên-khảo ít nhiều có tính-cách khoa-học về điạ-lư, nhân-văn của các thuộc-điạ là:

 

Mỗi nơi có một hoàn-cảnh điạ-lư, văn-hoá, dân-tộc khác nhau, mỗi xứ có những khả-năng để khai-thác khác nhau, nên chính sách thuộc-điạ cũng phải thay đổi để thích-nghi. Chẳng hạn không thể coi xứ Annam như một xứ thuộc-điạ Phi-châu.

 

Lanessan viết:

 

“Từ những nguyên-tắc đó, phải coi xứ Annam như một thuộc-điạ có một nền văn-minh tương-đối cao, có một khí-hậu không thuận-lợi cho việc phát-triển vô-hạn gịng-giống chúng ta, cũng không thuận-tiện cho việc cư-ngụ măi-măi người Âu-châu; cho nên chúng ta sẽ coi việc cố-gắng tôn-trọng những chế-tài chính-trị, xă-hội của người Annam làm tiêu-chuẩn tổ-chức thuộc-điạ. Chúng ta phải coi dân chúng ở thuộc-điạ này như người hiệp-tác (associé) trong công-cuộc văn-minh tiến-bộ mà bất-cứ một công-cuộc thực-dân nào cũng phải coi như là mục-tiêu”, (trang 542)

 

“Một xứ rất giàu về nông-sản, không kể những nguyên-liệu hầm-mỏ, có một tương-lai thương-mại rất lớn, từ nay ở dưới quyền cai-trị của ta. Dân-cư của nó, ước độ 20 triệu là một trong số những dân diụ-dàng và dễ cai-trị nhất hoàn-cầu; đó cũng là một dân thông-minh nhất trong số những dân bị người Âu-châu cai-trị. Sau cùng sức bành-trướng của dân-tộc này khá mạnh cho nên chúng ta có thể mong rằng sau này nó sẽ tràn khắp các miền c̣n hoang-vu ở những xứ giáp với sông Cửu-Long, Sông Đồng-Nai, sông Hồng, nghiă là phần đất đẹp và giàu nhất Đông-dương.

 

Muốn đạt tới những kết quả đó, phải làm ǵ? cần những người cai-trị sáng-suốt và cần-mẫn biết tôn-trọng luật-lệ, phong-tục người bản-xứ và biết làm cho họ cộng-tác với ḿnh trong công-cuộc xây-đắp văn-minh…Cần những người thực-dân khéo-léo hơn là có nhiều , những nhà tư-bản đáng tín-nhiệm và quả-cảm. Nếu những điều-kiện đó không t́m thấy ở Pháp, th́ phải thất-vọng về tương-lai buôn bán, kỹ-nghệ và chính-trị của nước chúng ta” (trang 692).

 

Cuốn thứ hai viết riêng về Đông-Dương (2) sau khi đi tham quan về, vừa có tính cách biên-khảo, vừa như là một bản bá cáo, tường-tŕnh t́nh h́nh cho chính-phủ Pháp. Sách dầy gần 800 trang bàn nhiều về đường lối nên theo ở Đông-Dương. Lanessan chủ-trương bảo-hộ thực sự. Chỉ dùng một số người Pháp cai-trị có khả-năng, khôn-khéo để lănh đạo; c̣n sự thừa-hành nhường lại cho người bản-xứ và tôn trọng quyền-hạn của họ, nhất là ở Bắc-kỳ và Trung-kỳ, Lanessan tố-cáo “chính sách mập mờ” của Pháp mà Lanessan cho là tai hại:

 

“Hai chánh-sách khác nhau có thể áp-dụng ở Trung-kỳ và Bắc-kỳ, chính sách sát-nhập và Bảo-hộ. Nhưng cả hai không bao giờ được thực-hiện một cách ngay thẳng rơ-rệt” (trang 683).

 

Theo Lanessan, chính những quan cai-trị Nam-kỳ chủ trương chính sách sát-nhập Trung và Bắc-kỳ. Tinh-thần hoà ước 1883 và 1884 là muốn tách Bắc-kỳ khỏi Trung-kỳ để tạo ra chế-độ chính-trị khác nhau và để về sau sát nhập Bắc-kỳ trước, rồi Trung-kỳ sau.

“Ở Bắc-kỳ, chính sách của chúng ta ngay từ ngày đầu là chính sách chiếm đoạt hay sát-nhập trá h́nh” (trang 700).

 

Cũng theo Lanessan, về sau, bọn quan cai-trị Nam-kỳ không thể thực hiện ngay chính-sách biến Trung và Bắc-kỳ thành thuộc-điạ, nên họ tạo ra cái “Liên-hiệp Đông-Dương” và lập toàn quyền:

 

“Buộc phải từ bỏ chính sách vết dầu loang, những tay chủ-trương sát-nhập ở Sài-g̣n bám vào ư-tưởng một liên-hiệp Đông-dương nghĩa là sự thành-lập một toàn-quyền chung mà Sài-g̣n sẽ là Thủ-Đô” (trang 747).

 

Lập Liên-hiệp tức là nhằm xoá bỏ tính cách tự trị của mọi xứ trong liên bang.

 

Trong sách, Lanessan cũng chú-trọng tới vấn-đề đối xử với các tôn giáo mà ông sẽ c̣n nói nhiều hơn trong cuốn “Nguyên-tắc Thực-dân

 

Lanessan chống lại chính-sách của những người Pháp muốn ưu-đăi người Công-giáo để cho họ trung-thành với nước Pháp. Nhưng Lanessan cho rằng thành-phần theo đạo Thiên-Chúa thường dốt, nghèo, không phải thành-phần giàu có, học-thức, nên không lợi ǵ mà trái lại c̣n hại v́ “khi chính-quyền sốt-sắng nâng-đỡ người Công-giáo, chính-quyền làm mất ḷng một phần lớn dân chúng và làm hỏng công-cuộc khai-khẩn thuộc-điạ , và Lanessan kết-luận:

 

“Quyền- bính của nước Pháp sẽ được tôn-trọng hơn nếu đừng tự coi trước mặt người Phật-giáo như đứa con trưởng của Giáo-hội La-mă (trang 61).

 

Nói cách khác, Lanessan chống lại đường lối các “hội thừa sai hay là chính-sách thực-dân bằng tôn-giáo” (colonisation par la religion) như đă thi hành ở Phi-Luật-Tân; chẳng những không lợi về kinh-tế v́ chả mở mang được ǵ mà c̣n hại về tâm-lư, và chủ-trương một chính-sách thực-dân theo lối đời (colonisation laique) như người Anh và Hoà-Lan đă làm.

 

Ông viết: “Trong khi những thuộc-địa Hoà-Lan, Anh có những con đựng đẹp, đường xe lửa cầu-cống, th́ Phi-Luật-Tân chỉ có đường nhựa ở vùng lân-cận những trung-tâm lớn và tất cả ngân-sách đều dùng vào việc xây nhà thờ, nhà ḍng và dinh-thự công-cộng” (trang 43)

 

Lanessan tố-cáo chính-sách ưu-đăi người Công-giáo v́ mục-đích chính-trị; bằng cách chứng-minh rằng chánh sách đó không lợi ǵ về chính-trị:

 

“Chúng ta có thấy đó là sai-nhầm không khi chúng ta coi đạo của chúng ta như chính-sách chính-trị của chúng ta, đến nỗi có thể làm cho người bản-xứ nghĩ rằng người Pháp và Công-giáo là như nhau? Chúng ta có tôn-trọng những đền chùa, thần-linh của người Bản-xứ như chúng ta muốn người ta tôn-trọng nhà thờ và Chúa của chúng ta?

 

Ở khắp xứ Bắc-kỳ và Trung-kỳ, tôi thấy những chùa - chiền bị quân-đội chiếm-đóng, đôi khi một cách vô-ích, làm gương xấu cho dân chúng; binh lính của ta c̣n ăn trộm cắp những đồ thờ-phượng rất được tôn-trọng và thường cấp chỉ-huy bịt tai không nghe những lời khiếu-naị chính đáng của quan lại bản-xứ,…Tôi không muốn nói tới những bắt-nạt đủ thứ mà nhân-viên của chúng ta đă đối xử với người Phật-giáo trong khi họ chiều-chuộng, thi-ân cho những người bản-xứ trở lại đạo Công-giáo…” (trang 60).

 

Nhưng nhất là ông tố-cáo sự để cho các Hội Thừa sai dính vào chính- trị hay lơị-dụng chính-trị để truyền-đạo.

 

Lanessan cho rằng chính-sách trực-trị mà một số người Pháp muốn thi-hành ở Bắc-kỳ là do ảnh-hưởng và áp-lực thừa sai, như Giám-mục Puginier. Thừa-sai chủ-trương trực-trị, v́ như thế sẽ tiêu-diệt được bọn nho-sĩ là lớp người có thể ngăn-cản việc truyền đạo bằng vốn học và niềm-tin, đạo-đức cố chấp của họ. Lanessan thuật laị buổi nói chuyện với Giám-mục Puginier:

 

“V́ ngài cứ nhấn-mạnh măi với tôi cần phải tiêu-diệt bọn nho-sĩ, tôi không không thể không nhắc cho ngài hiểu rằng, chính-sách đó bằng cách tiêu-diệt những người giàu có nhất và có học nhất, sẽ đưa chúng ta đến chỗ sát-nhập và chiếm-đoạt. Tôi nói: “Tôi thừa hiểu Ngài muốn phá tan bọn nho-sĩ mà ngài coi như một sức kháng-cự mănh-liệt việc truyền-đạo của Ngài; nhưng khi ngài khuyên những người đại-diện của chúng tôi giữ một thái-độ mà hậu-quả sẽ làm cho cả một phần lực-lượng dân chúng nổi dậy chống lại chúng tôi, th́ chính Ngài đă thúc đẩy họ phạm một lầm-lỗi nghiêm-trọng và nguy-hiểm. Nếu Ngài tưởng làm như vậy là phục-vụ quyền lợi nước Pháp th́ quả thật là nhầm lớn: Ngài làm cho việc b́nh trị và nền bảo-hộ mà Hoà-ước 1884 đă thiết-lập ở Trung-kỳ, Bắc-kỳ không thể thi-hành được và do đó Ngài đưa chúng ta vào chỗ phải hao-tổn rất nhiều tiền và người”.

 

“Tuy nhiên quả thật chính sách của thừa sai là chính sách vẫn được áp-dụng từ trước đến nay. Chính đường lối đó chỉ đạo một cách trực tiếp hay gián tiếp việc Ông Harmand hay Patenôtre kư các hoà-ước và những dự-định của Paul Bert mà tôi đă nói ở trên” (trang 715-716)

 

Trang 114-117

 

THÁI-ĐỘ ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI BẢN-XỨ, VỀ PHƯƠNG-DIỆN TÔN-TRỌNG NGƯỜI, CỦA CẢI, TÔN-GIÁO, PHONG-TỤC, TẬP-QUÁN, XĂ-HỘI.

 

Trước hết, Lanessan thẳng thắn nhận rằng không thể kể hết những tội ác do những kẻ đi chiếm thuộc-điạ phạm. Nguyên nhân chính là v́ họ coi những dân thuộc điạ không phải là người hay là một thứ người hạ cấp, do đó họ không cần phải kính-nể ǵ và tha-hồ xâm-phạm tới của-cải, tôn giáo, phong-tục, ngay cả sự sống của người bản-xứ. Như thế “việc thực dân ngày nay tàn bạo chẳng kém ǵ thuở xưa” (trang 49).

 

Tất cả những ai biết lịch-sử chinh-phục thuộc-điạ của các nước âu-châu, đêù thấy rơ những đạo-binh âu-châu đă tàn-bạo thế nào trong khi xâm-chiếm thuộc-điạ, không có một chiến-thắng nào của họ không kèm theo những cuộc tàn-sát kinh-khủng, và những báo-chí ở các thủ-đô của chúng ta đă ghi số người bản-xứ bị ngă-gục dưới làn-đạn của chúng ta hay bị tiêu-diệt v́ trái phá, lưỡi-lê của chúng ta một cách thật là vui-vẻ”…(trang 50)

 

Rồi Lanessan nhắc tới một vài tàn sát như vụ tên thực dân Peters ở Phi-Châu giết những người cu-li không chịu gánh đồ cho hắn hoặc đốt cả một làng làm sáng đêm Sinh-Nhật để mừng Lễ Giáng-Sinh! Ở Việt-Nam, Lanessan kể việc một tên thanh tra đă chặt đầu trong hai tuần hồi năm 1891, 75 quan viên thuộc về một huyện mà thôi của thành-phố Hà-Nội, v́ họ không khai báo những hoạt-động của những người làm loạn. Lanessan công nhận rằng những cuộc khủng bố như vậy thường rất hay xẩy ra ở đồng-bằng Bắc-kỳ hồi đó. Hơn nữa những cuộc tàn-sát này c̣n kèm theo những vụ đốt cả làng, mùa-màng khi họ bị t́nh-nghi là theo “giặc” như một người Pháp đă tóm-lược tất cả những ǵ mà Lanessan muốn nói: “một biện-pháp khác là tuyên-bố cả làng liên-đới chịu trách-nhiệm khi họ chứa-chấp một đám phiến-loạn hay không khai-báo. Rồi đem xă-trưởng và một vài người tai mắt trong làng ra chặt đầu, sau cùng đốt làng b́nh-điạ. Như thế, người ta có thể chắc-chắn là sau đó những làng bên-cạnh sẽ khai-báo những toán phiến-loạn qua lại. Người ta chỉ có thể cai-trị dân này bằng khủng-bố” (trang 56).

 

Lanessan đứng ở cương vị thực-dân tế-nhị cao-cấp chống lại với những thái-độ tàn-sát dă man đó v́ cho rằng làm như vậy là “bất-lợi” có hại về đường chính-trị. Đă không tôn-trọng sự sống của con người, th́ c̣n nói ǵ tới tôn-trọng của-cải, phong-tục, tôn-giáo của dân bị-trị. Thực-dân phá-hủy đền thờ, chùa-chiền, hoặc dùng làm trụ-sở nơi đóng quân. Lanessan kể lại khi đi tới đâu, những đơn khiếu-nại hầu hết đều xin trả lại chùa, đ́nh hay tôn-trọng đền thờ, văn miếu…

 

Lanessan đưa ra tiêu-chuẩn căn-bản: phải tuyệt-đối tôn-trọng phong-tục, lễ-nghi, tôn-giáo cổ-truyền của người bản-xứ. Nhưng c̣n một vấn-đề phức-tạp khác là ngưới thực-dân cần phải có một thái- độ thế nào với các thừa-sai và tín-hữu theo Ki-tô giaó.

 

Lanessan nhận-định rằng: “Bất cứ một người Annam theo đạo Thiên-Chúa đều bị người đồng hương coi như một kẻ phản bội tổ-quốc” (trang 68) do đó, những nguyên-nhân cấm-đạo tàn sát giáo-dân không có tính cách tôn-giáo như người ta vẫn lầm tưởng v́ dân Việt-Nam rất khoan dung về tín-ngưỡng, mà chỉ có tính cách ái-quốc thôi. Như Linh-Mục Louvel trong cuốn “Đức cha Puginier” cũng đă viết: “ Sự bách hại người Công-giáo mặc tính chất một cuộc trả thù của ḷng yêu nước chống lại việc thiết-lập chế-độ bảo-hộ”.

 

Và đứng về phiá thực-dân, chính quyền bảo-hộ phải tránh những hành-động có thể làm cho người bản-xứ không theo Công-giáo dị nghị và mất ḷng như tránh ưu-đăi người Công-giáo, hay không nên để cho người Công-giáo, thừa-sai can-thiệp vào việc cai-trị. Tuy nhiên v́ lợi-ích thực-dân, chính-quyền bảo-hộ phải biết lợi-dụng sự truyền-giáo một cách khéo-léo. Ở đây Lanessan đă có những nhận-xét tế-nhị về cách truyền-giáo nào là lợi cho việc thực-dân.

 

Theo Lanessan, các vị thừa-sai Công-giáo thường nhắm quần-chúng, dân quê, bần-cùng nghèo-khổ, hoặc kẻ trộm cắp để giảng đạo. Nói cách khác, người Công-giáo thường thuộc thành-phần những giai-cấp thấp-hèn nhất trong xă-hội. Những người này thường được tập-họp lại thành làng xóm riêng, tách khỏi đoàn-thể dân-tộc. Lư-do cô-lập các làng theo đạo ở tại các thừa sai sợ người theo đạo, giao-thiệp với người Lương có thể quay lại những phong-tục lễ-nghi ngoại-đạo. Cũng v́ lư-do sợ đó mà họ đă tạo ra chữ quốc-ngữ chủ-đích là để cho giáo-dân khi biết đọc chữ quốc-ngữ, th́ chỉ biết đọc sách báo đạo mà thôi, trái lại nếu để cho họ học chữ nho, sợ họ có thể thông-cảm lại với tư-tưởng ngoại giáo. Thành ra việc sáng lập chữ Quốc-ngữ phải chăng nhằm một mục-đích “ngu-dân” ly-khai với văn-hoá dân-tộc?

 

Về hoạt động, các vị thừa-sai cũng chỉ lo dậy đạo, và có một đời sống hoà-đồng với lối sống đơn giản khó nghèo của dân chúng ăn mặc, ở như họ.

 

Trái lại, đạo Tin-lành thường nhắm những tầng lớp thượng-lưu, qúy-phái, các mục-sư dậy đạo cho người bản-xứ bằng tiếng nói của nước bảo-hộ, đồng-thời tập cho họ những thói quen mới theo phong-tục, lối sống tây-phương, do đó cũng tạo cho họ những nhu-cầu mới.

 

Hơn nữa, con nhà qúy-phái theo đạo Tin-lành c̣n có thể được gửi ngay sang mẫu-quốc ăn học, trong khi con-cái người Công-giáo ở thành-phần nghèo, Linh-mục cũng nghèo, không nghĩ đến chuyện được gởi đi du-học. Cách truyền-giáo như vậy có lợi v́ làm cho người theo đạo đi vào cộng-đồng văn-hoá với người bảo-hộ, tạo điều-kiện hiểu nhau dễ-dàng hơn, đồng-thời cũng làm phát-triển kỹ-nghệ thương-mại: ví-dụ trong khi Linh-Mục công-giáo mặc áo giống áo của người bản-xứ và cùng một thứ vải nội hoá th́ mục-sư tin-lành làm cho những người theo đạo ăn-mặc giống như Âu-châu. Do đó, “Ở khắp nơi, Tin-lành có tính-cách chính-trị nhiều hơn Công-giáo” (trang 74)

 

Đời sống của vị thừa-sai công-giáo có thể là đầy hy-sinh rất lợi-ích cho sự truyền-bá đạo nhưng không giúp-ích ǵ cho quyền-lợi những nhà máy ở quê-hương họ” (trang 82).

 

Và “người ta có thể quả quyết rằng những xứ đạo tin-lành giúp ích nhiều hơn cho công cuộc thực-dân của những Quốc-gia là quê hương của các vị thừa-sai đó, hơn là những xứ đạo Công-giáo” (trang 84)


Chú Thích:

 

L’expansion coloniale de la France, etude économique, plolitique et géographique sur les établissements francais d’outre-mer. Paris, 1886

 

L’Indochine francaise (etude politique, économique et administrative sur la cochinchine, le Cambodge, l’Annam et le Tonkin. F. Alcan. Paris,1889


Phụ Chú:

 

Tác giả Nguyễn Văn Trung đă viết về Lyautey ở trang 101-102 như sau:

 

“Lyautey và Galliéni là hai người thực-dân nổi tiếng về b́nh-trị (pacification) tức là giai-đoạn tiếp sau giai-đoạn xâm-lăng. Tây gọi là công cuộc dẹp giặc, trộm cướp. Chữ giặc, trộm cướp (pirate) đây để gọi cả những phong-trào ái-quốc chống lại thực-dân – như Đề-Thám, Nguyễn-Thiện-Thuật v.v. . . Lyautey đă ghi lại những nhận xét của Ông ta về việc b́nh-trị và cai-trị thuộc-địa trong tập: “Thư Từ xứ Bắc kỳ và Madagascar”.


Sách của Lanessan & Lyautey:

 

Jean Marie Antoine de Lanessan (Toàn quyền Đông Dương, 1891-1894):

- L’Expansion coloniale de la France. Etude économique, politique et géographique sur les établissements francais d’outre-mer. Paris, 1886.

- L’Indochine francaise (étude politique, économique et administrative sur la Cochinchine, le Cambodge, l’Annam et le Tonkin). Alcan. Paris, 1889.

- Principes de colonisation. Alcan. Paris, 1897.

- Les missions et leur protectorat. Paris, 1907.

Louis Hubert Gonzalve Lyautey (Chánh vơ pḥng Toàn quyền Armand Rousseau ở Đông Dương, 1894-1897):

Lettres du Tonkin et de Madagascar (1894-1899), Paris 2ème ed. 1921.

 

(Trích từ: CHỦ NGHĨA THỰC DÂN PHÁP Ở VIỆT NAM

Thực Chất Và Huyền Thoại Tác giả: NGUYỄN VĂN TRUNG Nhà xuất bản: Nam Sơn, Ngày 28-11-1963, Sài G̣n. Trang 108-113)

 

 

Trích giaodiemonline, ngày 1/7/07

nhandanvietnam.org, ngày 1/7/07

 

 

ĐIỀU KHOẢN THỨ 9 CỦA H̉A ƯỚC 1874

 

 

Thi hành điều khoản thứ 9 của Ḥa ước năm 1874, vua Tự Đức ban hành

 

Đạo Dụ năm thứ 20 của vương triều Ngài, tức là năm 1876, với những quyết định sau:

 

Đạo Kytô đă gom góp tất cả vào sự thờ phượng Đức Chúa Trời dựng lên Trời Đất là một tôn giáo đáng kính.

 

Những chức sắc thẩm quyền của họ, như thế, cũng phải được kính trọng. V́ vậy, để giải quyết một lần cho xong, những nghi thức tiếp tân, những đặc quyền thứ tự ngôi vị lần lượt phải theo sắp đặt như sau trong những cuộc đón rước tiếp tân…

 

Những giám mục Pháp hay Tây Ban Nha được phẩm hàm ngang với các quan đại thần của lục bộ. Các tu viện trưởng ngang với Tổng đốc, Tuần phủ. Các tu viện trưởng bản địa ( ‘Việt gian’, NDVN) ngang với Bố chánh, hay Án sát, Tri huyện hay Chánh tổng.

 

C̣n với các chức sắc khác như ông trùm, hay các linh mục được xếp ngang chức với hàng Bát hay Cửu phẩm của triều đ́nh

 

(‘Sa Majesté juge que:

 

Le catholicisme qui réduit tout au culte de Dieu, créateur de l’univers, est une religion digne de respect.

 

Ses autorités hiérachiques sont donc aussi dignes de respect. C’est pour quoi, il faut régler, une fois pour toutes, pour la commodité du protocole, les préséances dans les réceptions comme suit:

 

Les êvêques francais, espagnoles ont même rang que les ministres des six ministères. Les abbés francais ont même rang que les goveneurs de province. Les abbés indigènes ont même rang que les adjoints des gouverneurs de province (bố chánh et án sát) et les chefs de préfectures ou de district. Quand aux autres religieux, tells que les bedeaux, les prêtres, ils ont même rang que les attachés, les commis et les secrétaries due 8e ou du 9e grade.)

 

(La neuvième clause du traité de 1874)

 

Trích ĐDTB, số 87 tháng 3 & 4 năm 2004

nhandanvietnam.org, ngày 23/7/07

 

 

TRẬN ĐỊA PHÁO

 

 

....Ḥa nhập ngũ theo lệnh tổng động viên Khóa 24 sĩ quan trừ bị Thủ đức,....đậu được chuẩn úy đă là may mắn....Bài vỡ thi đạt được điểm rất cao, từ lư thuyết đến thực hành, kể cả môn bắn súng. Nhưng chắc chắn Ḥa sẽ đội sổ trong kỳ thi măn khóa với 16 ngày trọng cấm đối với một sinh viên sĩ quan ....Đúng như dự đoán, tên của Ḥa vào cuối danh sách không có ǵ lạ.... Tám ngày trọng cấm đầu tiên bị phạt v́ tội trễ phép một tuần....Lần thứ hai, trong dịp thực tập hành quân chung quanh vùng Thủ đức, khi đoàn quân xuất phát, Ḥa đă tách khỏi đại đội, mang theo súng và balô rẽ vào nhà người quen chè chén, uống rượu say rồi ngủ quên. Kiểm điểm quân số trước khi lên xe sĩ quan trung đội trưởng mới khám phá sự vắng mặt của Ḥa, cả đại đội náo động lên chia nhau đi t́m kiếm lục soát đến khuya. Lúc khám phá ra, Ḥa chưa tỉnh rượu.

 

Cầm sự vụ lệnh lên tŕnh diện trung đoàn 45 thuộc sư đoàn 23, đóng tại cây số 5 gần thị xă Ban Mê Thuột....Ḥa tŕnh diện trung tá Cẩn....nh́n từ đầu xuống chân:

 

- Xem lư lịch, khả năng tŕnh độ học vấn của anh khá lắm nhưng tại sao các ngành nghề chuyên môn không dùng anh mà đẩy lên đây?

 

- Thưa trung tá, dạ con bà phước!....

 

Đại úy ban nhân viên đứng bên cạnh tŕnh:

 

- Tŕnh Trung tá, bị phạt 16 ngày trọng cấm.

.....

- Hiện giờ Trung đ̣an thiếu một sĩ quan chỉnh huấn, mặc dầu anh chưa học khóa chiến tranh chính trị, nhưng tạm thời tôi bổ nhiệm anh vào chức vụ này. T́nhh diện đại úy Túy, trưởng ban 5, ông ta sẽ hướng dẫn công việc của một sĩ quan chỉnh huấn......

 

Ḥa hiểu đại khái nhiệm vụ của một sĩ quan chỉnh huấn là huấn luyện chính trị cho binh sĩ và hạ sĩ quan của Trung đoàn....

 

Vào dịp lễ Giáng sinh Trung tá trung đoàn trưởng tổ chức buổi tiệc tại trung đoàn, quan khách quan trọng gồm có Tướng tư lệnh, Đức giám mục địa phận, Đại tá tỉnh trưởng tỉnh....Ḥa được kêu lên văn pḥng trung tá trung đoàn trưởng:

 

- Tôi giao trách nhiệm cho anh tổ chức tiếp tân, công việc nhà bếp và phục vụ ẩm thực cho quan khách.

 

- Thưa trung tá tôi sợ không đủ khả năng....

 

- Thưa Trung tá, kinh nghiệm chẳng có ǵ nhưng tôi sẽ cố gắng làm tṛn nhiệm vụ.

 

- Được, anh tính toán....Tôi lưu ư anh tiệc mời gần 60 người, trong đó có Tướng tư lệnh, Đức giám mục, Đại tá tỉnh trưởng, Chánh án....

 

....Sau khi trung đoàn trưởng vui vẻ thông qua các món ăn..., rượu gồm chát trắng và đó dùng riêng với từng loại tôm thịt khác nhau. Champagne uống với bánh sinh nhật. Scotch để sẵn để vị nào muốn dùng ....Ḥa vắt chân lên cổ để kiếm mua ngỗng đúng tuổi. Non th́ hôi ngỗng, già th́ dai thịt. Phần rượu phải vào Sàigon t́m đúng loại chính gốc nhập từ Châu Âu.

 

Ḥa chuẩn bị trước gần hai tuần....Riêng bàn danh dự (Tướng tư lệnh, Đức giám mục địa phận, Cha Tâm tuyên úy sư đoàn, Đại tá tỉnh trưởng..., NDVN), chính Ḥa phải đảm trách....trong đám ngỗng mua về, chỉ có một con ở độ tuổi ngon nhất , khi làm thịt phải canh chừng đừng để lẫn lộn với thịt dai của các con khác. Nhưng sự việc ngoài ư muốn của tất cả mọi người. Các cô nữ quân nhân đă bưng lầm bàn danh dự những đĩa thức ăn làm bằng các con ngỗng quá tuổi.

 

Đức giám mục dùng dao cắt miếng thịt đến ba lần, ngài quay qua nói đùa:

 

- Anh Cẩn, con ngỗng này học Thái cực đạo đă mấy năm rồi?

 

- Ông tướng tư lệnh c̣n phạng thêm một câu:

 

- Nó mang đai đen mấy đẳng anh Cẩn!

 

Phía quan khách được dịp cười rần lên

 

Trung tá trung đoàn trưởng đỏ mặt nh́n Ḥa. Ḥa chỉ c̣n trân người chịu đựng chẳng biết làm ǵ được bây giờ.

 

Mất tinh thần v́ các món thịt ngỗng, Ḥa hơi run tay khi mở Champagne biểu diễn trước mắt quan khách....May mắn, một tiếng nổ ḍn, nút chai bay lên trần nhà và làn khói bay ra.... Ḥa thở nhẹ nhỏm, đúng là rượu thật, người vui nhất có lẽ là trung tá trung đ̣an trưởng. Cha Tâm tuyên úy sư đoàn vớt vác cho Ḥa sau vụ trục trặc thịt ngỗng.

 

- Chuẩn úy, hôm nào rănh theo anh học khóa mở champagne mới được.

 

Ngay sáng hôm sau, Ḥa được kêu tŕnh diện.

 

- Tôi không muốn nói với anh một câu ǵ nữa. Anh về chuẩn bị, xuống ban nhân viên lấy sự vụ lệnh lên tŕnh diện tiểu đoàn 1 trên Quảng Đức....

 

- Tuân lệnh trung tá

 

Ḥa vừa quay gót, vị trung tá gọi lại.

 

- Không ai gởi gấm anh cho tôi khi anh đến đây. Thấy anh có khả năng muốn giữ anh tại trung đoàn nhưng tối hôm qua anh đă làm tôi thất vọng....

 

Về tŕnh diện tiểu đoàn 1 do đại úy T́nh chỉ huy. Vị đại úy khắc khe nhất của trung đoàn 45 từ trước đến nay...

 

Khi vào tŕnh diện, gặp ngay tiểu đoàn trưởng đang họp, các đại đội trưởng và ban tham mưu có mặt đông đủ.

 

Đại Úy T́nh nh́n Ḥa:

 

- Thêm một thằng bị đày lên đây

 

Cầm chai bia uống một hơi xong quay qua hỏi Ḥa:

 

- Sao bị đày lên đây vậy!

 

- Thưa đại úy tôi nghĩ không bị đày....

 

Một trung úy ngồi cạnh chen vào:

 

- Nói đúng, không sao đâu, lên đây lội rừng bắt vắt với chúng tôi cho vui

 

….Và từ đấy chuẩn úy Ḥa đụng những Trận Địa Pháo của Việt Cộng ở chiến trường Tây Nguyên ….

 

 

Trích lược “Trận Địa Pháo”

Tạp Chí Xây Dựng, số 593, ngày 1/6/2007

nhandanvietnam.org, ngày 23/7/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend