TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Ô. Trần Phong Vũ Phỏng Vấn Ô. Nguyễn Văn Ngân...Chính Quyền VNCH Bù Nh́n Của Mỹ


 Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 


Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Nguyen TT Vo Van Kiet gop y cho du an Dung Quat

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 

Websites trong nước

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 Ông Trần Phong Vũ Phỏng Vấn Ông Nguyễn Văn Ngân

 Xác Nhận Chính Quyền VNCH Bù Nh́n Của Mỹ

 

 

 

    NDVN: Chúng tôi có ba bài viết của Ông Trần Phong Vũ Phỏng Vấn Ông Nguyễn Văn Ngân Phụ Tá Đặt Biệt TT Nguyễn Văn Thiệu, có đoạn: “Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi” trên mạng Đàn Chim Việt. Đă xác định lời Bộ trưởng Quốc pḥng Rumfeld thời làm dân biểu đă phỉ nhổ VNCH là “ Chính quyền miền Nam ‘VNCH’ là chính quyền bù nh́n ”…. Và Giáo sư F. Murray, trường báo chí Annenberg đại học USC đă xúc phạm đến quân lực VNCH, bằng một bài báo đăng trên tờ Los Angeles Times nói rằng quân lực này nổi tiếng "hiếp dâm và ăn cướp...(Nhật báo Viễn Đông, thứ Năm, tháng 10 năm 2002)....

 

    Đă minh họa, những cấp lănh đạo chính quyền bù nh́n VNCH I & II, từ Tổng thống Ngụy VNCH, "anh minh lê gót nơi xứ người" Tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm, đă được Phó Tổng Thống Johnson trả lời một phóng viên: “Ngô Đ́nh Diệm có phải là Churchill Á Châu không” như sau: “Shit! Diem‘s the only boy we‘ve got out there” “Cứt! Diệm là thằng bé duy nhất chúng ta có ở đây’’ Stabley Karnow, VN: A History, trg 214 and The Pentagon Papers "Diệm is A Shit"….

 

    Cũng như, Thiệu được lên làm Tổng thống, do Tổng thống Johnson, qua cha đỡ đầu Quan Thái Thú Bunker ẩm lên: Năm 1967, trong một cố gắng cuối cùng để tránh rối loạn, chính phủ Hoa Kỳ quyết định ủng hộ một nhân vật mới, một viên tướng miền Nam b́nh thường và nổi tiếng là phi chính trị tên gọi là Nguyễn Văn Thiệu (Thiệu is the second boy, We’ve got out there). Sau đó ít lâu, cùng năm ấy, Thiệu được đưa lên làm tổng thống. Nhưng con người hùng thật sự là Nguyễn Cao Kỳ, một người Bắc xuất sắc, nguyên thủ tướng trở thành Phó tổng thống. Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ cho tổng thống Thiệu biết rơ các vấn đề chính trị. Kỳ bị bỏ rơi hẳn sau cuộc tổng tiến công năm 1968 của cộng sản. Trong cuộc tổng tiến công này, nhiều bạn đồng minh tin cậy của chúng tôi đă bị giết. (tr.21)” "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IA)

 

    Và Thiệu đă xác nhận vai tṛ bù nh́n tay sai chống Cộng: "Mỹ c̣n Viện Trợ, th́ chúng ta c̣n Chống Cộng".  


     Ông Ngân, c̣n cho biết thêm: Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi…Thật vậy, Mỹ muốn đổ quân vào Việt Nam, nhưng Thủ tướng Phan Huy Quát không chấp nhận, là muốn tạo chính nghĩa cho miền Nam, nhưng Mỹ bất chấp vẫn cho những tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến  đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng đầu năm 1965, và Mỹ tiến hành  lật đổ Thủ tướng Quát, do cháu  nuôi Play Boy Mỹ Con Bùi Diễm phản bội (con của Đaị Việt Quan lại cánh miền Bắc Bùi Kỷ, được Bác sĩ Phan Huy Quát nhận lời cụ Trần Trọng Kim nuôi dạy Diễm), nói thế nào hay khủng bố Thủ tướng Quát đă phải vội trao quyền cho nhóm tướng trẻ tại Bộ Tổng Tham Mưu QĐVNCH, ngày 19/6/1966 (ngày QLVNCH)

 

    C̣n về, chế độ Diệm đă có ư đồ xin thêm quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam, từ năm 1961! Thế mà ông Ngân đă Ngụy sử cho là “Thời đệ I Cộng Ḥa, tổng thống Diệm muốn có một hiệp ước hỗ tương như ở Đại Hàn (South Korea) nhưng người Mỹ từ chối. Các cố vấn quân sự Mỹ đến và đi không qua sự kiểm soát của nhà chức trách Việt Nam”, đă cho chúng ta xác định rằng: “Shit! Diem ‘s the only boy we‘ve got out there‘’ “Cứt! Diệm là thằng bé duy nhất chúng ta có ở đây’’. Ngược lại những tiết lô của “Hồ sơ Mật Ngũ Giác Đài” (The Pentagon Papers, Ed. Bantam Books Inc, 1971), cũng cho thấy chính chế độ Diệm đă có ư đồ xin thêm quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam, từ năm 1961!

 

    “Cablegram from the United States Embassy in Saigon to the State Department, on Oct 13, 1961, on requests by Nguyen Dinh Thuan, Defense Minister of South Vietnam..

 

     Thuan in meeting October 13 made the following requests:

 

    1 Extra squadron of AD-6..

 

    2 US civilian contract pilots

 

    3. US combat units or units to be introđuce into SVN as “combat-trainer-units.”  Part to be stationed in north near 17th Parallel to free ARVN forces there for anti-guerilla action in high plateạu  Also perhaps in several provincial setas in the highlands of Central Vietnạm

 

    4. US reaction to proposal to request Nationalist China to send one division of combat troops for operations in the Southwest…

 

    Said Diem in light of situation in Laos, infiltration into SVN, and JfK’s interest as shown by sending Taylor, request US to urgently consider reques” (trang 140)

 

    Tạm dịch:

 

    Hồ Sơ Mật Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers , Ed Bantam Books Ins , 1971) cũng cho thấy chính chế độ ông Diệm đă có ư đồ xin thêm quân tác chiến Mỹ vào VN , từ năm 1961.

 

    “Điện văn của Ṭa Đại Sứ Mỹ tại Sàigon, gửi Bộ Ngọai Giao ngày 13/10/1961 về những yêu cầu của ông Nguyễn Đ́nh Thuần, Bộ trưởng Quốc Pḥng của Nam Việt Nam :

 

    1 Gửi thêm các phi tuần khu trục AD-6     

 

    2 Gửi thêm phi công dân sự Mỹ….

 

    3 Gửi quân Mỹ tác chiến hoặc “ cố vấn tác chiến “cho quân VNCH. Một phần quân số nầy sẽ đóng gần vĩ tuyến 17, để quân VNCH được rảnh tay chống quân Du kích ở miền Cao nguyên, hoặc (số quân Mỹ nầy) cũng có thể đóng ở những thị xă Cao nguyên Trung phần .

 

    4 Xin được biết phản ứng của Mỹ đối với đề nghị ( của VN ) xin Trung Hoa Quốc Gia gửi một sư đ̣an tác chiến vào khu vực hành quân vùng Tây - Nam ….

 

     Bộ trưởng Thuần nói ông Diệm, dựa trên t́nh h́nh Lào, sự xâm nhập ( của quân đội Bắc Việt ) và sự lưu tâm của TT Kennedy khi gửi Tướng Taylor qua thăm Việt Nam, đă yêu cầu Mỹ hăy duyệt gấp những yêu cầu trên “ (của Hà Giang Linh trong cuốn Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử Trong Thế Kỷ 20 của Lê Trọng Văn, tr 6-7, có bản tiếng Anh)

         

    Cũng được những cấp lănh đạo, chính quyền  bù nh́n VNCH II, đă nói sổ toẹt như là:

 

    Thủ tướng Ngụy Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương nói rằng: "ông" Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". V́ vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ chúng tôi là những kẻ đánh thuê

 

    Đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Ngụy Cao Văn Viên, ngán ngẩm buột miệng sổ toẹt tính chất "tầm gửi" của quân đội Ngụy VNCH...."Chúng ta không có trách nhiệm chiến tranh (!) Trách nhiệm chiến đấu là của người Mỹ. Chính sách đó do Mỹ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi."

 

    Để rồi, Ông Ngân tố cáo đế quốc Mỹ với chính sách thực dân mới thay chính sách thực dân Pháp như sau:“Người Mỹ đă thay thế nguời Pháp với chánh sách thực dân mới. Vào thế kỷ 19 người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt Nam trong việc thiết lập một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á của chủ thuyết Domino. Người Mỹ đến Việt Nam không v́ quyền lợi người Việt Nam mà v́ quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xiển dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm b́nh phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm,(đó là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, NDVN) khuyến khích t́nh trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chánh và ám sát lănh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ.”....

 

   Và...Cùng với chính sách viện trợ có tính cách tiêu thụ và nhân danh dân chủ để can thiệp vào nội bộ quốc gia được viện trợ, chính quyền của quốc gia được viện trợ bị xem là công cụ của ngoại bang, đă đẩy một số quần chúng đi về phía cộng sản và dưới mắt thế giới Việt Nam Cộng Ḥa đă bị cô lập, cuộc chiến đấu bảo vệ dân chủ và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam bị mất chánh nghĩa....

 

    Cuối cùng,ông Ngân nói: chính sách thực dân mới của người Mỹ là yếu tố có tính cách quyết định đă làm sụp đổ miền Nam Việt Nam....

 

    Cho dù, ba bài viết của Ông Trần Phong Vũ phỏng vấn Ông Nguyễn Văn Ngân có  nhiều Ngụy sử, ca tụng Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu rất ngây ngô và ngu dốt (xin nhấn mạnh ông Vũ và ông Ngân là giáo dân cuồng tín ngu nghiện đạo, riêng ông Ngân đă bỏ Công giáo, sau những loạt bài trả lời phỏng vấn của ông Vũ ở trên) hay bôi đen  Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng một cách ngây ngô, phi lư  để ông Ngân dễ dàng tỏ ḷng tôn kính và vinh danh Hồ Chí Minh và đảng CSVN mà thôi. Và tố cáo Mỹ đă thỏa thuận ngầm với Trung Quốc chiếm Hoàng Sa để đặt cộng sản Hà Nội sau nầy trước một “fait accompli”....

 

    C̣n nhiều nhiều nữa sự kiện lịch sử chính quyền bù nh́n VNCH I & II. Nhân Dân Việt Nam, cống hiến bạn đọc ba bài phỏng vấn của ông Trần Phong Vũ dưới đây:

 

 

Phần (Ia)

 

 

Đôi lời của người phỏng vấn: ― Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vai chính nắm giữ ch́a khóa mở vào những bí ẩn của một giai đoạn lịch sử, đă vĩnh viễn ra đi ngày 29/9/2001 không để lại một vết tích nào, ít nữa là về phía ông. Không hồi kư. Không di chúc chính trị. Ông lặng lẽ trở về ḷng đất mang theo một trời tâm sự u uẩn của một nhà lănh đạo từng được dư luận đặt lên bàn cân với nhiều suy đoán, nhận định, lượng giá khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau. Một khuôn mặt thời cơ? Một kẻ tham quyền cố vị? Một lănh tụ gan lỳ, nham hiểm, nhiều thủ đoạn? Một người yêu nước cô đơn? Một nhà lănh đạo quốc gia thông minh, mưu trí, nhưng… sinh bất phùng thời?

 

    Trần Phong Vũ (2006)
Do một trùng hợp t́nh cờ, 5 năm sau ngày TT Thiệu từ trần, chúng tôi đă gặp gỡ ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên Phụ tá đặc biệt về chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa để thực hiện cuộc phỏng vấn này trong nhiều ngày của tháng 9 năm nay (2006)


Là một cộng sự viên lâu năm và là một Phụ tá trẻ tuổi nhất trong số những Phụ tá đặc biệt của TT Thiệu, ông Ngân thường được giới báo chí ngày đó coi là một khuôn mặt bí ẩn. Đối với các chính khách “ṿng trong” th́ ông là người đă nắm giữ nhiều quyền lực quan trọng trong hậu trường chính trị miền Nam bấy giờ.

Ông Nguyễn Văn Ngân khởi sự làm việc với TT Thiệu năm 1965, thời gian ông Thiệu giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc pḥng trong chính phủ Phan Huy Quát. Năm 1967, ông là đại diện của Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia trong liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ tại Hội đồng Tuyển cử Trung ương, trong cuộc chạy đua vào dinh Độc lập.


Năm 1971, TT Thiệu ủy nhiệm ông chỉ đạo toàn bộ cuộc bầu cử tháng 10/71; ông là tác giả đạo luật bầu cử tổng thống với điều 10 khoản 7 đưa đến t́nh trạng độc cử.


Năm 1974, ông là tác giả tu chính án Hiến pháp tháng 01–74 gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thống.


Ông là người trách nhiệm điều hợp các cơ chế hiến định: Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Giám sát viện… và có ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của các cơ chế này; đồng thời là người tổ chức đảng Dân Chủ là đảng cầm quyền của TT Thiệu gồm hệ thống quần chúng, chính quyền và quân đội.


Tháng 5/1974 ông bị TT Thiệu giải nhiệm và buộc phải rời khỏi Việt Nam. Cuối tháng 1/75, ông từ Mỹ và Gia nă đại (Canada) về nước. Đầu tháng 4 năm ấy ông bị TT Thiệu hạ lệnh cho cơ quan an ninh “cô lập” và chỉ được trả tự do sau khi TT Thiệu rời Việt nam đi Đài Loan tối ngày 25/4/1975.


Trong cuộc phỏng vấn, chúng tôi được ông Ngân cho xem một số chứng liệu liên hệ và chúng tôi đă yêu cầu được làm phóng ảnh văn kiện có thủ bút của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kèm theo phần kết thúc loạt bài phỏng vấn này


Ngày 25 tháng 9 năm 2006

 

Kỳ thứ nhất: Những bí ẩn lịch sử được khai quật


• V́ sao, cho đến khi chết, ông Thiệu vẫn không viết hồi kư?

• Ngoài cộng sản, ông Thiệu mang mối thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời

• Vụ mất Quảng Trị năm 72 là một “sabotage politic”?

• Vào lúc nào ông Thiệu nuôi ư định tự sát như một cách chống trả cuối cùng?


TPV: Sau khi tổng thống Thiệu mất tháng 9 năm 2001 nhiều tài liệu được tiếp tục giải mật và nhiều hồi kư chánh trị được xuất bản liên quan đến nội t́nh và cuộc chiến Việt Nam vào giai đoạn ông cầm quyền. Ông là một công sự viên thân cận và là phụ tá chánh trị của tổng thống Thiệu, có thể giúp chúng tôi soi sáng một số vấn đề liên hệ?


NVN: Tôi chỉ có thể trả lời cho ông những sự thực mà tôi được biết trực tiếp hay gián tiếp bởi những công việc và trách nhiệm được giao phó trong giai đoạn đó.


Điều đáng tiếc là tổng thống Thiệu lúc c̣n sống đă hoàn toàn im lặng.


TPV: Theo ông biết th́ v́ lư do nào tổng thống Thiệu không để lại hồi kư?


NVN: Tôi có biết một số sự việc.


Đầu năm 1983 tôi gặp ông Thiệu ở London. Ông kể cho tôi việc bà Anna Chennault qua Đài Loan thăm ông sau 30/4/75. Năm 1968, bà Anna Chennault là thành viên trong nhóm vận động tranh cử của tổng thống Nixon đă gặp ông Thiệu nhiều lần tại Sài G̣n và quyết định của ông Thiệu không gởi phái đoàn dự ḥa đàm Paris đă giúp Nixon thắng cử Humphrey với một tỉ lệ xít xao vào cuối năm đó. Cũng cần nói rơ ở đây là quyết định của ông Thiệu không gởi phái đoàn dự ḥa đàm không phải v́ Nixon như nhiều nhân vật chính trị đă suy diễn bởi hệ quả của nó mà v́ những bất đồng giữa Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và chính quyền Johnson chưa được giải quyết trong đó có vai tṛ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) tại ḥa đàm. Ông Thiệu thuộc loại người ăn chắc mặc bền, rất cẩn trọng và tinh thần trách nhiệm không cho phép ông đem sinh mạng đất nước vào canh x́ phé đổi chác những hứa hẹn thiếu cụ thể. Về việc bà Chennault qua thăm ông Thiệu tại Đài Loan, ông nói: “Người Mỹ đâu có xuất tiền mua vé máy bay đi thăm tôi, họ muốn thăm ḍ phản ứng của tôi v́ năm 76 là năm bầu cử tổng thống Mỹ; bà Chennault nói với tôi: "nếu tổng thống viết hồi kư th́ tôi đă có sẵn publisher…’” Ông Thiệu nói và đồng thời khuyên tôi: “Nếu ḿnh c̣n muốn làm việc cho quốc gia th́ không nên viết hồi kư, họ biết tư tưởng của ḿnh th́ c̣n làm việc sao được”.


Năm 1992, sau khi Đông Âu tan ră và Liên bang Xô–Viết sụp đổ, tôi nói với ông Thiệu: Bây giờ tổng thống có thể xúc tiến viết hồi kư. Ông đồng ư và yêu cầu tôi đóng góp ư kiến.


Thời gian sau đó tôi không c̣n liên lạc với ông nhưng qua vài người thân cận với ông tôi biết ông đă bỏ ư định viết hồi kư


Tháng 7/2001 tôi nói chuyện điện thoại với ông vào lúc ông vừa ở bệnh viện ra và đang thời kỳ vật lư trị liệu. Ông cho tôi biết rơ về căn bệnh tim, giọng ông đă yếu rất nhiều so với trước. Ngay sau đó tôi có đề nghị với một người bạn thân của gia đ́nh ông là nên gợi ư với ông Thiệu để lại di chúc chánh trị v́ với căn bệnh tim như ông nói th́ có thể ra đi bất cứ lúc nào. Sở dĩ tôi không đề cập thẳng vấn đề với ông Thiệu v́ đă lâu tôi không có liên lạc với ông, đây là vấn đề tế nhị có thể tạo nên xúc động ở một người lớn tuổi và đang đau yếu.


TPV: Khi ông nghĩ về một di chúc chánh trị của ông Thiệu chắc hẳn phải có lư do?


NVN: Trong cuộc gặp gở ở London đầu năm 1983, ông Thiệu nói với tôi: “Tôi đă sống ở đây (London) 8 năm trong cay đắng… nhưng tôi đă học hỏi được rất nhiều, nhiều hơn là trong mười năm ở chức vụ lănh đạo quốc gia, thật ra ngày đó ḿnh đă không được “préparer” trong chức vụ đó”.


Muốn hay không, ông đă là một nhân chứng quan trọng v́ đồng thời là một tác nhân. Giai đoạn ông lănh đạo đất nước có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, có nghĩa là nhiều bí mật quốc gia đă không được chia sẻ, nhiều quyết định liên quan đến vận mệnh đất nước mà động cơ thực sự chưa bao giờ được tiết lộ. Giai đoạn của ông tuy ngắn nhưng là giai đoạn bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc, với sự yểm trợ của cộng sản quốc tế và sự tham chiến của người Mỹ, chưa bao giờ những người Việt Nam lại chém giết nhau một cách tận t́nh như vậy.


Cuộc chiến tranh lạnh tuy đă chấm dứt nhưng vị trí địa lư chánh trị Việt Nam không thay đổi, vẫn là nơi tranh chấp giữa các siêu cường dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác và những bài học lịch sử trong giai đoạn ông có một tầm mức quan trọng cho những thế hệ mai sau.


TPV: Dưới thời Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm cũng như Tổng thống Thiệu, sự lănh đạo đều có tính cách chuyên hoạnh cá nhân. Điều này có phải v́ đầu óc độc tôn, tham quyền cố vị của lănh tụ như hiện tượng phổ quát trong hầu hết các quốc gia chậm tiến?


NVN: Tại miền Nam Việt Nam dưới thời Tổng thống Diệm và Tổng thống Thiệu có nhiều nguyên nhân đưa đến t́nh trạng lănh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân: nền dân chủ phôi thai, sinh hoạt chính đảng yếu kém, xă hội phân hóa, chiến tranh v.v… nhưng một trong những nguyên nhân chính có tính cách quyết định là chính sách can thiệp của người Mỹ.


Người Mỹ đă thay thế nguời Pháp với chánh sách thực dân mới. Vào thế kỷ 19 người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt Nam trong việc thiết lập một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á của chủ thuyết Domino. Người Mỹ đến Việt Nam không v́ quyền lợi người Việt Nam mà v́ quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xiển dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm b́nh phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích t́nh trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chánh và ám sát lănh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ.


Chánh sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đă được xử dụng như lưỡi gươm Damoclès. Trong khi viện trợ của Nga–Tàu cho Bắc Việt nặng tính cách sản xuất th́ viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hoàn toàn có tính cách tiêu thụ. Trong thời chiến Bắc Việt có khu kỹ nghệ nặng gang thép Thái Nguyên và cục quân giới của tướng Trần đại Nghĩa có khả năng cải tiến Sam 2 bằng cách ngăn chận hệ thống nhiễu sóng radar và đạt tầm cao hạ máy bay B52 của Mỹ bấy giờ đươc xem là loại máy bay bất khả xâm phạm có sức oanh tạc phá hoại ghê gớm – th́ kỹ nghệ quốc pḥng của miền Nam Việt Nam là con số không. Những dự án xây dựng cơ sở đúc súng đạn, nhà máy lọc dầu, phân bón… từ thời tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đều bị người Mỹ ngăn chận. Đối với một dân tộc, dù viện trợ có tính cách sản xuất, muốn xử dụng hữu hiệu cũng đ̣i hỏi phải có tinh thần tự lực, tự cường; huống hồ dân tộc đó vừa thoát khỏi ách đô hộ trăm năm của thực dân Pháp, chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ư chí đề kháng và nô lệ hóa.


Cùng với chính sách viện trợ có tính cách tiêu thụ và nhân danh dân chủ để can thiệp vào nội bộ quốc gia được viện trợ, chính quyền của quốc gia được viện trợ bị xem là công cụ của ngoại bang, đă đẩy một số quần chúng đi về phía cộng sản và dưới mắt thế giới Việt Nam Cộng Ḥa đă bị cô lập, cuộc chiến đấu bảo vệ dân chủ và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam bị mất chánh nghĩa.


Những khó khăn thực sự của ông Diệm và ông Thiệu phát xuất từ chính sách can thiệp của người Mỹ, có thể nói nếu giải quyết được những khó khăn nầy th́ sẽ giải quyết được 90% những khó khăn trong việc xây dựng đất nước và chống cộng. Để đối phó với chánh sách hai mặt của người Mỹ, ông Diệm và ông Thiệu bị dồn vào thế lănh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, và như một ṿng luẩn quẩn không lối thoát, sự lảnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân đă làm mất hậu thuẫn rộng răi trong quần chúng.

Chính sách thực dân mới của người Mỹ là yếu tố có tính cách quyết định đă làm sụp đổ miền Nam Việt Nam.

Sau thế chiến thứ I, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền đă đưa ra một bản cáo trạng lên án thực dân Pháp, thiết tưởng chế độ thực dân mới của Mỹ c̣n tàn bạo gấp nhiều lần so với thực dân cũ v́ sau 30/4/75 Việt Nam Cộng Ḥa đă hoàn toàn bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.


TPV: Ông có đồng ư rằng chế độ đệ I và đệ II Cộng ḥa cũng như ông Diệm và ông Thiệu đă được Hoa Kỳ yểm trợ nếu không muốn nói là đă góp phần quyết định?


NVN: Không ai phủ nhận điều đó.


Cũng như chế độ miền Bắc với Hồ Chí Minh. Đó là hậu quả đương nhiên của một thế giới lưỡng cực sau thế chiến thứ hai mà Việt Nam là một điểm nóng trong cuộc tranh chấp giữa tư bản và cộng sản.


Người ta có thể nói Hồ Chí Minh là công cụ của cộng sản quốc tế nhưng ông Diệm và ông Thiệu trong thực tế không phải là tay sai của Mỹ.


Hồ Chí Minh đă áp đặt chế độ cộng sản trên đất nước, thay thế xiềng xích nô lệ thực dân, phong kiến bằng xiềng xích cộng sản; sự dă man và tàn bạọ như thế nào th́ tất cả mọi người đều biết. Và hậu quả di lụy của tinh thần nô lệ đă khiến cho một dân tộc vốn giàu ḷng hy sinh, siêng năng, nhẫn nại, đă chiến thắng trong chiến tranh nhưng đă thất bại trong ḥa b́nh – đất nước tụt hậu trong đà tiến của nhân loại.

 

Sau Hiệp Định Geneva 1954, người Pháp rút lui để lại miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị

Nguyễn Văn Ngân

kiệt quệ v́ chiến tranh – để chống lại cộng sản quốc tế và Bắc Việt, chúng ta chỉ c̣n tài nguyên nhân lực là máu để đánh đổi viện trợ Mỹ cùng với các điều kiện áp đặt, không c̣n một sự lựa chọn nào khác. Ông Diệm và ông Thiệu đă lănh đạo đất nước trong những điều kiện vô cùng khó khăn: xây dựng chế độ dân chủ trên một xă hội băng hoại bởi phân hóa với lịch sử ngàn năm phong kiến, nô lệ ngoại bang, chưa hề kinh qua một giai đoạn quá độ có ư niệm về dân chủ, tự do – không phải là một công việc dễ dàng; đồng thời phải chống lại xâm lăng cộng sản và chánh sách thực dân mới của đồng minh Mỹ, những người quốc gia Việt Nam đă phải chiến đấu sinh tồn trong một hoàn cảnh nghiệt ngă, trong cái thế trên đe dưới búa, giữa gọng kềm tư bản và cộng sản. Chế độ đệ I và đệ II Cộng Ḥa của miền Nam trước 1975 dẫu có nhiều khuyết điểm nhưng không ai có thể phủ nhận rằng các cấu trúc chính trị, xă hội, kinh tế ngày đó đă đặt nền móng vững chắc làm bệ phóng dẫn đầu những con rồng Á Châu sau nầy để trở thành một quốc gia hùng cường tại Đông Nam Á

.
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm là một nhà ái quốc, người của chủ nghĩa dân tộc, đă bị người Mỹ giết v́ bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chính biến 1/11/63 và cái chết của ông là sự thất bại chung cho tất cả mọi người quốc gia Việt Nam về một giải pháp quốc gia. Hậu quả là việc quân đội Mỹ trực chiến và sự sụp đổ miền Nam Việt Nam 30/4/75. Chúng ta đă bị lôi kéo vào một cuộc chiến hoàn toàn không cần thiết v́ đă không làm chủ được số phận của ḿnh và tất cả dân tộc Việt Nam đều là nạn nhân với hơn hai triệu thương vong, hơn bảy triệu tàn phế, hơn hai triệu người bỏ nước ra đi tị nạn với hàng vạn người vùi thân trong biển cả, đất nước đổ nát...


Thời Tổng thống Thiệu khó khăn hơn thời Tổng thống Diệm rất nhiều: hơn nửa triệu lính Mỹ trấn đóng; ṭa Đại sứ Mỹ thực tế là một chánh phủ Mỹ tại hải ngoại với một hệ thống cố vấn dày đặc trong tất cả mọi lănh vực sinh hoạt quốc gia từ trung ương tới địa phương; số lượng nhân viên CIA chỉ sau trụ sở trung ương (Langley), là chi nhánh có nhân viên đông nhất trên thế giới; và ông Thiệu đă phải đối phó với một nghịch lư: trong khi khối cộng sản quốc tế và Bắc Việt tiếp tục leo thang chiến tranh th́ người Mỹ thực hiện giải kết bằng cách rút quân trên chiến trường và nhượng bộ chinh trị trên sinh mạng miền Nam Việt Nam tại hội đàm Paris. Trong cuộc chiến chống cộng và suốt thời gian lănh đạo quốc gia, có thể nói 90% thời giờ của ông Thiệu được xử dụng trong nỗ lực không ngừng để tranh thủ và đối phó với người Mỹ mặc dầu phạm vi xoay sở của ông mỗi ngày một thâu hẹp; lư do giản dị là chánh sách của Mỹ sẽ quyết định sinh mạng của miền Nam Việt Nam chứ không phải cộng sản. Trong đời chánh trị của ông Thiệu có hai kẻ thù chính là cộng sản và Mỹ, và ông đă mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời.

Năm 1983, một buổi chiều ông lái xe cho tôi xem thành phố London, ông chỉ vào cái ảnh nhỏ của đứa con út sinh tại London sau 1975 gắn gần tay lái, ông nói: khi nó mới tập nói, tôi dạy cho nó: “kẻ thù của con là cộng sản và Mỹ…”. Lúc ông chết, ư nguyện của ông muốn hỏa táng để đem tro cốt về Việt Nam nếu có điều kiện, không th́ sẽ rải xuống biển chứ không muốn chôn trong ḷng đất Mỹ.

 

Đàn Chim Việt , ngày 2/10/75

 

Phần (Ib)

 

TPV: Dù sao ông Thiệu đă cầm quyền 10 năm từ 1965–197, ḥa đàm Paris kéo dài từ 1968 đến 1973, thời gian đủ để tiên liệu và thực hiện những biện pháp cần thiết hầu ứng phó với vấn đề giải kết của Hoa Kỳ nhưng ông Thiệu đă hoàn toàn thụ động. Theo ông, phải chăng t́nh trạng nầy đă đóng góp vào sự sụp đổ của miền Nam ngày 30/4/75?

 

NVN: Ông Thiệu thực sự cầm quyền qua cuộc bầu cử tháng 9/1967. Trong khi quân đội Mỹ c̣n đổ quân vào Việt Nam th́ ông Thiệu đă đưa vấn đề giải quyết chiến tranh như một trong ba vấn đề căn bản của chương tŕnh tranh cử: Xây dựng dân chủ – Giải quyết chiến tranh – Cải tạo xă hội. Sau vụ Tết Mậu thân 1968, ông Thiệu là người chủ động đưa ra đề nghị Hoa Kỳ có thể thực hiện việc rút quân từng giai đoạn trong mục tiêu tranh thủ thời gian đổi lấy viện trợ kinh tế và quân sự v́ ông hiểu Việt Nam Cộng Ḥa sẽ không có tư thế tại hội nghị ḥa đàm nếu không chủ động trên chiến trường v.v… Nếu cai trị là tiên liệu th́ ông Thiệu là người có khả năng tiên liệu nhưng ông không có khả năng để thay đổi được chính sách của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu mà vị thế địa lư chánh trị của miền Nam Việt Nam không c̣n nằm trong quyền lợi ưu tiên của Mỹ, mặt khác, chúng ta không c̣n ở vào thời đại có thể dùng “tầm vông vọt nhọn” để chống trả với quân thù. Năm 1967 cùng với việc tiếp tục đổ quân vào Việt Nam đại sứ Bunker đă được tổng thống Johnson gởi sang Việt Nam với sứ mạng thực hiện việc giải kết để rút quân. Khi Nixon thắng cử 1968, đại sứ Bunker đă được yêu cầu lưu nhiệm cho đến tháng 5/1973 sau khi Mỹ đă thực hiện xong việc rút quân và lấy lại tù binh. Chính sách của đảng Dân Chủ và Cộng Ḥa Mỹ trong vấn đề giải kết chiến tranh Việt Nam hoàn toàn có tính cách nhất quán.

 

Nếu sau Hiệp Định Geneva 1954, người Mỹ ủng hộ ông Ngô Đ́nh Diệm lật đổ Bảo Đại để thiết lập nền đệ I Cộng Ḥa (1956–1963) như căn bản chánh trị để biện minh cho nhân dân Hoa Kỳ và thế giới về chính nghĩa của sự can thiệp vào Việt Nam nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản tại Đông Nam Á, th́ năm 1967, người Mỹ đă áp lực chánh quyền quân nhân phải khai sinh nền đệ II Cộng Ḥa, thực hiện chánh quyền dân chủ hợp hiến, hợp pháp để đưa Việt Nam Cộng Ḥa vào bàn hội nghị và tạo bàn đạp cho Hoa Kỳ ḥa đàm với cộng sản để rút quân, lấy lại tù binh, chấm dứt sự can thiệp và để miền Nam cho các phe phái chính trị tự giải quyết trên căn bản “dân tộc tự quyết”, điều mà hai thập niên trước đó Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận.

 

TPV: Ông nghĩ sao về nỗi căm phẫn của đại đa số quần chúng đối với ông Thiệu sau 30/4/75?

 

NVN: Quần chúng đánh giá lănh đạo qua sự thành bại, họ có quyền căm phẫn v́ họ là lớp người bị hy sinh nhiều nhất cho đất nước cũng như phải gánh chịu những hậu quả bi đát nhất sau 30/4/75 – nỗi căm phẫn của họ là chính đáng; hơn nữa người lănh đạo cũng như thuyền trưởng một con tàu, dù tàu ch́m bởi bất cứ lư do ǵ th́ thuyền trưởng phải là người rời tàu sau cùng hoặc phải chết theo tàu; mặt khác họ không ở cương vị để có thể nh́n vào mặt trái của cuộc chiến – vừa có tính cách nội chiến vừa có tính cách ủy nhiệm mà những yếu tố quyết định hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của người quốc gia.

 

Ông Nguyễn Văn Ngân và TT Thiệu, San Francisco 1984
Tôi nhớ vào khoảng 1990 ông Thiệu có buổi nói chuyện với một số đồng bào tại Westminster, California, một người đàn bà được một tổ chức chống đối sắp đặt đă cầm micro chửi bới ông Thiệu nặng nề. Ông Thiệu chỉ trả lời: tôi rất thông cảm với nỗi căm phẫn của bà.

 

Tôi hiểu sự im lặng của ông, nỗi cô đơn và cay đắng ông đă mang theo đến cuối đời. Ông Thiệu đă chết chắc hẳn không cần tôi biện hộ. Tôi cũng không làm công việc biện hộ mà chỉ nói lên sự thực mà tôi biết – tôi không có bổn phận tranh luận với bất cứ ai và cũng không nhằm thuyết phục bất cứ người nào. Đối với tôi, nói những điều tốt mà người ta không có cũng tệ hại như nói những điều xấu mà người ta không phạm phải v́ tất cả đều là dối trá – nhất là đối với những người có đời sống công liên hệ đến vận mạng quần chúng th́ c̣n là vấn đề trách nhiệm.

 

Ông Thiệu có những lỗi lầm trầm trọng trong vấn đề lănh đạo quốc gia cũng như có những sai phạm cá nhân ảnh hưởng đến uy tín lănh đạo. Ông là một nhà chính trị thực tiễn mà hoàn cảnh và môi trường trưởng thành không thể tạo ông thành một kẻ tử đạo. Tuy nhiên đến nay tôi vẫn nghĩ rằng nếu sự hy sinh có thể cứu văn t́nh thế th́ ông sẽ không từ nan. Lần tôi gặp lại ông ở London, ông nói như tâm sự: làm một người lính ra trận và hy sinh là một hành động dũng cảm, nhưng làm sao có thể sống sót để tiếp tục cuộc chiến đấu th́ thật là khó.

 

Xét định một con người cần nh́n vào tổng thể và đặc biệt là những giờ phút nghiêm trọng sinh mạng bị thử thách. Không thể chỉ dùng những sự việc tiêu cực để tổng quát hóa mà phải xét đến các mặt tích cực của cá nhân đó. Tuy nhiên việc định công luận tội là công việc của lịch sử sau nầy.

 

TPV: Nhiều hồi kư chánh trị nói rằng ông Thiệu luôn luôn bị ám ảnh bởi việc người Mỹ thảm sát các ông Diệm, Nhu nên thường thay đổi chỗ ngủ hàng đêm v.v… Điều này có thực không, và nếu thực th́ đă ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề lănh đạo?

 

NVN: Hàng năm đến 1/11, ông Thiệu có xin thánh lễ cầu hồn cho cố tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu tại dinh Độc Lập.

 

. Ông Thiệu có kể cho tôi nhiều lần về sáng 2/11/63 sau khi thanh toán mục tiêu dinh Gia Long, ông về tŕnh diện Bộ Tổng Tham Mưu và sau đó có ra lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào thi hài ông Diệm, ông Nhu trước khi về nhà.

 

Tôi thường qua chỗ ở của ông Thiệu để làm việc những khi ông không qua văn pḥng và có khi làm việc trong pḥng ngủ khi ông bị đau, tôi không thấy dấu hiệu thay đổi chỗ ngủ hàng đêm như đồn đại sau này. Có những biện pháp an ninh lúc ông đi ra ngoài, chẳng hạn mặc áo chắn đạn, hoặc cái podium ông đứng nói chuyện ngoài bằng gỗ nhưng trong có tấm thép chắn đạn, những biện pháp an ninh đặc biệt trong các cuộc diễn binh v.v… Tôi không để ư những chuyện nầy, đây là công việc của bộ phận an ninh. Chỉ có điều là những đề pḥng nầy nhằm về phía Mỹ hơn là cộng sản.

 

Thực ra ông Thiệu đă sống trong sự đe dọa thường trực của người Mỹ về đảo chánh và ám sát suốt thời gian từ lúc cầm quyền 1967 đến lúc rời Việt Nam đi Đài Loan 1975. Đồng minh Mỹ là một đồng minh bất trắc, khó tiên liệu, và ông Thiệu luôn ở trong t́nh trạng của người làm xiếc đi dây nguy hiểm. Có lần tôi lưu ư ông Thiệu về trường hợp Tổng Thống Magsaysay, Lư Thừa Văn, Ngô Đ́nh Diệm …, ông Thiệu nói với tôi là ông không có an ninh… Trong giai đoạn giải kết, quyền lợi của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Ḥa tách rời đi đến đối nghịch, trong khi đó quyền lợi của Hoa Kỳ và của cộng sản xích lại gần nhau để đi đến thỏa hiệp chung. Nếu cộng sản áp dụng chính sách vừa đánh vừa đàm với Việt Nam Cộng Ḥa và phối hợp cuộc đấu tranh trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao… th́ chính sách của “đồng minh” Hoa Kỳ đối với “đồng minh” Việt Nam Cộng Ḥa cũng tương tự: cà rốt và cây gậy đă được áp dụng triệt để với ông Thiệu trên mọi b́nh diện để buộc Việt Nam Cộng Ḥa phải chấp nhận đường lối thương thuyết nhượng bộ cộng sản của Mỹ. Người Mỹ đă tiếp tay với cộng sản trong việc cổ vơ, ủng hộ các phong trào phản chiến, đ̣i ḥa b́nh, ḥa hợp ḥa giải dân tộc, lực lượng thứ ba… mà thực chất là những tổ chức trá h́nh của cộng sản nhằm phá vỡ thế hợp hiến, hợp pháp của chế độ VNCH, và đă không ngần ngại đâm sau lưng những người lính VNCH đang chiến đấu trong cái gọi là chương tŕnh “Việt Nam hóa chiến tranh” để người Mỹ rút quân. Ông Thiệu nói với tôi vụ sư đoàn 3 rút bỏ Quảng Trị 1972 là một “sabotage politique”.

 

Nixon đă viết thư cho ông Thiệu nhắc đến ư đồ thanh toán ông Thiệu của chính quyền
TT Nguyễn Văn Thiệu và TT Lyndon B. Johnson (19/7/1968)
Johnson vào năm 1968 và vụ đảo chánh 1/11/63 như một đe dọa trực tiếp nếu ông Thiệu không tuân thủ những đ̣i hỏi của Mỹ. Vào những tháng cuối trước khi kư Hiệp định Paris, ông Thiệu nuôi ư định tự sát như một phương cách chống trả cuối cùng. Vào lúc căng thẳng nầy chúng tôi đă triệu tập đại hội nghị viên toàn quốc về Sài G̣n, tuần hành vào dinh Độc Lập cùng các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ lập trường “bốn không“ của ông. Tài liệu của đại sứ Bunker đă ghi nhận ư định tự sát nầy của ông Thiệu qua một báo cáo của ông Trần Thiện Khiêm ghi âm cuộc đối thoại giữa ông Thiệu, ông Khiêm. Chính ư định tự sát nầy đă khiến ông Thiệu “ĺ lợm” trước những đe dọa của Nixon và đă đưa đến những nhượng bộ của Nixon bằng những cam kết mật.

Mỗi lần nhớ đến ông Thiệu, thực sự tôi không nghĩ đến những vinh quang bề ngoài của một Tổng Thống mà là những chuỗi ngày khó khăn của đất nước, những áp lực có tính cách quyết định ngày đó của Hoa Kỳ đă đè nặng lên ông, ông đă chiến đấu như một người lính đơn độc không vũ khí, bằng ḷng dũng cảm và sinh mạng của chính ḿnh. Tôi không có đức tin tôn giáo nhưng tôi vẫn cầu mong cho ông, một tín đồ ki–tô giáo, được b́nh an và thanh thản nơi vĩnh hằng.

 

TPV: Có phải tổng thống Thiệu nói với ông là việc sư đoàn 3 tháo chạy đă để lại “đại lộ kinh hoàng” và Quảng Trị thất thủ vào tháng 5/72 là một “sabotage politique” của người Mỹ?


NVN: Đúng như vậy.

 

Hậu quả đă để lại hơn 20 ngàn thương vong trên “đại lộ kinh hoàng.”

 

TPV: Ông Thiệu đă nói với ông trong bối cảnh nào?

 

NVN: Ngay hôm Quảng Trị thất thủ.

 

Hôm đó vào lúc xế chiều tôi đang họp trung ương đảng bộ Dân Chủ tại lầu nhà trắng trong khuôn viên dinh Độc Lập th́ được điện thoại của nhân viên văn pḥng cho biết đại tá Đỗ Đức Tâm, phát ngôn viên quân sự của Tổng thống đang có mặt tại Văn Pḥng của tôi để thuyết tŕnh về t́nh h́nh quân sự sau khi vừa thuyết tŕnh cho Tổng thống xong. V́ bận họp nên tôi yêu cầu đại tá Tâm gặp tôi tại lầu nhà trắng để thuyết tŕnh cho tất cả cùng nghe. Sau phần thuyết tŕnh, tôi nhớ rơ câu hỏi sau cùng của nghị sĩ Trần Trung Dung, nguyên Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng của tổng thống Diệm: “…liệu chúng ta có giữ được Quảng Trị không?”. Đại tá Tâm “…chắc chắn chúng ta giữ được”. Chừng nửa giờ sau, điện thoại trên bàn họp reo, tôi nhắc máy, đầu dây là đại tá Tâm cho biết Trung tướng Hoàng Xuân Lăm, tư lệnh quân đoàn I vừa điện tŕnh Tổng Thống là Quảng Trị đă thất thủ trưa hôm nay. Sự việc cho thấy là Trung tướng Lăm không biết sư đoàn 3 rút bỏ Quảng Trị và như vậy là đă có một “sự cố bất thường” xẩy ra nên tôi bỏ pḥng họp đi gặp Tổng thống Thiệu ngay lúc đó. Tôi thấy ông rất b́nh tĩnh. Ông nh́n tôi nói: “tôi điện thoại gần như mỗi ngày cho ông Lăm về t́nh h́nh quân sự Quảng Trị, tối qua tôi c̣n nhắc ông Lăm phải coi chừng "thằng cộng sản" ngày 1/5, ông Lăm bảo đảm với tôi là không việc ǵ, thế mà như vậy. Ông dằn mạnh: đây là một "sabotage politique”.

 

Lúc bấy giờ chỉ có tôi và ông.

 

Những chuyện như vậy thuộc loại “cấm kỵ” không phải có thể nói với bất cứ ai và không bao giờ ông nói khi có sự hiện diện của người thứ ba. Đó là nguyên tắc ngăn cách ông vẫn thường áp dụng và cũng là cách để bảo đảm sự an toàn cho chính ông. Trong trường hợp này, ông Thiệu là người duy nhất có đủ yếu tố chính trị để thẩm định, v́ ông là người trực tiếp chịu các áp lực của Mỹ. Bấy giờ là tháng 5/1972, trong mật đàm Paris Mỹ và cộng sản đă đạt được các thỏa thuận căn bản, chỉ c̣n trở ngại về phía ông Thiệu.

 

Quảng Trị (1972)

Gần đây tôi có đọc một chứng liệu của Đại sứ Bunker thuật lại phiên họp tại dinh Độc Lập một ngày sau khi Quảng Trị thất thủ giữa Đại sứ Bunker, tướng Abrams và tổng thống Thiệu. Ông Thiệu đă không hề quy trách cho các giới chức quân sự Việt Nam, ông im lặng một cách khó hiểu và măi đến phút cuối cùng “bật nói”: “… không có lư do ǵ Quảng Trị lại bị thất thủ, tướng Giai phải chịu trách nhiệm về việc nầy”.

 

Tướng Vũ văn Giai, Tư lệnh sư đoàn 3 giới tuyến, được di tản bằng trực thăng của Mỹ, bỏ lại binh sĩ và dân chúng với “đại lộ kinh hoàng” – đă bị đưa ra Ṭa án quân sự, bị tước đoạt binh quyền và ở tù.


Tổng thống Thiệu đă ra lệnh tái chiếm Quảng Trị ngay sau đó mặc dầu biết rằng Quảng Trị sẽ thành một đống gạch vụn, sẽ phải hy sinh những người lính thiện chiến của những đơn vị thiện chiến nhất mà tổn thất khó có thể bù đắp được trong thực tế bấy giờ – nhưng ông đă phải quyết định như vậy, một quyết định chính trị để chứng tỏ quyết tâm của quân dân miền Nam với thế giới, với nhân dân Hoa Kỳ, nhằm chống trả các thỏa hiệp mật giữa cộng sản và Mỹ mà sau nầy được cụ thể trong Hiệp Định Paris 1973.


Cũng tương tự như vậy, việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa vào đầu năm 1974 đă được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ để đặt cộng sản Hà Nội sau nầy trước một “fait accompli”. Ông Thiệu biết Hải Quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tái chiếm như một chứng liệu về chủ quyền lănh thổ sau nầy.


Bởi chính sách hai mặt của Hoa Kỳ, nhiều áp lực nặng nề riêng cá nhân ông phải chịu đựng không được chia sẻ và trong nhiều trường hợp ông phải đưa ra những quyết định chuyên độc mà không thể giải thích với đồng bào cùng chiến hữu của ông.


TPV: Nhận định của ông Thiệu về vụ sư đoàn 3 tháo chạy có mâu thuẫn với các quyết định của người Mỹ mở rộng chiến tranh qua các cuộc tấn công của Quân Lực VNCH vào hậu cần của cộng sản tại Miên năm 1970 và hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào 1971 hay không?


NVN: Không.


Các cuộc tấn công vào hậu cần cộng sản tại Miên 1970 và Hạ Lào 1971 chỉ có tính cách nhất thời nhằm mục đích chính là dùng xương máu của quân đội VNCH để mở rộng hành lang an toàn cho việc triệt thoái quân đội Mỹ.


Ông Thiệu miễn cưỡng phải chấp nhận mở cuộc hành quân Lam Sơn 1971 v́ Hạ Lào tiếp giáp với hậu phương lớn Bắc Việt. Khi có dấu hiệu sa lầy ông đă ra lệnh cho trung tướng Hoàng Xuân Lăm đưa ngay một đơn vị vào Tchepone “đái một băi” (nguyên văn) và rút ra ngay lập tức.


Cần lưu ư là chương tŕnh rút quân của Mỹ không phụ thuộc vào khả năng thay thế của quân lực VNCH, và chương tŕnh Việt Nam hóa thực chất chỉ nhằm yểm trợ cho việc rút quân của Mỹ chứ không phải để VNCH có đủ sức đề kháng và tồn tại.


TPV: Sau này, nhiều người trong đó có những viên chức chính phủ của ông Thiệu cho rằng ông Thiệu đă dựa vào những cam kết mật của tổng thống Nixon nên đă chấp nhận kư kết Hiệp Định Paris v́ không hiểu rơ tổ chức công quyền của Hoa Kỳ – thẩm quyền của hành pháp và lập pháp. Như tiến sĩ Kissinger đă nhận định: đó chỉ là những ư định của Tổng thống Nixon, không có tính cách cam kết quốc gia v́ không có phê chuẩn của quốc hội.


NVN: Vào lúc bấy giờ ông Thiệu cũng hiểu như giải thích của Kissinger sau nầy, nhưng ông cũng hiểu rơ vị thế yếu kém của VNCH và giới hạn cuối cùng mà ông có thể đ̣i hỏi ở Nixon. Ông Thiệu có chủ định rơ ràng là mua thời gian c̣n lại của nhiệm kỳ Nixon trong hoàn cảnh “c̣n nước c̣n tát”.


Chúng ta cần nhớ rằng không hề có một hiệp ước Việt-Mỹ nào về việc Mỹ đổ quân và tham chiến ở Việt Nam cũng như không có một văn kiện pháp lư nào về quy chế trấn đóng của quân đội đồng minh trên lănh thổ Việt Nam bấy giờ. Những tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng đầu năm 1965 dưới thời chính phủ Phan Huy Quát, ông Thiệu là Tổng trưởng Quốc Pḥng kiêm Phó Thủ tướng; ông nói với tôi: t́nh h́nh bấy giờ hơn hai phần ba lănh thổ bị cộng sản ung thối, nếu quân đội Mỹ không can thiệp kịp th́ miền Nam mất.


Thời đệ I Cộng Ḥa, tổng thống Diệm muốn có một hiệp ước hỗ tương như ở Đại Hàn (South Korea) nhưng người Mỹ từ chối. Các cố vấn quân sự Mỹ đến và đi không qua sự kiểm soát của nhà chức trách Việt Nam.


Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi, hậu quả là vấn đề đơn phương rút quân, Việt Nam hóa, Hiệp Định Paris… Tương quan Việt Mỹ là một tương quan thực tế mà người Mỹ cố t́nh không để bị ràng buộc vào những văn kiện pháp lư “giấy trắng mực đen“ như ở Triều Tiên (Korea), Nhật bản, Âu châu là những nơi Hoa Kỳ có mục tiêu dài hạn.


TPV: Đến bao giờ th́ ông Thiệu mất tin tưởng vào các cam kết mật của Nixon? Vụ ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long vào đầu năm 1975 có phải là một trắc nghiệm về những cam kết mật hay không?

NVN: Ngay sau cuộc gặp gỡ Thiệu – Nixon tại San Clemente tháng 4/73. Về phương diện biểu kiến cuộc gặp gỡ mang nhiều ư nghĩa tích cực như là một sự xác nhận các cam kết mật, sự tiếp tục ủng hộ của Hoa Kỳ với VNCH và đặc biệt với ông Thiệu, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Cuộc gặp gỡ mặt đối mặt đă khẳng định cho ông Thiệu thấy không c̣n hy vọng vào các cam kết mật cũng như các viện trợ quân sự và kinh tế đă được hứa hẹn trước đây. Đây là lư do và thời điểm quyết định việc tu chính hiến pháp: gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thổng


Cuộc độc cử 1971 đă làm sút giảm uy tín chính trị của ông Thiệu; Hiệp Định Paris thừa nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam, ngưng bắn tại chỗ, chinh phủ liên hiệp ba thành phần đă hoàn toàn xóa bỏ lập trường bốn không của ông; người Mỹ đă hoàn tất việc rút quân và lấy lại tù binh; và nay là hiểm họa Hoa Kỳ bỏ rơi… khiến ông Thiệu bị lột truồng như câu chuyện ông vua không quần áo (the emperor without any chothes) và hoàn toàn trắng tay. Tư thế lănh đạo của ông Thiệu bị đặt trong hoàn cảnh thử thách nghiêm trọng và đây là lư do thực sự của vụ tu chính hiến pháp đă không bao giờ được tiết lộ. Nội dung tu chính bấy giờ được giữ mật v́ phải chờ sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện tháng 10/73 mới đủ túc số thực hiện. Việc tu chính không nhằm vào nhiệm kỳ 3 Tổng Thống mà mục đích thực sự là bày tỏ sự tín nhiệm của dân chúng qua Quốc Hội “để tái trang bị” tư thế lănh đạo của ông Thiệu hầu đối phó với t́nh thế mới. Dù muốn hay không sinh mạng chính trị của ông Thiệu đă gắn liền với sự c̣n mất của chế độ và sau ông sẽ là trận hồng thủy. Trong cuộc gặp các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ tu chính Hiến Pháp tại hội trường khách sạn Majestic vào đêm trước hôm biểu quyết, tôi có nói rơ: “đây không phải là hành động ủng hộ cá nhân tổng thống Thiệu mà là hành động của mỗi chúng ta để tự cứu”. Có thể họ hiểu là t́nh h́nh nghiêm trọng nhưng không biết là đang bị Hoa Kỳ bỏ rơi và đất nước đă ở trên bờ vực thẳm.


Nếu Kissinger đă tiên liệu thời gian có thể coi được (decent interval) từ Hiệp định Paris 1/73 đến lúc miền Nam sụp đổ là một năm rưỡi th́ ông Thiệu đă tiên liệu một thời gian ngắn hơn. Đầu năm 1974 cũng là lúc Quốc Hội biểu quyết tu chính Hiến Pháp, ông Thiệu nói tại Hội đồng Tổng trưởng: “…các quan sát viên quốc tế rất ngạc nhiên khi thấy chúng ta c̣n ngồi ở đây hôm nay, tất cả đều nghĩ rằng miền Nam Việt Nam chỉ có thể tồn tại không quá sáu tháng sau Hiệp định Paris …”. Như một người chết đuối vớ bất cứ bèo bọt nào, ông ra lệnh mật cho Bộ Tổng Tham Mưu kiểm thính điện đài các dàn khoan để t́m hiểu trữ lượng dầu hỏa với hy vọng Mỹ sẽ không bỏ rơi Việt Nam, ông nói: tôi sẽ làm bộ trưởng dầu hỏa chứ không làm tổng thống. Ông chỉ thị cho chính phủ tạo điều kiện dễ dàng cho ngoại quốc đầu tư, ông nói với tôi: bây giờ cho không để bọn nó vào (đầu tư) cũng phải “cho không”.


Đối với cộng sản, cuộc tấn công chiếm Phước Long đầu năm 1975 là một trắc nghiệm về ư đồ tái can thiệp của Mỹ được mệnh danh là đ̣n “trinh sát chiến lược”, sau đó Bộ Chính trị CSVN đă quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên và tiếp theo là chiến dịch Hồ Chí Minh.


Đối với ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long v́ sẽ tổn thất rất nặng không thể bù đắp, có chiếm lại cũng không giữ được, lực lượng trừ bị không c̣n và phải bảo toàn lực lượng cho các cuộc tấn công sắp tới của cộng sản.


TPV: Ngoài việc tu chính gia tăng ba nhiệm kỳ Tổng Thống, c̣n có việc gia tăng thời hạn mỗi nhiệm kỳ từ 4 năm lên 5 năm. Lư do?


NVN: Lư do được viện dẫn của tu chính là chương tŕnh kinh tế ngũ niên nhưng sự thực là chúng tôi muốn có khoảng cách xa giữa cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ và Tổng Thống Việt Nam v́ nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ cũng 4 năm, và cứ 4 năm th́ nước Mỹ lại bị một cơn sốt chính trị ảnh hưởng nặng nề đến cuộc bầu cử tổng thống Việt Nam. Đây không phải là mục tiêu chính của tu chính Hiến Pháp nhưng nhân việc tu chính Hiến Pháp th́ chúng tôi bỏ vào luôn.


TPV: Ông Thiệu có tham khảo ư kiến của người Mỹ về việc tu chính Hiến Pháp hay không?


NVN: Không.


Như tôi đă nói ở trên, nội dung tu chính Hiến Pháp đă được quyết định ngay sau khi tổng thống Thiệu ở San Clemente về nhưng được giữ mật cho đến sau cuộc bầu cử bán phần Thương Nghị Viện tháng 10/73. Đại sứ Martin chỉ được tổng thống Thiệu thông báo sau khi dự luật tu chính được đệ nạp tại Quốc hội tức là vào khởi đầu giai đoạn công khai. Ông Thiệu nói với tôi: “Ngày hôm qua tôi có mời ông Martin vào đây (dinh Độc Lập) để thông báo về việc chúng ta tu chính Hiến Pháp – tôi nói với ông Martin là tôi nhận thấy có bổn phận phải thông báo cho ông đại sứ v́ Hoa Kỳ là đồng minh chính yếu đă giúp đỡ chúng tôi trong cuộc chiến…”. Cụ Hương được ông Thiệu thông báo vào lúc dự luật tu chính được đưa cho các dân biểu, nghị sĩ đứng tên tác giả v.v… Nội vụ hoàn toàn được giữ mật cho đến giờ cuối.

 

Đàn Chim Việt, ngày 3/10/06

 

Phần (IIa)

 

Liên danh Thiệu–Kỳ trong cuộc tranh cử 1967

 

TPV: Trong cuộc bầu cử tổng thống 1967 theo hồi kư của cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ th́ ông không hề bị áp lực Hoa Kỳ mà v́ sự đoàn kết của quân đội nên đă tự ư nhường cho ông Thiệu làm ứng cử viên tổng thống trong liên danh Thiệu Kỳ?


NVN: Mọi người đều biết quyền lực chính trị không phải là vật được hiến tặng. Việc sáp nhập liên danh Thiệu Kỳ là do quyết định của Hội đồng quân lực được triệu tập do “gợi ư” của Ṭa Đại Sứ Mỹ với nhận định nếu hai ông Thiệu Kỳ tranh cử riêng rẽ th́ có nguy cơ bị thất bại trước liên danh Dương Văn Minh. Lúc bấy giờ người Mỹ c̣n tăng quân tại Việt Nam nên muốn có một chính quyền chống cộng. Mặt khác nếu liên danh Dương Văn Minh đắc cử sẽ là mối đe dọa trực tiếp đối với quyền lợi của đa số tướng lănh trong Hội đồng quân lực bấy giờ nguyên là các sĩ quan trung cấp thời đảo chánh 1963 được nâng cấp rất nhanh do việc kéo bè kết đảng dưới thời Nguyễn Khánh và đă ngoi lên nắm quyền lực sau chỉnh lư 30/1/64, trong đó nhóm tướng Dương Văn Minh bị hất ra khỏi chính trường. Hội đồng tướng lănh đă họp nhiều phiên liên tiếp, ban đầu ở dinh Bạch Đằng, về sau chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu, cuối cùng đă đi đến quyết định Thiệu Kỳ đứng chung một liên danh: Trung tướng Thiệu là ứng cử viên tổng thống của liên danh v́ ông có cấp bậc cao nhất trong quân đội và đang giữ chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Lănh đạo Quốc gia tức Quốc trưởng. Tôi được điện thoại của trung tướng Thiệu từ Bộ Tổng Tham Mưu để điều chỉnh hồ sơ tranh cử Thiệu – Kỳ, lúc đó chỉ c̣n 12 giờ là hết hạn ghi danh theo luật định tính đến nửa đêm cùng ngày. Ủy ban Lănh đạo Quốc gia đă gởi Quốc hội một văn thư yêu cầu không chấp đơn ứng cử của liên danh Dương Văn Minh v́ lư do an ninh quốc gia. Liên danh nầy về sau đă bị Quốc Hội bác đơn v́ ứng cử viên Phó Tổng Thống Trần Ngọc Liễng mang song tịch (Việt và Pháp).

 

Thủ tướng (trái) Kỳ và Tr. Tướng Thiệu (phải) tại Hội nghị Honolulu, 7/2/1966
Liên danh Thiệu – Kỳ đă đắc cử với một tỷ lệ thấp 34.8% tổng số cử tri đi bầu và Quốc Hội đă hợp thức hóa với 58 phiếu thuận / 43 phiếu chống. Cụ Phan Khắc Sửu đă từ chức chủ tịch Quốc Hội để phản đối việc hợp thức hóa.

 

Cần phải nói đây là cuộc bầu cử ngay thẳng hay ít nữa sự gian lận nếu có đă không ảnh hưởng đến kết quả cuộc bầu cử. Như lời thú nhận của ông Kỳ sau nầy là ông không có lợi ích ǵ để gian lận cho ông Thiệu. Sở dĩ số phiếu hợp thức hóa sự đắc cử của liên danh Thiệu – Kỳ thấp v́ một số đông dân biểu bị thất cử trong cuộc bầu Thượng nghị viện, một số thuộc phe nhóm ông Kỳ, một số có liên danh tranh cử Tổng Thống v.v... đă bỏ phiếu chống lại việc hợp thức hóa với ư đồ “xóa bài làm lại“. Điều nầy phản ảnh bản chất vô trách nhiệm của đối lập trong sinh hoạt chính trị miền Nam “không ăn được th́ đạp đổ“, bất kể đến sự an nguy của chế độ và quyền lợi của quảng đại quần chúng.


TPV: Khi ra tranh cử Tổng thống đối đầu với ông Kỳ, ông Thiệu có hy vọng đắc cử không?


NVN: Ông Thiệu hoàn toàn không có khả năng đắc cử.


Lúc ông Thiệu yêu cầu tôi làm đại diện cho liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Tŕnh Quốc Khánh, tôi nói: tôi có thể làm việc nầy nhưng liên danh không có khả năng thắng cử, Trung tướng nên chọn người có tên tuổi để làm bàn đạp chính trị sau nầy… Tôi đưa tên một số thành viên trong Hội đồng Dân Quân và Quốc hội Lập hiến. Ông nói: Anh thử đi mời xem. Kết quả, tất cả đều từ chối, có người c̣n chỉ trích nặng nề cá nhân ông Thiệu… Tôi phản ảnh cho ông Thiệu, ông chỉ nói: “tôi đă nói anh giúp tôi, đi mời làm ǵ mất th́ giờ. Tôi nói thật với anh dù không ai ủng hộ tôi hết, tôi một phiếu, vợ tôi một phiếu, con tôi một phiếu, tôi vẫn ra… “. C̣n cái ông đă chỉ trích gần như mạt sát ông Thiệu th́ sau nầy ông ta và đảng của ông ta đă lănh tiền nhiều nhất của ông Thiệu cùng các đặc quyền khác.

 

Chánh văn pḥng đặc biệt của ông Thiệu là thiếu tá Vơ Văn Cầm (cấp bậc sau cùng là
Phát biểu chung của hai Tổng thống Thiệu, Nixon tại đảo Midway (8/6/1969)
đại tá) nhờ tôi t́m dùm một sĩ quan bị động viên có văn bằng kiến trúc sư. Tôi hỏi: giờ nầy đem kiến trúc sư về làm ǵ? Anh ta cười, giọng khôi hài:… th́ trong quỹ c̣n một triệu để xây cho “ ổng “ (ông Thiệu) cái nhà mát ở Vũng Tàu đi câu cá, thua rồi th́ đi câu chứ c̣n làm ǵ nữa? Tôi giới thiệu kiến trúc sư Lê Tấn Chuyên bấy giờ đang biệt phái ở Bộ Xây dựng Nông thôn của tướng Thắng. Anh ta là người đă vẽ dấu hiệu tranh cử của ông Thiệu (bản đồ Việt Nam trên lá quốc kỳ) và quốc huy của Tổng Thống với hai con rồng chầu nhau nhưng hai cái râu rồng vểnh lên vểnh xuống là của ông Thiệu sửa lại. Ông Thiệu là người rất tỉ mỉ và chi tiết ngay cả trong cung cách giải trí. Có hôm làm việc trễ tôi ở lại ăn cơm trưa với ông, thấy một mẩu giấy nhỏ của sở nội dịch để ở chỗ ông ngồi tŕnh về “lư lịch“ khúc cá hồng nấu canh bữa đó: lấy từ freezer một con cá câu được tại Côn-sơn, ngày …, tháng…, cân nặng…v. v… Điều đặc biệt là mặc dầu rất chi tiết trong công việc nhưng không bao giờ ông bị lạc ra khỏi tổng thể. Kiến trức sư Lê Tấn Chuyên phàn nàn với tôi họa đồ căn nhà mát bị ông sửa đi sửa lại hoài, tiền ít mà đ̣i cái ǵ cũng tốt. Lê Tấn Chuyên là một trong hai kiến trúc sư thiết kế bệnh viện V́ Dân của bà Thiệu, nay là bệnh viện Thống nhất, lúc c̣n ở trung học hoạt động học sinh kháng chiến bị Pháp bắt giam, sau 1955 v́ c̣n liên hệ với tổ chức cũ nên bị quốc gia bắt, sau 30/4/75 cùng gia đ́nh vượt biên và chết trên biển.


Năm 1967, mục tiêu của ông Thiệu ra tranh cử đối đầu với ông Kỳ không phải để thắng cử mà buộc ông Kỳ hoặc phải tương nhượng (đứng chung) hoặc sẽ bị loại trừ (thất cử).


Có một sự kiện đến nay chưa được tiết lộ là lúc bấy giờ ông Thiệu đă liên kết với cụ Trần Văn Hương. Ông Thiệu không có khả năng đắc cử nhưng ông Thiệu có khả năng loại trừ ông Kỳ có nghĩa là làm cho ông Kỳ bị thất cử nếu không có sự sáp nhập chung và liên danh có nhiều triển vọng thắng cử sẽ là liên danh Trần Văn Hương – Mai Thọ Truyền. Công việc của Bộ Tham mưu tranh cử của ông Thiệu bấy giờ không phải là vận động phiếu cho ông Thiệu mà là liên kết các lực lượng chống đối ông Kỳ và cô lập ông Kỳ bằng một mặt trận chống gian lận bầu cử, và ông Thiệu với tư thế của một quốc trưởng và người cao cấp nhất quân đội bấy giờ sẽ kêu gọi quân đội và các liên danh dân sự dồn phiếu cho liên danh Trần Văn Hương tiến đến một chính quyền đoàn kết quốc gia trong đó ông Thiệu sẽ giữ một vai tṛ then chốt. Chính bắt nguồn từ nền tảng liên kết nầy mà cụ Hương đă hợp tác với ông Thiệu suốt thời gian đệ II Cộng Ḥa trong chức vụ Thủ Tướng và Phó Tổng Thống cho đến lúc chung cuộc.


Thanh toán chính trị và gián điệp cộng sản


TPV: Trong vụ VC tấn công Chợ Lớn Mậu Thân 1968, trực thăng Mỹ trong một phi vụ yểm trợ đă bắn hỏa tiễn làm thiệt mạng một số sĩ quan của Bộ chỉ huy hành quân Việt Nam. Có dư luận cho rằng đây là một toa rập giữa ông Thiệu và Hoa Kỳ nhằm thanh toán phe nhóm ông Kỳ. Ông nghĩ sao về nguồn dư luận này?


NVN: Đây chỉ là một vụ xạ kích lầm v́ mặt trận Chợ Lớn bấy giờ chuyển động hàng giờ, ta và địch “trộn trấu”. Các sĩ quan tử thương là những sĩ quan trung cấp, trong đó có một số sĩ quan thuộc bộ phận kinh tài của ông Kỳ nếu được xem là quan trọng. Ṭa Đại sứ Mỹ đă có thư xin lỗi.


Trong thực tế người Mỹ và ông Thiệu không cần phải hành động như vậy, v́ phe nhóm ông Kỳ chỉ là phe nhóm quyền lợi, một khi ông Kỳ không c̣n quyền lực th́ họ sẽ tự động ră hàng. Tôi biết ông Thiệu là người có tự trọng và tự ái quốc gia, không hèn hạ đến mức độ nhờ bàn tay người Mỹ thanh toán người quốc gia. Tôi có thể nêu ra trường hợp cho thấy con người của ông Thiệu trong tương quan với Mỹ: Năm 1967, trong việc Quốc Hội hợp thức hóa sự đắc cử của liên danh Thiệu – Kỳ, các dân biểu đối lập và phe nhóm ông Kỳ muốn xóa bài làm lại. Ban đầu ông Thiệu “ĺ” mặc cho Ṭa Đại sứ Mỹ phải lo liệu v́ ông biết người Mỹ cần cuộc bầu cử nầy như khởi đầu tiến tŕnh đi đến thương thuyết với cộng sản; nhưng sau th́ đại sứ Bunker yêu cầu ông Thiệu tiếp tay, đặc biệt với phe nhóm ông Kỳ v́ họ nại cớ sợ ông Thiệu trả thù, thực ra th́ họ muốn được đền bù bằng tiền bạc, chức vụ và các quyền lợi khác. Ông Thiệu chỉ thị cho tôi mở các cuộc tiếp xúc. Bấy giờ ông Thiệu không có tiền, ông có thể hỏi đại sứ Bunker nhưng ông đă không làm điều đó. Một nhân viên trong văn pḥng ông Thiệu đă phải cho mượn bằng cách đem vàng của ông ta đi cầm. Ông nầy nguyên là quận trưởng G̣ Vấp dưới thời đệ I Cộng Ḥa, không hiểu sao ông ta có loại vàng khối (lingot)… Trong các chứng liệu để lại của đại sứ Bunker, ông cho biết chưa bao giờ ông Thiệu yêu cầu được giúp đỡ riêng tư ngoại trừ một lần ông yêu cầu giúp Phó Tổng thống Trần Văn Hương qua Mỹ để trị liệu tại bệnh viện Walter Reed. Cũng trong suốt thời gian tôi làm việc với ông Thiệu không hề có vấn đề thủ tiêu các đối lập chính trị.


TPV: Trong hồi kư của tướng Kỳ cho rằng ông Thiệu đă ra lệnh thủ tiêu Phạm ngọc Thảo. Ông có biết ǵ về chuyện này hay không? Ông có ư kiến ǵ về nhân vật Phạm Ngọc Thảo?


NVN: Cái chết của Phạm Ngọc Thảo xảy ra năm 1965 dưới thời ông Thiệu làm Chủ tịch UBLĐQG và ông Kỳ làm Chủ tịch UBHPTƯ.

 

Gián điệp cộng sản, Đại tá (VNCH) Phạm Ngọc Thảo; cái chết bí ẩn
Phạm Ngọc Thảo đă bị bắn trọng thương trước khi cảnh sát Biên Ḥa giải giao cho nha an ninh quân đội nhưng vết thương không nguy hiểm đến tính mạng và đương sự đă chết tại nha an ninh quân đội vào khuya hôm đó. Lúc bấy giờ Trung tá Nguyễn Ngọc Loan, cánh tay mặt của tướng Kỳ làm giám đốc nha an ninh quân đội. Theo luật số 1/UBLĐQG th́ quyền hành của Ủy Ban Lănh đạo Quốc gia được chuyển sang cho UBHPTƯ, ông Kỳ là một thủ tướng toàn quyền và ông Thiệu chỉ giữ vai tṛ quốc trưởng có tính cách tượng trưng. Giả sử có sự yêu cầu của tướng Thiệu như ông Kỳ nói th́ trung tá Loan chỉ có thể thi hành khi có sự đồng ư của ông Kỳ.


Năm 1969 khi hành pháp chuyển hồ sơ vụ dân biểu Trần Ngọc Châu liên hệ cộng sản sang Quốc hội để truất quyền và truy tố, tôi có lấy hồ sơ Phạm ngọc Thảo để nghiên cứu v́ cả hai có nhiều điểm tương đồng: thành phần tiểu tư sản, con cái quan lại, địa chủ; gia nhập vệ quốc đoàn lúc khởi đầu kháng chiến; trở về thành; tỉnh trưởng Kiến Ḥa v.v… Hồ sơ Phạm Ngọc Thảo chỉ ghi lại các hoạt động thời kháng Pháp trước Hiệp định Genève 1954 và không có kết luận. Tôi có hỏi ông Thiệu th́ ông nói: anh cũng biết Kiến Ḥa là hang ổ cộng sản có bao giờ yên đâu, thế mà dưới thời hai đứa (Châu, Thảo) làm tỉnh trưởng t́nh h́nh “êm ru, bà rù”. Thử hỏi bọn nó là thần thánh hay sao?


Năm 1995, nhà nước cộng sản truy tặng Phạm Ngọc Thảo danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân với quân hàm đại tá, trong bản tuyên dương công trạng ghi rơ một số thành tích đặc biệt: thời gian làm Tỉnh trưởng Kiến ḥa đă tạo điều kiện cho các lực lượng chính trị, vơ trang phát triển, tạo đà cho phong trào đồng khởi dành thắng lợi to lớn; và sau 1/11/63 đă chủ động, đề xướng, thúc đẩy nhiều cuộc đảo chính, tạo mâu thuẫn, nghi kỵ, triệt hạ lẫn nhau trong nội bộ ngụy, làm cho tổ chức của địch suy yếu, lực lượng địch bị tiêu hao…


TPV: Có dư luận nói rằng Phạm Ngọc Thảo thực tâm về với quốc gia, đă có mặt lúc quân đội sắp tấn công dinh Gia Long sáng 2/11/63 với mục đích cứu ông Diệm theo lệnh của tướng Trần Thiện Khiêm?

NVN: Việc Phạm Ngọc Thảo có mặt lúc quân đội tấn công dinh Gia Long sáng 2/11/63 với ư đồ cứu Tổng thống Diệm đă được xác nhận sau nầy bởi một số sĩ quan chỉ huy tại chỗ lúc đó; nhưng nói là do yêu cầu của tướng Trần Thiện Khiêm th́ hoàn toàn không đúng v́ ông Khiêm đă biết Tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu không c̣n trong dinh. Hoặc giả ông Khiêm cố t́nh “mập mờ đánh lận con đen” trong trường hợp đảo chánh không thành th́ lại là chuyện khác.


Một tài liệu sau này của Vơ Văn Kiệt nhấn mạnh vai tṛ của Phạm Ngọc Thảo không phải là điệp viên mà là cán bộ chính trị có nhiệm vụ chiến lược được Lê Duẩn gài lại miền Nam một trong các nhiệm vụ này là ngăn cản quân đội Mỹ trực chiến được xem là nhiệm vụ hàng dầu. Theo tôi, Tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu biết rơ vai tṛ của Phạm Ngọc Thảo, đă che chở và nuôi dưỡng đường dây này, v́ để tránh cuộc chiến mở rộng sẽ đến một lúc hai miền Nam Bắc cần phải nói chuyện với nhau. Miền Bắc đă có kinh nghiệm về cuộc chiến Cao Ly 1950–53 rất sợ quân đội Trung Cộng đổ bộ vào Việt Nam nếu xẩy ra việc quân đội Mỹ trực chiến. Đây là một cơ hội bỏ lỡ mà lịch sử sau nầy cần làm sáng tỏ.


Riêng về tương quan giữa Phạm Ngọc Thảo và Trần Thiện Khiêm là một tương quan chặt chẽ khởi đầu từ cuối 1947 lúc ông Khiêm vừa măn khóa sĩ quan với cấp bậc chuẩn úy v́ bất măn đă trốn vào bưng theo Việt Minh và Phạm Ngọc Thảo bấy giờ là Trưởng pḥng mật vụ Nam Bộ do Lê Duẩn bí thư Xứ ủy bổ nhiệm. Mặc dầu có khoảng cách về cấp bậc trong quân đội, nhưng ông Khiêm luôn xem ông Thảo là một “đàn anh” về mọi phương diện. Dưới thời ông Diệm, Phạm Ngọc Thảo không bao giờ được nắm binh quyền và bị giám sát chặt chẽ. Sau 1/11/63 sở dĩ Phạm Ngọc Thảo có thể điều động các đơn vị quân đội làm đảo chính là do ủy nhiệm của ông Khiêm và nhân danh ông Khiêm.


TPV: Trong trường hợp nào Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, các điệp viên của cộng sản đă trở thành cố vấn và phụ tá của tổng thống Thiệu?

 

Gián điệp cộng sản Huỳnh Văn Trọng (trái) và Vũ Ngọc Nhạ (Tù Côn Đảo)
NVN:
Người đưa Huỳnh Văn Trọng vào Phủ Tổng Thống là ông Nguyễn Văn Hướng, Tổng Thư Kư Phủ Tổng Thống, c̣n gọi là Mười Hướng hay Mười Lễ nguyên là cán bộ cao cấp Đại Việt, xứ trưởng xứ bộ Nam Việt. Trước đấy ông Hướng là thành phần trong bộ tham mưu tranh cử 1967 của liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Tŕnh Quốc Khánh, đă liên hệ với nhóm chính trị của linh mục Hoàng Quỳnh qua Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ là những đại diện. Khi ông Thiệu đắc cử Tổng Thống đă bổ nhiệm ông Hướng vào chức vụ Tổng Thư Kư Phủ Tổng Thống. Huỳnh Văn Trọng là Phụ tá của Tổng Thư Kư Phủ Tổng Thống tức phụ tá của ông Hướng chứ không phải là phụ tá của Tổng Thống Thiệu. Tổ chức Phủ Tổng Thống lúc bấy giờ có hai hệ thống phụ tá:


Phụ tá của Tổng Thống có danh xưng “Phụ tá đặc biệt Tổng Thống VNCH” làm việc trực tiếp với Tổng Thống.

Phụ tá của Tổng Thư Kư Phủ Tổng Thống, có danh xưng là “Phụ tá đặc trách”, trực thuộc văn pḥng Tổng Thư Kư, gồm các ông Huỳnh Văn Trọng, Uông Ngọc Thạch, Nguyễn Cao Thăng và Dương Đức Thụy.

Kể từ nội các Trần Thiện Khiêm (1969) văn pḥng Tổng Thư Kư Phủ Tổng Thống bị giải tán, hệ thống phụ tá đặc trách không c̣n nữa, các ông Nguyễn Cao Thăng, Dương Đức Thụy được bổ nhiệm Phụ tá đặc biệt Tổng Thống VNCH.


Vũ Ngọc Nhạ chưa bao giờ là cố vấn của Tổng Thống Thiệu. Không có văn kiện nào bổ nhiệm đương sự và trong tổ chức Phủ Tổng Thống lúc bấy giờ không có chức vụ nầy.


TPV: Ông nhận định thế nào về tầm mức quan trọng của cán bộ t́nh báo chiến lược cộng sản nằm vùng trong hàng ngũ quốc gia trước 1975?


NVN: Các cán bộ t́nh báo chiến lược dù chui sâu vào chính quyền miền Nam cũng rất khó t́m hiểu các bí mật quốc gia có tầm mức chiến lược v́ đây là lănh vực chuyên độc của người lănh đạo quốc gia mà số giới chức tiếp cận rất hạn chế. Dưới thời Tổng Thống Diệm cũng như Tổng Thống Thiệu, ngay Hội đồng Tổng trưởng là cơ quan cao nhất của chính phủ cũng rất ít khi thảo luận các vấn đề chính trị có tính cách chiến lược v́ đây là lănh vực cấm kỵ, liên quan đến mặt trái của chính sách Mỹ.


Phần lớn các cán bộ t́nh báo chiến lược của cộng sản nằm vùng trong hàng ngũ quốc gia đều là cộng sự viên của các cơ quan t́nh báo ngoại quốc, như Huỳnh Văn Trọng nguyên là nhân viên pḥng nh́ Pháp và sau nầy là nhân viên Ṭa đại sứ Mỹ, Phạm Ngọc Thảo làm việc cho cơ quan t́nh báo Anh và CIA Mỹ, Phạm Xuân Ẩn liên hệ với CIA từ thời Lansdale v.v… qua các môi trường t́nh báo ngoại quốc, họ khai thác được các tin tức có tầm mức chiến lược. Cơ quan t́nh báo Mỹ biết họ là điệp viên cộng sản nhưng đă cố t́nh xử dụng v́ nhu cầu các mục tiêu dài hạn. Sau 30/4/75, những cán bộ t́nh báo nầy đă được cộng sản thăng cấp, mang nhiều huy chương, danh hiệu anh hùng… nhưng không bao giờ c̣n được tin dùng nữa.

 

Đàn Chim Việt 17/10/07

NDVN, ngày 9/1/0



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend