TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

30/4/75 DIỄN BIẾN THÁO CHẠY TÁN LOẠN "Lính Đánh Thuê" Ngụy Quân-Ngụy Quyền VNCH


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?.

...Có thật như vậy không?......

 

                           Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

                            Nguyen TT Vo Van Kiet gop y cho du an Dung Quat

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….  

 

             ***********

  

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

*********** 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

 Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

 

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

 

 

 

 

 

 

 

Chân dung Tập đoàn “Lính Đánh Thuê” Ngụy quân - Ngụy Quyền

Photograph:Ngo Dinh Diem, 1954

 

 

Tướng Cao Văn Viên        Tướng Vĩnh Lộc   

 

    (....Ít lâu sau khi họ đến Guam, nhiều tướng bại trận (hay tự sát hay bị giết như NĐD, NDVN)bị nhốt trong những chuồng sắt. Tướng Toàn, nguyên tư lệnh Quân khu III, kiệt sức, bị đẩy vào giữa nhóm, ngồi xuống một ghế quay. Tướng Tưởng, người bảo vệ Đà Nẵng đau mắt nặng, không c̣n trông thấy chiếc ghế. Một lúc sau, một sĩ quan hải quân Mỹ vào, bắt ông ta cởi binh phục. Một viên tướng hỏi: chúng tôi có thể đeo huân chương không? Người Mỹ trả lời: Không! Các anh không c̣n quân đội, không c̣n Tổ quốc!”(tr 376)….)

 

 

30/4/75 DIỄN BIẾN THÁO CHẠY TÁN LOẠN

“LÍNH ĐÁNH THUÊ” NGỤY QUÂN VÀ NGỤY QUYỀN

 

 

 

    Nói đến diễn biến t́nh trạng ră đám của chính quyền và quân đội miền Nam là phải nói đến t́nh trạng này bắt đầu ră đám vào thời điiểm nào? Các nhà viết sử đều cho rằng việc ră đám của chính quyền và quân đội miền Nam thực sự đă khởi sự vào ngay khi Tổng Thống Nixon thúc ép Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải chấp nhận Thỏa Hỉệp Paris được kư kết vào ngày 27/1/1973.

 

    Sau khi bị Hoa Kỳ thúc ép như vậy, tinh thần bỏ chạy đă bắt đầu nhen nhúm trong đầu óc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tất cả những nhân vật cao cấp trong chính quyền miền Nam. Họ đều biết rơ là vào thời điểm quân đội Hoa Kỳ bắt đầu rút khỏi miền Nam th́ cũng là thời điểm chính quyền miền Bắc bắt đầu chuẩn bị phát động những chiến dịch quân sự tấn công miền Nam. Họ cũng biết rằng, ở vào t́nh huống đó, chắc chắn là quân đội miền Nam với tinh thần đánh thuê sẽ không thể nào đương đầu nổi với quân đội Miền Bắc. Họ cũng biết rằng quân đội miền Bắc không những can trường, thiện chiến và được vơ trang bằng ḷng yêu nước đă có thành tích lẫy lừng đánh bại Liên Quân Pháp – Vatican trong cuộc chiến 1945-1954 và sau đó đă quyết tâm liều chết chiến đấu để hoàn thành sứ mạng giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Biết rơ như vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tất cả các nhân vật cao cấp trong chính quyền miền Nam quay ra t́m cách vơ vét cho đầy túi tham, chuẩn bị hành trang khăn gói chờ ngày tẩu thoát ra nước ngoài để hưởng thụ. Việc mưu đồ muốn tư nhân hóa nhà bưu điện Sàig̣n vào năm 1974, vụ c̣i hụ Long An, và vụ các ông quan lớn quan nhỏ hè nhau tháo gỡ cướp đoạt những đồ đạc trang bị các cơ sở và căn cứ quân sự của quân đội Hoa Kỳ như ở căn cứ Đồng Tâm [24] chỉ là một vài trong số hàng ngàn bằng chứng nói lên thực trạng này.

 

    Nói cho rơ hơn, những nhân vật nắm giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền và trong quân đội miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 chỉ là bọn người vong bản, phản dân tộc, xu thời, tham nhũng, được quan thày Mỹ - Vatican đưa lên phục vụ cho quyền lợi cho chúng. Khi quan thày của chúng phải cuốn gói ra đi th́ chúng cũng t́m cách vơ vét thâu tóm tom góp tiền bạc của cải và cùng vợ con cuốn gói ra đi với quan thày.

 

    C̣n về Giáo Hội La Mă, qua vai tṛ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, một thế lực đă liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ từ năm 1954 và cùng với Hoa Kỳ nắm quyền sắp xếp các nhân sự và đưa người lên cầm quyền ở miền Nam để làm tay sai cho cả Giáo Hội và Hoa Kỳ, lúc đó,đă tính toán như thế nào để chuẩn đối phó với t́nh h́nh và thích nghi với hoàn cảnh mới khi miền Nam Việt Nam đổi chủ?

 

    Nói một cách văn tắt là Giáo Hội La Mă cũng biết rơ là sau khi kư xong Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, đương nhiên là miền Bắc sẽ tấn công miền Nam, và chắc chắn là quân đội miền Nam sẽ tan ră rất mau. Biết rơ như vậy, Toà Thánh Vatican mới ra lệnh cho Hội Đồng Giám Mục chuẩn bị tinh thần để đương đầu với t́nh thế mới bằng cách thay h́nh đổi dạng từ con cọp hung dữ đă tung hành ở miền Nam từ năm 1954 biến thành con cừu hiền lành để làm nguôi ngoai ḷng căm phẫn của nhân dân và chính quyền mới ở miền Nam. Có như vậy th́ mới hy vọng tránh được những đ̣n thù của nhân dân miền Nam và những biện pháp trừng trị của tân chính quyền, và như thế mới có cơ may tồn tại.

 

    Tuy nhiên, lời giải thích vắn tắt trên đây sẽ không làm hài ḷng cho cả giới người có niềm tin vào cái chính nghĩa quốc gia giới người muốn có cái nh́n xuyên suốt đầy đủ  và rơ ràng về vấn đề này. V́ vậy, chúng tôi xin đưa ra phần tŕnh bày dưới đây với hy vọng sẽ làm hài ḷng cà hai giới người nói trên.

 

*      *

*

 

    Tất cả những người đă từng sống và chứng kiến miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ từ ngày7/7/1954 cho đến ngày 30/4/1975 đều biết rằng trong suốt thời gian này, Hoa Kỳ và Giáo Hội mới thực sự là hai thế lực nắm quyền điều khiền bộ máy cai trị ở miền Nam Việt Nam và quyền quản lư nhân dân được trao cho hai ông Da-tô Ngô Đ́nh Diệm và Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, ngoại trừ trong một thời gian ngắn từ chiều tối ngày 1/11/1963 cho đến ngày 19/6/1965.(Ngày này Nguyễn Văn Thiệu được Hoa Kỳ và Vatican đưa lên nắm giữ chức vụ “Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, tức Quốc Trương của miền Nam Việt Nam” .[25]

 

    Như đă tŕnh bày ở trên, tại miền Nam, trong những năm 1954-1975, hầu như tất cả các phạm vi sinh hoạt trong chính quyền cũng như ở ngoài xă hội (hành chánh, quân sự, kinh tế, tài chánh, văn hóa, xă hội, giáo dục, truyền thông) đều bị Giáo Hội La Mă và nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín kiểm soát, thao túng, vơ vét cho đầy túi tham. Ngay cả chương tŕnh học ở bậc tiểu và trung học cũng bị kiềm soát chặt chẽ để phục vụ cho chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mă. Đặc biệt là môn công dân và môn sử (sử thế giới và sử quốc gia) đều bị kiểm soát chặt chẽ để bưng bít những việc làm bất chính của Giáo Hội. Những việc làm bất chính này là những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mă đă chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua và chống lại dân tộc Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Tất cả những việc làm này cùng với chính sách bách hại Phật Giáo và chèn ép các thành phần các tôn giáo không phải là đạo Da-tô đă khiến miền Nam nát bấy như tương và khiến cho gần 90% dân chúng miền Nam đều hướng về chính quyền miền Bắc, công khai hay bí mật ủng hộ hay tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với hy vọng thoát khỏi được móng vuốt của con cọp Da tô hung dữ. (Xin xem lai Mục XXIII, chương sách nói về “Thành Phần Ṇng Cốt Trong Nhân Dân Được Chính Quyền Tin Cậy”...

 

    V́ thế, việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi miền Nam (theo Hiệp Định Paris 1973) đă làm cho Giáo Hội đứng trước một viễn tường vô cùng đen tối, giống y như viễn tượng đen tối của Giáo Hội trong biến cố Cách Mạng 1789 và viễn tưỡng đen tối trong biến cố Quốc Quân Trung Hoa dưới quyền lănh đạo của Tưởng Giới Thạch bị đại bại trước sức mạnh của Hồng Quân Trung Hoa, phải cuốn gói chạy thoát thân ra Đảo Đài Loan vào mùa thu năm 1949.

 

So Sánh Đối Sách của Vatican vào Thời Điểm 1950 và Thời Điểm 1950

 

    A.- Thời Điểm 1950: Biến cố Quốc Quân Trung Hoa đại bại trước sức mạnh của Hồng Quân Trung Hoa và chạy thục mạng ra hải đảo Đài Loan vào mùa thu năm 1949: Biến cố này khiến cho Liên Minh Pháp - Vatican đang thống trị Việt Nam bước dần đến bờ vực thẳm tan ră, và Giáo Hội La Mă phải liệu bề tính kế:

 

    1.- Tẩu tán những khối bất động sản khổng lồ của Giáo Hội ở Việt Nam đă cướp đoạt của nhân dân ta trong những năm 1862-1950. Những khối bất động sản khổng lồ này do các ông tu sĩ Da-tô người Pháp đứng tên, bây giờ phải sang tên cho các ông tu sĩ Da-tô người Việt bằng cách ra lệnh cho chính quyền bù nh́n Bảo Đại ban hành Dụ số 10 vào ngày 6/8/1950. Sự kiện này được ông Da-tô Nguyễn Văn Châu ghi lại bằng xảo thuật ngôn ngữ Da-tô với nguyên văn như sau:

 

    Chiếu dụ số 10 do Quốc Trưởng Bảo Đại ban hành ngày 6 tháng 8 năm 1950 ấn định quy chế các hiệp hội tôn giáo, thật sự là nhằm giúp đỡ Phật giáo (sic) và miễn áp dụng cho các tôn giáo và giáo phái khác, mặc dù có những điều khoản bênh vực bảo vệ của cải bất động sản của Hội Thừa Sai Ba Lê, của cải của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nhưng lại do người Pháp đứng tên nên thuộc quyền sở hữu của Pháp. Nhân dịp chuyển giao đất đai Nhà Chung đó cho hàng Giám Mục Việt Nam, nhiều vấn đề phức tạp đă xẩy ra.”.[26]

 

    2.- Ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đ́nh Thục dẫn ông Ngô Đ́nh Diệm đến Hoa Kỳ giao cho Hồng Francis Spellman vận động với chính quyền Hoa Kỳ thành lập Liên Minh Mỹ - Vatican và đưa ông Ngô Đ́nh Diệm về Việt Nam cầm quyền để duy tŕ và củng cố quyền lực của Vatican tại Việt Nam.

 

    B.- Thời Điểm 1975: Biến cố Thỏa Hiệp Paris 1973 quy định việc Hoa Kỳ rút hết quân ra khỏi Việt Nam vảo cuối năm 1974: Biến cố này khiến cho Liên Minh Mỹ - Vatican tan ră và làm cho Vatican (đă thống trị miền Nam từ năm 1954) bước dân đến trên bờ vực thẳm tan ră và Giáo Hội La Mă cũng phải liệu bài tính kế:

 

    1.- Ra lệnh chuyển hết tiền bạc trong nhà ngân hàng Đại Nam ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chuyện này được ông Vũ Trọng Minh nói rơ trong lá thư ngỏ đề ngày 15/3/1995 gửi Giáo Hoàng John Paul II, trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:

 

    Câu chuyện thứ Chín, là tinh thần tích cực làm tiền của các cha cố ngay tại Sàig̣n mà cả nước ai cũng biết. Khi thực dân Pháp chiếm xong Nam Kỳ (miền Nam nước Việt) th́ họ cho một công ty Pháp mở một đồn điền trồng cao su, chạy dài 14 cây số từ cổng trường bay Tân Sơn Nhất xuống đến Chợ Lớn. Năm 1954, Pháp bị Cộng Sản đánh bại, phải rút khỏi Việt Nam, họ liền bí mật bán cho nhà Chung (Giáo Hội La Mă), không ai biết bao nhiêu, nhưng chắc chắn là rẻ mạt v́ Hiệp Định Genève đang tiến hành, trước sau cũng mất. Đất bán cho nhà Chung cứ để y nguyên nên ai cũng tưởng là đất của chính phủ lấy lại của Tây. Đến năm 1970, nhà Chung Công Giáo chia lô làm nhà bán cho người ta mua làm nhà v́ dân số đô thành lúc đó đă tăng lên gấp năm lần, nhà bán chạy như tôm tươi. Mỗi lô bán trung b́nh hai trăm năm mươi ngàn đồng bạc lúc đó. Số tiền bán nhà đất thu về sơ sơ cả mấy trăm triệu, không biết có gửi về nhà băng Ṭa Thánh hoặc các ngân hàng khác không? Chỉ biết một phần số tiền đó các Ngài dùng để mở Ngân Hàng Đại Nam. Trước ngày Cộng Sản thống nhất toàn bộ  đất nước, có lẽ các Ngài biết rơ t́nh h́nh sắp sụp đến nơi nên thu vốn lại, không rơ đem đi đâu v́ Ngân Hàng Đại Nam không kèn không trống biến mất tiêu trước ngày 30/4/1975. Thế là đất nước Việt Nam bị kẻ cướp thực dân lấy khai thác chán chê rồi bán cho bạn chí thiết của kẻ cướp là Giáo Hội Công Giáo.

 

    Chưa ai thấy ơn cứu rỗi của Chúa và Giáo Hội Công Giáo đâu cả, chỉ thấy tài sản đất nước tôi chuyền từ tay bọn ăn cướp ngày là thực dân sang tay bọn cướp đêm là công ty bán vé cứu rỗi của quư Ngài.”[27]

 

    2.- Giáo Hội La Mă phải tạm thời từ bỏ lập trường hiếu chiến, chuyển sang chủ trương ḥa hoăn với chính quyền Hà Nội bằng cách ngầm ra lệnh cho các tín đồ đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền và quân đội miền Nam thi hành kế sách “tẩu vi thượng sách”, để Hội Đồng Giam Mục Việt Nam chuẩn bị cho việc chuyển cái thế đang là con cọp hung dữ ở Mỉền Nam biến thành con cừu hiền ḥa để tồn tại”, theo đúng sách lược từ ngàn xưa của Giáo Hội La Mă mà sử gia Loraine Boettner đă nói rơ như đă tŕnh bày ở trên. Xin ghi lại lời nói này để độc giả dễ nh́n ra vấn đề:


    Rome in the minority is a lamb (Khi  là thiểu số, Giáo Hội La Mă là con cừu).Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mă La Mă là con cáo).Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mă  là con cọp.)”[28]

 

    Do đó, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Tổng Thống Da-tô Nguyễn Văn Thiệu triệu tập buổi họp tại Dinh Độc Lập vào ngày 13/3/1975 để bàn nhau rút lui khỏi miền Trung và chuẩn bị  tẩu thoát. Sự kiện này được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ghi lại như sau:

 

    Ngày 13/3/1975, tại dinh Độc Lập tổng thống Thiệu họp với thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, trung tướng Đặng Văn Quang, trung tướng Ngô Quang Trưởng và trung tướng Nguyễn Văn Toàn. Trong buổi họp này tổng thống Thiệu cũng đă nhận định rằng không cách nào với ngân khoản viện trợ Hoa Kỳ bị cắt giảm, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa  có thể giữ được sự vẹn toàn lănh thổ miền Nam. Tổng Thống Thiệu lấy viết gạch một đường từ Ban Mê Thuột xuống Tuy Ḥa và nói đó là ranh giới mới của miền Nam. Tổng Thống Thiệu c̣n căn dặn tướng Trưởng giữ kín, không tiết lộ cho các tư lịnh Sư Đoàn, các tỉnh trưởng cũng như Hải Quân và Không Quân biết việc bỏ miền Trung.”[29]

 

    Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy Giám Mục Phạm Ngoc Chi ra lệnh cho ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi (đang nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương ở Quân Khu II) chuyển đề nghị yêu cầu Tướng Ngô Quang Trưởng bỏ ư định pḥng thủ Đà Nẵng:

 

    “Sáng ngày 28/3(1975), trung tướng Lê Nguyên Khang phụ tá cho đại tướng Viên bay ra Đà Nẵng gặp trung tướng Trưởng. Tướng Trưởng nhắc điện thoại gọi thẳng tôi (Hồ Văn Kỳ Thoai) và chỉ thị tôi sang Quân Đoàn để gặp tướng Khang….

 

    Trung tướng Khang, trung tướng Trưởng và tôi (Hồ Văn Kỳ Thoại) cùng duyệt lại t́nh h́nh tại Quảng Nam và Đà Nẵng và trận liệt về phía Hải Quân. Cho đến giờ phút đó không ai đề cập đến việc bỏ Đà Nẵng cũng như việc rút lui hai lữ đoàn của Thủy Quân Lục Chiến, trung tướng Khang chỉ yêu cầu tôi chuẩn bị phương tiện di chuyển Sư Đoàn 2 vừa ra Cù Lao Re về B́nh Tuy.

 

    Theo trung tướng Thi, trong quyển sách “The Twenty Five Years Century by Lam Quang Thi – Univsersity of South Texas Press (2001), trang 360” của ông, th́ trong lúc tướng Trưởng tiếp tướng Khang, th́ ông tiếp Đức Cha Phạm Ngọc Chi. Đức Cha Thi nhờ tướng Thi chuyển lời lại cho tướng Trưởng là Đức Cha Chi xin tướng Trưởng bỏ ư định pḥng thủ thành phố Đà Nẵng v́ làm như vậy thành phố Đà Nẵng sẽ bị tiêu diệt một cách vô ích và sẽ gây chết chóc cho dân Đà Nẵng cũng như đống bào tị nạn từ các tỉnh khác về.” Trong đoạn sau, tướng Thi có nói là ông đồng ư với Đức Cha Chi về vấn đề gây thương vong  cho thường dân và sự tàn phá một thành phố mà tướng Thi cho là đẹp.” [30] 

 

    Cũng nên biết là Giám-mục Phạm Ngọc Chi đă từng là vị lănh chúa áo đen cực kỳ hiếu chiến và hiếu sát ở Giáo Khu Bùi Chu trong những năm 1947-1954, đă sát hại không biết bao nhiêu bộ đội cụ Hồ và người dân trong các làng kế bên các làng đạo dưới quyền thống trị của ông. Một số trong những tội ác của ông lănh chúa áo đen này được ông Charlie Nguyễn kể lại trong lá thư gửi cho ông Nguyễn Thanh Giản trong đó có mấy đoạn với nguyên văn như sau:

 

    Nguyên nhân của sự “nổi loạn” của tôi là vào năm 1949, tôi đă chứng kiến thảm cảnh của những người “bên lương” bị Cha tôi và các cha xứ cùng quê Ninh Cường (nằm trong Giáo Khu Bùi Chu - NMQ) hợp tác với Tây tiêu diệt họ. Có người bị cháy như con chó thui ở tiệm “Cầy Tơ” nhe răng ghê rợn. Có người bị trói thúc ké để chờ giao lên đồn Tây. Có người bị đốt nhà và bị bắn thả trôi sông.  Một vài bạn học của tôi lúc c̣n bé tí là con của những người đó, trong số bạn tôi hồi nhỏ, có những đứa chế nhạo tôi: “Đi đạo ăn gạo té re, ăn chè té rỏng, ăn xôi thủng ruột. Cũng có đứa qú xuống trước mặt tôi, chắp tay và cầu kinh:


    Lạy ơn Chúa Giê xu

    Nằm trong hang đá tḥ cu ra ngoài.

    Con chó nó tưởng củ khoai

    No đớp một cái đứt …. Giê xu.”

 

    Lúc đó, tôi ghét chúng nó vô cùng. Tôi đă đánh nhau với chúng nó v́ chúng nó dám xúc phạm đến Chúa của tôi. Chúng nó phạm những tội mà tôi có thể giết chúng như giết quỉ. Tôi sẵn sàng tử chiến với chúng để “bảo vệ đức tin”. Nhưng rồi, thời gian trôi qua, tôi dần dần nhận ra những “người bên lương” đó mới là những đồng bào yêu nước. Cha tôi và bọn cha cố mà tôi trước đây hết ḷng kính mến thực ra là Việt gian. Đó là nguyên nhân đă làm tôi chuyển hướng tâm linh từ cực này sang cực khác lúc nào không hay. Cái mà tôi sẵn sàng chết cho nó trước đây là “Đức Tin Công Giáo” th́ nay lại là cái mà tôi chỉ muốn “ôm bom” để hủy diệt đức tin đó. Khẩu hiệu của tôi từ năm 1996 đến này là: “Christian by birth:, anti- Christ by choice.”

 

    Tôi tự nguyện dùng mạng sống của ḿnh để làm cái giá chuộc tội sát nhân v́ cuồng tín của cha tôi. Những nạn nhân của cha tôi và của các cha cố Việt gian hầu hết đều là những dân lành vô tội. Họ là những người yêu nước với tinh thần Phật giáo thanh cao, tôi vô cùng ngưỡng mộ. Tôi coi mọi bài viết chống Kitô giáo của tôi là những nén hương ḷng của tôi dâng lên hương linh của họ….” [31]

 

     Trong những năm 1954-1975, Giám-muc Phạm Ngọc Chi lại trở thành lănh chúa ở các tỉnh Liên Khu V, và cũng là  một trong các giáo chủ đại diện (prelates) của Ṭa Thánh Vatican ở miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những nhân vật ở hậu trường sân khấu chính trị miền Nam có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả chính sách đối nội của chính quyền miền Nam. Đặc biệt là trong những năm 1955-1963, v́ chủ trương đẩy mạnh “kế hoạch biến miền Nam theo Công Giáo hết trong ṿng mười năm” do anh em ông Ngô Đ́nh Diệm chủ trương[32] ., ông Gíám-mục này đă trực tiếp  liên hệ đến việc tàn sát khoảng 300 ngàn người dân lương ở vùng này [33] .

 

    Về phía chính quyền Hà Nôi, sau khi Hiệp Định Paris được kư kết giữa chính quyền Mỹ và chính quyền miền Bắc vào ngày 27/1/1973, họ tiên đoán rằng một khi quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi miền Nam Việt Nam và cắt đứt viện trợ tài chánh, th́ chính quyền Sàig̣n quân đội miền Nam  sẽ bắt đầu ră ngũ tan hàng vào ngay khi quân đội miền Bắc khởi sự tấn công miền Nam. Để trắc nghiệm lời tiên đoán này, họ quyết đinh phóng ra các chiến dịch tấn công vào một vài cứ điểm chiến lược để thăm ḍ khả năng chống trả của quân đội miền Nam và cũng là thăm ḍ phản ứng của Hoa Kỳ. Sự kiện này được sách Lịch Sử Đàng Cộng Sản Đảng Việt Nam ghi nhận như sau:

 

    Sau khi quân ta giải phóng các quận lỵ Thường Đức, Minh Long, Nha Bích, Tống Lê Chân, Mưng Đen Giá Vụt… địch không có khả năng phản công để giành lại.”.[34]

 

   Sau những chiến dịch này, Hà Nôi thấy rằng khả năng chống trả của quân đội miền Nam quá yếu và Hoa Kỳ vẫn bất động, vẫn khoanh tay ngồi yên, không có hành động cụ thể nào tiếp cứu miền Nam. Thấy rằng thời cơ đă đến, chính quyền Hà Nội quyết định đưa ra kế hoạch tiến chiếm miền Nam trong hai năm 1975-1976.

 

    Trước t́nh h́nh mới, tháng 10-1974, Bộ Chính Trị quyết định kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976.” “lấy chiến trường Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột làm chiến trường và điểm mở đầu.”.[35]

 

    Thực ra, khi quân đội Miền Bắc mở những chiến dịch tấn chiếm các cứ điểm trên đây, về phương diện quân số, hỏa lực, binh chủng và các phương tiện, quân đội miền Nam vẫn c̣n có nhiều ưu thế hơn quân đội miền Bắc. Sự kiện này được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoái (của Hải Quân miền Nam) nói rơ trong cuốn hồi kư Can Trường Trong Chiến Bại với nguyên văn như sau:

 

    Quân số của mỗi sư đoàn bộ binh của ta cũng như của địch không có nhất định cho nên rất khó mà so sánh một cách tuyệt đối chính xác tổng kết quân số hai bên. Về thiết giáp, địch phải di chuyển từ ngoài Bắc vào, việc sửa chữa và tiếp tế nhiên liệu rất khó khăn hơn các đơn vị thiết giáp của ta. Về pháo binh, địch phải di chuyển từ Bắc vào và hàng ngày phải bị sự đe doạ phát giác bởi phi cơ của ta, c̣n pháo binh ta ở tại những nơi ta lựa chọn. Ta hoàn toàn kiểm soát không phận và hải phận miền Nam trong khi địch không được ưu điểm quan trọng này. Đa số lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa trên biển được dồn về chiến trường miền Trung mà không sợ hải phận ở nơi khác bị đe doạ. V́ thế khả năng yểm trợ hải pháo tại Quân Khu I rất hùng hậu mà Bộ Tư Lệnh Tiền Phương không nghĩ tới việc xử dụng để giải tỏa áp lực địch mà chỉ nghĩ tới việc chuyên chở quân.”[36]

 

    Như đă tŕnh bày ở trên, chính quyền miền Nam không có lư tưởng và quân đội miền Nam trong thực tế chỉ là quân đội đánh thuê cho Liên Minh  Xâm Lăng Mỹ - Vatican; cả chính quyền lẫn quân đội đều sống nhờ vào sự che chở của quân đội Hoa Kỳ và được nuôi dưỡng bằng tiền việt trợ Mỹ. Giờ đây, cái Liên Minh Mỹ -Vatican tan vỡ, quân đội Hoa Kỳ rút về nước và tiền viện trợ Mỹ để nuôi dưỡng chính quyền Sàig̣n và quân đội miền Nam cũng bị chấm dứt. Con cọp Hoa Kỳ đă từng có mặt ở Miền Nam từ năm 1954 để cho con cáo Vatican đội lốt nhầy lên bàn độc tác oai tác quái tàn hại nhân dân. Giờ đây con cọp Hoa Kỳ phải rút về Mỹ khiến cho con cáo Vatican không c̣n chỗ dựa, nên phải liệu bài tính kế hoá thân thành con cừu để tồn tại bằng cách ra lệnh cho những tín đồ đang nắm giữ những chức vụ đầu năo ở Dinh Độc Lập và các chức vụ trọng yếu trong quân đội phải t́m cách rút lui êm thắm vừa để bảo toàn nhân sự pḥng khi hữu sự, vừa tạo cho Giáo Hội Da-tô ở miền Nam cái bộ mặt hiếu ḥa giống như con cừu đối với chính quyền Hà Nội với hy vọng sẽ tránh được những biện pháp sắt máu trừng trị của Ha Nội, giống như chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đă trừng trị Giáo Hội trong thập niên 1790.[37]

 

    Với thực trạng này, các nhân vật lănh đạo chính quyền Sàig̣n và các tướng tá nắm giữ những chức vụ chỉ huy và toàn thế quân đội miền Nam mất hết tinh thần. Một khi đă mất hết tinh thần th́ dù cho có chiếm ưu thế về tất cả quân số, phương tiện, vũ khí và hỏa lực, quân đội miền Nam cũng bỏ súng mà chạy để thoát thân. Thực trạng của quân đội miền Nam vào thời điểm từ cuối năm 1974 là như vậy. Cho nên, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy quân miền Bắc chỉ cần ra quân khai mào đánh một hai trận là các tướng tá chỉ huy các đơn vị t́m cách lẩn trốn, không dám chường mặt ra để cùng với quân lính dưới quyền đối đầu với Bắc quân. Cũng v́ thế mà khi quân đội miền Bắc vừa mới bắt đầu mở chiến dịch tấn chiếm Ban Mê Thuột vào sáng sớm ngày 10/3/1975, th́ toàn bộ Quân Đoàn II bị tan ră ngay sau đó, và chỉ 3 ngày sau, tức là ngày 13/3/1975, tại Dinh Độc Lập ông Tổng Thống Da-tô Nguyễn Văn Thiệu tổ chức cuộc họp bàn nhau t́m cách tháo chạy như đă tŕnh bày ở trên.

 

    Thấy rằng chiến dịch tấn chiếm Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên “chỉ có 32 giờ  chiến đấu (“từ 2 giờ ngày 10-3 đến 10 giờ 30 phút ngàt 11-3-1975”) mà toàn bộ các sư đoàn và quân đội địa phương của Quân Đoàn II dưới quyền tư lệnh của của Tướng Phạm Văn Phú bị tan ră hoàn toàn, Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam bèn nhóm họp khẩn cấp vào ngày 24/3/1975 để thay đổi chiến lược, đẩy mạnh chiến dịch tấn chiếm miền Nam, rút ngắn thời gian giải phóng miền Nam để sớm hoàn thành sứ mạng thống nhất đất nước:

 

   Hội Nghị Chính Trị ngày 24/3/1975 đă khẳng định: cuộc tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975 đă bắt đầu từ chiến dịch Tây Nguyên, mở ra thời cơ chiến lược lớn… giải phóng miền Nam với thời gian sớm hơn. Bộ Chính Trị xác định: phải thật khẩn trương nắm chắc phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, tập trung lực lượng tiến lên giải phóng Sàig̣n trước mùa mưa 1975. Kịp nắm lấy thời cơ quân địch đang hoảng hốt mà đánh tiêu diệt quân đoàn 1 và bộ phận c̣n lại của quân đoàn 2, không cho chúng rút về cụm lại quanh Sàig̣n.”[38]

 

    Trở lại về phía chính quyền miền Nam, ai cũng biết rằng dù cho Hoa Kỳ vẫn c̣n viện trợ vũ khí dồi dào đến đâu đi nữa mà không viện trợ tài chánh để trả lương hàng tháng cho quân đội và các nhân viên chính quyền cùng các  phí khoản khác, th́  chính quyền Sàig̣n và quân đội đánh thuê miền Nam cũng sẽ ră đám. Vấn đề là thời gian mà thôi. Giáo Hội La Mă cũng biết rơ như vậy. V́ thế, Giám-muc Phạm Ngọc

 

    Chi mới nhờ tín đồ Da-tô Lâm Quang Thi đang nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương kiêm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn I chuyển đề nghị đến Tướng Ngô Quang Trưởng lời yêu cầu “không pḥng thủ thành phô Đà Nẵng”.

 

   Không biết ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi đă biết trước sách lược mới trên đây của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hay ông chỉ mới biết vào khi ông được Giám Mục Phạm Ngọc Chi nhờ chuyền đề nghị “bỏ Đà Nẵng” đến Tướng Trưởng. Dù là ở trường hợp nào đí nữa, th́ việc ông  kiếm cớ để lẩn tránh nhiệm vụ của một vị tướng lănh ở ngoài mật trận bằng cách xin Tướng Trưởng ra một chiến hạm ở ngoài khơi để thành lập bộ chỉ huy lưu động cho Quân Đoàn I với mục đích là khỏi phải ở lại nơi dầu sôi lửa bỏng có thể nguy hiểm đến tính mạng là một sự kiện lịch sử. Sự kiệnnày nói lên hành động hèn nhát đáng phỉ nhổ của một người tướng cầm quân ở nơi chiến địa. Sự kiện này cũng được Phó Đề Đốc Thoại kể lại như sau:

 

    Tướng (Lâm Quang) Thi đề nghị với tướng Trưởng cho ông đi ra một chiến hạm lớn để thành lập bộ chỉ huy hành quân lưu động cho Quân Đoàn I. Tướng Trưởng chấp thuận. Tướng Thi và đại tá Sơn ra trực thăng và bay ra và đáp trên dương vận hạm ngoài vịnh. Đó là lần chót mà tướng Trưởng thấy mặt và nói chuyện với Tướng Thi cho đến khi hai người gặp lại nhau tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa tại Sàg̣n, hai tuần lễ sau. Đúng 10 giờ 45 tối (ngày 28/3/1975), tướng Thi và HQ đại tá Sơn rời căn cứ bằng trực thăng. Lấy lư do là lập bộ chỉ huy lưư động trên chiến hạm cho Quân Đoàn, mà tướng Thi không biết là Bộ Tham Mưu và Quân Đoàn đă giải tán từ 5 giờ chiều, tham mưu trường và một số sĩ quan sang Sơn Chà đi tàu ḍng dân sự, một số khác thi tự động về nhà lo cho gia đ́nh.”[39]

 

    Hành động gian manh và lươn lẹo để lẩn tránh khỏi phải ở mặt trận của ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi đă khiến cho Phó Đề Đốc Thoại nêu lên thắc mắc:

 

    Ban tham mưu gồm có ai? Máy truyền tin ở đâu? Liên lạc với tướng Trường bằng cách nào? Chỉ huy  đơn vị nào và bằng cách nào?” [40]

 

    Như vậy rơ ràng là chuyện ông Tướng Thi đề nghị thành lập bộ chỉ huy lưu động trên một chiến tầu ở ngoài khơi chỉ là cái cớ để cho ông ta lẩn tránh, khỏi phải ở lại Huế v́ lúc đó Huế đang khẩn trương và rất có thể xẩy ra những trận đánh khốc liệt giống như hồi Tết Mậu Thân. Thế rồi, khi lên một chiến tầu của Hải Quân ở ngoài khơi, ông lại t́m cách đi Đà Nẵng. Ông bỏ đi rồi, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương không có người chỉ huy, các đơn vị ở trên bộ đang đụng trận không có người chỉ huy tổng quát, không được sự phối hợp để xin pháo binh hay hải pháo yểm trợ. Họ phải chiến đấu lẻ loi trong tuyệt vọng và cuối cùng phải đầu hàng. Đồng thời, cả một trăm nhân viên trong Bộ Tư Lịnh Tiền Phương của ông cũng rơi vào t́nh trạng như rắn mất đầu. Trong khi đó, khi về tới Đà Nẵng, ông tướng Da-tô này lại t́m một nơi an toàn để lẩn tránh khỏi phải ở mặt trận cùng với anh em quân nhân dưới quyền để đương đầu với Bắc quân:

 

    Sau khi có lịnh bỏ Huế, tướng Thi ra lịnh không rơ ràng nên các đơn vị tự động tan hàng và từ đó ông không c̣n điều động các đơn vị được nữa nên tự nghĩ hết trách nhiệm tại tiền phương cho nên khi xuống chiến hạm tại Thuận An ông ra lịnh đưa ông về Đà Nẵng. Ngày hôm sau Liên Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân chỉ định một tuần dương đỉnh WPB đưa tướng Thi về Đà Nẵng. Sau khi tướng Thi về tới Đà Nẵng, Lỉên Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân (ở), Thuận An của thiếu tá Hy và Hải Đoàn Đặc Nhiệm của trung úy Uyển vẫn c̣n tiếp tục vớt quân dọc theo bờ biển Bắc Vĩnh Lộc. Việc rước người của các chiến hạm Hải Quân tại cửa Thuận An đă xẩy ra trong sự hỗn loạn v́ quân trên bờ không có người chỉ huy. Ngoài ra, Bộ Tư Kịnh Tiền Phương cũng không thấy xin phi vụ nào oanh tạc hoặc được pháo binh làm chậm sự tiến quân của địch, cho nên các chiến hạm khi rước quân bị địch pháo thường xuyên. Hải Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân không nhận được lịnh yểm trợ hải pháo. Chính v́ lư do đó mà 4 (bốn) tiểu đoàn tác chiến của Thủy Quân Lục Chiến  không được sự yểm trợ cần thiết để lên chiến hạm và đầu hàng địch sau khi cạn đạn. Sau khi các đơn vi Bắc Hải Vân tan ră, tướng Trưởng ra lịnh tướng Thi dùng một lữ đoàn TQLC để trấn giữ đèo Hải Vân. Nhưng thay v́ ở đèo Hải Vân, ông lại bay lên đài kiểm báo Không Quân (người Mỹ thường gọi là đài Panama) trên đ́nh núi Sơn Chà, ở tại đó và từ đó ông gọi điện thoại cho đại tá Lê Bá Khiếu, trưởng pḥng 3 của Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn I gởi lên cho ông một sĩ quan thuộc pḥng 3 và một máy PRC 25 để làm Bộ Tư Lịnh Hành Quân của Quân Đoàn I. Một trăm nhân viên của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương lên chiến hạm tại Thuân An về đến Đà Nẵng không ai rơ số phận ra sao.”[41]

 

    Một ông tướng Da-tô khác cũng hèn nhát t́m cách trốn khỏi mặt trận giống như ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và trốn sớm hơn ông Tướng Lâm Quang Thi tới hai ngày. Đó là Thiếu Tường Hoàng Văn Lạc đang nắm giữ chức Tư Lệnh Phó Quân Khu I. Ngay từ ngày 26/3/1975, ông tướng Da-tô này đă t́m cách lẩn trốn ra khỏi mặt trận để về Sàigon rồi ở lại đây cho đến ngày ông chuồn ra ngoại quốc. Thời điểm này cho chúng ta thấy rơ là ông Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc đă tính bài cao chạy xa bay trước ngày Giám Mục Phạm Ngọc Chi nhờ ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi chuyển đề nghị yêu cầu Tướng Trưởng “bỏ ư định pḥng thủ thành phố Đà Nẵng”. Như vậy, ta có thể kết luận rằng hoặc là bản chất hèn nhát của cá nhân ông Tướng Hoàng Văn Lạc đă khiến cho ông phải tính bài trốn chạy khỏi mặt trận càng sớm càng tốt, hoặc là ông đă biết rơ là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă chuyển sang lập trường chủ ḥa để làm hoà với chính quyền Hà Nội. Có thể là cả hai. Chuyện ông Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc bỏ chạy được Phó Đề Đốc Thoại kể lại với nguyên văn như sau:

 

    Người phụ tá quan trọng thứ hai của tư lịnh Quân Đoàn I là tư lịnh phó Quân Khu I, thiếu tướng Hoàng Văn Lạc… Khi tỉnh Quảng Ngăi và Quảng Tín bắt đầu bị áp lực địch, tướng Lạc đề nghị tướng Trưởng để ông về Sàig̣n tŕnh Tổng Tham Mưu về t́nh h́nh Quân Khu I để xin tăng viện. Tướng Trưởng nghĩ rằng ông đi và về trong (một) ngày nên chấp thuận. Tướng Lạc về Sàig̣n ngày 26 (tháng 3 năm 1975). Sau khi xong công tác, tướng Lạc báo cáo không có phương tiện để trở về Đà Nẵng và ở lại Sàig̣n cho đến khi Đà Nẵng thất thủ.” [42]

 

    Trung tướng Trưởng biết là ông không c̣n hy vọng ǵ về sự có mặt của tướng Lạc ở bên ông trong những giờ phút quyết định sắp tới, khi trung tướng Lê Nguyên Khang bay ra Đà Nẵng vào ngày cuối, trước khi Đà Nẵng bắt đầu bị địch tấn công, và cho tướng Trưởng biết (có sự hiện diện của tác giả) là ông có gặp tướng Lạc tại Bộ Tổng Tham Mưu chiều ngày hôm trước (tức ngày 27/3/1975) và có mời tướng Lạc cùng đi với ông cùng máy bay ngày hôm sau (tức ngày 28/3/1975) để ra Đà Nẵng, tướng Lạc đă trả lời là v́ “c̣n chút việc phải giải quyết ở Sàig̣n nên không đi theo tướng Khang được.” [43]

 

    Tướng Da-tô Lâm Quang Thi là Tư Lịnh Tiền Phương kiêm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn I và Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc là Tư Lịnh Phó Quân Khu I. Với những chức vụ quan trọng như vậy, hai ông tướng này giống như hai cánh tay của Tướng Trưởng. Từ khi hai ông tướng này bỏ đi rồi, Tướng Trưởng như mất luôn cả hai cánh tay, không c̣n cựa quạy được ǵ nữa. Việc này được coi như nguyên nhân chính (ṿng khoen gốc) gây ra những hậu quả dây chuyền (những ṿng khoen kế tiếp) với diễn biến như sau:

 

    1.- Tướng Trưởng buộc ḷng phải cho giải tán Bộ Tham Mưu Quân Đoàn I của ông:

 

    Tư Lịnh Quân Đoàn I đă ra lịnh Bộ Tham Mưu Quân Đoàn tan hàng từ chiều ngày 28. V́ không c̣n Bộ Tham Mưu Quân Đoàn nên các đơn vị quân đội cũng như tiểu khu như rắn mất đầu, không c̣n biết phải làm ǵ và cứ mỗi khi liên lạc không được với cấp chỉ huy trực tiếp là quân sĩ tự động bỏ súng và t́m cách thoát thân. Theo tôi, số phận miền Trung đă được định đoạt vào lúc 5 giờ chiều ngày 28.”[44]

 

    2.- Hậu quả trực tiêp là quân lính theo gương hai ông tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc cũng bỏ đơn vị t́m cách thoát thân, rơ rệt nhất và trước nhất là ở Sư Đoàn 1 Bộ Binh. T́nh trạng này đă khiến cho vị tướng tư lệnh sư đoàn là Tướng Nguyễn Văn Điểm ra lệnh giải tán sư đoàn của ông:

 

    Với 4 trung đoàn đă từ từ bỏ vị trí pḥng thủ chung quanh Huế và đa số các đơn vị đă tan hàng từ sáng sớm trước khi có lịnh di tản vào buổi chiều.” (Trang 269)  “Tại Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn 1 phía Nam thành phố Huế, tướng Điềm họp các đơn vị trưởng và ra lịnh tan hàng. Kể từ đó  các quân nhân không c̣n giữ được kỷ luật cần thiết để lên chiến hạm hoặc di chuyển một cách có trật tự về hướng Nam theo đường bộ.”[45]

 

    Chúng ta không biết với quân số hơn mười ngàn quân nhân có vũ trang đầy đủ, trong đó có rất nhiều tín đồ Da-tô mang sẵn bản chất Da-tô với những đặc tính dă man của truyền thống thập tự quân, chắc chắn là  có những hành động ghê tởm giống như những người lính đồng đạo của họ đă từng hành động Âu Châu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải trong thời Trung Cổ, ở Croatia trong những năm 1941-1945, ở miền Bắc Trung Bộ và ở Bắc Bộ  trong những năm 1946-1954 và ở Rwanda trong năm 1994.

 

 

 

 

Lê Nguyên Khang    Hoàng Xuân Lăm

 

 

 

 

    (....Ít lâu sau khi họ đến Guam, nhiều tướng bại trận (hay tự sát hay bị giết như NĐD, NDVN) bị nhốt trong những chuồng sắt. Tướng Toàn, nguyên tư lệnh Quân khu III, kiệt sức, bị đẩy vào giữa nhóm, ngồi xuống một ghế quay. Tướng Tưởng, người bảo vệ Đà Nẵng đau mắt nặng, không c̣n trông thấy chiếc ghế. Một lúc sau, một sĩ quan hải quân Mỹ vào, bắt ông ta cởi binh phục. Một viên tướng hỏi: chúng tôi có thể đeo huân chương không? Người Mỹ trả lời: Không! Các anh không c̣n quân đội, không c̣n Tổ quốc!”(tr 376)…. 

  

Các ṿng khoen kế tiếp của hậu quả này là:

 

    3.- Sư Đoàn 2 dưới quyền tư lệnh của Tướng Trần Văn Nhật, với quân số trên mười ngàn quân mà khi rút lui khỏi Chu Lai để ra Cù Lao Re chỉ c̣n lại  khoảng 4 ngàn người. .[46]

 

    4.- Sư Đoàn 3 dưới quyền tư lệnh của Tướng Nguyễn Duy Hinh với quân sồ khoảng 14 ngàn quân nhân tại ngũ vào ngày  23/3/1975 đóng ở Hoà Khánh c̣n hiện diện đủ, một tuần lễ sau khi rút về tới Bà Rịa chỉ c̣n lại khoàng một ngàn.[47] 5.- Sư Đoàn 1 Không Quân dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh với nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị bạn hành quân trong vùng để yểm trợ, nhưng viên tướng này đă theo gương hai ông tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc lẩn tránh nhiệm vụ, t́m nơi an toàn để ẩn ḿnh, cho nên sau đó ông mới bị Bộ Trường Quốc Pḥng là Tướng Trần Văn Đôn bắt nhốt giam ở Bộ Tổng Tham Mưu cùng với Tướng Lâm Quang Thi:

 

    “Theo lời Không Đoàn Trưởng đại tá Vượng th́ khu trục cơ phản lực A-37 khiển dụng cũng c̣n lại ít nhất là 40 chiếc. Như thế mà Quân Đoàn không có điều động một phi vụ oanh kích nào để giải tỏa áp lực của địch, có thể v́ không có vị tướng nào có mặt trong trung tâm hành quân Quân Đoàn, chỉ c̣n sĩ quan tham mưu, không có thẩm quyền quyết định.”[48]

 

    Sau khi gởi phúc tŕnh đi, tôi đi thăm trung tướng Trưởng đang nghỉ tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa. Tướng Trưởng bắt tay tôi rồi hai tay ôm choàng lấy tôi, hai mắt ông rướm nước mắt. Sau đó tôi có đến Bộ Tổng Tham Mưu, và đến nơi giam giữ một số tướng lănh với mục đích thăm tướng Lâm Quang Thi và tướng Nguyễn Đức Khánh. Lúc đó tôi không biết ai ra lệnh giữ các tướng này. Sau này gặp lại trung tướng Trần Văn Đôn th́ tôi được biết đó là lịnh của tướng Đôn.” [49]

 

    6.- Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến dưới quyền chỉ huy của tướng Bùi Thế Lân cũng như 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân và 1 Lữ Đoàn Thiết Giáp không được sự phối hợp hành động từ Bộ Tham Mưu Của Quân Đoàn I cho nên phải hoạt động đơn độc không được các phi pháo yểm trợ. T́nh trạng này khiến cho quân lính rơi vào cảnh chiến đấu đơn phương trong tuyệt vọng. Cuối cùng, họ, mất hết tinh thần và phải t́m đường tháo chạy và mạnh ai người ấy chạy, chạy càng mau càng có hy vọng thoát khỏi nơi nguy hiểm. Thế là các đơn vị này hoàn tàn ră ngũ.

 

    7.-  Căn Cứ  Yểm Trợ Đà Nẵng Tiếp Vận có quân số trên một ngàn người, nhưng khi tập họp (vào chiều tối ngày 28/3/1975?) chỉ c̣n lại có  70 người:

 

    “Căn cứ có quân số trên một ngàn người nhưng khi tập họp chỉ c̣n 70 người. Sáng sớm ngày 29, khi chiến đỉnh của đại tá Thiều rời căn cứ ra vịnh Hàn, th́ đă có nhiều ghe trong Vịnh treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.”[50].

 

    8.- Tất cả các đơn vị địa phương quân và các tiểu khu tại các tỉnh trong Quân Khu I theo gương hai ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc cũng t́m cách lẩn trốn nhiệm vu, rời bỏ hàng ngũ để về với gia đ́nh hay t́m nơi an toàn để ẩn thân.

 

    Phân Tích Bản Chất của Các Tướng Tá Da Tô

 

    Trở lại chuyện hai ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc lẩn trốn nhiệm vụ khi đang phải đụng trận, người viết không biết rơ hai ông tướng Da-tô này  hành động như vậy là ở vào trường hợp nào trong hai trường hợp:

 

    a.- Họ đă được Hội Đồng  Giám Mục rỉ tai, ra lệnh không nên chống cự nữa để Hội Đồng Giám Mục Việt Nam c̣n có thể dễ dàng xoa dịu ḷng căm phẫn của chính quyền Hà Nội đối với Giáo Hội La Mă.

 

    b.- Do bản chất hèn nhát khiếp đảm, sợ phải đụng trận.

 

    Có thể là ở vào trường hợp a.  V́ thế mà kể từ ngày 26/3/1975, các ông tướng Da-tô như Lâm Quang Thi, Hoàng Văn Lạc đă t́m cách lẩn trốn nhiệm vụ chạy trước. Rồi khi quân đội miền Bắc tiến đánh đến vùng Củ Chi - Tây Ninh, th́ ông Tướng Da-tô Lư Ṭng Bá, tư lệnh Sư Đoàn 25, trú đóng ở đây, cũng bỏ đơn vị mà chạy. Nhưng không may, ông lại bị quân đội miền Bắc bắt được ở một nơi trong cánh đồng lúa cách đó không bao xa (chứ không tại nơi ông trú đóng).

 

    Có người cho rằng các ông tướng, tá và sĩ quan Da-tô lẩn trốn như vậy là ở vào trường hợp B. Đặc tính hèn nhát khiếp sợ phải đụng trận đă có sẵn trong những người mang ḍng máu tham lam ích kỷ, úy tử tham sinh của những người “đi đạo lấy gạo để ăn “ và “theo đạo để tạo danh đời”.

 

    Căn bệnh ích kỳ, tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực là cha đẻ ra những chứng bệnh hèn nhát, tham sống sợ chết và đội trên đạp dưới. Chính v́ vậy mà không bao giờ họ nghĩ đến chuyện đi ra khỏi văn pḥng của bộ chỉ huy để dấn thân lăn lộn với quân nhân dưới quyền trong những khi giải trí cũng như trong những giờ phút gay go phải đối đầu với hỏa lực tấn công của địch quân. Trường hợp Trung Tá Da-tô Trần Thanh Chiêu tư lệnh Sư Đoàn 21 trú đóng trong vùng Tây Ninh bị tấn công và bị tổn thất nặng nề vào tháng 1/1960 cũng v́ lẽ này. Thảm bại này được sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 ghi lại với nguyên văn như sau:

 

    26/1/1960: TÂY NINH, 02G30: Trận Tua Hai (Trảng sập hay sụp). “Tua Hai” tức tháp canh thứ hai, kể từ Tây ninh, trên Quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ khoảng 7 cây số. Đêm 25 rạng 26/1 (27 tháng chạp âm lịch) khoảng  200 VC độ kích Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 32 của Sư Đoàn 21 VNCH (nguyên là Trung đ̣n 39, Sư đoàn 13 khinh chiến). Lực lượng đồn trú có khoảng 250 người. Tấn công từ hướng Bắc, VC vượt qua các trạm gác, xuyên qua doanh trại của các Tiểu đoàn 1 và 2, và chỉ bị chặn lại ở Tiểu đoàn 3. Giao tranh diễn ra trong khoảng một tiếng đồng hồ. 23 quân nhân VNCH chết, mất một số lớn vũ khí (2000?) (Gravel, 1:338; Báo cáo của Williams, 20/3/1960; FRUS, 1958-1963, I:342-4)

 

    Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung-tá Trần Thanh Chiêu, bị cách chức, Thiếu-tá  MẪN (?), trung đoàn trưởng bị giáng xuống đại úy, không được thăng thưởng trong ṿng 5 năm.”[51]

 

    Đại Tá Da-tô Bùi Đ́nh Đạm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 dưới quyền Tư lệnh Quân Đoàn IV của Thiếu Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao trong trận Ấp Bắc xẩy ra vào tháng 1/1963 cũng ở trong t́nh trạng giống như vậy. Trận đánh này được sách sử  ghi nhận như sau:

 

    2/1/1963: MỸ THO: Trận Ấp Bắc.- Hai đại đội VC giữ một ấp chiến đấu, khoảng 14 cây số Tây Bắc Mỹ-tho, và 35 dặm Tây Nam Sàig̣n, khiến quân lực VNCH, có thiết vận xa M.113, phi cơ, pháo  binh, và quân số gấp 4 lần bị thiệt hại nặng. Dù chết 19 chết, 33 bị thương, kể cả một đại úy và 1 trung sĩ cố vấn Mỹ, 5 trực thăng bị bắn rơi. (FRUS 1961-1963, III:1-2; Sheehan 1988, tr. 261-2)

 

    Trong đêm, lực lượng Việt Cộng an toàn rút khỏi Tân Thới về Đồng Tháp Mười.

 

    Phía VNCH, khoảng 80 binh sĩ chết, 100 bị thương, 3 cố vấn Mỹ chết và 8 bị thương. [Tin chính thức của VNCH: 63 chết, 109 bị thương]. Xem báo cáo của Trung Tá John P. Vann ngày 9/1/1963: Kennedy Library, NSF, Vietnam country Series, 1/63)

 

    Đây là trận đánh được cơ quan tuyên truyền  Cộng Sản và giới báo chí Mỹ - điển h́nh là NEIL SHEEHAN, phóng viên của hăng thông tấn UPI – coi như một chiến thắng lớn và kiểu mẫu của Cộng Sản trong cuộc chiến Việt Nam. Theo Sheehan, người tự nhận là học tṛ của Trung Tá Vann, Cố Vấn Sư Đoàn 7 BB lúc đó, các sĩ quan VNCH hèn nhát, không chịu tấn công. Cấp tư lệnh - đặc biệt là Đại Tá Bùi Đ́nh Đạm, tư lệnh Sư Đoàn 7 và Thiếu Tướng Cao, tư lệnh Quân Đoàn IV từ tháng 12, 1962, những người mà Vann và Sheehan gọi là “raggedy- ass little bastards” (1988, tr.262) – đă chủ trương tránh chạm trán với Việt Cộng; và khi đụng trận, chỉ bày vẽ sao cho Việt Cộng rút lui êm thắm. (Sheehan 1988, tr. 271-7)” [52]

 

    Căn bệnh ích kỷ, tham lợi háo danh, hèn nhát, úy tử tham sinh và đội trên đạp dưới  của các ông tướng tá Da-tô gây ra t́nh trạng ră ngũ tan hàng như trên dễ dàng lây truyền sang các tướng tá  khác như những vết dầu loang. Cũng v́ thế mà sau ngày 11/3/1975, toàn bộ Quân Đoàn II tại Quân Khu II  dưới quyền tư lệnh của Tướng Phạm Văn Phú bị tan ră hoàn toàn, và chưa đầy 3 tuần lễ sau, tới chiều tối ngày 28/3/1975, toàn bộ quân lính Quân Đoàn I trong Quân Khu I dưới quyền tư lệnh của Tướng Ngô Quang Trường cũng tan ră hoàn toàn. Rồi sau đó, các tỉnh từ Quy Nhơn trở vào Nam, mới chỉ phong thanh nghe thấy quân đội miền Bắc bắt đầu rục rich di chuyển đến nơi nào th́ quân lính miền Nam ở nơi đó đă vội vàng co gị bỏ chạy.

 

    Chỉ có một trường hợp duy nhất là khi quân đội miền Bắc tiến tới Xuân Lộc (Long Khánh) vào ngày 9/4/1975 mới gặp sức kháng cự mănh liệt của Sư Đoàn 18 dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo (không phải là tín đồ Da-tô). Nhờ có pháo binh loại 130 ly từ căn cứ Biên Hoà và không quân yểm trợ hữu hiệu, cho nên sư đoàn này đă cầm cự được khoảng một tuần lễ. Nhưng rồi tới ngày 16/4/1975 (theo Wikipedia, the free encyclopedia nói về Trận Đánh Xuân Lộc - Battle Of Xuân Lộc), ngày đó, các ổ trọng pháo cũng như 6 chiến đấu cơ F-5 và 14 phản lực A-37 tại căn cứ Biên Ḥa bị hư hại nặng v́ bị pháo kích. T́nh trạng này khiến cho khả năng yểm trợ của không quân và của pháo binh bị tê liệt. V́ thế mà sức kháng cự của Sư Đoàn 18 suy yếu lần cho đến ngày 20/4/1975 th́ toàn bộ sĩ quan và quân lính c̣n lại phải buông súng đầu hàng.

 

    Kể từ ngày này, hầu hết những cấp chỉ huy cao cấp trong chính quyền cũng như trong quân đội miền Nam chỉ c̣n biết lo thu vén tiền bạc, của cải và d́u dắt vợ con để chạy cho thoát thân. Chức vụ càng lớn càng lo chạy trước:

 

    Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chính thức tuyên bố từ chức để chuẩn chạy trốn. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương được đôn lên làm tổng thống. Tiếp theo là Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm cũng từ chức để chuẩn bị “chuồn”. Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn được đưa lên làm thủ tướng thay thế. Ngày 25/4/1975,Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vội vă lên máy bay chuồn ra ngoại quốc. Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và các tướng lănh như Cao Văn Viên (Tổng Thâm Mưu Trưởng), Đặng Văn Quang (Cố Vấn An Ninh Phủ Tổng Thống), Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Khu 3 kiêm Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô), Nguyễn Khắc Binh (Tổng Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia), Đỗ Kiến Nhiễu (Đô Trưởng Sàig̣n), Ngô Quang Trưởng (Tư Lênh Vùng 1 kiêm Quân Khu 1), Lâm Quang Thi (Tư Lệnh Phó Quân Đ̣an I Kiêm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Tiền Phương), Hoàng Văn Lạc (Tư Lệnh Phó Quân Khu I) Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân), Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Nhẩy Dù), Dư Quốc Đống, Vĩnh Lộc, Đồng Văn Khuyên, Phạm Quốc Thuần, Vĩnh Lộc, Ngô Du, Lữ Lan, Lê Nguyên Khang, Bùi Đ́nh Đạm, Nguyễn Văn Minh (Minh Đờn), Trần Văn Trung (Chiến Tranh Chính Trị), Nguyễn Cao Kỳ, Huỳnh Bá Tĩnh, Nguyễn Hữu Tần, Vơ Xuân Lành, Nguyễn Ngọc Oánh,  v.v... đều lũ lượt kéo nhau đào ngũ chạy ra hải ngoại. Các thượng nghị sĩ và dân biểu quốc hội như Nguyễn Văn Chức, Hùynh Văn Cao, Nguyễn Văn Ngải, Phạm Nam Sách, Trương Tiến Đạt, Hoàng Xuân Tửu, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Nguyễn Bá Lương, Nguyễn Văn Ngải, Nguyễn Gia Hiến, . v.v.., bỏ cờ, bỏ lính, bỏ Thượng Viện, bỏ Quốc Hội, bỏ dân chúng, kẻ trước người sau theo nhau vắt chân lên cổ đào tẩu, giống như tàn quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tranh nhau chạy khỏi Hoa Lục vào mùa Thu năm 1949.

 

    Miền Nam, đặc biệt là dân chúng thành phố lớn ở miền Nam, như "rắn đă mất đầu". Vào những ngày trong tuần lễ chót của tháng 4/1975, từ Phan Rang trở vào Sàig̣n, quân lính lang thang lếch thếch cởi bỏ quân phục, liệng bỏ vũ khí và quân trang, lo chạy thoát thân. Cảnh sát, công an, mật vụ cũng biến dạng. Chỉ c̣n lại đám dân đen ngơ ngác, lặng nh́n giang sơn đổi chủ. T́nh trạng thảm thương này được ông Da-tô Nguyễn Văn Lục ghi lại với nguyên văn như sau:

 

    "Sàig̣n 30 tháng 4, bề ng̣ai cũng như một Baghdad ngày nay. Người đi bỏ chạy lấy người, kẻ ở lại lợi dụng cơ hội vơ vét. Cứ nh́n xem những người ra đi đủ để bắt mạch được miền Nam đang hấp hối.

 

    Trước đó ông Thiệu đă gửi tài sản gia đ́nh của ông bằng đường tầu thủy sang Đài Loan và Canda, gửi vàng sang Paris giá trị 5 triệu đô la. Tối ngày 25 tháng 4, Polgar ra lệnh cho mật vụ đi ba xe đến đón ông Khiêm ở Bộ Tổng Tư Lệnh đi Tân Sơn Nhứt. Ít phút sau, ông Thiệu tới trên một xe Mercedès. Timmes ngồi cạnh ông Thiệu và yêu cầu ông ngồi thụp xuống sàn xe, v́ sợ lính nổ súng. Timmes hỏi xă giao ông Thiệu: Phu nhân và tiểu thư khỏe không ạ? Ông Thiệu trả lời, "Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ" (Trích Frank Snepp, Decent Interval, trang 167). Nhớ lại, trước đó gần một tháng, Thủ Tướng Hoàng Thân Sirik Matak biên một lá thư từ chối tỵ nạn. Bức thư này c̣n lưu trữ trong Văn Khố Thượng Viện Hoa Kỳ. Sau đó, Ḥang Thân Matak đă hy sinh cùng với Phó Thủ Tướng Long Beret . (Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ trên Tiếng Sông Hương, 2000). Lá thư của Ḥang Thân Sirik Matak có đọan viết như sau: "Rất tiếc là trong hoàn cảnh này, tôi khổng thể ra đi một cách hèn nhát như vậy.... (Trích Tiền Phong số 658, trang 20)

 

    Sài G̣n lúc ấy là một băi rác đủ mọi thứ vô thừa nhận. "Sao Mai", quân trang, quân dụng, giầy bốt, mũ sắt, huân chương, tài liệu, sách vở vứt tung tóe, sắc đeo lưng, lựu đạn, súng ống. Dọc theo đường Công Lư ra đến Tân Sơn Nhứt... Người ta vứt đủ thứ ra đường. Sự hỗn loạn, sự sợ hăi trên mỗi khuôn mặt và trên bằng chứng là những món đồ vứt lại. Chưa kể đến xe díp, xe tải và cả xe tăng nữa. Chỉ có máy bay và tầu bè là phương tiện dùng để di tản là không c̣n để lại. Cũng không dám kể đến hồ sơ mật đủ loại, hồ sơ nhân viên. Theo Trung Tá Nguyễn Tuệ, điều hành văn pḥng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, với bài viết: Ngày Tháng Cũ (Tiếng Sông Hương, 2000) trước đó một tháng, Mỹ đă lo ngại và đề nghị Tổng Cục Tiếp Vận nên đem toàn bộ hố sơ tại Trung Tâm Quản Trị gửi sang căn cứ Utapao (Thái Lan) của Không Quân Mỹ. Phía Việt Nam, h́nh như không quan tâm đến vấn đề này. Nói chung, toàn bộ tài sản của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Ḥa để rơi vào tay Cộng Sản.

 

    Về phía CIA, họ đă chuyển hồ sơ mật đi trước. Cái ǵ không chuyển được đă kịp thời đốt. Theo Frank Snepp, họ đă thiêu hủy 14 tấn hồ sơ liên quan đến hoạt động t́nh báo và hồ sơ nhân viên.

 

    Phía Ṭa Khâm Sứ (của Giáo Hội La Mă) ở Sàig̣n, họ đă chuyển về Vatican 24 thùng liên quan đến t́nh h́nh Việt Nam và 3 thùng liên quan đến Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (chứng từ của Linh-mục Thụ, thư kư Ṭa Khâm Sứ.)

 

    Ṭan bộ hồ sơ từ miền Trung đến Sàig̣n xuống lục tỉnh, chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa chuyển đi được mấy thùng?.Toàn bộ hồ sơ của Bộ Quốc Pḥng, của quân đội nói chung được mấy thùng? Toàn bộ hồ sơ của các bộ, văn pḥng Thủ Tướng, văn pḥng Tổng Thống chuyển đi được mấy thùng? Hay ít lắm cũng đốt đi được mấy thùng? Xin Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Trần Thiện Khiêm lên tiếng. Xin các tướng lănh, các cựu bộ trưởng lên tiếng.

 

   Về phía dân chúng, cảnh xô bồ náo loạn như đến ngày tận thế. Người người hốt hoảng chạy, chạy xuôi, chạy ngược. Thật khác xa với h́nh ảnh ra đi vĩ đại, thong thả như đi du lịch, đi tắm biển. Taxi, xe nhà, xe gắn máy chở đầy người, chất đày của cải phóng như lao trên đường phố. Bàn ghế, giấy tờ, xe cộ ngổn ngang vứt bừa băi dọc đường. Vợ con sĩ quan, công chức lạc nhau, chồng, vợ, con cái bị bỏ lại. Xô nhau mà chạy, chạy bán sống bán chết. Ai là người có can đảm, có ḷng ở lại đương đầu với t́nh thế? Ai là người lúc bấy giờ làm kẻ hốt rác miền Nam? Kẻ ra đi hay kẻ quyết tâm ở lại? Tướng Dương Văn Minh là người cuối cùng ở lại cúi xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam (chữ của Vân Xưa, bút hiệu của cụ Hồ Sĩ Khuê)...

 

    Ngày 20 tháng 3, Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Đ̣an I, rời bỏ thành phố Huế, di tản chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu mất lỉên lạc. Ngày 29 tháng 3, Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh, Đại Tá Duệ, Đại Tá Kỳ và các sĩ quan Bộ Tham Mưu (Quân Đ̣an 1) đă lên tầu Hải Quân 404, dời Đà Nẵng vào Cam Ranh. Đà Nẵng bị bỏ ngỏ để mặc cho quân lính mạnh ai nấy chạy. Đến Cam Ranh, các tướng lănh giữ kín việc về Sàig̣n. Chuẩn Tướng X. lên bong tầu ra lệnh cho Thủy Quân Lục Chiến dời tầu, nói dối là sẽ quay lại Vùng 1 Chiến Thuật. Khi người lính cuối cùng rời khỏi tầu xuống Cam Ranh th́ chiến hạm vội chặt neo chạy về Sàig̣n vào lúc 7:30 tối ngày 31/3/1975. Thủy Quân Lục Chiến đă bị lừa phản bội vào phút chót.

 

    Ngày 27/4/1975, Đại Tướng Cao Văn Viên bỏ chạy, chỉ để lại một lá thư từ chức trên bàn làm việc và đề nghị Tướng Đồng Văn Khuyên thay thế ông (Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ, Tiếng Sông Hương, 2000)

 

    Ngày 28/4/1975, tất cả những vị tướng sau đây đă bỏ trốn: Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (Biệt Khu Thủ Đô), Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Đ̣an 3), Trung Tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân), Chuẩn Tướng Trần Đ́nh Thọ, Đại Tá Nguyễn Văn Lung.

 

    Sài G̣n bị bở ngỏ trước khi Cộng Quân tiến vào ngày 30/4/1975. Ông Thiệu bỏ đi đầu tiên và cứ thế tùy theo cấp bậc lớn nhỏ chuồn theo.

 

    Trong khi đó, theo lệnh Ṭa Nhà Trắng bắt buộc Đại Sứ Martin phải lên máy bay. Ông là một trong những người Mỹ cuối cùng đă lên máy bay vào lúc 5 giờ sáng ngày 30/4/1975. 10 giờ 30 ngày 30/4/1075, Cộng Sản vào chiếm Dinh Độc Lập. Cuộc chiến kết thúc."[53]

 

    Cho măi đến 8 giớ tối ngày 28/4/1975, Đai Tướng Dương Văn Minh mới được Đại Sứ Hoa Kỳ Graham A. Martin và Đại Sứ Pháp Mérillion vận động và làm áp lực với Thổng Thống Trần Văn Hương phải thoái vị để nhường  chức vụ tổng thống cho ông. Vào lúc này, quân đội miền Bắc đă  tiến vào tới Tân Cảng, G̣ Vấp và  nhiều ngả khác mà không gặp một sự kháng cự nào. Như vậy  là việc đưa Đại Tương Dương Văn Minh lên ngôi vị tổng thống vào lúc đó chỉ có một mục đích duy nhất là để chuẩn bị một cái thế chuyển quyền cho chính quyền Hà Nội một cách êm thắm hầu tránh khỏi xẩy ra cảnh bom đạn làm hao tổn sinh mạng và tài sản của hàng triệu người dân Sàig̣n một cách vô ích, đúng như cụ Vân Xưa Hồ Sĩ Khuê đă nhân định:

 

   Tướng Dương Văn Minh là người cuối cùng ở lại cúi xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam.”.

 

    Trong t́nh huống này, những người thấu hiểu lịch sử thế giới đều cho rằng việc hai ông đại sứ Hoa Kỳ và đại sứ Pháp cố gắng giàn xếp đưa ông Dương Văn Minh lên cầm quyền th́ cũng giống  như việc giàn xếp những người có thầm quyền c̣n lại trong chính quyền Đức Quốc Xă vào đầu tháng 5/1945 trong việc đưa Tướng Gustav Jodt lên với danh nghĩa Tổng Tư Lệnh Quân Đội và nhân dân Đức để sáng sớm ngày 7/5/1945 ông phải thân hành đến Bộ Tổng Hành Dinh của Đại Tướng Eisenhower tại Reims (Đông Bắc nước Pháp) kư nhận đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.[54]

 

    Tất cả những việc làm trên đây của nhóm tín đồ Da-tô và nhóm thiểu số tàn dư phong kiến phản động ở hải ngoại cho chúng ta thấy rơ quyền lợi cũng như niềm vui mừng và nỗi lo âu của họ hoàn toàn trái ngược với quyền lợi cùng niềm vui mừng và nỗi lo âu của đại khối dân tộc Việt Nam ta….

 

    Có một điều thắc mắc là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng* không phải là tín đồ Da-tô, với tư cách Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, vào lúc dầu sôi lửa bỏng lại ở trong t́nh trạng th́ giờ hết sức quư báu và vô cùng eo hẹp mà TẠI SAO ông lại dành ra tới cả một giờ đồng hồ thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để báo cáo cho Đức Giám-mục Phạm Ngọc Chi biết là ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng?

 

    Tướng Trưởng quyết định ở lại một ḿnh trong trại Thủy Quân Lục Chiến ở Non Nước. Ông đưa phương tiện di chuyển duy nhất c̣n lại của ông cho tướng Khánh. Sau đó tướng Trưởng lấy một jeep có tài xế, quân cảnh và đi ra khỏi doanh trại và đến ṭa Tổng Giám Mục Địa Phận Đà Nẵng để thăm Đức Cha Phạm Ngọc Chi và trở về khoảng một tiếng sau.

 

    Tướng Trưởng cho Đức Cha Chi biết là ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng. Trước khi bỏ Huế tướng Thi cũng đi từ giă Đức Cha Điền, địa phận Huế.” [56]

 

    Không thấy nói Tướng Truởng đi thăm một ông Sư nào cả. Sự kiện này chỉ có thể giải thích được rằng chính quyền miền Nam mà tướng Trưởng đang phục vụ lúc bấy giở là một chế độ đạo phiệt Da-tô nằm dưới quyền chỉ đạo của các ông giám-mục trong Hội Động Giám Mục Việt Nam. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng quốc gia nào có tín đồ Da-tô được Giáo Hội La Mă đưa lên cầm quyền th́ ở đó:

 

    1.- Có vấn nạn Giáo Hội La Mă hay tệ nạn lănh chúa áo đen,

   

    2.- Chính quyền trung ương phải thường xuyên báo cáo t́nh h́nh và những việc làm của họ cho Hội    Đồng Giam Mục tại quốc gia đó.

 

    3.- Các nhà chức trách địa phương khi nhận nhiệm sở phải đến tŕnh diện vị Giám mục cai quân địa phận địa phương hay linh mục tai họ đạo nơi nhiệm sở của họ, và

 

    4.- trong thời gian phục vụ tại địa phương, họ phải thường xuyên báo cáo t́nh hinh trong phạm vi trấn nhậm cùng những việc làm của họ cho các vị chức sắc Da-tô của Giáo Hội tại địa phương họ làm việc.

 

    Miền Nam Việt Nam trong thời ông Ngô Đ́nh Diệm và ông Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền ở vào t́nh trạng này. V́ thế mới có chuyện giữa lúc t́nh h́nh đang vô cùng khẩn trương và thi giờ hết sức eo hẹp vào chiếu tối ngày 28/8/1975 mà Trung Tướng Ngô Quang Trưỡng vẫn phải dành ra cả một giờ đồng hồ, bất chấp cả nguy hiểm ở dọc đường, thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để tường tŕnh lên Giám-mục Phạm Ngọc Chi rằng “ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng.”, và chuyện, ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi cũng phải đến từ giă ông Giám Mục Điền rồi mới co gị chạy khỏi Huế.

 

Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, sachhiem.net, ngày 5/4/08

(trích chương 11, cuốn Giáo hội La Mă Lịch sử và Hồ sơ Tội ác)

NDVN, ngày 6/4/08

 

Ghi chú:

 

    Ngụy Tướng Ngô Quang Trưỡng vẫn phải dành ra cả một giờ đồng hồ, bất chấp cả nguy hiểm ở dọc đường, thân hành đến Ṭa Tổng Giám Mục để tường tŕnh lên Giám-mục Phạm Ngọc Chi rằng “ông đă cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng.”, là nhiệm vụ của các Tư lệnh Vùng I, ỊI, III, và IV, tỉnh trưởng, quận trưởng…nhậm chức hay rời nhiệm sở hay bỏ chạy, phải tŕnh diện linh mục, giám mục gần nhất, của thời Diệm – Thiệu Cần Lao Công Giáo.

 

    Giám mục Phạm Ngọc Chi và linh mục Hoàng Quỳnh, đă ngụy hàng để cứu mạng sống của chúng, chứ chúng đâu có thực ḷng theo cách mạng, chúng biết là chúng có đại tội tu di tam tộc làm tay sai Việt gian phản quốc cho thực dân đế quốc Pháp-Mỹ, tàn hại đất nước và sát hại bao nhiêu dân lành và Việt Minh Cộng Sản Đảng.

 

    Hai tên đại Việt gian này, bàn tay đẫm nhiều máu sát hại nhân dân ta, tưởng rằng sẽ được cách mạng tha cho, là ra lệnh cho các chỉ huy quân đội Ngụy VNCH, bỏ súng tháo chạy để dân chúng không bị đỗ máu thêm là do binh vận Cách mang Việt Cộng hứa không giết chúng. Những cán bộ binh vận này, biết rất rơ bọn tướng tá Ngụy VNCH là bọn Việt gian Công giáo và tướng tá hèn nhát đều nghe lệnh linh mục, giám mục địa phương mà thôi! Để rồi Phạm Ngọc Chi và Hoàng Quỳnh phải đền tội chết đói già trong tù

 

    Cũng như tên đại Việt gian TGM Nguyễn Văn B́nh “Đại Viêt gian Tổng giám mục Nguyễn Văn B́nh, đă từng kêu gọi Mỹ tiếp tục oanh tạc cày nát từng tất đất miền Bắc, giết sạch dân chúng miền Bắc, để Ác nhân Nguyễn Văn B́nh lên Thiên đàng, như sau: “ TGM Nguyễn Văn B́nh ở Sàigon, được mọi quan sát viên Tây phương xem là người ôn hoà nhất trong số những nhà lănh đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, mới đây đă chấm dứt  yên lặng khi tuyên bố chống lại việc Mỹ ngưng oanh tạc miền Bắc “( báo Le Monde ngày 22 – 10- 1968 )”, để bảo toàn lực lượng, hắn nhanh tay thực hiện khổ nhục kế và ra lệnh toàn thể linh mục tham  gia mọi công tác thủy lợi, đào kinh tự động dâng hiến (tất cả đều bị trưng thâu , nộp cho nhà nước) tài sản giáo hội như ruộng đất, trường học, nhà thương.v.v..mà Giáo Hội Công Giáo Việt Gian, đă cướp đọat và gầy dựng từ thời thực dân Pháp, Mỹ và Diệm Thiệu, bề mặt tỏ ra hồ hởi tuân hành những chính sách của Đảng và nhà nước, thực hiện những đề án của Ban Tôn Giáo trong thời Lê Duẫn và Lê ĐứcThọ, để mua thời gian cũng cố đạo quân thứ nămchui sâu trèo cao xâm nhập chính quyền và đảng, chờ đợi thực dân đế quốc xâm lược Mỹ-Vatican, bật đèn xanh DBHB (click đọc TÀ ĐẠO LINH MỤC LƯU MINH HOÀNG D̉NG GIUSE NHA TRANG NỔI LOẠN ) 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend