TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Tội Ác Mỹ-Ngụy: Mậu Thân và Hậu Mậu Thân Huế 68: NGUYỄN THỊ THANH SUNG


Flag of Cambodia  Flag 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”. Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

 

 

 

 

 

 

NDVN: Nhân Kỷ niệm 40 năm Tội Ác Mỹ Ngụy: Mậu Thân và Hậu Mậu Thân Huế 68. Chúng tôi cống hiến bạn đọc chứng liệu Huế Mậu Thân 68, trích từ tiểu truyện 6 của  HỒI KƯ: THANH SUNG “KHÔNG BIÊN GIỚI”, tác giả Thanh Sung, nhà xuất bản Thanh Văn, Văn Nghệ phát hành, năm 1996, do một người bạn già ở Mỹ gửi tặng bản photo copy quyển hồi kư, vào tháng 2, năm 2005.

 

    Quyển Hồi Kư này, được ông Nguyễn Văn Khanh (đài Á Châu Tự Do, RFA?), nhà văn Bùi Bích Hà, tiến sĩ (?) Lê Xuân Khoa và Nguyễn Đ́nh Vĩnh đọc bản thảo, đưa và giới thiệu nhà văn Doăn Quốc Sĩ và nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đọc qua, duyệt, sữa và hiệu đính.

 

    Nếu có chữ nào nặng nghĩa hơn hai chữ “cám ơn” th́ tôi xin dâng trọn về nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. V́ nhờ anh, quyển sách này của tôi mới được thành h́nh, mới được ra mắt bạn đọc…

 

   Nguyễn Thị Thanh Sung, có lúc người con gái ấy nhiều khi c̣n được gọi là Me Mỹ (tr, 11) nữa chứ! V́ người yêu và là chồng cô Sung, là cố vấn Bill Fleming (phân cục trưởng CIA? NDVN) tại ṭa lănh sự Huế….và cô đă bị chà đạp, đă bị sĩ nhục một cách trắng trợn…từ một anh thanh niên nói lớn: “Nh́n ḱa! Con nhỏ không giống ǵ là gái điếm, thế mà lại đi làm điếm mới buồn chứ!”, (tr, 221)…một bà Huế với giọng Huế bà ta la lớn: “Nh́n ḱa! Học sinh Đồng Khánh mà đi làm đĩ cho Mỹ” và bà bán nước với gịong Quảng: “Hèn ǵ bảo đừng có chiến tranh sao được” (tr, 222) (Nhưng nay, nhà nước Việt Nam, mở cửa, kinh tế thị trường, tự do quá độ…những cô gái Việt và gia đ́nh không c̣n cảm nhận sĩ nhục, mà trái lại hănh diện trân tráo và ngu xuẩn được cặp tay những thằng dị tộc và nhất là Bạch Quỷ Mỹ, Pháp …. NDVN)…

 

    Bill đă vận đông ông trưởng pḥng CIA can thiệp với  ông (Liên Thành, NDVN) Trưởng ty Cảnh sát Huế, thả ngay tức khắc cô em Lan Anh, bị cảnh sát bắt, v́ Lan Anh giao tiếp với trưởng phái đoàn Hung Gia Lợi, năm 1973, chẳng qua CIA và Ty Cảnh Sát Huế, dàn dựng và khủng bố gia đ́nh cô Sung? (NDVN)….Giống hệt “hậu Mậu Thân 68”như những lần trước đây, khi họ đến c̣ng tay ông Nguyễn Đăng Hiếu (Ba cô Sung) đem vào tù (tr, 243) để hy vọng Lan Anh hợp tác làm gián điệp cho CIA, như sau:…

 

    ”Cô Lan Anh đâu? Cô Lan Anh đâu? Chúng tôi có lệnh đến bắt cô ấy vào tù,”

   

    Ba tôi hoảng hốt:

 

    “Các ông lầm rồi? Tôi mới chính là người các ông bắt, chứ con gái tôi c̣n nhỏ, đâu làm tội t́nh ǵ mà quư ông đến bắt nó? Bắt con tôi về tội t́nh ǵ mới được chứ?”

 

    Vừa nói Ba tôi vừa đưa hai tay ra trước mặt họ. Một ông gạt hai tay Ba tôi ra một bên và lên tiếng hùng hổ:

 

    “Chúng tôi có lệnh đến bắt cô Lan Anh, chúng tôi tuân lệnh, chỉ có thế thôi. Ông, bà không nên căi vă vô ích. Cô ấy đâu?”….

 

    Lan Anh lên tiếng như một Super Lan Anh ngay:

 

   “Tôi đồng ư theo các ông, nhưng các ông phải cho tôi biết lư do?”

 

    Ông lính có vẻ hiền hơn trả lời:

 

    “Khi cấp trên ra lệnh, họ thường không nói lư do. Cô sẽ biết khi nào cô được thẩm vấn”

 

    Không c̣n cách nào hơn. Mẹ tôi năn nỉ:

 

    “Xin hai ông đừng c̣ng tay con gái tôi. Nó c̣n nhỏ quá. Nó ngây thơ vô tội mà.”

 

    Nghe vậy hai ông ấy cầm tay Lan Anh dẫn lên xe Jeep (màu xanh)…..

 

    Mẹ tôi nhắc lai:

 

    “ Mẹ nghe nói hai chữ thẩm vấn mà Mẹ sợ cho Lan Anh quá! C̣n ǵ là đời con gái? Trời ơi! là trời”

 

    Bỗng như Mẹ tôi làm như chụp được một phép nhiệm mầu, Mẹ tôi nói vội:

 

    “Sung! Sung! Con chạy ra sở Bill, xin gặp Bill gấp. Và nói với Bill về sự thể xẩy ra. Xong nói với Bill là Mẹ muốn Lan Anh phải được thả ra nội trong ngày hôm nay. V́ để đến ngày mai th́ Lan Anh sẽ không c̣n con gái nữa. Tụi nó mọi rợ lắm. Mẹ biết quá rơ.” …(tr, 243, tr 244)….

 

    đó Bill gặp được ông (Liên Thành,NDVN) Cảnh sát trưởng….., ông ta sẽ ra lệnh thả Lan Anh nội trong hôm nay… (tr, 246)…

 

    Nghĩ đến Bill, gia đ́nh tôi thầm cám ơn Bill đă giúp gia đ́nh tôi…Ba tôi không c̣n dấu diếm ǵ t́nh thương ông đang trút hết lên đầu của Bill…(tr, 248).

 

    Mà trước đây ông Nguyễn Đăng Hiếu, cho gọi hết mọi người lại….với giọng buồn, nước mắt lưng tṛng ông nói:

 

    “Con ạ! Không được đâu con ạ!...Ba nhục nhă lắm con ạ…để đi gặp bà con lối xóm, bạn bè thân thuộc…Con có biết không? Những ngày chính phủ bỏ tù Ba, họ làm Ba hận thù họ vô cùng…Ba không có đảng phái, không tham gia chính trị, không có súng ống v.v…(tr, 207). ….Con lại đi yêu đến ngay cái người thả bom trên đầu con? Như thế chính con đă phản bội lấy con rồi. Chứ đừng nói ǵ đến gia đ́nh, quê hương, bạn bè, và nhất là học tṛ con…. Con có thấy không? Biết bao nhiêu cô gái bán Bar? Bao nhiêu cô gái làm điếm? V́ miếng ăn, đă phục vụ cho Mỹ, lấy Mỹ….C̣n con là con nhà dư ăn, dư mặc. Con là một cô giáo, th́ sao con phải đi làm những điều như mấy cô gái kia…Bill đến đây để tham dự cuộc chiến này, nhưng dưới h́nh khác (xâm lược, NDVN) thế thôi. C̣n cuộc chiến này? Là chiến tranh, không nằm dưới h́nh thức  nào khác ngoài sự chém giết, chết chóc” (tr, 208)    

 

    Sau này, Bill cho biết:

 

    Bill nói: (phân cục trưởng CIA?, cố vấn, NDVN)

 

    “Em có biết không? Chỉ có hai ngày sau ngày Lan Anh bị bắt. Nhân viên CIA, người mà anh đă đến gặp để khiếu nại về chuyện Lan Anh bị tù đấy? Chính ông ta đă gọi anh và đ̣i gặp anh để nói chuyện  về vấn đề ông ta muốn Lan Anh tiếp tục giao thiệp với người Hung Gia Lợi ấy để lấy tin tức rồi tường thuật cho họ….”

   

    Tôi hỏi:

 

    “Thế th́ không khác ǵ họ muốn Lan Anh làm gián điệp cho CIA rồi? Em có thể nói chuyện này riêng cho Lan Anh nghe được không?” (tr, 302)…

 

    Và tại Sở thú Sàigon….  

 

   “Bill ơi! Con cọp này do ông Bunker tặng cho Chính phủ Việt Nam đó….để cho họ thả về cắn Ba em à? Anh có biết Chính phủ miền Nam vi phạm trắng trợn nhân quyền của Ba em như thế nào không? Họ đă xé nát từng mănh tâm hồn của Mẹ em như thế nào không? Và họ đă giết chết tuổi thơ  của tụi em như thế nào không? Anh có thể tưởng tượng được mỗi lần chúng em đánh lộn nhau, gây bậy nhau rồi khóc la ồn nhà. Để cho tụi em  đừng đánh nhau, đừng khóc la, chị Diệu Lê dọa tụi em như vậy há (ấn tượng thảm họa hậu Mậu Thân 68): Nếu lúc đó mà Ba em đang có mặt tại nhà, th́ chị nói: “Đừng đánh nhau nữa, đừng khóc nữa, không th́ xe Jeep xanh đến c̣ng tay Ba ngay bây giờ” C̣n nếu Ba em đang ở tù, th́ chị ấy nói: “Đừng đánh nhau nữa, đừng khóc la nữa, không thôi th́ lính của Hitler c̣ng tay tụi bây đi ḷ gas ngay lập tức”. Mỗi lần nghe như vậy, cho dù có đau đớn, oan ức đến nhường nào, tụi em cũng tức tưởi kín miệng ngay. Bây giờ mỗi lần  nghỉ đến ngày đó, em vẫn c̣n rùng ḿnh” (tr, 280 - 281)….

 

    Qua một số trích đoạn ở trên, của quyển sách Hồi Kư này, có tất cả 26 tiểu truyện hồi kư, đă để lại cho thế hệ sau này, biến cố lịch sử thảm họa chiến tranh xâm lược Mỹ và Ngụy quyền VNCH, những sự tàn ác, tàn bạo ghê tởm của Mỹ - Ngụy: Mậu Thân và Hậu Mậu Thân Huế 68. Được nhà văn Nguyễn Thị Thanh Sung, viết ra ở tiểu truyện 6 và có viết thêm một vài sự kiện bạo tàn Mỹ - Ngụy, trong một số tiểu truyện 16, 19, 23…của quyển HỒI KƯ: THANH SUNG: “KHÔNG BIÊN GIỚI”.

 

    Nhân Dân Việt Nam, trích tiểu truyện 6 của quyển Hồi Kư này, nhân Kỷ Niệm 40 năm    Chuyện Hoang Đường Vụ Thảm Sát Ở Huế 68 “The Myth Of The Hue Massacre 68” cống hiến bạn đọc:

 

 

Tội Ác Mỹ-Ngụy: Mậu Thân và Hậu Mậu Thân Huế 68

 

NGUYỄN THỊ THANH SUNG

  

 

 

    Về đến Huế, nh́n lại gia đ́nh, nh́n lại mái nhà xưa, con đường cũ, ḷng tôi hớn hở, hớn hở thật v́ đây là lần đầu tiên trong đời tôi xa nhà. Tôi không thấy anh Mua, tôi tưởng là anh Mua không c̣n muốn ở nhà tôi nữa? Nhưng em tôi nói là anh Mua về nhà anh ăn Tết.

 

    Những ngày đầu Xuân, trời lành lạnh, hoa nở khắp nơi, hoa được bày bán khắp mọi nẻo đường. Cảnh vật như được phủ lên một lớp sơn của bầu trời xanh thẳm, ḷng người rộn ràng theo với nhạc Xuân, bạn bè gặp nhau chào hỏi ríu rít. Người xa trở về đem lại niềm vui gói trọn trong ḷng, trong những món quà trên tay, trong túi, và trong nụ cười luôn nở trên môi.

 

    Không ǵ đẹp bằng, rộn ràng bằng chúa Xuân. Để bày tỏ với chúa Xuân, để tranh đua với chúa Xuân, trong những ngày đầu Xuân là tuổi Xuân, tuổi Xuân trong ḷng những người trẻ v́ Xuân, cho Xuân.

 

    Chúng tôi là những mùa Xuân của chúa Xuân, bất kể đến chiến tranh, để sống cho trọn những ngày Xuân. Chúng tôi dạo phố mùa Xuân, may áo quần mới, mua hoa quả tươi,và mua những ǵ cần thiết để chào đón đêm Giao thừa, kể cả những phong pháo màu đỏ như máu, máu của chiến tranh.

 

    Đêm Giao thừa, chúng tôi giúp Mẹ nấu cúng, bàn thờ hương khói nghi ngút. Trước bàn thờ, Ba, Mẹ tôi qú xuống, miệng cầu lẩm bẩm những ǵ đó. Một hồi lâu ông bà đứng dậy nhường chỗ cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ c̣n lại sáu đứa, mấy chị lớn đă đi lấy chồng, đón Xuân ở nhà nhà chồng, anh Trai có về nhưng lại đi chơi nhà bạn. Những người làm được nghỉ. Sáu đứa chúng tôi theo thứ tự từ lớn đến nhỏ.

 

    Chị Nhung, tôi, Huyền, Anh, Lan Anh đến Tiến qú trước bàn thờ tổ tiên, chúng tôi cầu xin bất cứ một cái ǵ theo ư muốn. Ban phước lành hay không là quyền của tổ tiên. C̣n xin th́ chúng tôi mặc sức mà xin. Xin nhiều quá rồi, hết chuyện để xin, nhưng không đứa nào trong chúng tôi dám đứng dậy trước. Thấy vậy Mẹ tôi ra lệnh cho đứng dậy, và cho phép đem thức ăn vào pḥng ăn, chúng tôi được lệnh ăn, ăn bất cứ cái ǵ đă cúng xong. C̣n cái ǵ chưa cúng th́ khôngđược sờ tay đến hỗn với tổ tiên là không được với Mẹ tôi. Người luôn luôn kính trọng người chết, hơn là người sống. Nhưng chúng tôi quá no rồi, xin Mẹ đi đốt pháo, khi đó tiếng pháo đêm Giao thừa đă bắt đầu rộn ră vang dội khắp mọi nơi. Ba tôi không cho chúng tôi đốt pháo, v́ nghỉ chúng tôi con gái lớn rồi, c̣n con trai, th́ lại c̣n nhỏ. Đi ngủ là giải pháp thích hợp nhất, giúp Mẹ dọn dẹp xong là cả nhà đi ngủ, nhưng không ngủ làm sao ngủ được, tiếng pháo mỗi ngày (lúc) mỗi lớn, rồi lại càng dồn dập hơn, dồn dập như tiếng súng, thỉnh thoảng tiếng pháo trống phụ thêm vào làm như tiếng bom đạn. Càng về khuya, th́ cả hai thứ tiếng đua nhau nổ, nổ một hồi th́ tiếng pháo không đủ sức mạnh để đua tiếng súng, tiếng pháo trống nhường lại cho tiếng bom, tiếng lựu đạn.

 

    Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa cả. Chiến tranh đang đánh đuổi chúa Xuân ra khỏi thành phố, ra khỏi ḷng người. Trong chốc lát, trong đêm tối, giấc mơ Xuân từ giả tuổi Xuân, thay thế cho nhạc Xuân là lời nguyện cầu. Lời cầu nguyện như không bao giờ chấm dứt, cầu nguyện để đừng bị chết oan trong đêm Xuân, đang độ Xuân th́.

 

    Mặt trời mọc, ánh sáng mặt trời mạnh đủ để tạm dẹp yên tiếng súng trong phút chốc. Lợi dụng ánh sáng mặt trời, quân đội đồng minh Hoa Kỳ, và lính Cộng Ḥa xuất hiện trên con đường Duy Tân, từng nhà một, họ gơ cửa, cửa mở, họ ra lệnh cho mọi người phải từ bỏ thanh phố ngay lập tức, đi về vùng quê để tránh bom đạn. Thế là như băo táp, đoàn người lần lượt bỏ nhà ra đi, đi đâu, không biết đi đâu? Cứ cấm đầu đi như cái máy, đi như như người không có hồn, đi theo làn sóng người.

 

    Riêng gia đ́nh tôi, v́ cây muối lớn ở trước nhà bị bom nổ trúng, nên gốc cây bật ra, thân cây, và cành cây bổ xuống, chấn ngang cửa, cửa không mở được. Quân đội Mỹ để cho gia đ́nh tôi chết cô đơn, chết một ḿnh trong Thành phố chết. Nhưng may thay, Ba tôi trèo lên cao, nh́n qua khe cửa thấy được những ǵ đang xẩy ra bên ngoài, Ba tôi ra lệnh Mẹ tôi, và chúng tôi gói gắm được bất cứ cái ǵ đem theo được là đem. Ba tôi lấy ch́a khóa  mở cánh cửa sau và chúng tôi ra đi, mặc dù có hơi muộn một tí, nhưng không sao. Làm cái đuôi lẻ loi, c̣n hơn chết cô đơn một ḿnh.

 

    Ba, Mẹ tôi đi trước, đàn con sáu đứa lủi thủi theo sau, đi mà không biết đi đâu. Đến đầu cầu An Cựu, giữa ngă tư đường, sự lựa chọn thiên đàng nơi địa ngục trong lúc chiến tranh thật là khó. Ba tôi nh́n qua, nh́n lại, nh́n trước, nh́n sau, nh́n đến Mẹ tôi, rồi đến chúng tôi, không t́m được câu trả lời, cuối cùng Ba tôi nói:

 

    “ Đằng trước mặt là cầu An Cựu, không qua cầu được, xác chết đang nằm trên cầu. Đằng sau lưng, không đi lui được, thành phố đằng sau đang bốc cháy. Không đi về phía tay mặt được, v́ đó là con đường đi đến nhà thờ, chúng ta không phải là tín đồ Công giáo, Thiên Chúa sẽ không nhận chúng ta. Con đường c̣n lại duy nhất là con đường bất an nhất, v́ ngay ngày thường, súng đạn c̣n hay nổ, nói ǵ đế lúc bất thường. Nhưng dừng chân ở đây cũng không được! Đây là địa ngục rơ ràng nhất, người chết đang nằm ỏ đó ḱa.”

 

     Sau một hồi do dự, Ba tôi ra lệnh, đi con đường bất an, v́ Ba tôi nghỉ rằng ngày thường nó bất an, nhưng ngày bất an th́ biết đâu nó lại b́nh thường?

 

    Mẹ tôi dẫn chúng tôi theo Ba, vừa đi vừa nói:

 

    “Con người sống chết có số, có mạng cả rồi. Có đi đến chỗ chết cũng v́ cái số, thôi th́ đi mau lên, đi cho đến khi không c̣n đi được nữa th́ ngừng. Ngừng để sống, hay ngừng để chết th́ có đi mới biết được.”

 

    Con đường chúng tôi đi qua là con đường Phát Lát, khi đi ngang qua ngôi trường Tiểu học thời thơ ấu, ngôi trường xưa nh́n chúng tôi, chúng tôi nh́n lại, ḷng nghẹ ngào, tê tái không nói được một câu. Trường thanh vắng quá, không vào thăm trường được, thế th́ đoàn người lẻ loi của gia đ́nh tôi tiếp tục trên con đường buồn tẻ.

 

    Khi đi ngang qua một ngôi nhà quen thuộc, Mẹ tôi biết được là nhà của một người bạn, Mẹ tôi dừng bước, nh́n vào trong nhà, biết được chủ nhà không chạy đi đâu cả. Mẹ tôi dẫn Ba tôi, và chúng tôi vào, đến trước cổng nhà th́ ông chủ nhà ra tiếp. Sau một hồi bắt tay, mặt mừng, họ nhận cho chúng tôi tạm trú tại đó, chờ ngày b́nh yên.

 

    Ở đó có một số người đang trị nạn. Họ là bà con của Bà chủ. Ông chủ chỉ vào một bên góc và nói:

 

    “Trong góc là chỗ tránh dễ tránh bom đạn nhất, anh chị cứ tự nhiên, hay muốn ở góc nào th́ tự ư, chúng tôi đă có cái hầm ở đằng sau lưng nhà, rất tiếc là hầm không rộng đủ cho gia đ́nh anh chị.”

 

    Sau khi cám ơn họ xong, Mẹ tôi lấy cái góc nhà, nơi có kê một cái sập gỗ lớn, để tất cả đồ đạc chúng tôi mang theo được trên sập gỗ, Ba tôi kê sập cao hơn để làm cái hầm tâm lư. Trải một chiếc chiếu lớn ở dưới sập gỗ là chúng tôi cả sáu đứa chun vào ngồi bên nhau, nh́n lên trên đầu thấy có tấm gỗ là chúng tôi yên tâm. Đêm đến tiếng súng lại vang lên, tiếng bom đạn phụ họa vào, lời nguyện cầu của chúng tôi vang lên trong đêm thâu như tiếng nhạc buồn.

 

    Cái đêm kinh hoàng nhất là cái đêm có một trái bom bay xuyên qua mái nhà chúng tôi đang tạm trú, làm thủng mái nhà, rồi đâm đầu xuống vạt đất trống bên hông nhà. Khi nghe tiếng nổ lớn, gần, rồi tiếng bom  đâm thủng mái nhà, chúng tôi kêu gào thật lớn, ôm nhau thật chặt, xong nhắm mắt lại, nín thở để chờ tiếng nổ, và chờ sự chết. Chờ một giây, hai giây, mà giống như chờ cả thế kỷ, chờ gần tắt thở, tưởng là chết v́ tắt thở, nhưng không nghe tiếng nổ, không thấy sự chết, chúng tôi thở ra thật mạnh, để biết ḿnh c̣n sống.

 

    Mạng sống, và sự sống của chúng tôi như chuông treo chỉ mành, nhưng rồi thời gian vẫn trôi qua, những cái chuông tiếp tục đeo theo chỉ mành.

 

    Tối hôm đó, có ba người Việt Cộng, tay cầm súng AK đến đ̣i gặp tất cả mọi người trong nhà, sau một hồi tra hỏi, ba người Việt Cộng đưa ra một cuốn sổ nhỏ, họ gọi là Sổ Vàng, yêu cầu Ba tôi phải đóng góp, phải ủng hộ Cách Mạng.

 

    Ba tôi sợ đưa hết tiền, gạo mang theo th́ chúng tôi sẽ chết đói, Ba tôi lưỡng lự, thấy vậy một ông trong nhóm đưa khẩu súng lên làm như ra dấu: Tiền hay  là súng?

 

    Mẹ tôi biết ư, nói:

 

    “Bom chưa giết được người, đừng có lấy súng dọa, bỏ súng xuống, tiền đây

 

    Mẹ tôi đưa hết số tiền đem theo cho họ, rồi tiếp tục nói:

 

    “Không chết v́ bom, ai lai đi chết v́ tiền, c̣n lương thực th́ mấy hôm nay ra vườn đào củ chuối, các ông ra chỗ đó có quả bom mà đào”

  

    Họ không cần nghe Mẹ tôi  nói ǵ hết. Họ bận đếm tiền, đếm xong họ hỏi tên Ba tôi, rồi lật sổ vàng ra ghi vào.

 

    Đêm hôm đó Ba tôi không hề nhắm mắt được, quyển sổ vàng ám ảnh Ba tôi. Màu vàng là màu của phản bội. Ngày xưa đời Vua chúa, họ lấy màu vàng cho Hoàng tộc, ai mặc áo quần  màu vang, dùng đến cái ǵ có màu vàng là họ đem ra chém. Màu của độc tài.

 

    Những ngày c̣n lại ở đó là những ngày dài vô tận, nhừng đêm đen tối kinh hoàng, những lời cầu nguyện khôn nguôi.

 

    Sáng sớm hôm đó, mặt trời thức dậy như có được thêm niềm hy vọng, bầu trời trong sáng hẳn ra. Khói thuốc súng của những đêm thiếu đạn trước đây, như tàn theo với mây, biến mất với gió.

 

    Rồi tiếng người nói, có tiếng bước chân ai nặng nề dưới cái nắng b́nh minh, bóng người to lớn dần, tiếng nói vang lên với âm điệu khác thường, xa lạ, giọng nói đượm vẻ anh hùng như ra lệnh, cái lệnh ǵ không ai hiểu cả. Chúng tôi ở “dưới hầm” chun ra, nh́n họ như nh́n vị cứu tinh, mặc dù không hiểu, nhưng nh́n hành động của họ là ḿnh hiểu ngay:

 

    Quân đội đồng minh Hoa Kỳ đây! Tự do đây! Ḥa b́nh đây!

 

    Chúng tôi như cá gặp nước, như người đói được cho ăn, như người chết được cứu sống, vội vàng khăn gói trở lại mái nhà xưa. Ba, Mẹ và chúng tôi cám ơn ông bà chủ nhà, ra về.

 

    Trên đường về, hai bên là những chàng lính Mỹ trẻ, tay cầm súng, miệng tươi cười, như vừa chào đón, vừa bảo vệ cho đoàn người đang lần lượt đi qua.

 

    Cũng con đường bất an ấy, bây giờ sao nó b́nh an quá. Chúng tôi nh́n lại những người lính Mỹ trẻ với sự cảm phục, với ḷng biết ơn, và với chút thẹn thùng, e lệ. Đi qua khỏi họ, mang theo h́nh ảnh họ, h́nh ảnh mới nhất, khác nhất trong ḷng tuổi trẻ chúng tôi.

 

    Về đến nhà, mới biết nhà tan, cửa nát, nhưng không v́ thế mà buồn, chúng tôi vui vẻ như gặp lại, t́m lại được những kỷ niệm của ḿnh, Ba tôi thuê người đến dọn sạch sẽ, lợp lại mái ngói, để tránh mưa, tránh nắng tạm thời. Mẹ tôi kiểm điểm, ḍ hỏi thân nhân, bà con, người ăn, kẻ làm v.v…Chỉ mấy ngày sau đó, th́ t́nh h́nh vùng ngoại ô lại đến lúc bất an. Ba, Mẹ tôi mở cửa để chào đón ông, bà chủ nhà đă cho chúng tôi lánh nạn trước đây. Ngoài họ ra, Mẹ tôi c̣n tiếp một cặp vợ chồng người bà con cùng họ với Mẹ ở bên kia cầu An Cựu. Theo với vợ chồng này là hai anh con trai lớn của họ. Người anh tên Tứ, người em tên Đỗ. Họ chỉ ở nhà tôi có vài ba ngày là đi. C̣n cặp vợ chồng cho chúng tôi tị nạn ở nhà họ, th́ họ lại ở nhà tôi lâu hơn. V́ ở lâu hơn nên chúng tôi mới có dịp làm quen, nói chuyện với họ. Người chồng tên là Bùi Xuân Trữ, c̣n người vợ th́ chúng tôi chỉ biết và nghe gọi là bà Ban Trữ, có thế thôi. Ông Ban Trữ là một người thông minh, học cao, hiểu rộng. Ngoài chữ Nho, ông c̣n nói thạo tiếng Pháp, ông đă từng đi học ở Pháp,  và có con đang ở Pháp. Nói chuyện với ông chúng tôi học hỏi thật nhiều. Có lần ông gọi tôi lại và nói:

 

    “Cô Thanh Sung! Nh́n cô tôi tưởng cô là người trong tranh.”

 

    Nghe đến đây, tôi mừng thầm v́ hiểu lầm ông, tôi tưởng ông khen tôi đẹp, tôi không nói ǵ cả, chỉ e lệ mỉm cười. Thấy thái độ của tôi như vậy, ông biết ngay là tôi đă hiểu sai ư ông, nên ông mới đính chính ngay:

 

    “Sở dĩ tôi nói như vậy là v́ đă mấy ngày hôm nay rồi, tôi thấy cô vẫn mặc có một bộ áo quần mà cô đang mặc đó thôi. Ngày nào cô cũng giống ngày nào, chẳng khác ǵ người trong tranh.” 

 

    Nh́n mặt ông lúc đó, tôi buồn muốn khóc. Không nói năng ǵ được được nữa cả, tôi bỏ đi, vừa, vừa đổ lỗi cho chiến tranh.

 

    Ngày tôi mặc bộ đồ khác, cũng chính là ngày họ giă từ chúng tôi. Họ đi rôi1` nhưng không bao giờ chúng tôi quên được.

 

    Chỉ có vài ngày sau khi Huế không c̣n nghe tiếng súng nữa, th́ gia đ́nh tôi bất an. Khi chiếc xe Jeep màu xanh, hai ông lính Công an đậu xe lại trước nhà, nhảy xuống xe, họ đi thẳng vào nhà, Ba tôi đang đứng đó, họ nói:

 

    “Ông là Nguyễn Đăng Hiếu”

 

    Ba tôi trả lời: “Dạ thưa phải.”

 

    Họ không nói ǵ hết, đến gần và c̣ng tay Ba tôi lại rồi kéo lên xe. Mẹ tôi ở nhà dưới chạy lên chận họ lại và hỏi:

 

    “Tại sao lại bắt bắt chồng tôi? Ông ấy đă không làm ǵ cả.”

 

    Một ông trả lời với Mẹ tôi: “Chúng tôi có lệnh bắt. Chúng tôi không cần biết ông ta có làm ǵ hay không. Chúng tôi bắt ông căn cứ trong quyển Sổ Vàng. Khi đi bọn Việt Cộng đă vô t́nh hay cố ư để lại cho chúng tôi. Quyển Sổ Vàng của chúng, lọt vào tay của chúng tôi, nó trở thành quyển Sổ Đen. Bà có biết không?”

 

    Nh́n vào mặt Ba tôi, ông kia vừa kéo vừa nói:

 

    “Ông nặng tội lắm, đi mau ra xe theo chúng tôi.”

 

    Ba nh́n theo chúng tôi, đôi mắt đỏ hoe, chúng tôi nh́n theo Ba nước mắt lưng tṛng. H́nh dáng Ba khuất hẳn đằng xa, nước mắt chúng tôi trào ra như mưa trút xuống trên nền nhà, tiếng khóc của Mẹ bây giờ vang lên như lời than thở, vừa khóc Mẹ vừa nói:

 

    “Lần đầu tiên Ba mấy; con bị tù, Mẹ v́ chưa biết phải làm ǵ, Mẹ đă đem số tiền lớn ra chạy hết, nhưng khi ba con vào tù lần thứ nh́, lần này th́ Mẹ biết cách. Mẹ chạy đến cầu cứu Trung tá Nguyễn Sang. Trung tá là người tốt, người đă thương gia đ́nh ḿnh, đă thấu hiểu nỗi oan ức của Ba và nỗi khổ của Mẹ, và chúng con nên Trung tá, mới ra tay giúp đỡ nhà ta. Sau đó trở thành bạn, cho đến ngày Trung tá bị đổi vào Nam. Trung tá đi rồi, Ba bị bắt lại, Mẹ mới chạy đến cầu cứu ông Vơ Như Nguyện, cũng như Trung tá, ông Nguyện là một người tốt, đạo đức. Ông cũng ra tay giúp đỡ gia đ́nh ḿnh và cũng đă trở thành bạn. Bây giờ đây, đang lúc loạn lạc, chiến tranh, ông ấy và gia đ́nh chạy loạn ở đâu chưa về, th́ làm sao Mẹ tính đây. Mấy lần trước đây, Ba con bị tù là nghi oan. Lần này th́ không c̣n nghi oan ǵ nữa, tên Ba đă nằm trong cuốn Sổ Vàng rơ ràng quá. Trời ơi là trời! Thật đúng là t́nh ngay, mà lư gian.”

 

    Vừa khóc, Mẹ vừa than. Nh́n Mẹ, chúng tôi cảm thấy bất lực, dư thừa. Mặt dầu trong nhà bây giờ là có đông đủ các con, và thêm ba ông rể.

 

    Một tuần sau ngày Ba tôi bị bắt, cũng một chiếc xe Jeep xanh đó, đậu trước mặt nhà, nhưng lần này th́ họ không bắt ai cả, chỉ đến báo tin mà thôi, người lính (công an, NDVN) đến gần Mẹ tôi và nói:

 

    “Bà và người nhà lên đường rầy xe hỏa gần nhà Ga, để nhận xác chồng bà. Khi nhận ra, nhớ đem về chôn cất ngay lập tức.”   

 

    Nói xong, ông lên xe phóng đi không cần biết phản ứng của Mẹ tôi như thế nào? Khi nghe ông nói thế, ban đầu Mẹ tôi hơi hoảng hốt, nhưng đến khi hết hoảng hốt, th́ Mẹ tôi ngất đi. Vài ba phút sau, Mẹ tôi tỉnh dậy. C̣n chúng tôi th́ như bầu trời tự đâu rơi xuống đổ lên đầu, không c̣n đủ sức để khóc nữa.

 

    Anh Trai khóc xong, lên tiếng:

 

    “Mẹ ơi! Mẹ đừng buồn, đừng khóc nữa, con tin rằng Ba không thể nào chết một cách thê thảm như vậy. V́ suốt đời Ba chưa làm một việc ǵ quá hung dữ, để bây giờ phải chết như vậy! Mẹ tin con đi.”

 

    Em của Mẹ là d́ Nguyệt, đứng gần đó và cũng tin như vậy nên phụ theo:

 

    “Tôi cũng tin mhư Trai, và nghỉ rằng Trai nói có lư. Chị đừng khóc nữa, để từ từ xem coi.”

 

    Mẹ tôi lên tiếng lớn:

 

    “Từ từ ǵ nữa? Xem coi ǵ nữa? Đừng tin ǵ nữa? Người ta đến gọi đi lấy xác rơ ràng quá rồi1, rơ ràng như cái tên nằm trong quyển Sổ Vàng thuộc về phía bên kia, màu vàng là màu của  phản bội. Khi quyển sách vàng lọt vào tay bên này, th́ nó trở thành màu đen là màu của chết chóc. Ba của các con chết rồi c̣n ǵ nữa mà tin với không tin. Không tin để đừng đi lấy xác về à!”

 

    Nghe vậy d́ Nguyệt mới nói:

 

    “Người ta đâu có nói đi lấy xác đâu? Người ta nói đi nh́n xác trước, nếu nhận ra th́ đem về chôn. Nhưng không v́ vậy mà không đi được. Chị th́ quá khổ, quá yếu không đi nh́n xác được, tôi t́nh nguyện đi cho, Trai đi theo với tôi.”

 

    Nghe đến tên anh Trai, sợ thanh niên dễ bị bắt, nên Mẹ tôi nói:

 

    “Không, Trai không đi được, để Mẹ đi.”

 

    Thấy Mẹ tôi quá tội, tôi t́nh nguyện:

 

    “Con và d́ Nguyệt là mau nhất.”

 

    D́ cầm tay tôi hai d́ cháu vừa đi, vừa chạy lên đường rầy xe lửa, qua khỏi nhà Ga, đi theo đường rầy về phía núi, từ đằng xa nh́n tới, chúng tôi đă bắt đầu thấy những xác chết nằm la liệt hai bên đường rầy. Sự sợ sệt từ đâu bắt đầu chiếm lấy và bao phủ lên người tôi, tôi cầm chặt tay d́ như có ư định kéo lui. D́ lên tiếng như để trấn an:

 

    “Họ bị bắn đêm hôm qua, bây giờ họ chết keo rồi, không làm ǵ tụi ḿnh được đâu. Vả lại ḿnh phải đến t́m Ba con chớ.”

 

    Tôi theo d́, đến gần nh́n từng xác chết, nh́n họ tôi thấy thương họ vô cùng, tôi không biết họ có tội không? Cũng như Ba tôi, nhưng tại sao? Nh́n vào họ là tôi muốn ói ra. Khó mà nhận ra xác lắm, lư do đầu tiên là họ bị giam đói trước khi bắn, lư do thứ nh́, khi bắn th́ người ta bắn ngay vào mặt. Trước sự kinh hoàng như vậy mà d́ tôi c̣n b́nh tĩnh để nói;

 

    “Con nh́n vào chân, vào đầu trọc để nhận ra Ba Con, đừng có nh́n vào mặt, nh́n hết số người này vào mặt, d́ nghĩ là ḿnh không đủ can đảm để tiếp tục đâu.”

 

    Mới đâu nghe d́ nói thế tôi tưởng d́ nói có lư, nhưng khi nh́n vào đầu người ta, làm sao tránh được nh́n cái mặt. Nh́n đă gần hết số người rồi, mà vẫn chưa thấy Ba tôi, tự nhiên tôi hết sợ, và tự đâu niềm hy vong dâng lên. D́ tôi lên tiếng:

 

    “D́ biết rơ lắm, d́ tin vào lời Trai v́ thấy nó nói có lư. Thôi đi về con hè! Hai mươi cái xác không có cái nào đi theo ḿnh cả, cũng chẳng xác nào c̣n đủ sức để đưa tay ra vẫy chào.”

 

    Chúng tôi giă từ xác chết, trên đường về nhà thấy ḷng thanh thả với niềm hy vọng.

 

    Về đến nhà thấy mặt chúng tôi như là đi chợ Tết về, Mẹ tôi nh́n tôi như có ư cho chúng tôi biết là bà đă chờ đến một thế kỷ dài. D́ lên tiếng:

 

    “Không có, không thấy, và không tin được là anh phải chết như vậy.”

 

    Tôi tiếp lời d́:

 

    “Ba chưa chết đâu Mẹ ạ! Con đói bụng quá, đi kiếm cái ǵ ăn đă.”

 

   Vừa nói tôi vừa chạy vao nhà bếp, chị Nhung, Huyền, Anh, Lan Anh, Tiến chạy theo, rồi cả bọn đua nhau lên tiếng:

 

    “Thấy ǵ? Dễ sợ không? Kể cho tụi này nghe với.”

 

    Đang đi tới phía bếp, tôi bỗng quay đầu hẳn lại phía họ và đột nhiên lên tiếng ồ ồ lớn, rồi vồ vào họ như xác chết đứng dậy để chụp lấy, cả bọn hét lên đâm đầu chạy.

 

    Kiếm được thức ăn, tôi đem ra bàn ngồi ăn, mới vừa bỏ thức ăn vào miệng, h́nh ảnh mấy xác chết hiện lên xin ăn v́ đói quá. Tôi không nuốt xuống được, đem thức ăn vào lại bếp.

 

    Hai ngày sau đi t́m Ba tôi, Mẹ tôi ra Lao Thừa phủ. Đi một ṿng ngoài thấy nhà tù vắng tanh, đến cổng dừng ngoài chờ. Không dám hỏi han, không dám khơi dậy, v́ linh tính cho Mẹ tôi biết có một sự nhầm lẫn, thiếu sót ǵ đây trong việc Ba tôi c̣n sống. Đến gần chiều tối, th́ trong cổng có một người gác cổng già đang lụm khụm mở cổng đi ra.. Mẹ tôi chờ một phút sau mới dám chạy theo và hỏi”

 

    “Dạ thưa ông! Ông làm việc trong đó?”

 

    Ông ta chậm chạp trả lời

 

    “Tôi gác ở trong bây giờ hết phiên, tôi đi về.”

 

   Mẹ tôi hỏi thêm:

 

    “Tôi có người chồng tên Nguyễn Đăng Hiếu đang bị tù bên trong ấy, ông có biết có ai tên đó không?”

 

    Nh́n chăm Mẹ tôi một hồi, ông mới lên tiếng:

 

   “Trời ơi! Bà là vợ của cái ông đầu trọc, ốm nhom đó phải không? Trời ơi! Ông ấy thật là may, trong cái đêm người ta đem nhóm ông đi, ông v́ ốm, đau, ngồi trong góc, rồi chết luôn. Người ta đă không thấy, và không biết nên bỏ quên ông luôn. Ngày sau tôi đến gác, dọn dẹp, tưởng không có ai nữa, chết hết rồi, th́ bỗng nghe tiếng rên rĩ, tôi chạy vào té ra ông c̣n một ḿnh ở đó, c̣n sống. Thấy tội quá, tôi lặng lẽ đưa ông đến chỗ tù dành riêng cho mấy người mới bị t́nh nghi đến chính trị mà thôi. Tội của họ chưa nặng lắm. Thôi Bà về đi, để một vài ngày nữa, t́nh h́nh lắng dịu bớt, Bà t́m cách chạy cho chồng Bà ra. Bây giờ vẫn đang c̣n lộn xộn lắm. Họ đang giành giựt quyền hành, đang lợi dụng t́nh h́nh để thanh toán lẫn nhau.”

 

    Mẹ tôi cám ơn ông, biếu ông một số tiền, rồi ra về.

 

    Đúng một tuần sau, Mẹ tôi t́m đến ông Vơ Như Nguyện, như một ân nhân, như một người bạn chân t́nh. Ông giúp Mẹ tôi thêm một lần nữa. Mặc dù lúc đó ông là Viện trưởng Viện Hán học.

 

    Ba tôi về đến nhà, như người chết, sống lại…..

 

    Tám mươi phần trăm nhà cửa, chùa chiền, lâu đài, chợ búa bị điêu tàn. Người chết cho hai bên cũng nhiều hơn các thành phố khác, và các trận giao tranh trước đây…

 

 

Tiểu truyện 6: Hồi Kư: Thanh Sung “Không Biên Giới” (tr, 61 – tr, 73)

NDVN, ngày 11/12/07

 

Ghi chú:

 

Tiểu sử Nhà văn Nguyễn Thị Thanh Sung

   

Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1949, tại An Cựu, Huế

Năm 18 tuổi xa gia đ́nh vào học Sư phạm Qui Nhơn.

Dạy tiểu học tỉnh Quảng Tín.

Mùa Xuân 1973, gặp Bill Fleming* tại Huế.

Mùa Hè 1973, được phép cha mẹ làm dâu nhà Fleming.

Mùa Xuân 1974, theo Bill về quê chồng ở Mỹ.

Mùa Xuân 1975, theo chồng và con trai đầu ḷng đi nhiều nơi trên thế giới.

[Bill làm việc trong bộ Ngọại giao, đọc “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn”, NDVN]

Mùa Hè 1991, cùng chồng và ba con Matthew, Mark, và Sarah về lai Hoa Kỳ

Bill vẫn tiếp tục phục vụ trong Bộ Ngoại Giao

Hiện sống cùng gia đ́nh tại Potomac, Maryland



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend