TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Nhân Biến Động Chính Trị Tại Tây Tạng....Sự Liên Kết Giữa Tổ Chức NED & CIA


Go to the Medecins Sans Frontieres site.Human Rights WatchGiải Rafto Năm 2006 Trao Cho Ḥa thượng Thích Quảng Độ

Peter Benenson's article The Forgotten Prisoners on the cover of The Observer     

 

 

 

Amnesty International (AI) (Ân xá Quốc Tế)1961, International Criminal Court (Ṭa án tội phạm chiến  tranh), 1945-1946, Medicins Sans Frontières ( Y sĩ Không biên giới ) Human Right Watch  (Nhân quyền), Reporters Sans Frontières (Nhà báo Không biên giới), Rafto (giải Nhân quyền Na Uy)..là do bọn Bạch Quỷ Kytô giáo tạo dựng dưới sự chỉ đạo NED đế quốc Mỹ,chỉ để chống phá, xía vào nội trị, tạo biến loạn xâm  lăng các quốc gia không chư hầu và chống ư đồ xâm lăng  của  thực dân Bạch Quỷ Mỹ - Âu Châu

 

 

Tên cơ quan đă cấp “ phân “ cho Vơ Văn Ái là :

National Endowment for Democracy

1101 Fifteenth st suit 700

Washington , DC 20005

Return Postage Guaranteed

 

Một phần trong các báo cáo hằng năm của NED có ghi nguyên văn như sau về những

nơi được nhận “ phân “ , nhân bao nhiêu và nhận để làm công tác ǵ :

 

 

NATIONAL ENDOWMENT FOR DEMOCRACY

 

1993 ANNUAL REPORT

 

October 1 , 1992September 30 , 1993

 

 

MONGOLIA

International Republican Institute                                                                    $ 88,120.00

Tides Foundation                                                                                              $ 20,708.00

PHILIPPINES

FreeTradeUnionInstitute                                                                                 $201,253.00              

SRI LANKA

Free Trade Union Institute                                                                               $ 74,190.00

THAILAND

Free trade Union Institute                                                                                $ 89,724.00

VIETNAM *

QueMe ( 1993 )                                                                                              $ 70,000.00

 

To support the publication and distribution of “ Que Me “magazine and efforts publicize human rights abusein Vietnam International forum  

QueMe( 1997 )                                                                                              $ 90,000.00 

 

The Association of Vietnam Overseas distributes Que Me magazine , which is published Bimonthly and brings uncensored news and discussion of democratic ideas into Vietnam.The total circulation of magazine is 6,000 copies , of which about 1,500 will be sent into Vietnam, where copies are passed from hand to hand . The organization will also produce 50,000 copies each of approximately twelve mini – bulletins or urgent human rights concerns inside Vietnam for distribution.Finally, the organization willfocus International attention on the widespread repression of Buddhists in Vietnam calling for religious freedom and human rights .

 

 

Nhân Biến Động Chính Trị Tại Tây Tạng

  Duyệt Lại Sự Liên Kết Giữa Tổ Chức NED & CIA

 

 

 

    Thường Đức: Một cuộc đấu tranh giải phóng cho độc lập, tự do của một dân tộc là một vấn đề chính nghĩa. Trường hợp của Tây Tạng không thể nằm ở ngoài phạm trù của chính nghĩa này. Do đó, với trách nhiệm của lương tri, và hơn thế nữa của những người con Phật Việt Nam, chúng ta không thể không ủng hộ Tây Tạng, hoặc âm thầm hoặc công khai. Tuy nhiên, khi đề cập tới phương tiện chính trị hay bị chính trị quốc tế khuynh loát các phương tiện đấu tranh đó, chúng ta cần phải nói ra sự thật. Sự thật đó dựa trên các sự kiện (facts), tổ chức và số liệu. Nói khác đi, nói ra sự thật đó là để nhằm cho những người đang tranh đấu bằng xương máu cho độc lập dân tộc Tây Tạng, hay những người thiện tâm của thế giới đang nhiệt t́nh ủng hộ dân tộc Tây Tạng v́ ḷng yêu mến tinh thần tôn giáo, con người và văn hóa Phật Giáo Tây Tạng hiểu rơ thêm nhiều vấn đề xung quanh cuộc đấu tranh có chính nghĩa này. Bài viết dưới đây không hẳn là một bản dịch, nhưng dựa trên một số bài báo, thông tin có uy tín và đáng chú ư của các thức giả khác nhau, đặc biệt bài báo của Michael Barker: “The National Endowment for Democracy: Revisiting the CIA Connection” (Duyệt lại sự liên kết giữa Tổ chức NED và CIA), cá nhân tôi không nhằm mục đích ủng hộ hay chống đối một trong hai phía, Trung Quốc và Tây Tạng; nhưng lại cố vươn tới ư hướng xa hơn, mong sự hợp tác song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong hiện tại và tương lai, sẽ được đặt trên căn bản b́nh đẳng, tha thứ và bao dung, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi quốc gia tối thượng của nhau, soi chiếu từ bài học tự thân hay của những bài học cụ thể khác trong quá khứ cũng như hiện tại.

 

 

 

    

 

    Những ai thông thuộc về lịch sử Á châu đều quan tâm đến cuộc tổng nổi dậy của nhân dân Tây Tạng chống lại sự chiếm đóng của Trung Quốc vào năm 1959. Ngài Tenzin Gyatso, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lúc ấy 23 tuổi, trốn thoát khỏi đất tổ Tây Tạng đến tị nạn ở Ấn Độ. Thế rồi, Ngài Đạt Lai Lạt Ma đă thành lập một chính phủ lưu vong Tây Tạng, từ đó cho đến ngày nay. Với những nổ lực không biết mệt mỏi để gây sự chú ư của quốc tế cho chính nghĩa của Tây Tạng bằng phương tiện ḥa b́nh, Ngài Đạt Lai đă đón nhận Giải Nôben Ḥa b́nh Thế giới. Từ đấy, Ngài đă có thể vận dụng sự ưu thế của truyền thông đại chúng toàn cầu hầu mong giải phóng Tây Tạng một cách ḥa b́nh. Đó là một phần lịch sử trung thực không có ǵ bàn căi; thế nhưng, c̣n có một khía cạnh khác ít người biết đến là sự nối kết giữa lịch sử của Tây Tạng và Cơ quan T́nh báo Trung ương Mỹ (xin viết tắt: TBM). Cụ thể, như tác giả Carole McGranahan (năm 2006) đă chỉ dẫn, “Tây Tạng là một trường hợp ít được khám phá nhất về sự can thiệp quân sự bí mật của Chiến Tranh Lạnh.” (1)

 

    Trong những thông tin đă được giải mật mới đây, người ta c̣n biết thêm có những liên kết bạo động của TBM với các lực lượng Tây Tạng, cho tới ngày hôm nay vẫn có những dính líu giữa TBM với với các chiến dịch độc lập cho Tây Tạng và một tổ chức rất gần gũi với TBM là Cơ quan NED (National Endowment for Democracy/ tạm gọi: Tổ chức góp vốn Quốc gia cho Dân chủ).

 

    Sơ lược mối liên hệ giữa TBM và Tây Tạng

 

    Năm 1951, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào thủ đô Lhasa, ép buộc chính phủ của Ngài Đạt Lai Lạt Ma phải kư vào bản “Chương tŕnh Giải phóng Ḥa b́nh cho Tây Tạng”, để hợp lư hóa sự chiếm đóng của Trung Quốc. Hành động này đă là cho người dân Tây Tạng liên tục khởi xướng cách mạng, với khuynh hướng chống cộng đă gây sự chú ư và hổ trợ từ TBM. Jim Mann (1999), ghi nhận, “trong suốt các thập niên 1950 và 1960, TBM đă hổ trợ tích cực cho kháng chiến Tây Tạng với súng đạn, huấn luyện quân sự, tiền bạc, không trợ và nhiều phương tiện khác nữa". Một tác giả khác là Michael Parenti mô tả:

 

    “..Ở nước Mỹ, các Hiệp hội Mỹ cho Tự do Châu Á, một mặt trận của TBM, đă tuyên truyền cho chính nghĩa của kháng chiến Tây Tạng, với người anh của Ngài Đạt Lai Lạt Ma là Thubtan Norbu, giữ vai tṛ ṇng cốt trong tổ chức này. Người anh thứ hai của Ngài là Gyalo Thondup, tổ chức một hoạt động t́nh báo với TBM nằm 1951. Ban đầu th́ chỉ nhận sự trợ giúp h́nh thức, nhưng sau đó đă tiến dần đến nhận sự huấn luyện của TBM cho các đơn vị du kích được tuyển chọn đă nhảy toán vào đất Tây Tạng.”

 

    Ngoài ra, theo những tài liệu bí mật của t́nh báo Mỹ (đă được giải mật vào thập niên 1990) cho biết TBM cung cấp cho nhóm lưu vong của Tây Tạng một năm là 1.7 triệu Mỹ kim nhằm các hoạt động chống Trung Quốc, trong đó có 180.000 đôla cho riêng Ngài Đạt Lai Lạt Ma. Năm 1969, ngoài việc hổ trợ cho chính nghĩa của Tây Tạng, nhưng v́ quyền lợi của yếu tố địa lư chính trị của Mỹ, sự giúp đỡ này trở nên thiếu hiệu quả, do đó họ rút lui sự trợ giúp. Tuy thế, sự ủng hộ cho cách mạng của Tây Tạng vẫn được tiếp nối xuyên qua sự giúp đỡ của Ấn Độ và Đài Loan cho tới năm 1974, hai năm sau khi Tổng thống Richard Nixon b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Sau khi Ngài Đạt Lai Lạt Ma  khuyến cáo các du kích quân Tây Tạng hăy tự hạ vũ khí, th́ kháng chiến đổ vỡ, TBM phải im lặng thu xếp để định cư các du kích quân c̣n sống sót.

 

    Qua sự bế mạc màn ủng hộ của TBM cho các hoạt động du kích Tây Tạng, tác giả John Kraus cho biết,

 

    “..Tổng thống Ford quyết định chấm dứt sự ủng hộ kháng chiến Tây Tạng chỉ nằm trong chiến lược của Chiến Tranh Lạnh. Màn kế tiếp trong sự quan hệ của Ngài Đạt Lai Lạt Ma và dân tộc của Ngài với TBM bắt đầu tới màn đương đầu chính trị với Trung Quốc bằng chiến dịch Nhân Quyền.”

 

    Kraus viết thêm -Năm 1979, cuối cùng th́ Tổng thống Jimmy Carter phải cấp giấy nhập cảnh cho Ngài Đạt Lai viếng thăm nước Mỹ, và chính nghĩa Tây Tạng được sự bảo trợ của các nhóm thượng nghị sĩ không đảng nào (bipartisan), các thành viên của Quốc hội…làm việc chung với Ngài Đạt Lai Lạt Ma để tạo thế chú ư của cộng đồng quốc tế tới hoàn cảnh của Tây Tạng.

 

    Duyệt xét lại cánh tay nối dài của TBM và Cơ quan NED

 

    Tổ chức NED được thành lập vào năm 1984 với sự hổ trợ của chính quyền Tổng thống Reagan –nhằm xây dựng hạ tầng cơ sở của chiến dịch dân chủ -hệ thống báo chí tự do, công đoàn, đảng chính trị, các trường đại học…khắp thế giới. Các hoạt động này đă được vị chủ tịch đầu tiên của NED cho biết, “Phần lớn những điều chúng ta (NED) thực hiện trong ngày hôm nay là những ǵ mà CIA đă làm trong bí mật 25 năm trước đó.”

 

    Và, NED được các chuyên gia ưu tú trong chính sách đối ngoại dùng như một phương tiện chiến lược tài trợ cho các tổ chức phi-chính-phủ thay v́ tài trợ cho các hoạt động bí mật của TBM.

 

    Trong tác phẩm, “Xiển dương Đa nguyên/ Promoting Polyarchy”, William I, Robinson đă giải thích vai tṛ của NED trong hợp từ “đa nguyên” này như sau: Công tác của NED đích thực là xiển dương đa nguyên, hay nói cách khác là nền dân-chủ mức-độ-thấp/ low-intensity democracy; không chỉ có mục đích là làm giảm nhẹ đi sự căng thẳng chính trị và xă hội do những định chế/ (nguyên trạng) phi dân chủ tạo ra, mà c̣n đè nén đám đông và quần chúng bớt khát vọng dân chủ hóa xă hội đời sống trong trật tự thế giới của thế kỷ 21.  Robinson đă liệt kê 4 trường hợp thành tựu của NED là: Chile, Nicaragua, Phi-líp-pin và Haiti. Trong khi đó tác giả Baker (2006), trong  The National Endowment for Democracy and the Promotion of ‘Democratic’ Media System Worldwide.” cho rằng, những can thiệp của NED trong các màn kích động, dụ dỗ “những cuộc cách mạng màu” (colour revolutions) lan tràn xuyên qua Đông Âu mới đây đều mang tính chống-dân chủ.

 

    “Những kẻ khởi xướng dân chủ” và Tây Tạng

 

    Chiến dịch Quốc tế cho Tây Tạng (The International Campaign for Tibet, viết tắt: ICT) thành lập vào năm 1988 và là tổ chức vô vụ lợi, có văn pḥng đặt tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn/ Washington, DC., Amsterdam, BerlinBrussels. Các mạng lưới của tổ chức đưa ra một tiêu chí căn bản là cần có một giải pháp chính trị giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và các đại biểu của Ngài với chính quyền Trung Quốc.  Tổ chức ICT nhận ngân khoản tài trợ đầu tiên từ NED năm 1994, nhận định:

 

    “…gia tăng sự hiểu biết cho người Trung Hoa về Tây Tạng bằng các bài báo xuyên qua phương tiện báo hay tạp chí trong nội địa Trung Quốc và hải ngoại; dịch các sách về Tây Tạng sang tiếng Tàu; tạo điều kiện tỏ chức những buổi mít-ting giữa các nhân vật nổi bật của Tây Tạng và Trung Hoa, tập trung nối kết các nhà báo và các nhà lănh đạo dân chủ của Trung Hoa và tây Tạng lưu vong ở nước ngoài ngồi lại với nhau.”

 

    Thế rồi, ICT liên tục nhận sự hổ trợ thường xuyên từ NED trong các năm  1997, 1998, 2000, 2001, 2002 và 2003 (tất cả các sự trợ giúp này là cho phương tiện truyền thông đại chúng, ngoại trừ ngân sách nằm 1997).. Cũng như những tổ chức nhận sự tài trợ của NED khác, ICT không hề e dè với các liên kết với các tổ chức hoạt động cho “dân chủ”, trong năm 2005, họ c̣n trao giải thưởng cho Ánh sáng của Chân lư (Light of Truth) của chủ tịch Tổ chức NED là Carl Gershman. Trước đó một năm (2004), ICT đă trao giải cho Vaclav Havel (người đă từng nhận giải Dân chủ của NED năm 1991) và nhận làm vai tṛ cố vấn cho Dự án về Công Lư trong Thời gian Chuyển tiếp (Project on Justice in Times of Transition) sau các biến động chính trị và sự sụp đỗ theo dây chuyền của các chế độ Cộng sản Đông Âu.

 

    Một vài giám đốc của ICT, đồng thời là thành viên của các bộ phận “khởi xướng dân chủ”, thí dụ Bette Bao Lord (người Tây tạng) vừa là thành viên trong ban chủ tịch của Freedom House và giám đốc của Diễn đàn Tự do (Freedom Forum) nữa.  Gare A. Smith (người trước đây từng làm Phụ tá cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trong phân ban ‘Văn pḥng Dân chủ/Bureau of Democracy’, Nhân Quyền và Lao Động), Julia Taft (từng làm giám đốc của NED, Phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ và Điều phối viên đặc biệt của các Vấn đề Tây Tạng, từng làm việc cho cơ quan USAID), và sau cùng là Mark Handelman (là giám đốc của Liên minh Dân tộc cho Nhân quyền Haiti, một tổ chức mang tính tư tưởng liên hệ với sự can thiệp của Haiti trong một thời gian dài.)   Ngoài ra, trong ban Cố vấn của ICT c̣n có hai nhân vật có quan hệ với NED là Harry Wu, và Qiang Xiao.

 

    Công tác của Quỹ Tây Tạng (The Tibet Fund) phần lớn tập trung vào các mục tiêu truyền thông thính thị (audi-visual media) với dự án đài phát thanh the Tibet Voice Project, và một tờ báo ra hai lần một tháng bằng tiếng Trung Hoa về Tây Tạng.

 

    Một nhóm khác c̣n nhận sự tài trợ của NED có căn cứ ở Luân Đôn là Hệ thống Thông tin Tây Tạng (The Tibet Information Netwoks/ viết tắt là TIN), nhận ngân sách từ NED mỗi năm từ 1999 đến 2004 (trừ năm 2000) .

 

    Hội Văn học Tây Tạng nhận tiền từ NED từ năm 2000 đến 2005 để ra báo bằng tiếng Tây Tạng ba lần một tháng ở Dharamsala, Ấn Độ với chủ đích:

 

    “…cung cấp thông tin về Tây Tạng cho người Tây Tạng lưu vong trong các quốc gia họ đang tạm trú cũng như dành cho các độc giả người Trung Hoa nữa. Trung tâm này c̣n sản xuất các băng h́nh và băng nghe , tổ chức các buổi hội thảo và tranh luận cho các học sinh trung học người Tây Tạng, và xuất bản một tạp chí bằng Hoa ngữ để giáo dục quần chúng người Hoa về t́nh h́nh Tây Tạng và đấu tranh Nhân quyền.”

 

    Sau hết, 1996 thành lập đài Tiếng nói Tây Tạng (Voice of Tibet) trên làn sóng ngắn phát thanh bằng tiếng Tây Tạng, cũng nhận sự tài trợ của NED trong các năm 2001, 2002.. các tin tức hàng ngày về Tây Tạng, về cộng đồng Tây Tạng ở nước ngoài, chính phủ Tây Tạng lưu vong trong các quốc gia kế cận. Các mạng lưới (internets) của đài này c̣n phát thanh 30 phút về tin tức bằng tiếng Tây Tạng và Quan thoại, và c̣n có nhiều tổ chức khác phục vụ cho mục tiêu này ở Na-uy với một số nhân vật Tây Tạng nổi bật khác.

Tạm kết luận:

 

    Bài báo này nhằm làm sáng tỏ một sự liên kết giữa chiến dịch bất bạo động của ngài Đạt Lai Lạt Ma cho độc lập của Tây Tạng và chính sách đối ngoại Mỹ qua tổ chức NED. Những sự tiết lộ này có thể gây “lo ngại” cho những người Tây Tạng lưu vong v́ đă đưa ra danh sách những nhóm hoạt động, nhưng cũng chỉ để nhớ rằng các hoạt động của NED tiền khởi có nhiều liên hệ với cơ quan CIA. Sự làm sáng tỏ này chỉ muốn soi rọi về các hoạt động mang tính phi-dân-chủ của NED và TBM trong quá khứ, để từ đó giúp cho các người đấu tranh cho Tây Tạng tái thẩm định một giải pháp tiến bộ để tái lập nền dân chủ, độc lập thật sự theo ước vọng của người dân Tây Tạng, chứ không phải là cơ cấu “đa nguyên”.

 

 

Thường Đức, trang nhà Hội Tụ, ngày 22/3/08

NDVN, ngày 12/4/08



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend