TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THẦY NHẤT HẠNH - TUỔI TRẺ CHÚNG TÔI, NHỊP CẦU GIỮA HUẾ XƯA VÀ NAY


Thich Nhat Hanh

 

THẦY NHẤT HẠNH - TUỔI TRẺ CHÚNG TÔI,

 

NHỊP CẦU GIỮA HUẾ XƯA VÀ NAY

 

 

Tâm Hằng Nguyễn Đắc Xuân

 

 

 

     Vừa qua, trên đường đi t́m tư liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu " Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam ", Giáo sư ItoTetsuji thuộc Đại học Ibaraki ( Nhật Bản ) do Ban Đối ngoại TP, Huế giới thiệu,đă đến gặp và hỏi tôi:

           

    “Được biết ông là một người cầm bút có sáng tác và nghiên cứu lại xuất thân trong Phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam Việt Nam, xin ông cho biết Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam, khởi phát từ đâu và ai là người xướng xuất đầu tiên ?”

     

     Bị hỏi một cách đột ngột nên tôi hơi bất ngờ. Sau một phút tần ngần, nhớ lại chuyện cũ gần 40 năm trước (1965) tôi đáp:

     

     “Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam khởi phát từ Huế và người xướng xuất đầu tiên là Thầy Nhất Hạnh với thi tập Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện”.

     

     Giáo sư Ito tỏ ra mừng rỡ và nói:

     

     “Cám ơn ông, thế là tôi đă gặp được nhân chứng cho điều mà tôi đang cần t́m. Xin ông kể lại sự kiện quan trọng ấy”.   

      

     Không thể từ chối trước một yêu cầu chính đáng như thế, tôi đă phải kể lại sơ lược sự kiện ấy. Và, đó cũng là lần đầu tiên (sau 1975) tôi nói về “Văn học phản chiến ở miền Nam Việt Nam” và Thầy Nhất Hạnh hồi giữa những năm sáu mươi của thế kỷ trước.

 

 

 

  

     Sau cuộc đấu tranh lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, chúng tôi nghĩ t́nh h́nh miền Nam sẽ khá hơn. Nhưng không ngờ sau đó Tổng thống John F.Kennedy bị ám sát, Lyndon B. Johnson lên thay, Chính phủ Mỹ thực hiện nhiều toan tính leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ngày 2.8.1964, chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Chiến tranh của Mỹ mở rộng ra miền Bắc Việt Nam. Để phục vụ cho việc leo thang chiến tranh, người Mỹ dựng lên ở Sài G̣n nội các quân phiệt Nguyễn Khánh, ban hành Hiến chương Vũng Tàu thâu tóm mọi quyền lực cho quân đội dưới trướng Nguyễn Khánh, ban bố t́nh trạng khẩn trương trên toàn miền Nam, cấm ngặt việc nói, viết, b́nh luận hai chữ hoà b́nh. Cuộc đấu tranh của SVHS và đồng bào Phật tử Huế nổ ra trong đêm 20.8.1964 (kỷ niệm một năm bị Kế hoạch nước lũ của gia đ́nh họ Ngô tàn sát Phong trào đấu tranh chống Diệm ở các đô thị miền Nam Việt Nam), cũng chỉ dám nêu khẩu hiệu chống chế độ “quân phiệt” Nguyễn Khánh chứ không ai dám nói đến hai chữ “hoà b́nh”. Bởi v́ hai từ “ḥa b́nh” lúc ấy dưới mắt chính quyền Sài G̣n đương với hai từ “Việt Cộng”. Mà “Việt Cộng” là bị đặt ra “ngoài ṿng pháp luật”. Người bị chụp mũ “Việt Cộng” họ có thể bị bắn bỏ bất cứ lúc nào. Lúc ấy bọn sinh viên Phật tử chúng tôi, phần lớn xuất thân trong các gia đ́nh ở nông thôn, tận mắt nh́n thấy và hứng chịu sự dă man của bom đạn Mỹ gây ra cho người thân, cho làng xă ḿnh mà không dám hé môi tố cáo / phản đối chiến tranh. Đầu năm 1965, đột nhiên một cánh chim ḥa b́nh bay đến giữa chúng tôi - thi phẩm Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (CTNCCBCTH) của Thầy Nhất Hạnh - một nhà sư du học ở Âu Mỹ mới về Việt Nam từ sau  ngày lật đổ chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo Ngô Đ́nh Diệm. Qua thơ, Thầy Nhất Hạnh đă phát ngôn hộ khát vọng của chúng tôi. Chúng tôi ngấu nghiến đọc và khóc với nhiều h́nh ảnh trong thơ. Nhân có tập thơ của Thầy Nhất Hạnh (do Nhà xuất bản Lá Bối ấn hành) trong tay, một số đoàn viên SVPT - tôi c̣n nhớ có các bạn Nguyễn Thiết, Bửu Hồ, Phạm Thị Xuân Quế, Lê Minh Trường, Nguyễn Hữu Hiệp, Nguyễn Thế Côn…) bàn với anh Vĩnh Kha (Đoàn trưởng) và tôi (Đoàn Phó phụ trách nội vụ) xin lănh đạo Giáo hội cho tổ chức triển lăm tranh của Hoạ sĩ  Lê Minh Trường và nhân có đủ mặt quan khách (kể cả đại diện chính quyền và quân đội Vùng 1 chiến thuật) đến dự triển lăm bất ngờ giới thiệu tập thơ CTNCCBCTH của Thầy Nhất Hạnh để gióng lên “tiếng nói hoà b́nh”. Anh Vĩnh Kha trực tiếp xin phép và được các thầy lănh đạo Giáo hội đồng ư cho tổ chức triển lăm tranh. Chuyện giới thiệu tập thơ th́ giữ tuyệt mật không báo cho các thầy biết. Vào một buổi chiều mưa phùn lạnh lẽo cuối năm Giáp th́n (đầu năm 1995), Pḥng tranh Quê Nghèo của Lê Minh Trường tại nhà giảng chùa Từ Đàm được cắt băng khai mạc. Pḥng tranh có khoảng 25 tấm. Ngoài một vài bức tranh sơn dầu vẽ trên toan (toile) phần lớn tác giả dùng phấn màu vẽ trên bố (bao gạo), giẻ rách, vải tận dụng từ áo quần rằn ri của lính biệt kích, lính dù quân đội VNCH. Nội dung các bức tranh tả thực cảnh nông thôn nghèo bị chiến tranh tàn phá rất cơ cực. Tôi nhớ nhất là bức vẽ trên bao bố h́nh ảnh một bà mẹ với vẻ mặt quắt queo như một trái cau khô bên giàn bầu giàn bí nghiêng đổ. Đây là cuộc triển lăm phản chiến đầu tiên ở miền Nam những năm sáu mươi. Người xem dù với tư cách ǵ, tầng lớp nào cũng đều rất xúc động. Sự xúc động đang lắng sâu th́ đột nhiên Lê Minh Trường đến máy phóng thanh tuyên bố đại ư : “Thưa quư vị, cám ơn quư vị  đă có những lời khen tặng cho các bức tranh nghèo của tôi. Nhưng sự thực, tôi đă lấy một phần cảm xúc từ trong tập thơ CTNCCBCTH của Thầy Nhất Hạnh. Tôi xin giới thiệu một vài bài trong tập thơ để quư vị thưởng thức và cảm nhận thêm thân phận làm người Việt Nam mà tôi đă gởi gắm trong các tranh”.

 

     Trong lúc mọi người đang ngơ ngác, Lê Minh Trường giở tập thơ và đọc ngay bài đầu tiên:

 

            Hoà B́nh

           

            sáng nay vừa thức dây

 

nghe tin em gục ngă

 

nơi chiến trường

           

           nhưng trong vườn tôi, vô t́nh 

          

           khóm tường vi vẫn nở thêm một đoá

           

           tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở

           

           nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng

            

                   điều tôi ước mơ ?”

  

     Tôi đă phải tŕnh bày chống chế măi mà vẫn không được các thầy chấp nhận. May sao, sau đó một Phong trào hô hào vũ trang của nhiều đoàn thể khác như Học sinh Ứng chiến, Nữ sinh Cứu thương, Công chức xung kích, Giáo chức chống đàn áp, Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức... ra đời, Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế không c̣n đơn độc nữa nên không bị giải tán. Đặc biệt là sau khi đoàn thể Gia đ́nh Phật tử, Thanh Niên Phật Tử nhập cuộc, tổ chức thành Bách Nhân Đội (đội trăm người) cũng “vũ trang” để tự vệ. Có thể nói mùa hè 1966, đa số Phật tử đă đi “trật đường rầy bất bạo động” của Phật giáo. Nếu lúc đó chúng tôi chỉ “Chắp tay nguyện cầu” trước chủ trương leo thang chiến tranh của Mỹ th́ có lẽ đă bị tiêu diệt hết khi quân đội Thiệu Kỳ kéo ra đàn áp Phong trào ở Huế hồi trung tuần tháng 6/1966.

   

     Sau ngày rước bàn thờ Phật ra đường, Chính quyền Sài G̣n hạ lệnh truy nă tôi và hai anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan. Hai anh Tường và Phan là cơ sở của Mặt trận Giải phóng nên thoát ly ngay. C̣n tôi và một vài người chủ chốt trong Phong trào được các thầy trong Giáo hội Phật giáo gởi ẩn ḿnh trong chùa Tường Vân của Hoà thượng Thích Tịnh Khiết. Ở đây tôi nghe tin quân đội Sài G̣n đă cho xe ủi dẹp hết bàn thờ Phật, d́m Phong trào đấu tranh trong biển máu. Nguyễn Ngọc Loan – người thân cận của Chính quyền Sài G̣n cầm súng lục ra Huế đe dọa “Nếu bắt được Ni cô Trí Hải (người phiên dịch cho Thượng toạ Thích Trí Quang - người đứng đầu của Phong trào đấu tranh của Phật giáo lúc ấy) sẽ hiếp trước mặt thiên hạ cho biết tay”. Trong lúc tuyệt vọng ấy, tôi lại nghe tin Thầy Nhất Hạnh đă thoát ra nước ngoài để t́m cơ hội tố cáo với thế giới về hành vi người Mỹ đă hậu thuẫn cho chế độ Sài G̣n bách hại Phật giáo đồ Việt Nam, tôi rất mừng. Đến đầu tháng 7/1966, theo thư anh Hoàng Phủ Ngọc Tường từ chiến khu gởi vào, tôi cũng ra chiến khu ở vùng sau núi Kim Phụng. Ở chiến khu tôi lần lược được gặp lại những người bạn cũ ở Huế như Nguyễn Thiết, Nguyễn Đính (tức nhà thơ Trần Vàng Sao), Nguyễn Khắc Mai, Nguyễn Văn Quang, hai anh em anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, (và nhiều người nữa mà đến nay tôi không c̣n nhớ tên). Sau có thêm chị Lê Thị Mai, anh Nguyễn Minh Trường... vừa vượt ngục ở Ba Ḷng trở lại chiến đấu ở chiến trường Huế. Chúng tôi lại có dịp nói chuyện về Thầy Nhất Hạnh và cũng từ đó tôi không c̣n cơ hội để theo dơi các hoạt động của Thầy Nhất Hạnh nữa. Măi đến mùa thu năm 1967, Thành ủy Huế cho tôi xem cuốn sách mới Hoa Sen Trong Biển Lửa (Việt Nam, Lotus in a Sea of Fire) của Thầy. Cuốn sách viết về các cuộc tranh đấu của Phật Giáo từ 1963 đến năm 1966 với những chết chóc tang thương do Hoa Kỳ và quân đội Sài G̣n gây ra. Tinh thần chống chiến tranh của Thầy Nhất Hạnh trong cuốn sách nầy là một bước phát triển mới của tập thơ Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện đă ra đời trước đó hai năm. Phần lớn những sự kiện đấu tranh của Phật tử nêu trong Hoa Sen Trong Biển Lửa tôi đều biết hay đă từng trải qua. Duy chỉ có một điều tôi đă khác Thầy Nhất Hạnh rất xa. Tác giả Hoa Sen Trong Biển Lửa đề nghị hai bên ngồi lại thương lượng chấm dứt chiến tranh lập lại hoà b́nh để cứu dân. Tôi trưởng thành và bắt đầu cuộc đời tranh đấu yêu nước trong vùng đô thị của Mỹ và chính quyền Sài G̣n, nay tôi lại có dịp tiếp xúc, học hỏi trực tiếp với Mặt trận Giải phóng và đọc tài liệu từ Hà Nội gởi vào, tôi thấy đề nghị thương lượng của Thầy Nhất Hạnh khó trở thành hiện thực. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, hai bên nhận thấy không thể thắng nhau trên chiến trường th́ mới chịu ngồi vào bàn hoà đàm. Ở đây, người Mỹ nghĩ rằng họ có thể leo thang chiến tranh cùng với chính phủ Thiệu Kỳ có thể chiến thắng được Mặt trận Giải phóng. Trong lúc đó, Mặt trận Giải phóng với rừng núi và khát vọng giải phóng miền Nam, khi chưa hoàn thành được lư tưởng đó th́ người của Mặt trận vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu. Chỉ sống qua một thời gian ở chiến khu tôi đă cảm nhận được quyết tâm đó.

 

 

     Nguời Mỹ và Chính quyền Sài G̣n không thể hiểu được cái sức mạnh của ḷng quyết tâm đó. Măi cho đến nay tôi vẫn chưa hề được đọc một tài liệu nào, phim ảnh nào, tiểu thuyết nào của cả hai bên thể hiện được cái quyết tâm của Mặt trận Giải phóng lúc ấy. Và chính cái quyết tâm giải phóng dân tộc đó đă giúp cho tôi chịu đựng được những gian khổ ác liệt của núi rừng, bom đạn, để hội nhập một cách êm ái với cuộc sống kháng chiến. Từ đó (1967) tất cả những quan hệ, t́nh cảm, suy nghĩ của tôi về Thầy Nhất Hạnh chỉ c̣n là những kỷ niệm chôn sâu ở đáy ḷng.…

 

 

Nguyễn Đắc Xuân, Gác Lộc Thọ, 2/2005

NDVN, ngày 7/4/2008



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend