TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ THIÊN CHÚA GIÁO (Phần 1B) Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ


Flag of Cambodia  Flag 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời & Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCHLột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

    

ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ THIÊN CHÚA GIÁO

Phần IB

 

(Phê B́nh Tín Lư)

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Bác sĩ Nhân Tử NGUYỄN VĂN THỌ

 

Bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ sinh ngày 15 tháng 12 năm 1921 tại Chi Long, Hà Nam, Bắc Việt. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1952. Phục vụ ngành Quân Y từ năm 1952 đến năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá và giữ chức vụ Chỉ huy Tổng Y Viện Duy Tân (Đà Nẵng) từ năm 1956 đến 1963. Từ năm 1967 cho đến 1975, Bác sĩ là Giáo sư Đại Học Văn Khoa và Minh Đức (Saigon), khoa Triết Học Đông Phương. Năm 1960 tác giả được trao giải thưởng văn chương Tinh Việt Văn Đoàn qua tác phẩm Trung Dung Tân Khảo. 

Kể từ năm 1956 Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ đă nghiên cứu về Triết học Đông phương, bắt đầu từ Khổng Giáo trong suốt 9 năm liền, sau đó là Lăo Giáo, rồi đến Bà La Môn, Phật Giáo và tiếp theo là Thiên Chúa Giáo và các đạo giáo ở Âu Châu. 

Năm 1982 Bác sĩ cùng gia đ́nh định cư tại Hoa Kỳ và lấy bằng Bác Sĩ Y Khoa tương đương tại Hoa Kỳ vào năm 1983. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ từng là cộng tác viên của nhiều nguyệt san tại Việt Nam, Hoa Kỳ, Canada, Đức, Úc và đă hoàn tất 18 tác phẩm với khoảng 7000 trang về hai đề tài chính là Triết Học Đông Phương và Tôn Giáo Đối Chiếu. Bác sĩ Thọ chuyên khảo cứu về Chữ Nôm của thế kỷ 17 và đă phiên dịch được hơn 1000 trang Chữ Nôm của Linh Mục Majorica cũng như đă viết và dịch xong 7 cuốn sách về Đạo Lăo gồm Phép Tu Tiên hay Tiên Thiên Khí Công như cuốn Lăo Trang Giản Lược, Đạo Đức Kinh, Huỳnh Đ́nh Kinh, Tính Mệnh Khuê Chỉ, Tham Đồng Khế, Ngộ Chân Trực Chỉ, Tượng Ngôn Phá Nghi.

 

* Tranh Thẩm Chu (1427-1509)

 

Lời giới thiệu của HOÀNG VŨ (Bác sĩ Hoàng Văn Đức):

» Vào Đạo học - Triết học với Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

 

 

Phần I B

 

 

Tôi càng ngẫm nghĩ càng thấy chủ trương của thánh hiền Trung Quốc như Bá di, Y Doăn, Khổng tử hết sức là không tưởng, v́ đă cho rằng: "Nếu phải làm một chuyện bất nghĩa, giết một người vô tội, mà được thiên hạ thời cũng không làm (Hành nhất bất nghĩa, sát nhân bất cô, nhi đắc thiên hạ, giai bất vi dă – Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Chương Cú Thượng, 2). Mới hay: (Vô dốc bất trượng phu" (Muốn thành công phải bất chấp thủ đoạn).

 

    Có thể nói được rằng Thiên Chúa Giáo nói chung là một thiên anh hùng ca mà đề tài là "Nhân chi sơ tính bản ác".

 

    · Con người là thứ con người tội lỗi sa đọa.

 

    Thế gian này là thế gian xấu xa, dưới quyền Sa tan chúa quỷ v..v.. Chỉ có tận thế hay chỉ có Chúa đích thân tái lâm mới có thể sứa sang, đem trật tự lại cho loài người hư đốn này. Thế nhưng, đùng một cái Jean Jacques Rousseau chủ xướng: Con người vốn thiện. Rồi Cách Mạng Pháp bùng lên phất cờ: Tự Do, B́nh Đẳng, Huynh Đệ. rồi các nền hành chánh, các chính phủ dân chủ tuyên xưng xây dựng trên nhân quyền, trên lá phiếu chứ không c̣n dựa vào Thiên quyền. Rồi những người theo chủ nghĩa Tự Do Khai Phóng (Liberalists) hiên ngang chủ trương: các tệ đoan xă hội phát xuất từ ngu dốt của con người, và như vậy đều có thể sửa sang được. Rồi các nước Âu Châu tuyên bố đạo giáo và chính quyền cần phải được tách biệt nhau ra. Rồi nhân loại chủ trương tự do tín ngưỡng. Rồi đột nhiên Công Giáo cũng phụ họa theo trào lưu mới, cũng tin vào thuyết Tiến Hóa. Công Đồng Vatican II giải tội giải vạ cho các đạo giáo thù nghịch. Giáo Hoàng John XXIII tiếp phái đoàn Do Thái với câu t́nh nghĩa: em là Giu Se đây (26). Dân tộc Do Thái từ nay được coi là Con Cháu Abraham hết c̣n là Dân giết Chúa. Mấy chữ Pro Perfidis Judaeis được xóa khỏi Sách Lễ. Và Công Giáo lại là người chủ xướng Tự Do Tín Ngưỡng, Huynh Đệ đại đồng nhất thiên hạ. Các linh mục ḍng Tên ở Nam Mỹ cũng đang lao ḿnh vào các vấn đề xă hội gia trần, tranh dành ảnh hưởng với Cộng Sản. Thật là tuyệt vời.

 

    Tôi lại học được một bài học hết sức là thâm thúy:

 

    "Muốn thành công cần phải lá mặt, lá trái, biến hóa, quay cuồng như con tḥ ḷ" .

 

    Trong khi ở những nước xa xăm, như Việt Nam, th́ người Pháp đem quân sang chinh phạt, xâm chiêm v́ lẽ vua chúa đă cấm dân không cho tự do tín ngưỡng trong những năm từ 1860 đến 1884, th́ ở Âu Châu, năm 1864, Giáo Hoàng Pius IX, trong Sylmhus of Errors (Kỷ Yếu Tà Thuyết) vẫn c̣n phi bác những ai cho rằng con người được tùy nghi theo và giữ cái đạo mà ḿnh cho là hay, là đúng (27) .

 

    Trước thời Galileo, th́ chắc chắn trái đất là trung tâm vũ trụ, và mặt trời xoay quanh, v́ Thánh Kinh đă dạy thế. Đến bây giờ th́ căi rằng Thánh Kinh không có dạy Khoa Học , và nhưng điều nói trên là những kiểu nói bóng bảy, dân gian.

 

     Trước kia, th́ các Giáo Hoàng không lo về những chuyện nhân sinh, nhân quyền, nhưng từ khi Karl Marx ra đời, từ khi Cộng Sản ra đời, từ khi Cộng Sản chủ trương diệt cường hào ác bá, nâng đỡ người nghèo, lo lắng cho người nghèo, và tung ra khẩu hiệu "Một người v́ mọi người, mọi người v́ một người". Th́ các Giáo Hoàng cũng bắt đầu lo thế sự, và không thiếu ǵ Thông điệp danh tiếng về các vấn đề xă hội ra đời như Rerum Novarum (1891); Quadragesimo Anno (1931); Divini Redemptoris (1937); Summi Pontificatus (1939); Mater Magistra (1961); Paem in Terris (1963) Progresio popularum (1968); Gaudium et Spes (1965)

 

    Các thông điệp xă hội nói trên sở dĩ ra đời, v́ các Giáo hoàng trong thời đại gần đây như Leo XIII, Pius IX, Pius XII, John XXIII, Paul VI thấy bắt buộc phải bàn về những vấn đề công bằng xă hội, ḥa b́nh thế giới, nâng cao đời sống dân nghèo. Chỉ có cái lạ là trong ngót hai ngh́n năm nay Giáo Hội La Mă luôn luôn ca tụng cái nghèo, dung dưỡng các bất công xă hội, dung dưỡng chế độ nô lệ, luôn luôn khuyên chịu đựng cái khổ, chịu đựng các bất công xă hội, v́ đó là những đức tính Phúc âm, v́ đó là những thánh giá mà Chúa gửi đến cho những con cái người. Trước kia Giáo Hội luôn coi trần gian là chốn khách đầy, là thung lũng châu lệ, dạy giáo dân suốt đời chỉ mơ lai sinh và thiên quốc.

 

    Đùng một cái, Giáo Hội lại lo lắng muốn nâng cao thân phận hẩm hiu của người nghèo. Như vậy phải chăng đó là khấu quyết "Tùy gió phất cờ", hay là chiêu thức "Song thủ hổ bác" của Kim Dung, hay là chủ trương "quân tử kiến cơ như tác", hay "Tùy thời chi nghĩa đại hĩ tai" của Dịch Kinh?

 

    Chẳng lẽ chân lư trên đời này, các giá trị trên đời này lại giống như ḍng điện hai chiều, biến hóa không ngừng, cái ǵ cũng là đúng cả? Viện nghiên cứu về quản trị của Mỹ (The American Institute of Management) đă bái phục tổ chức quản trị, điều hành của Giáo Hội Công Giáo và cách thức đương đầu và giải quyết các vấn đề khó khăn của Giáo Hội trong 19 thế kỷ qua. Sau tám năm thâu lượm và nghiên cứu tài liệu Viện trên đă phải công nhận rằng Giáo Hội Công Giáo đă có một phương pháp điều hành tổ chức bậc nhất ở phương trời Âu Mỹ .

 

    Công Giáo sở dĩ có sự thành công vượt bực là v́ biết bắt tay với Chính quyền, thao túng được các Chính quyền Âu Châu trong ṿng hơn 1000 năm. Đưa ra được mấy Tín Lư hết sức hữu hiệu như sau:

 

    - Chúa phép tắc vô cùng làm ǵ cũng được.

    - Thiên chúa chỉ mặc khải cho một số tiên tri Do Thái, một số tác giả Tân Cựu ước, và các Tông Đồ.

    - Chúa Thánh Thần chỉ đặc biệt soi sáng cho các Giáo Hoàng, các Công Đồng. Ngoài ra, trong thiên hạ không c̣n ai có được cái diễm phúc ấy.

    - Kinh thánh là Lời Chúa, là Chân lư.

    - Giáo hội có độc quyền giải thích Kinh Thánh.

    - Giáo Hội dạy làm sao, con chiên phải vâng phục như vậy, không được căi.

    - Đức tin vượt trên lư trí con người.

 

   Chỉ có vậy mà ứng dụng th́ vô biên.

 

   Ví dụ nói rằng tàu Nôe (100m x 17 x 10: to già lắm là bằng 30 căn apartment 2 buồng theo tiêu chuẩn Mỹ) có thể chứa được 10 triệu (5 triệu x 2 đực và cái) các giống vật lớn nhỏ trong trời đất mỗi thứ hai con, đă được Nôe bắt đem về trong một thời gian kỷ lục chắc không tới một năm - Và nói rằng vài trăm tỉ tỉ người từ tạo thiên lập địa đến tận thế sẽ sống lại chịu phán xét chung ở trong cánh đồng Josaphat - rộng giỏi lắm là ngàn mẫu tây- nước Do Thái.

 

    Nếu có ai nêu lên nghi vấn rằng tàu Nôe hay cánh đồng đó quá chật, không thể chứa được nhiều như vậy, th́ sẽ được trả lời: Chúa phép tắc làm ǵ chẳng được.

 

    Mặc dầu Matthew chép: "Đức Mẹ không di lại với thánh Giuse cho đến khi sinh con đầu ḷng (Mạt. 1:18: Et non cognoscebat eam donec peperit filium suum primogenitum. Các bản dịch sau này dịch trại đi là: trước khi ông bà về chung sống với nhau); mặc dầu Matthew và Luke chếp rơ là Đức Chúa Giê Su có nhiều anh chị em (Mat. 13:55-56; Mat. 1246; Marc 6:3; mặc dầu dân làng Chúa Giê Su công nhận Chúa là con ông thánh Giuse (Marc 6:3; Mat. 13:55; John 6:42; Luke 33:23), mặc dầu Tin Lành ngày nay không tin Đức Mẹ đồng trinh trọn đời, Công Giáo vẫn công bố Đức Mẹ đồng trinh trọn đời.

 

    Mặc dầu Chúa phán Ngài sẽ xuống lại rất mau. Chưa đi hết một ṿng các tỉnh Do Thái, Ngài đă tái lâm (Mat.10:23). Hoặc Ngài sẽ xuống, khi nhiều người đương thời c̣n chưa chết (Marc 9:1; 13:2; Luke 9:27), Giáo Hội đoan quyết Chúa không hề nói như vậy.

 

    Mặc dầu Chúa long trọng tuyên bố không đem ḥa b́nh xuống cho thế gian mà là đem gươm đao, đem sự chia rẽ đến cho thế gian (Luke 12:51; Mat. 10:34), Chúa vẫn được coi như là Đấng mang lại Ḥa B́nh cho nhân loại.

 

    Mặc dầu Chúa Giê Su lúc nào cũng gọi Chúa là Cha, xưng Chúa Cha hơn ḿnh, và gọi Ngài là Chúa ḿnh (John, 14:28; John 20:17); mặc dầu thánh Paul dạy rằng Chúa Giê Su chỉ là một con người đứng ra làm môi giới giữa Chúa và Loài người (I Con. 15:21 - I Tim. 2:5 - Rom. 5:15); chỉ là một người đă được tiền định để làm con Thiên Chúa (Rom. I:3-4 - Bản Vulgate đă dùng chữ: Praedestinatus); hay là TẠO VẬT Đầu TIÊN Trưởng Tử giữa mọi thụ sinh (Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn)- (Colossians 1: ~5); mặc dầu Chúa Giê Su sinh ra là do sự Chúa Thánh Thần "ấp ủ' Đức Mẹ theo lời Phúc âm (Luke 1:35), Giáo Hội đă đoan quyết Chúa không hề thua sút Đức Chúa Cha.

 

    Nói thực ra th́ Giáo Hội cũng phải mất mấy trăm năm, và sau biết bao là những cuộc căi vă kéo dài hằng nhiều trăm năm giữa các Giám mục như Arius (280-365), Apollinaris (chết 390); Cyril (chết 441); Nestorius (khoảng 430); Eutyches (bị vạ tuyệt thông năm 451); Severus of Antioch; Julian of Hallicarnassus; Gaianus of Alexandria, Theodosius v v . và sự phán quyết và phi bác lẫn nhau của nhiều Công Đồng (Synod of Antioch 264; First Council of Nicea325;Councilofephesus431; Councilofephesus 449; Chalcedon 451), mới xác định được thân thế và liên lạc giữa Ba Ngôi, mới t́m ra được những công thức chính xác về Chúa Ba Ngôi.

 

    Có một điều hết sức quái lạ là trong Kinh Tin Kính do Công Đồng Nicea soạn thảo năm 325 mà cả hai Giáo Hội miền Đông (Chính Thống) và miền Tây (La Mă) đều chấp nhận th́ lại không có chữ Filioque (và bởi Con). Chữ này không biết có bàn tay bí mật nào sau này đă thêm vào. Sự thêm thắt này có lẽ phát xuất ở Tây Ban Nha, rồi truyền sang Pháp, sang Đức, sang ư. Mới đầu các Giáo Hoàng phản đối. Giáo Hoàng Leo II (795-816) c̣n bắt khắc Bản Kinh Tin Kính chính tông (không có chữ Filioque) vào những tấm thuẫn bằng bạc và treo trong Vương Cung Thánh Dường thánh Phêrô. Nhưng sau v́ quyền uy của vua Charlemagne và các vua kế vị nhất quyết giữ chữ Filioque để có cớ buộc tội Giáo Hội miền Đông là rối đạo, và có cớ xâm chiếm các nước miền Đông, nên đến ngày lễ phong vương cho vua Thượng Vị Henry II (lO02-l024) vào năm 1014, Giáo Hội La Mă mới long trọng hát kinh Tin Kính có thêm phụ bản Filioque! (29).

 

    Thực là kỳ dị khi thấy rằng trong công chuyện tuyên xưng Tín Lư, mà sự ngụy tạo văn bản như trên c̣n có thể xen vào được.

 

    Khi đă làm cho mọi người tin rằng Chúa Giê Su là Thượng đế giáng trần, và Giáo Hoàng là Đại diện Ngài, th́ cái lợi nhăn tiền, cái quyện nhăn tiền thuộc về Giáo Hoàng chứ không thuộc về chúa GiêSu. Cái tuyệt diệu chính là ở điểm này.

 

    Giáo Hội nhờ ở sự "tin lưỡng", "nói lưỡng" nên có thể giải thích được mọi vấn đề, có thể biện minh được mọi thái độ ḿnh. Chúa vừa ở trên thiên dàng, vừa ở khắp nơi. Vừa ở khắp nơi vừa không ở trong tâm hồn mọi người. Chúa vừa nhân từ vừa công thẳng. Chúa Giê Su vừa là Thượng Đế toàn năng, vừa là Tạo Hóa, vừa là "Trưởng tử giữa mọi thụ sinh". Con người vừa cao siêu v́ là ảnh tượng Chúa, vừa là hết sức xấu xa v́ đă sa đọa. Chúa vừa cai trị thế gian, nhưng Satan lại là vua của trần thế này. Chúa GiêSu vừa là Chúa, vừa là Người. Tận thế sắp sửa tới nơi, tận thế c̣n lâu nữa mới xảy ra. Nước Trời không đến một cách lộ liễu. Nước Trời sẽ đến trong rầm rộ, huy hoàng. Nước Trời ở trong tâm. Nước Trời ở ngoài xă hội. Ngũ Kinh là của Maisen viết. Ngũ Kinh không phải là của Maisen viết v.v. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX nghiêm cấm không được tôn thờ tổ tiên. Ngày nay được tôn thờ tổ tiên (nhang đèn, cúng kỵ v..v..). Có lúc nghiêm cấm ăn thịt thứ Sáu, có lúc cho ăn thịt thả giàn. Tất cả đều tùy Giáo Hoàng.

 

    Thánh Kinh vừa đúng từng chữ, vừa là Chân Lư tuyệt vời, vừa không có ư dạy v́ khoa học nên có nhiều điều không chính xác; vừa tin chắc chắn rằng mọi người ngoài Giáo Hội đều xuống hỏa ngục, vừa tuyên bố mọi người sống ngoài Giáo Hội có thể lên thiên đàng. Khi cần dịu ngọt, th́ Giáo Hội đề cao sự nhân từ bác ái của Phúc âm; khi cần tàn nhẫn th́ khoe đang thi triển sấm sét của hai thánh Peter và Paul; vừa chủ trương Chúa luôn nổi cơn thịnh nộ oán phạt loài người, vừa tuyên bố đó chỉ là những kiểu "nhân cách hóa" Thiên Chúa. Tất cả các văn kiện viết ra phải được đắn đo, viết lách làm sao để có thể giải thích xuôi ngược được. Thật là biến hóa tuyệt vời. Chẳng những thế lại c̣n có cả một đạo binh văn học chỉ có nhiệm vụ bào chữa cho Công Giáo, bảo vệ Thánh Kinh mà ta gọi là những nhà Thần Học, những nhà Bảo Vệ Tín Lư (Apologetists). Các nước Cộng Sản ngày nay cũng có các văn gia chuyên môn tâng bốc chính quyền Cộng Sản, chuyên môn tâng bốc chủ nghĩa Mác Xít. Cộng Sản hết sức đề cao họ. Những người ngoài Cộng Sản trái lại tặng cho họ danh từ "Bồi Bút" . Chuyện đời quả t́nh hết sức phức tạp.

 

    Dấu hiệu rạn nứt bắt đầu hiện ra là trong khoảng 100 năm gần đây đă có nhiều Giáo phái mới xuất hiện ra ở Âu Mỹ. Các giáo phái mới này như: Chứng nhân đấng Jehovah, Mormons, Christian Science, Unitarianism, Spiritism, Swedenborgianism, Armstrongism, Seventh-day Adventism, The Theosophieal Philosophy, The Rosicrucian Fellowship v. v. đều có những diềm bất đồng về phương diện giáo lư với Công Giáo cũng như với Tin Lành.

 

    - Thường là họ không chấp nhận một Chúa mà có Ba Ngôi. (Jehovah Witnesses, Christian Science, Mormonism, Swedenhorgianism, The Unity School of Christianity v.v.. Xem “The Kingdom of The Cults”, Walter R. Martin, Bethany House Publishers, ] 982, pp 50, 126, 178, 246).

 

    - Nhiều Giáo phái không tin rằng Thượng Đế là hữu Ngă, mà tin Thượng Đế là vô Ngă, nguồn sinh muôn vật bản thể muôn vật, tiềm ẩn trong ḷng sâu con người và vạn vật. (Christian Science, The Unity School of Christianity, The Theosophical School.. Sách trích dẫn tr. 126, 222, 279).

 

    Không tin rằng chúa Jesus là Thiên Chúa mà chỉ là Con Thiên Chúa, không thể bằng Thiên Chúa. (Mormonism, Jehovah Witnesses, The Unity School of Christianity... Sách trích dẫn tr. 47, 112, 280).

 

    - Không tin rằng Chúa từ nhân, lân tuất lại có thêm thâm thù nhân loại, và cần phải chứng kiến sự tử nạn của Con Ḿnh - của Chính Ḿnh - mới có thể làm ḥa với nhân loại (Swedenborgianism: Sách trích dẫn tr. 247).

 

    - Nhiều Giáo phái tin rằng Con người sẽ trở thành Thượng đế trong tương lai (Mormonism: A man is, God one was; as God is, man may become.- Ib. p. 178).

 

    Tiếp đến là ngay trong nội bộ Công Giáo hiện nay cũng có nhiều điều bất ổn. Dĩ nhiên là những bất ổn sẽ phát sinh ở Âu Châu và Mỹ Châu chứ không phải ở các nước tân ṭng A Phi hoặc Trung, Nam Mỹ.

 

    Gần đây, Tổng Giám mục Le febvre ở Thụy Sĩ đă tách khỏi Giáo Hội La Mă, v́ cho rằng Giáo Hội La Mă và Công Đồng Vatican II đă đi quá trớn trong đà canh tân.

 

    Các nhà thần học như Alfred Loisy (1857-1940), như Hans Kung đ̣i nghiên cứu lại tất cả các tín lư Công Giáo, và sửa sai nếu cần.

 

    Giáo Hội Ḥa Lan với hơn 6 triệu tín đồ cũng đang muốn tách rời khỏi quyền điều khiển của Giáo Hoàng.

 

    Ở Mỹ, đă có những Giám Mục, và hàng vạn linh mục đă rời khỏi hàng giáo phẩm. Các trường Đại học Công Giáo Mỹ đ̣i hưởng qui chế độc lập, không chịu sự điều khiển của Giáo Hội. Các nhà thần học Công Giáo đ̣i quyền được bất đồng ư kiến với Giáo Hội về những vấn đề luân lư : như t́nh ái giữa nam nữ, như ngừa thai cai đẻ, như phá thai, như đồng t́nh luyến ái v.v. . Linh mục kiêm thần học gia, kiêm Giáo sư Đại Học Curran, Charles là người đă phát cờ chống đối. Trong phong trào này Linh mục đă kéo theo được hàng trăm nhà phần học khác ở Mỹ.

 

    Các bổn đạo cũng không c̣n tuyệt đối phục tùng Giáo hoàng nữa.

 

   Tuy các Giáo hoàng cấm dùng thuốc ngừa thai: năm 1955 có 30% phụ nữ Công Giáo dùng thuốc ngừa thai. Năm 1965 có 55%. Năm 1970 tăng lên 70%.

 

    Rồi dẫu dùng thuốc ngừa thai, phụ nữ Công Giáo vẫn đi chịu lễ đều đều. Năm 1965, số đó là 33%. Năm 1970, số phụ nữ ngừa thai mà vẫn chịu lễ hàng tháng là 53% .

 

    Một cuộc thăm ḍ khác cho thấy: Cứ bốn người được phỏng vấn, th́ ba người chấp thuận cho trai gái được đi lại với nhau sau khi ăn hỏi. Cứ 10 người th́ có 8 người chấp thuận cho uống thuốc ngừa thai. Cứ 10 người th́ 7 chấp thuận sự phá thai hợp pháp. Cứ 10 người th́ 4 người cho rằng Giáo hoàng vấn sai lầm (30) .

 

    Hans Kung cho rằng hàng Linh mục đă dần dần được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ 6, chứ thời các Tông đồ chưa có.

 

    Nhà văn Công Giáo Mỹ , Gay Wills, cho rằng: Công Giáo tuổi nhỏ của ông là tổng hợp của những câu kinh kệ; những cái đầu cúi theo nhịp chung; làm dấu; ca hát; làm phép rửa tội; làm dấu lúc ăn; lần chuỗi; xông hương; thắp nến; các bà ḍng trong lớp lúc nghiêm, lúc khoan; các linh mục mặc đồ đen khi đi ngoài đường; mặc lộng lẫy khi hành lễ; thánh đường lúc sáng, lúc tối; lúc th́ trang hoàng, bày biện; lúc th́ trần trụi trống trơn, tùy theo nhịp điệu của các mùa lễ nghi; bày máng cỏ vào mùa Đông; mang màu tím vào tháng Hai trưng hoa huệ mùa xuân; xưng tội để nghe đe dọa và nghe an ủi v.v..

 

    Nhà tâm lư học Gordon Alport cho rằng 9/10 Công Giáo Mỹ chỉ có cái vỏ Công Giáo, chỉ đạo đức ngoài mặt. Nghĩa là họ dùng đạo như cái b́nh phong đê che nay lối sống thực của họ, và họ có thiên kiến đối với người da đen và người Do Thái c̣n nhiều hơn các người vô tôn giáo. ông Eugene Kennedy cũng khen rằng trước kia, tức là trước Vatican II, người Công Giáo giữ cái đạo bên ngoài gồm lễ nghi, luật lệ, giáo điều. Sau Vatican II họ quay về cái tôn giáo nội tai tâm linh, cố đi t́m hiểu sâu xa về con người ḿnh (33).

 

 

 

    Riêng tôi, tôi nhận thấy người Công Giáo sau Vatican II cởi mở hơn, rộng dung hơn. C̣n trước h́nh thức lễ nghi vụ ngoại ra sao, th́ nay vẫn y thức như vậy. Đạo giáo đă là công truyền, tất nhiên phải vụ ngoại, phải là ngoại giáo, không thể nào là nội giáo được. Từ 1908 trở đi, các Giáo Hoàng ghét nhất là Phải Tân Tiến (Modernism). Thông điệp Lementabili (3 tháng 7, 1907) của Pius X phi bác 65 nhận định mà Giáo Hội cho là lầm lạc. Ví dụ:

 

    -Điều 16: Phúc âm John không phải kể chuyện that về đời sống Chúa, mà là những suy nghiệm huyền đồng về đời sống Chúa.

 

    - Điều 21: Sự mặc khải làm cơ sở cho đức tin Công Giáo chưa hoàn bị thời các Tông Đồ.

 

    - Điều 27: Phúc âm không chứng minh Chúa Giê Su là Thiên Chúa. Đó là một tín điều mà ư thức Công Giáo suy diễn ra từ ư niệm Đấng Cứu Thế.

 

    - Điều 35: Đấng Ki tô không phải luôn luôn ư thức được ḿnh là đấng Cứu Thế.

 

    - Điều 47: Công đoàn công Giáo cho rằng Phép Rửa Tội là bắt buộc, cộng vào với sự tuyên xưng Công giáo.

 

    - Điều 47: Mấy lời của Chúa trong John 20:22-23 chẳng có liên quan đến Phép Giải Tội, mặc dầu các giáo phụ trong Công Đồng Trent thích nói vậy.

 

    - Điều 55: Thánh Peter không bao giờ ngờ rằng Chúa đă phong cho ḿnh làm Giáo Chủ Giáo Hội.

 

    - Điều 59: Chúa Giê Su không có dạy một toàn bộ giáo lư khả dĩ áp dụng cho mọi nơi, mọi người, mà chỉ tạo ra một phong trào đạo giáo có thể chuyển biến, linh động để thích ứng tùy nơi, tùy người .

 

    Thông điệp Pascendi của Giáo Hoàng Pius X ra ngày 8 tháng 9 năm 1907 kết tội những người Công Giáo thuộc phái Tân Tiên như sau:

 

    - Nếu là triết gia, thi họ chủ trương "bất khả tri". Họ cho rằng lư trí chỉ hoạt động trong ṿng hiện tượng, nên con người không thể biết Thiên Chúa bằng lư trí hay bằng sự mặc khải.

 

    - Nếu là giáo hữu, th́ họ đến với đức tin một cách kỳ quặc. Họ lư luận rằng lư trí không thể biết Thiên Chúa, thế th́ tại sao tôn giáo lại là một hiện tượng phổ quát. Họ cho rằng sở dĩ con người cần Thiên Chúa chính là v́ Thiên Chúa đă ở sẵn trong ḷng con người. Thiên Chúa mà ở ngoài tâm hồn, con người sẽ không sao có thể biết được. Con người vẫn tin, nhưng đức tin không có cơ sở trên lư trí. (Tôi cũng tin rằng Thiên Chúa đă ngự sẵn trong tâm khảm con người, và con người nhận biết Thiên Chúa bằng trực giác, và bằng sự cảm nghiệm tâm linh).

 

    - Nếu họ là các nhà Thần học, th́ những người theo phái Tân Tiến cũng cho rằng Mặc Khải chính là sự cảm nghiệm nội tâm. Mặc khải là khi con người cảm nghiệm thấy Thiên Chúa trong ḷng ḿnh. Chính Giáo Hội cũng phải kinh qua sự thử thách của ư thức tập thể của nhân quần; mà ư thức này luôn chuyển dịch biến hóa theo lịch sử.

 

    (Hỡi anh em khả kính, đây không phải là những lời bập bẹ quàng xiên của những kẻ vô tín ngưỡng, mà chính là của những người Công Giáo, hoặc những linh mục, và họ khoe khoang rằng họ sẽ cải tổ, sẽ canh tân giáo hội bằng những lập luận quàng xiên đó của họ).

 

    - Nếu là sử gia, họ cho rằng khi giải thích các vấn đề cần phải cho khoa học, chứ không phải là để bao che, để nắm giữ quần chúng. Và với tư cách là những nhà khoa học họ thường khinh khi giáo lư Công Giáo, khinh khi các Thánh Giáo phụ, các Công đồng, và sự dạy dỗ.

 

    Khi đọc những lời Giáo Hoàng chê trách, phê phán những người Giáo Hữu Tân Tiến, tôi thấy thương họ, v́ thật ra họ nh́n đúng, nghĩ đúng, nói đúng, hành đúng.

 

    Người A Đông phân biệt tiểu trí và đại trí. Tiểu trí để thích ứng với hoàn cảnh, nên chi biết được hiện tượng bên ngoài, nên không thể nào hiểu được Thiên Chúa là bản thể con người và vũ trụ...

 

    Cái mà Âu Châu gọi là Mặc Khải chính là Đại trí khi đă khai mở. Con người sinh ra ở đời v́ có căn cốt thần linh, có căn Trời, nên luôn luôn khát khao đi t́m Đạo, t́m Trời. Mới đầu thời c̣n u muội, ngu dốt, nên đi t́m Đạo t́m Trời bên ngoài ḿnh; chịu sự hướng dẫn, sự chi phối bên ngoài của các Giáo Hội bên ngoài, của các người tự xưng ḿnh là hướng đạo viên nhân loại. Nhưng khi con người đă trưởng thành về ư thức tâm linh, sẽ cảm nghiệm được một cách mănh liệt rằng Thiên Chúa chẳng có ở đâu xa mà đă ngự trị ngay trong tâm khảm con người. Sự giác ngộ tâm linh ấy chính là sự Mặc Khải. Nếu ta hiểu Revelation là "Mặc Khải", th́ đó là một sự khai mở tâm linh đă được diễn biến ra một cách âm thầm trong ḷng con người. Nếu hiểu "Revelation" là "Mạc Khải", th́ lúc Giác Ngộ chính là lúc bức màn Vo minh", "bức màn Ngu dốt" được xé mở ra, làm hiển lộ ra Thiên Tính con người, làm hiển lộ Thượng đế nội tại - vừa là Thượng Đê, vừa cũng chính là Bản Thể hằng cửu, bất biến của con người. Lúc ấy, với tầm nh́n lối nghĩ hoàn toàn thay đồi, con người hoàn toàn được giải phóng, con người mới thấy rằng có nhiều người xưa kia coi ḿnh là thượng trí, thượng nhân, thực ra chỉ là những người khéo xu thời, xu thế; mới nhận ra ràng con người đă sai lầm tập thể về nhiều vấn đề, từ sự khai thiên, lập địa, đến thân thế con người, đến những công tŕnh cải tạo con người và ngoại cảnh, đến đường hướng thăng hoa của con người. Lúc ấy con người sẽ thành khẩn dùng cuộc đời ḿnh để truy tầm chân lư, chứ không phải để bao che, lấp liếm những điều mà cha ông ḿnh đă nghĩ sai, viết bậy trong quá văng. Ḿnh không nh́n ra trước, không chịu sửa sai trước, th́ người sau sẽ t́m ra, sẽ sửa sai sau. Tất cả chỉ là vấn đề thời gian, và trên con đường tiên hóa của nhân loại, chắc chắn sự việc sẽ xảy ra như vậy. Mà khi một tư tưởng đă thay thi cả ṭa tư tưởng cũng thay theo, như kiểu những con Dominos.

 

      Sách the Battle for The American Church viết:

 

    “Giả sử Chúa Giê Su không phải là Chúa giáng trần.

 

    Giả sử trong cuộc dời ngắn ngủi của Ngài, Ngài đă không truyền dạy, mặc khải được đủ những giáo lư căn bản.

 

    Giả sử chúa lập ra Giáo hội như kiểu một hội ái hữu.

 

    Giả sử mọi tín hữu dều b́nh đẳng nhau trước mặt Chúa Cha.

 

    Giả sử mọi người đều phải nỗ lực để tùy nghi đi t́m Thiên ư, họ thể nhờ các ĺnh mục làm cốvân, nhưng không phải tùng phục linh mục.

 

    Giả sử các cơ cấu tổ chức như Giáo hoàng, linh mục, giáo luật tỉ mỉ, hay ṭa giải tội chỉ là những phát minh của con người.

 

    Chúng ta sẽ có một quan niệm khác hẳn về Giáo hội, không giống những định nghĩa của Giáo Hội."(36)

 

    Như vậy trong tương lai chắc chắn nhân loại sẽ có rất nhiều thay đổi về tôn giáo. Giáo Hoàng Paul VI ngày 11 tháng 9, 1974 đă than thở: "Giáo Hội h́nh như có khuynh hướng tự thiêu hủy ḿnh"(37). Riêng tôi, tôi tiên đoán trong tương lai nhân loại sẽ thay đồi như sau về phía tôn giáo:

 

    Chúa sẽ không c̣n là một Chúa riêng của một dân tộc, không c̣n là một Chúa ngự trị trên Thiên Đ́nh, mà sẽ được nh́n nhận là nguồn sinh của vũ trụ , ở khắp vũ trụ, là bản thể của vũ trụ muôn loài, và như vậy vũ trụ và muôn vật chỉ là những h́nh tướng biến thiên, những phân từ nhỏ nhoi của Đại Thể vô biên ấy.

 

    Giác ngộ, mặc khải, là một hiện tượng phổ quát, siêu không gian thời gian, là sở hữu của Thánh hiền, Đông Tây kim cổ, chứ không dành cho riêng ai.

 

    Thánh Thư là của thánh hiền hay của các cao nhân các đạo giáo viết ra. Đạo nào cũng có Thánh Thư, chứ không phải chỉ riêng có Do Thái hay Công Giáo mới có. Chúng là sở hữu chung của nhân loại. Nó cũng rất tương đối có chỗ hay có chỗ dở. Cái ǵ hay th́ ta theo, cái ǵ dỡ th́ ta bỏ.

 

    Các thánh thư có thể có những huyền thoại xen lẫn với những chứng tích loch sử. Huyền thoại th́ ta coi là không có thực. Ví dụ chuyện khai thiên lập địa, Adam Evà ăn trái cấm, hồng thủy tiêu diệt thiên hạ, chắc chắn là huyền thoại.

 

    Nếu Adam Eva thực sự không phải là thủy tổ loài người như khoa học đă chứng minh, th́ chắc chắn chuyện Thiên Chúa giáng trần chuộc tội thiên hạ chỉ là chuyện mà thánh Paul, thánh Augustine và Giáo Hội sau này nghĩ ra mà thôi.

 

    Chúa Giê Su chỉ là một người Giác Ngộ sống phối hợp với Thượng Đế ngay từ khi c̣n ở gian trần này.

Xưa nay đă có vô số hiền thánh muôn phương liễu đạt được tŕnh độ đó.

 

     Phúc âm viết về Ngài có rất nhiều huyền thoại.

 

    Các Giáo Hội chẳng qua là những hội ái hữu, cốt là để khuyên khích lẫn nhau, nâng đỡ lấn nhau, chứ không phải là những nhà tù, những pḥng tra tấn, những ḷ sát sinh, hay những cơ quan dùng để khống chế, hành hạ con người về phương diện tinh thần, hay vật chất mỗi khi có điều kiện thuận tiện.

 

    Tất cả những chuyện bất công xă hội, những tệ đoan xă hội, những bệnh hoạn tật nguyền, những sự cơ cực nghèo đói, những chiến tranh sẽ không c̣n nếu nhân loại thực t́nh thương yêu lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cộng tác với nhau.

 

    Con người sẽ phải được dạy dỗ rằng con người đích thực là những con cái Thượng Đế , hay nói cách khác đều có Bản thể thần minh, có Phật tánh. Cho nên con người phải được khuyến khích tiến bước măi trên đường nhân nẻo đức trên đường hoàn thiện, sống đồng nhất, hợp nhất với Thượng Đế ngay từ khi c̣n ở gian trần này.

 

    Chúng ta học lịch sử, v́ lịch sử sẽ cho chúng ta thấy những sai trái của các đạo giáo. Có vậy ta mới biết đàng sửa sai.

 

    Đạo giáo có nhiều tŕnh độ, nhiều h́nh thức. H́nh thức thấp nhất là Lễ Nghi (hương hoa, chuông trống, van vái). Rồi đến h́nh thức Tín Lư, Tín Điều. Rồi đến Luân Lư. Rồi đến một đời sống nghệ thuật, đẹp tươi, thuần phác, hồn nhiên. Cao hơn hết là đời sống hoàn thiện, sống phối hợp với Thượng Đế, ḥa hài với tha nhân, với quần sinh và vũ trụ.

 

    Con người không thể tiến ngay đến chỗ cao, nhưng cần phải tiến tới, cần phải tinh luyện tâm thần.

 

    Đạo giáo thực ra có hai loại: Ngoại giáo và Nội giáo. Chạy theo những h́nh thức lễ nghi bên ngoài là theo ngoại giáo, ngoại đạo. Đi sâu vào tâm linh mà t́m Đạo t́m Trời, ấy là Nội Giáo, Nội Đạo, ấy là Chân Đạo, Thiên Đạo, Đại Đạo. Đại Đạo cũng rất là giản dị. Nó bắt nguồn từ sự nhận biết ḿnh có Thiên Tính, rồi ra sẽ dùng cả đời ḿnh để phát triển Thiên Tính đó cho đến chỗ tinh hoa cùng cực Phát triển mọi khả năng c̣n tiềm ẩn nơi ḿnh để cải tạo tha nhân và ngoại cảnh. Biến thế giới thành một đại gia đ́nh, biến ngoại cảnh thành Bồng Lai Tiên Cảnh, để cuối cùng sống hợp nhất với Trời, nên vẻ sáng của Trời ngay từ khi c̣n ở gian trần này…

 

Costa Mesa 2/1/89

 

GHI CHÚ

 

(1) Martyrologe Romain, Traduction francaise par Dom Albert M. Schmitt, Casterman, 1959, p. 469 - Isaac Asimov, In the Beginning, A Stonesong press Book, Crown Publishers, Inc. New York, 1981, p. 9.

 

(2) Religious traditionalists accused Darwin of "limiting God's glory in creation," of "attempting to dethrone God," of "implying that Christians for nearly 2000 years have been duped by a monstrous lie" Dorothy Nelkin, The Creation Controversy, W.W. Norton & Company, New York, London, 1982, p. 28.

 

(3) The founders of The Creation Research Society (CRS) call themselves "scientific creationists". To attain the status of membership in the organisation, members must meet two requirements: a postgraduate degree in science and belief in the literal truth of the Bible. Applicants for memberships must sign a statement of belief: that the Bible is the written word of God and that its assertions are historically and scientifically true; that all basic types of living things including man, were made by direct creative acts of God as described in Genesis; and that the Noachian Deluge was a historical event. Dorothy Nelkin, The Creation Controversy, W.W. Norton & Company, New York, London, p. 79.

 

(4) lb. p. 77-83.

 

(5) Dorothy Nelkin, The Creation Controversy, pp. 100-102.

 

(6) The final editor has left unchanged the two traditional accounts without attempting to smooth out their divergences of details. There are several Babylonial stories of the Flood which are in some respects remarkable similar to the biblical narrative. This last does not derive from them but draw on the same source, namely on the memory of one or more disastrous floods in the valley of the Euphrates and Tigris which tradition had enlarged to the dimension of a worldwide catastrophe..The New Jerusalem Bible, Double Day & Company, Inc. Garden City New York, 1985, p. 25; Gen 6:1, note c.

 

(7) Isaac Asimow, In The Beginning, A Stonesong Press Book, Crown Publishers, Inc. New York, 1981, p. 156-157.

 

(8) One of the early documents in the tragic history of Judaeo- Christian relations in Spain is a letter from Pope Gregory to Reccared The Visgoth, commending him for a law, a "constitution", enacted against the infidelity, perfidia of the Jews, despite their efforts to block its promulgation with a bribe. Edward A. Synan, The Popes and The Jews in the Middle Ages, The MacMilan Company, New York; Collier - MacMillan Limited, London, 1965, p. 41. Cf. ibidem pp. 8, 37, 92, 122.

 

(9) In the case of the Jews, does the Church not triumph more when, day after day, she persuades them, or converts them, than if on a single occasion and all at once, she should devour them with the maw of the sword1? Else would not that prayer of the universal Church, which is offered for the unbelieving

Jews - pro perfidis Judaeis - be established to this purpose ? lb. p. 78.

 

(10) Foris ab ecclesia constitutus, aeterno supplicio punieris, etiamsi pro Christi nomine virus incendiaris. Marcello Craveri, The Life Jesus, Grove Press, Inc. New York, 1967, p. 252.

 

(11) La position catholique traditionnelle - exprimee des les premiers siecles du christianisme par Origene, Cyprien et Augustin - est bien connue: Extra Ecclesiam nulla salus! Hors de I'Eglise, point de salut! D'ou aussi, pour tout le temps a venir: Extra Ecclesiam, nullus propheta! Hors de I'Eglise pas de prophete! Le Concile oecumenique de Florence (1438-1445) a defini sans ambiguite: "La sainte Eglise romaine... croit fermement, confesse et proclame qu'en dehors de I'Eglise catholique nul n'aura part a la vie eternelle, qu'il soit paien, Juif, incroyant ou separe de I'Eglise: il sera la proie du feu eternel destine au diable et a ses anges s'il ne la (I'Eglise catholique) rejoint pas avant la mort.

 

Hans Kung, Le Christianisme et les Religions du Monde, Edition du Seuil, Paris, 1984, p. 45.

 

The holy Roman Church believes, professes, and preaches that "no one remaining outside the Catholic Church, not just pagans, but also Jews or heretics, schismatics, can become partakers of eternal life; but they will go to the "everlasting fire which was prepared for the devil and his angels" (Matt. 25:41), unless before the end of his life they are joined to the Church...

 

Heretics am chi cac giao phai Tin Lanh; Schismatics am chi Giao H6i Chlnh Thtfng miln d6ng (Orthodox Church).

 

Jesuit Fathers of St. Mary College, St. Marys Kansas, The Church teaches, Tan Books and Publishers, Inc. Rockford, Illinois 61105, 1973, p. 78.

 

(12) The Syllabus went on to condemn the current belief that .. every man is free to adopt whatever religions he deems in accord with the light of reason; that in any religion men may find the way to eternal life.

 

Kennett Scott Latourette, A History of Christianity, Harper & Row Publishers, New York, Evanston & London, 1953, p. 1099.

 

(13) Furthermore, it is a dogma of faith that no one can be saved outside the Church.. But no one obtains eternal life if he dies separated from the unity of faith or from communion with the Church through his own fault. The Church teaches, p. 97.

 

(14) Section 8 of Lumen Gentium reads:

 

This is the sole Church of Christ, which in the creed we profess to be one, holy, Catholic, and apostolic, which our Saviour, after his resurrection entrusted to Peter's pastoral care, commissioning him and the other apostles to extend and to rule it.... This Church constituted and organized as a society in the present world; subsists in the Catholic Church, which is governed by the successor of Peter and by the bishops in communion with him. Nevertheless many elements of sanctification and of truth are found outside its visible confines. Since these are gifts belonging to the Church of Christ, they are forces impelling toward Catholic unity...

 

Msgr. George A. Kelly, The Battle for the American Churchy Doubleday and Company, Inc. Garden City, New York, 1979, p. 26.

 

(15) In general, Innocent taught, the Mosaic Law promised temporal and earthy delights, a land flowing with milk and honey, the law of talion, conjugal joy, and a numerous progeny. Against all this, the law of the Gospel extols poverty, invokes a blessing in answer to a curse, venerates virginity - heavy burdens, to be sure, but to those moved by love they seem light. The Old Law was characterized by the active life and by the five senses which make it possible: "such are the carnal Jews, who seek only what sense perceives, who delight in the corporeal senses alone, and this despite the fact that their own prophets "spoke, not carnally, but spiritually."

 

Edward A. Synan, The Popes and the Jews in the Middle Ages, The MacMillan Company, New York, 1965, p. 88.

 

(16) Europe dominated by the papacy., knew neither equality nor justice; medieval legislation was as savage in its intentions as in its penalties, and the brunt of these fell upon the helpless Jewish population.

 

Edward A. Synan, The Popes and the Jews in the Middle Ages, The MacMillan Company, New York, 1965, p. 1.

 

(17) A Jew might complaint, perhaps, that I go too far in baiting him, when I term his understanding "ox-like". But let him read Isaiah, and he will hear what goes farther than "ox-like"! "The ox", he says, "knows his owner, and the ass his master's crib: Isreal has not known Me. My people had no understanding" [Isaiah 1:3]. You see, o Jew, I am milder than your own prophet: I put you on a par with the beast, he puts you beneath them!

 

Edmont A. Synan, The Popes and the Jews in the Middle Ages, p. 77.

 

(18) Editor-in-Chief: Dr. Bezalel Narkiss, Picture History of Jewish Civilization, Harry N. Abrams Inc. Publishers, New York, 1970, p. 121-123.

 

Obscurantist zeal led Christians to burn cartload of precious Torah scrolls and of manuscript copies of the Talmud, that monument of learning and religious jurisprudence so dear to Jewish sensibilities, Edward A. Synan, The Popes and the Jews in the Middle Ages, 1965, p. 1.

 

(19)76. p. 114.

 

(20) An ecclesiastical council at Toulouse outlined a stern procedure for the eradication of heresy in the South. Among other measures, the council forbade the laity the possession of copies of the Bible, except the Psalms and such passages as were in the breviary, and condemned vernacular translation. It thus sought to remove one of the prevalent sources of heresy.

 

Kennett Scott Latourette, A History of Christianity, Harper & Row Publishers, New York, Evanston & London, 1955, p. 456.

 

(21) Kenneth Scott Latourette, A History of Christianity, p. 658.

 

(22) Kenneth Scott Latourette, A History of Christianity, Harper and Row Publisher, New York, Evanston & London, 1953, cac trang 435, 438, 541, 657-659, 842, 845, 457, 1012, 1082, va 568.

 

(23) Vergillius Ferm, An Encyclopedia of Religion, The Philosophical Library, New York, 1945, noi chu" Witchcraft, tr. 827.

 

(24) Kennett Scott Latourette, History of Christianity, pp. 438, 453-455, 513, 557, 456.

 

(25) And through the cities which they were passing, they wiped out completely, as enemies internal to the Church, the excrable Jewish remnants, or forced them to the refuge of baptism - but many of these later reverted, like dogs to their vomit.

 

Edward A. Synan, The Popes and the Jews in the Middle Ages, The MacMillan Company, New York, Collier MacMillan Limited, London 1965, Chapter V, The Crusades, pp. 66-82.

 

Về đọan lịch sử trên, xem ibidem, p. 70, và nguyên văn bằng tiếng Latinh do Ekkehard of Aura, Chronicon Universale, MGH, SS, vol. VI p. 208.

 

(26) Would any earlier pope have been diposed to greet Jewish visitors, as did Pope John, with the words of the patriarch who dispensed grain in a time of famine: "I am Joseph, your brother" (Gen 45:4).

 

Edward A. Synan, The Popes and the Jews in the Middle Ages, 1965, p. 4.

(27) Giáo Hoàng cho rằng luận cứ sau nay là sai lạc:

 

Every one is free to follow and to profess the religion which the light of reason leads him to judge to be the true religion.

 

Jesuit Fathers of St. Mary's College, The Church teaches, St. Marys. Kansas, Tan Books and Publishers, Inc. Rockford, Illinois 61105, 1973, p. 86.

 

(28) Xem Msgr. George A. Kelly, The Battle for the American Church, tr. IX.

 

(29) The "Filioque" controversy.

The origin of the Filioque controversy presents one of the unsolved mysteries of Church history. No one has so far discovered when, how and by whom the words "and from the Son" were added to the Creed, the text of which had been solemnly approved both by the East and West as their common confession of faith at the first four Ecumenical Councils. It appears that the addition was made in Spain some time in the sixth or in the seventh century, but the circumstances under which this change occured have so far not been discovered. From Spain the Filioque clause spread gradually to neighbouring Gaul, and from there to England, Germany and Italy. At first, the Roman Pontiffs were opposed to it, and Pope Leo III (795-816) even ordered the original text of the Creed to be inscribed on silver shields and hung in St. Peter's. Charlemagne and his successors, however, were determined to uphold the legetimacy of the addition, for it provided them with the handy weapon against

 

Byzantinum. In accusing the Eastern Christians of heresy, the Western rulers found a convenient excuse for agression. The refusal of the Orthodox to accept the Spanish addition to the Creed thereby became a pretext for the conquest of territories belonging to the Eastern Empire. Under political pressure Rome withdrew its opposition to the Filioque clause, and in the next century, at the coronation of the Emperor Henry II (1002-1024) in 1014, the Creed was solemnly intoned at St. Peter's complete with the offending addition.

 

The Concise Encyclopedia of Living Faiths, Ed. by R. C. Zaehner, Beacon Press: Boston, 1959, p. 95.

 

(30) Xem Msgr. George A. Kelly, The Battle for the American Church, pp. 188 va 456.

 

(31) Ministry, according to Hang Kung, really did not became sacred until the sixth century.

Bảng phúc tŕnh thần học về hàng Linh mục (a theological study of the priesthood), soạn thảo do các Linh mục ḍng Tên, Bernard Cooke va Karl Armbruster năm 1971, có viết nguyên văn như sau:

 

"We can go on to say that there is no evidence in the New Testament that any one individual exercised all these (priestly) functions in the first century of the Christian era".

Msgr. George A. Kelly, The Battle for the American Church, p. 331.

 

(32) Prayers offered, heads ducked in unison, crossings, chants, christenings, grace at meals, beats, incense, candles, nuns in the classroom alternatively too sweet and too severe, priests garbed black on the street and brilliant at the altar; churches lit and darkened, clothed and stripped to the rhythm of liturgical recurrences; the crib in the winter, purple February and lilies in the spring; confession as intimidation and comfort and so forth.

 

Bare Ruined Choirs, pp. 15-16.- Msgr. George A. Kelly, The Battle for the American Church, p. 13.

 

(33) Some years earlier, a non Catholic psychologists, Gordon Alport, had decided that nine tenths of all Church members were "extrinsically religious". This meant they used religion as a security blanket for the way in which they already lived, but harboring more prejudice against blacks or Jews than unbelievers. Such reasoning was picked up by psychologist Eugene Kennedy, whose book In the Spirit in the Flesh applauds the movement of Catholics away from "extrinsic religion" - based on ritual, rules, and dogmas - and to an "intrinsic religion" based on the Gospel's invitation to a life of risk-taking. The pre-Vatican II Church, according to Kennedy, was extrinsic religion, one that sought to impose answers to all questions that the faithful would face, resulting in Catholic conformism. Vatican II, on the other hand offered instead, intrinsic religion, calling believers to search deeper into their own humanity.

 

Msgr. George Kelly, The Battle for the American Church, p. 13-14.

(34) No. 6 "The narrations of John are not properly history, but a mystical contemplation of the Gospel".

 

No, 21 "Revelation, constituting the object of the Catholic faith, was not completed with the Apostles".

 

No. 27 "The divinity of Jesus Christ is not proved from the gospels. It is a dogma that the Christian conscience has derived from the notion of Messiah.

 

No. 35 "Christ did not always possess the consciousness of his Messianic dignity".

 

No. 42 "The Christian community imposed the necessity of Baptism, adopted it as a necessary rite, and added to it obligation of Christian promulgation"

 

No. 47. "The word of the Lord in John 20:22-23 in no way refer to the sacrament of Penance, in spite of what is pleased the Fathers of Trent to say".

 

No. 55 "Simon Peter never even suspected that Christ entrusted the primacy in the Church to him".

 

No. 59 "Christ did not teach a determined body of doctrine applicable to all times and all men, but rather inaugurated a religious movement adapted or to be adapted to different times and places".

 

Libro citato pp. 44-45.

 

(35) As philosophers Modernists are agnostic. They confine reason entirely within the field of phenomena (the appearances of things) and so deny man's natural capacity to know God from reason or revelation. As believers Modernists come to faith in a strange way. Man may not know God by reason. Still religion is a universal human phenomenon. How does this comes about? The explanation must be found within man himself (immanence). God originates in man's need of the divine. As an external being, God is unknowable. Man just believes but that faith has no rational basis.

 

As theologian, Modernist similarly find revelation in human experience. Revelation is man's consciousness of God. Even the Church must submit to the test of the collective consciousness of men, which evolves and continues to evolve through history. ["Venerable brethen, these are not merely the foolish babblings of unbelievers. There are Catholics, yea, and priests too, who say these things openly; and they boat that they are going to reform the Church by these ravings"].

 

As historians, Modernists distinguish exegesis that is scientific from that which is theological and pastoral. So as scientifics they "are wont to display a manifold contempt for the Catholic doctrines, for the Holy Fathers, for the ecumenical councils, for the ecclesiastical Magisterium...

Msgr, Gregory A. Kelly, The Battle for the American Church, pp. 43-44

 

(36) If Jesus Christ is not the Son of God made man, or,

If his basic relevation was not fully given in his short lifespan or

If he founded a Church only in the loose sense of a community of friendly believers, and

If all believers are equal in office before the Father,

If they must search in their own way for the mind and will of God - with the counsel from priests perhaps but without being subject to them.

If institutional structures such as papacy, priesthood, minute laws, or confessionals are considered a human invention, not the divine will.

 

Then we are dealing with a different understanding of Christianity than that found in the definitions of the Catholic Church. Libro citato, p. 38.

 

(37) Paul VI: sighed (September 11, 1974) that the Church appears "destined to burned itself out".

 

lb. p. 457.

 

Bức tranh sau đây: Pḥng tra tấn của ṭa án La mă đối với những ai không chịu rửa tội hoặc bất đồng quan điểm.  Tranh vẽ của Bernard Picart , con của điêu khắc gia lừng lẫy Etienne Picart . 

 

Inquisition Torture Room by Bernard Picart (1673-1733), son of the famous engraver Etienne Picart .

 

 

Nhân tử Nguyễn Văn Thọ (Theo Sach hiem, 5/10/07)

NDVN, ngày 9/5/08



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend