TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

CUỘC CHIẾN SAU LƯNG TÔI: Đào Viên


Flag of Cambodia   Flag 

 

 

 

<> QUỐC KỲ - QUỐC CA 

<> QUỐC KỲ VIỆT NAM

<> QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA NCHXHCNVN  

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

 Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

 

 

 

Trân Chung Ngọc

 

Charlie Nguyễn 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

 

Hoàng Nguyên Nhuận

 

  Nguyễn Mạnh Quang

 

 

 Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

Thân Hữu  

 

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

  

 

Trang Nối Kết

 

 

 

 

Websites trong nước

 

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

 

Websites hải ngoại

 

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

CUỘC CHIẾN SAU LƯNG TÔI

 

 

Lửa đèn leo lét soi t́nh Mẹ

Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng

Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể

Những chuyện muôn đời không nói năng

                                            - Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống)

Đào Viên

 

 

   Trong tháng 11, năm 2008, một nữ phóng viên rất có tiếng, đă từng đoạt giải Pulitzer trước đây, cô Deborah Nelson, đă cho ra đời một cuốn sách, làm rất nhiều người chú ư. Cuốn sách có nhan đề là “The War Behind me : Vietnam Veterans Confront the Truth About U.S. War Crimes” (tạm dịch Cuộc Chiến Sau Lưng Tôi : Cựu chién binh từ VN đối mặt với sự thật về tội ác chiến tranh của Mỹ) chỉ là một cuốn sách nhỏ (296 trang; Basic Book, $26.95) góp mặt vào cả hàng trăm hàng ngàn cuốn sách đă được viết về cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam những thập niên 60-70.

 

   Điểm đặc biệt của sách này là sách tuy nhỏ mà rất súc tích so với các sách khác viết về chiến tranh Mỹ-Việt. Tác giả viết không để t́m nguyên nhân cuộc chiến, không biện luận Mỹ đă được hay thua, không t́m cách giải thích cơ sự đă xẩy ra thế nào, không t́m cách đổ lỗi cho người này người nọ, phe này phe nọ, không nghiên cứu chiến lươc, khả năng quân sự của hai phe đối đầu để học hỏi làm tài liệu giảng giậy tại các trường Cao đẳng quân sự, cũng không đưa ra những quân nhân anh hùng đáng ghi vào lịch sử của Mỹ - môt điều rất thời thượng trong cái xă hội rất hâm mộ anh hùng đủ loại này - và tất nhiên cũng không thảo luận đến cái chuyện vô bổ là phải đặt tên cho cuộc chiến này là ǵ cho có chính danh, như một số người đă làm.

 

   Cô viết sách này để ghi chép lại những điều cô đă t́m thấy về những tội ác của quân đội Hoa Kỳ đối với nhân dân Việt Nam trong khi họ tác chiến tại đây, những tội ác chưa từng bao ǵờ được phanh phui ra ánh sáng. V́ một sự t́nh cờ mà cô đă đọc đuợc những tài liệu mật của Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ chứa đựng những báo cáo của mọi cấp bậc, lên đến các tướng lănh, bộ trưởng, về những cuộc điều tra không đi đến đâu và về những cố gắng bao che của các cấp lănh đạo quân sự cũng như chính trị Hoa Kỳ về những tội ác đó.

 

    Sự h́nh thành  của cuốn sách - Có thể nói tiến tŕnh sự việc đưa đến sự h́nh thành của cuốn “The War Behind Me” của Nelson là như sau:

 

    * Năm 1969, nhà báo Seymour Hersh đăng lên một tin động trời về một cuộc thảm sát tại một làng nhỏ cao nguyên Trung phần là làng Mỹ Lai. Bài báo này với đầy đủ h́nh ảnh lính Hoa Kỳ châm lửa đốt nhà, cả trăm người dân vô tội, đàn bà, trẻ con bị bắt dồn vào một chỗ, rồi bị bắn giết và đẩy xuống những hố sâu. Lục Quân Hoa Kỳ đă làm cuộc điều tra và bốn tháng sau đă phải công nhân là chuyện đó có xẩy ra thật như vậy và đă chuyện ấy bị các cấp trên bao che. Sau cuộc điều tra, vào năm 1970, chỉ có một quân nhân bị kết tội cố ư giết người – trung úy William Calley – và bị kết án tù chung thân. Tổng thống Nixon lập tức can thiệp và Calley chỉ phải ở tù có 4 tháng rưỡi.

 

 

   * Sau đó, Lục Quân Hoa Kỳ bí mật tiếp tục cuộc điều tra rộng lớn hơn cho toàn cuộc chiến. Sau 5 năm làm việc trong bóng tối, họ đă thu thập thành  một hồ sơ khoảng 9000 trang về những tội ác, những hành động dă man của quân đội Hoa Kỳ. Cuộc điều tra ấy không được phơi bày ra ánh sáng và cũng không đưa đến sự truy tố những kẻ chủ mưu  quan trọng nào,

 

    * Bài báo của Hersh có một tác đông mạnh mẽ vào lương tâm mọi người, đặc biệt cho cô Kali Tal, một nữ phóng viên của một tờ báo địa phương.. Đến năm 1990, cô nghe phong thanh có hồ sơ mật đó. Cô đă viết cho cơ quan Quản Trị Hồ Sơ Lưu trữ Quốc Gia (the National Archives and Records Administration)  yêu cầu được xem. Khoảng một năm sau, cô được phép đến xem. Xem song, cô rất kinh hoàng và viết một bài trên tờ báo của cô, cốt báo động cho mọi người biết sự hiện hữu của xấp hồ sơ quan trọng đó. Cô không làm ǵ khác hơn. Bài báo của cô, của một nhà báo không tên tuổi, đăng trên một tờ báo nhỏ ở địa phương đă không đem lại một tiếng vang nào. Không ai để tâm đến và thùng hồ sơ này lại được khép kín trong cơ quan Quản Trị Hồ Sơ Lưu trữ Quốc Gia.

 

    * Phải 10 năm sau, một nhân viên của cơ quan Quản Trị Hồ Sơ Lưu trữ Quốc Gia, ông  Cliff Sdnyder nói tới hồ sơ này khi gặp một nhà khảo cứu chuyên về lịch sử quân sự, Nicholas Turse. Ông này quen biết cô Nelson, hồi đó làm cho nhật báo Los Angeles Times. Thế là hai người cũng nhau đào bới hồ sơ đó, lúc này đă được giải mật, để tại Đại Học Michigan, và  đem ra ánh sáng “những chuyện muôn đời không nói năng” này.

 

    Sau khi tham khảo đầy đủ hồ sơ, hai người bắt đầu t́m kiếm những cựu chiến binh Hoa Kỳ có liên quan, những người đă đứng ra tố giác cũng như những người bị tố giác đă giết những nông dân Việt Nam vô tội. Ở đây người ta mới thấy cô Nelson quả là một thiên tài điều tra v́ cô đă biết cách nói sao cho những người trong ḷng đầy mặc cảm tội lỗi, sợ hăi, căm thù, chịu nói ra, nói hết ra những tâm tư dấu kín trong ḷng từ cả mấy chục năm nay. Chỉ những chi tiết nhỏ nhặt này cũng làm người đọc thích thú. 

 

    Cô Nelson mở đầu cuốn sách của ḿnh bằng những lời thú tội của Jamie Henry. Anh này đă tham dự cuộc thảm sát ngày 8 tháng 2, 1968, trong đó đơn vị anh đă giết chết 19 người nông dân Việt Nam b́nh thường, không phải là quân du kích. Tuy sợ bị trừng phạt , nhưng anh đă bạo dạn báo cáo chuyện đó lên cấp trên. Một năm sau, anh được cho giải ngũ trong danh dự, lúc đó anh mới 20 tuổi. Thật là khó nói ra cho một ông ǵà 60 tuổi kể chuyện ḿnh đă giết người thế nào 40 năm trước.

 

    Sau đó, cô Nelson cũng đă trở sang Việt Nam thăm thú các làng mạc đă từng là những pháp trường của quân đội Hoa Kỳ - kể cả cái thôn nhỏ mà Jamie Henry đă làm đổ máu 19 thây người - để chụp ảnh và nói chuyện với dân làng, những người c̣n sống sót

 

    Cô Nelson đă thấy những ǵ? - Đọc 9000 trang hồ sơ đă được dấu nhẹm cả chục năm, cô Nelson đă thấy có rất nhiều chuyện kinh hoàng mà cô nghĩ mọi người cần được biết.

 

    * Cô thấy có báo cáo lên thượng cấp nói rằng nông dân Việt Nam, cả đàn bà lẫn trẻ con, được quân đội Hoa Kỳ xua đi trước thay thế cho máy ḍ ḿn. Ḿn nổ tung, nông dân chết gục, lính Mỹ thản nhiên bước qua. Nhiều đứa trẻ đang câu cá hay chăn vịt ngoài ruộng cũng bị bắn chết khi quân Mỹ đi qua.

 

    * Cô đọc nhiều báo cáo nặc danh kư tên “một trung sĩ quan tâm” , tŕnh thượng cấp, tả cảnh nhiều vụ tàn sát, nhiều quá đến nỗi anh cho rằng “mỗi tháng là có một Mỹ Lai”. Anh ta viết: “Nhóm xạ thủ của chúng tôi nói tới chuyện kiếm mề đay dễ dàng. Giết được bao nhiêu VC th́ một mề đay đồng, hơn bao nhiêu nữa th́ được mề đay bạc. Nhiều khi, họ mang súng ra ngoài đồng, ban ngày cũng như ban  đêm, với ống nhắm trong đêm tối, bắn bỏ những ai trong tầm 3, 4 trăm thước, bất kể có  là VC hay không, lục soát có giấy tờ hay có khí giới hay không”

 

    * Năm 1970, tuần san Newsweek ước định rằng chỉ trong 6 tháng, năm 1968, phải “có cả ngàn nông dân VIệt Nam” bị quân đội Hoa Kỳ thẳng tay giết hai.

 

    * Tài liệu tra tấn tù binh được ghi chép đầy đủ, phương pháp cho ngộp nước - được gọi là “waterboarding”, trái với Hiệp Định Genève mà Mỹ đă kư kết – là chuyện thông thường.  Trường hợp gia trọng nhất là đưa đến sự trừng phạt một quân nhân chuyên việc tra tấn tù nhân lấy cung, bị tuyên án phạt 20 năm khổ sai, v́ đă hăm hiếp một em gái 13 tuổi bị bắt về, Thế nhưng sau đó, tên hiếp dâm em bé đă chỉ ngồi tù 7 tháng 16 ngày, v́ người ta không muốn làm to chuyện.

 

    * Lại c̣n chuyện của một người, có bố là một thủy quân chuyên nghiệp, kể lại. Vào năm 1966, bố anh được một người bạn mới từ Việt Nam trở về đến thăm. Ông bạn này mang theo nhiều tấm h́nh chụp để chiếu lên tường cho mọi người xem. Anh kể: “Tấm h́nh thứ nhất là ảnh chụp chính ông ta hănh diện đứng trên một đống xác chết VC. Tấm thứ hai chụp mấy quân nhân khác, đứng khoe những dây chuyền đeo trên cổ, làm bằng tai người xẻo từ tai quân địch bị giết. Xem đến đấy, tôi lợm giọng”.

 

    Đọc đoạn này lại khiến người ta nghĩ đến một lănh tụ trong đám quân nhân giải ngũ, rất phẫn nộ, sau khi ở Việt Nam về, đă trở nên một nhân vật nổi tiếng, sau khi ông ra trước Ủy ban Liên Lạc Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ (Senate Foreign Relations Commitee) tường tŕnh. Bản tường tŕnh của ông là dựa trên kinh nghiệm của chính bản thân ông tại chiến trường Việt Nam, cũng như của trên 150 quân nhân mới giải ngũ, mà nhiều người đă được những huân chương cao quư nhất. Tất cả đều là chứng nhân của những tội ác của quân đội Hoa Kỳ, không phải là một số tôi ác lẻ tẻ, mà là tội ác xẩy ra hàng ngày mà tất cả mọi người trong tất cả các cấp bậc của quân đội Hoa Kỳ, ai cũng biết. Ông nói “Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam đă hăm hiếp đàn bà con gái,  cắt đầu kẻ địch, kẹp giây điện của máy điện thoại dă chiến vào dương vật tù nhân  rồi quay máy phát điện, chặt chân chặt tay họ, cho nổ tung xác chết, bắn bừa băi vào thường dân, triệt hạ san bằng các làng mạc như quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hăn khi xưa, bắn giết trâu ḅ gà chó làm tṛ chơi vui, bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống, tàn phá những thôn quê Việt Nam vốn đă bị dôi bom tan nát bởi quân đội chúng ta”. Ông c̣n nói đến những chiến thuật làm rợn tóc gáy mọi người như “thám sát bằng lửa” (reconaissance by fire) có nghĩa là bắn bừa băi vào mọi chỗ khi tiến vào làng, “xách nhiễu và ngăn chặn bằng lửa” (harassment and interdiction fire) có nghĩa là dùng đại pháo bắn đều đều vào các làng xóm, “khám xét Zippo” (Zippo inspection) có nghĩa là chuẩn bị đốt nhà dân chúng, “cho đi ṃ tôm” có nghĩa là đẩy tù nhân từ trực thăng xuống đất, xuống biển. vân vân..

 

    Ông này có tên là John Kerry, sau này đă trở thành một Thượng Nghị Sĩ có tầm vóc lớn của Hoa Kỳ và từng là một ứng cử viên Tổng thống xứ này. Chính v́ những lời cáo buộc chân thực, có lương tâm này mà năm 2004, khi ra tranh cử Tổng Thống với ông Bush, ông đă bị phe đối thủ tố cáo là kẻ phản bội đă nói xấu quân đội, không xứng đáng làm Tổng Tư Lệnh quân đội quốc gia. Những người này hẳn coi sinh mạng của nông dân Việt Nam vô tội là đồ bỏ và giết chết người dân Việt Nam, kể cả ông già bà cả, đàn bà trẻ con, là chuyện không phải quan tâm.

 

    * Cô Nelson đă đọc hồ sơ của khoảng 800 vụ, trong đó 300 vụ được chắc chắn là cố ư vô cớ giết người. C̣n những vụ khác th́ được cho là chưa đầy đủ để kết luận. Tuy nhiên, theo nhận định của những quân nhân giúp cô xem hồ sơ th́ những con số ấy chỉ là con số nhỏ rất xa sự thực.

 

    Tại sao có quá nhiều “Mỹ Lai” như thế mà dân chúng Hoa Kỳ chẳng ai biết đến? Hoặc giả với những người quan tâm đến chiến cuộc, người ta chỉ biết đến Mỹ Lai của trung uư Calley, của một tiểu đoàn láo lếu thôi, mà thực ra tất cả các sư đoàn đều có mặt tham dự các vụ thảm sát?

 

    * Việc đầu tiên người ta phải nghĩ đến là chiến lược chống du kích của Hoa Kỳ, của ông Tổng Tư Lệnh, tướng William C. Westmoreland thời đó. Chính sách căn bản là dùng số quân địch bị giết làm thước đo sự thành công của mỗi chiến dịch, được gọi là “body counts”. Đơn vị nào báo cáo càng giết được nhiều kẻ địch bao nhiêu, dựa theo số tử thi đếm được, th́ lại càng được trọng thưởng bấy nhiêu. Thảm trạng xẩy ra cho dân Việt Nam ở đây là các tướng lănh quân sự ở Việt Nam đă coi rẻ sinh mạng con người Việt Nam, đă để các đơn vị tác chiến tự do hành xử báo cáo về thượng cấp số “body counts”, bất cần phân biệt “Vi Xi” hay thường dân. Kết quả là các đơn vị tác chiến của mọi sư đoàn có mặt đều thi nhau báo“body counts” của đơn vị ḿnh để lấy điểm. Trong một cuộc hành quân, gọi là Speedy Express, kết toán “body counts” lên tới 11,000 xác chết, trong khi số vũ khí tịch thu được chỉ là 748. Ngoài ra, cô Nelson thấy tài liệu ghi chi tiết rằng “đại đội thứ Năm Thủy Quân Lục chiến báo cáo đă giết được 278 tên địch trong một trân đánh ở An Ḥa, nhưng chỉ thu được 18 vũ khí tại chiến trường

 

    Như vậy th́ làm sao không thể có “mổi tháng một Mỹ Lai” được?

 

    * Sau đó, người ta phải nghĩ đến ảnh hưởng của mệnh lệnh của Tổng Thống Nixon, khi thấy báo chí có thể có ảnh hưởng bất lợi cho chính phủ của ông. Ông ra lệnh: “Không được để cho Lục Quân bị mang lên trang Nhất (của bào chí)”. Quân đội thi hành mệnh lệnh này chỉ có cách là mỗi khi được báo chí hỏi về một trựng hợp họ nghe phong thanh được th́ phải t́m cách nhận ch́m xuồng. Chúng tôi đang điều tra, chưa thể nói ǵ được. Để lâu c.. trâu hóa bùn. Chính sách này làm nản ḷng những người quan hoài đến sự thật, những luật sư, công tố viên, bồi thẩm đoàn chán nản v́ biết có nói lên, t́m cách t́m hiểu sự thật, mọi chuyện cũng sẽ chẳng đi đến đâu.

 

    Với một chính sách bưng bít từ trên xuống dưới như thế th́ làm sao dân chúng Hoa Kỳ biết tới được tầm mức tác phong dă man kinh tởm của quân đội nhà mà họ rất hănh diện và cho rằng Mỹ Lai chỉ là một lầm lỡ lẻ tẻ, dễ hiểu khi phải chiến đấu với một kẻ địch sống với dân.

 

     Vài Suy Nghĩ tản mạnCô Nelson nghĩ rằng với đống hồ sơ tội ác xếp xó cả chục năm như vậy có nghĩa là họ (quân đôi) sẵn sàng nhún vai bỏ đi, xếp xó có như không có và có nghĩa là họ chẳng chịu tự vấn lương tâm, chẳng chịu t́m hiểu, học hỏi ǵ cả. Thế hệ trước lầm lỗi, các thế hệ sau chẳng biết ǵ, hoặc biết mà chối phắt, cũng lại lầm lỗi, lại lầm lỗi tệ hại hơn. Ngày nay, những nhà lănh đạo quốc gia chủ trương đánh chiếm Iraq dường như chẳng học được ǵ sau thảm bại ở Việt Nam. Cô c̣n nghĩ thêm rằng những nhà lănh đạo đă chủ trương đánh Iraq, v́ chính bản thân họ, họ không bao giờ trực tiếp với những sự ghê rợn của chiến tranh Việt Nam, của chết chóc. Cô nói : “Lầm lỗi trong quá khứ mà không hối cải th́ chắc chắn sẽ làm lầm lỗi nữa trong tương lai”.

 

    Đến đây, tưởng cũng nên nhắc lai: a) Ông Tổng Thống Bush, vào những năm gay cấn nhất của cuộc chiến ở Việt Nam (1968), hồi đó 22 tuổi, một “WASP” (white anglo-saxon protestant) chính hiệu, sinh trưởng trong một gia đ́nh có máu mặt, sống trên nhung lụa, đă vào được Không Lực của Vệ Binh Đoàn tiểu bang Texas, nên chỉ loanh quanh ở nhà không phải ra trận tại VN như các thanh niên đồng lứa; b) Ông Phó Tổng Thống Dick Cheney th́ đă xin được hoăn dịch năm lần, tránh bị đưa đi Việt Nam. Năm 1989, khi được hỏi trước Thượng viện về chuyện này th́ ông đă trả lời đơn giản là trong những năm 60, ông có nhiều việc phải làm ưu tiên hơn là nghĩa vụ quân sự; c) Ông Tổng Trưởng Tư Pháp John Ashcroft th́ cũng đă xin được sáu lần hoăn dịch v́ khi đó ông đang dậy Luật Thương Mại, tŕnh độ cử nhân (undergraduate) tại đại học Southwest Missouri State University; d) C̣n ông Paul Wolfowitz, phụ tá Tổng Trưởng Quốc Pḥng, nổi tiếng “diều hâu”nhất trong chính phủ Bush đương thời, nhưng đă không "diều hâu"chút nào đối với chiến tranh Việt Nam khi ông c̣n là sinh viên: ông đă liên tiếp xin được nhiều hoăn dịch để tiếp tục đi học.

 

    Tinh thần và hành xử độc ác, bất nhân Guatanamo, Bagdhag Hilton hay Abu Ghraib của thế hệ này chỉ là sự nối dài vô lương tâm của tinh thần và hành xử độc ác, bất nhân Mỹ Lai của thế hệ trước mà thôi.

 

    Thời buổi này, trong một thế giới nhỏ hẹp lại, Tổng Thống Hoa Kỳ cùng những cận sự viên là những người nắm trong tay một quyền hạn rất to lớn, hỗ trợ bởi một khả năng quân sự có sức tàn phá kinh khủng, có ảnh hưởng nặng nề tới, đôi khi c̣n trực tiếp chế ngự lên, đời sống của nhiều dân tộc trên thế giới. Số phận hẩm hiu của cả trăm ngàn người chết, cả triệu người Muslim phải bỏ nhà bỏ cửa ra đi, sống vất vưởng trong những trai tỵ nạn ngoại quốc, tương lai mù mịt lại bị  kỳ thị, tại nhiều nước Ả Rập Trung Đông, từ Palestine đến Iraq, qua Afghanistan, là nhưng minh chứng rơ rệt. Chứng tích này đă được ông Muntadhir Al-Zaidi - một nhà báo vô tên tuổi người Iraq - gào to lên, trong một buổi họp báo của hai nhà lănh đạo Hoa Kỳ-Iraq, khi ông ném hụt đôi giầy của ông vào mặt ông Tổng Thống Hoa Kỳ,

 

    Vẫn biết trách nhiệm chính của vị nguyên thủ quốc gia là phải bảo vệ quyền lợi nước ḿnh. Nhưng khi nói đến quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ của chủ nghĩa Đại Tư Bản, th́ mọi người đều hiểu phần chính yếu là quyền lợi của các nhóm tài phiệt Kinh Tế, Tài Chánh trong nước (the American Establishment, the Wall Street). Nói đến quyền lợi của cái “Establishment” này mà lẽ sống của họ là làm ra tiền, càng nhiều càng tốt, th́ vô bờ bến. Bởi v́ ḷng tham của những người có thật nhiều tiền như họ th́ càng vô bờ bến. Ḷng tham vô đáy của Wall Street, dùng thủ thuật “leverages” bừa băi, vô trách nhiệm, đă là nguyên nhân chính của nền kinh tế khủng hoảng rộng lớn tại Hoa Kỳ và thế giới hiện nay.

 

 

    Bởi vậy quyền lợi đích thực của quốc gia không phải chỉ ở quyền lợi kinh tế của nhóm lănh đạo tài phiệt ích kỷ, thiếu phẩm hạnh chỉ nghĩ đến tiền tài, mà c̣n ở giá trị đạo đức, giá trị nhân bản của mọi tầng lớp nhân dân, là ḷng biết kính trọng sinh mạng con người, không có ác tâm, không dùng vơ lực một cách khinh xuất, biết thương đến những kẻ yếu kém, biết giúp đỡ những kể khốn cùng. Một ông Tổng Thống lớn là người hiểu và tin đươc như vậy, hiểu được chữ “Bi” (Compassion) của nhà Phật, và có “Trí” (wisdom, vision) để nh́n rơ phân biệt được rơ ràng thiện ác, tốt xấu, cần hay không cần, trước hay sau và sau cùng có quyết tâm “Dũng” (courage) mănh thực hiện tới cùng những điều ḿnh tin tưởng, bất chấp trở ngại.

 

    Mọi người đang chờ đợi một lớp lănh đạo Hoa Kỳ mới, với một ông Tổng Thống mới b́nh dị hơn, nhân bản hơn, từng trực tiếp sống trong, sống với, nhiều nỗi đau khổ của con người, nhất là những kinh nghiệm đau thương của những người da mầu, từng bị đọa đầy, kỳ thị, kể cả những người khác tôn giáo, khác tín ngưỡng, không nhất thiêt phải là  Thiên Chúa giáo, ở khắp năm châu bốn biển. May ra chúng ta mới có được một ông Tổng Thống “Compassionate” đích thực, v́ của kia chỉ là của giả.

 

    Thêm về cô Deborah NelsonCô từng đoạt giải Putlizer và bây giờ là giáo sư giảng nghiệm tại Đaị Học Maryland, trường Báo Chí. Cô cũng là cựu Chủ tịch hội các Phóng viên và Biên Tập viên chuyên về Điều Tra, ngồi trong ban quản trị của “Fund for Investigative Journalism”. Cô hiện cư ngụ tại Takoma Park, Maryland.

 

--------------------------------------------------------------------

 

tháng 12, năm 2008

 

Ư KIẾN CỦA ĐỘC GIẢ (sưu tập của GĐOL):

 

Library Journal


“Alarming stories and important lessons for a country ‘hell-bound to repeat’ the same mistakes.”


Lt. General (USA, Ret.) Robert G. Gard, Jr

.
“In her well-written and carefully documented report, Deborah Nelson highlights our shocking failure to deal with, and learn lessons from, our extensive commission of war crimes during the Vietnam War. A must read for all who are concerned with restoring the moral credibility of our country.”


Brig. General (USA, Ret.) John H. Johns


“Deborah Nelson has done a superb job in summarizing the problem of atrocities in counterinsurgency operations and has performed a patriotic service by bringing this problem to the attention of the public. Perhaps the most important lesson here is that we should not allow our leaders to commit our military forces to such wars unless it is essential to our vital national interests.”


Stanley Karnow, author of Vietnam: A History


“Young Americans went to Vietnam imbued with a high moral purpose. But the war dehumanized many, as Deborah Nelson vividly illustrates in a book that evokes a shameful chapter in our history.”


Dana Priest, The Washington Post


“Nelson takes readers along with her on an unusually intimate journalistic journey to uncover what the government had hoped to keep secret—war crimes too cold-blooded and routine to fathom. As her riveting book reminds us, war is hell—for everyone involved. A must read for soldiers, scholars, journalists and any one else interested in both courage and cover-up during wartime.”


Seymour Hersh, author of Chain of Command: The Road from 9/11 to Abu Ghraib
“The War Behind Me establishes, sadly, the terrible fear that emerged from the horrors of My Lai—that its easy cover up suggested that deliberate killing of civilians was widespread in heavily contested areas of south Vietnam. Yes, this book says, it did happen, and yes, as at My Lai, many of those GIs who did the killing were as much victims as those they fired upon.”

 

Source: http://cgi.ebay.com/The-War-Behind-Me-by-Deborah-Nelson-(2008)-S&H-$2.90_W0QQitemZ110327003646QQcmdZViewItemQQimsxZ20081216?IMSfp=TL081216111002r39946

 

Giaodiemonline,ngày 5/1/09

NDVN, ngày 5/1/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend