TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

VÀI Ư KIẾN VỀ VẤN ĐỀ BANG GIAO VỚI VATICAN


Flag of Cambodia   Flag 

 

 

 

<> QUỐC KỲ - QUỐC CA 

<> QUỐC KỲ VIỆT NAM

<> QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA NCHXHCNVN  

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

 Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

 

 

 

Trân Chung Ngọc

 

Charlie Nguyễn 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

 

Hoàng Nguyên Nhuận

 

  Nguyễn Mạnh Quang

 

 

 Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

Thân Hữu  

 

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

  

 

Trang Nối Kết

 

 

 

 

Websites trong nước

 

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

 

Websites hải ngoại

 

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

The English newspaper The Sun raises hackles in GermanyLe Vatican Galantara dessins drawing.jpg

Pope Benedict XVI (Ratzinger) cha đẻ 117 thánh ma Việt gian

 

    Lời Phi Lộ : Hồ Chí Minh, xuất dương t́m đường cứu nước sang Pháp, Âu châu và Mỹ…, cho nên năm 1924, lúc đó nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đă viết: “ … Người nông dân Việt Nam bị hành h́nh bằng lưỡi lê của nền “ văn minh ‘’ tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm … [ Tổng Tập Văn Học Việt Nam, 1980, tập 36, NXBKH, trg 244 ] ….và viết cuốn (Le Procès De La Colonisation Fracaise ) vào năm 1925, về chuyện đất đai, cùng thời đó có ông Nguyễn Thế Truyền và một nhóm Cách mạng Việt Nam ở Pháp, viết nhiều sách báo tố cáo tội ác thực dân Pháp và cho Giáo hội Công giáo 200 ngàn mẫu ta đất ở Vĩnh Long ( thực dân Pháp cướp đất cho GHCGVN ) Không những thế viên thanh tra chính trị Toàn quyền, ông Aurousseau  (?), đă viết tài sản GHCGVN ở Việt Nam ( khi cuộc đô hộ Việt Nam mới vững chân) c̣n lớn hơn là tài sản của Chính phủ Đông Pháp ( gồm có Việt Miên Lào ) ( trích Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phaolo II, của Vũ Trọng Minh, tr 243 – 244 )….

 

    Cho nên, Hồ Chí Minh thực hiện cải cách ruộng đất, muốn lấy lại đất mà không phải giết nhiều người,  v́ lúc đó các địa chủ có tiền bạc tài sản, chạy thoát trước về vùng Pháp chiếm đóng , cũng như Ngụy quân Ngụy quyền, bọn tham ô, gian thương.bóc lột nhân dân trong thời đánh Mỹ, đă bỏ đơn vị và dân nghèo  chạy lên thành phố tỵ nạn chiến cuộc, trước khi quân giải phóng kháng chiến Việt Minh chiếm lại đất cho dân. Cải cách ruộng đất là việc phải làm ở trong Nam cũng như ngoài Bắc phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất nước … Chính sách cải cách ruộng đất đương nhiên là đụng đến Giáo hội và giáo dân Công giáo Việt gian, cho nên chúng ta không lạ ǵ tại sao người Công giáo căm thù CSVN và ngụy tạo bôi đen chính sách Cải Cách Ruộng Đất.

 

    Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội là ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt… Họ sung sướng tự hào v́ ở quê nhà, gia đ́nh họ đă được cách mạng đem lại ruộng đất, đem lại sự đổi đời và cuộc sống mới cho bố, mẹ, vợ con và gia đ́nh

 

    Thành quả, Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất là những đại chiến tích lịch sử và quân sử dân tộc Việt, quân sử và lịch sử thế giớiquân sử chiến bại giặc Mỹ-Pháp-Vatican viết về: Cách mạng Tháng tám, Điện Biên Phủ 54, Điện Biên Phủ Trên Không 72, và Thống nhất đất nước Đại Thắng Mùa Xuân 75

 

    Trong suốt 21 năm toàn dân quyết tâm đánh cho Mỹ cút - Ngụy nhào (1954 – 1975), Vatican chỉ có thừa nhận bang giao Ngụy VNCH  và có ṭa Khâm sứ tại Saig̣n, không những thế Vatican c̣n gửi Hồng y Spellman ban phước lành cho đoàn quân xâm lược đế quốc Mỹ tàn sát nhân dân ta, nên nhớ rằng Hồng y Spellman là cha đỡ đầu và đem Diệm về cai trị và Gia tô hóa Việt Nam.

 

    Vatican chẳng có gửi một cán bộ ṭa thánh ma  đến Hà Nội thương thảo bang giao với nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, vào thời đó Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng CSVN và nhà nước VNDCCH rất mong muốn được bang giao với Vatican để tạo thế ngoại giao trên trường Quốc tế vững  mạnh. Nhưng con Cáo Vatican đâu có muốn, không những thế c̣n mong đế quốc Mỹ thả bom cày nát miền Bắc thành thời Đồ Đá, chỉ có khi biết đế quốc Mỹ sẽ chiến bại bỏ chạy, th́ Vatican tráo trở vô liêm sĩ đón phái đoàn ngoại giao MTGPMN do bà Nguyễn Thị B́nh cầm đầu, c̣n con chiên nghẻ Việt gian Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu van xin được hội kiến giáo hoàng th́ bị từ chối.

 

    Khi toàn Đảng và toàn Dân, giải phóng thống nhất đất nước vào ngày 30/4/75, chỉ sau vài ngày giải phóng Saig̣n th́ chính những giáo dân Nguyễn Đ́nh Đầu, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Lư Quư Chung, Nguyễn Khắc Xuyên…linh mục Nguyễn Khắc Từ, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, linh mục Thông….xông vào ṭa Khâm sứ (ṭa đại sứ Vatican) dẫn độ tên Khâm sứ và toàn bộ nhân viên tống xuất về Vatican (trích TUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC Trong Đồng Bào Công Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh – UBĐKCGYN: TP HCM – Tháng 4 – 1985, NDVN sẽ cho lên mạng)

 

    Không những thế, toàn bộ tài sản GHCG Việt Gian tự hiến dâng và giao nộp (trưng thu) cho các Ủy Ban Quân Quản địa phương từ Bến Hải đến Cà Mâu (Miền Nam VNCH) theo giáo lệnh của tên đại Việt gian TGM Nguyễn Văn B́nh, và ông B́nh tham gia đào đất, công tác Thủy lợi…Bản chất giáo dân và giáo sĩ Kytô La Mă tráo trở lật lọng và vô liêm sĩ…thế lại nổi loạn đ̣i đất và tài sản chúng đă ăn cướp của đất nước ta, là những cuộc nổi loạn Quỳnh Lưu, ṭa Khâm sứ, Thái Hà, khu đất thánh ma Dê-su ở Nha Trang...và hiện nay. Nhân dân ta đă biết Chủ tịch Hồ Chí Minh viết như sau: “ … Người nông dân Việt Nam bị hành h́nh bằng lưỡi lê của nền “ văn minh ‘’ tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm … ở trong Nam cũng như ngoài Bắc phải lấy lại đất của Pháp, của nhà Chung để chia cho cán bộ và nông dân có sức lực và siêng năng cần cù mà không có đất để sống và cày bừa và hy sinh cho cách mạng quyết dành chủ quyền - độc lập - thống nhất đất nước …

 

    Nhân dân ta và nhà nước CHXHCNVN, được sự lănh đạo của quư Ngài BCT và Việt Minh Cộng Sản Đảng hiện nay, đưa đất nước phát triển, nhân dân ấm no lợi tức đầu người trên 800 dollars/năm, bầu bạn giao thương b́nh đẳng với trên 175 quốc gia và được kính trọng khắp năm châu....là được truyền thừa Tư Tưởng Hồ Chí Minh đánh thắng đế quốc thực dân Pháp-Vatican-Nhật-Mỹ-Tàu Đăng, th́ không thể, không biết rằng bang giao với Vatican (Vatican đă 15 lần đến quỳ lạy khổ nhục liếm chân nhà nước xin được bang giao) chẳng có lợi ǵ mà chỉ rước họa cho con cháu của trên 2 triệu đảng viên CS, sẽ tàn mạc hơn con cháu Ngụy quân-Ngụy quyền sau ngày thống nhất đất nước 1975, là bọn GHCG Việt gian nếu có cơ hội nắm quyền sẽ không có nhân hậu như Việt Minh Cộng Sản Đảng đă làm, mà nhất con cháu thuộc ngành Công An và T́nh Báo th́ ôi thôi !!! (Nhân dân ta không bao giờ, không bao giờ, và không bao giờ muốn bang giao với Vatican cho dù Trung quốc có bang giao)

 

    Nếu có bang giao Vatican ngày gần đây, th́  vận nước tàn mạc và không biết  vài ngàn năm sau nước ta có được Bác Hồ và VMCSĐ, xuất hiện giải phóng Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của đế quốc Kytô Bạch Quỷ. Bang giao, Bang giao, Bang giao Vatican…th́ chi xin tặng hai câu nói của Tổng thống Bush Con và Thống đốc Frank Keating tiểu bang Oklahoma như sau:

 

    * Trong kỳ vận động tranh cử Tổng thống tại Đại học South Corolina vào năm 2000, ứng cử viên Bush con nói rằng: Công giáo La Mă là Ma Quỷ “Roman Catholic‘s Devil” 

 

    * Thống đốc F. Keating nói rằng: Công giáo La Mă là Mafia “ Roman Catholic’ s the Mafia”  

  

 

 

 

VÀI Ư KIẾN VỀ VẤN ĐỀ BANG GIAO VỚI VATICAN

 

Trần Chung Ngọc

 


Một phái đoàn của Vatican sẽ đến Việt Nam ngày 16 tháng 2, 2009, để thương thuyết thiết lập liên hệ ngoại giao với Việt Nam, điều mà Vatican đă mong muốn từ lâu. Vatican biết rơ tín đồ Công giáo Việt Nam thuộc loại cuồng tín nhất trên thế giới, và tuyệt đối trung thành với Vatican Vatican nhất, nên muốn được chính thức quản trị và điều động hợp pháp số giáo dân này. Công giáo ở hải ngoại chống Cộng năng nổ nhất, với nhiều thủ đoạn xuyên tạc hạ cấp nhất. C̣n Công giáo trong nước bất chấp luật pháp quốc gia: linh mục có những hành động côn đồ trong Ṭa (Nguyễn Văn Lư), và giáo dân do sự điều động của TGM Ngô Quang Kiệt, trường kỳ cầu nguyện nơi không phải để cầu nguyện, làm xáo trộn đời sống xă hội trong thủ đô, để đ̣i lại vài mảnh đất ăn cướp được của Phật Giáo khi xưa. Đó là vài điều Việt Nam không nên quên.

 

Việt Nam cũng không nên quên là gần đây, để khích động sự cuồng tín của tín đồ và tái tạo sách lược chống Cộng của Giáo hội Công giáo trong thế kỷ trước, giáo hoàng Benedict XVI đă mạnh mẽ lên tiếng lên án chủ thuyết quốc xă cũng như chủ thuyết Cộng sản vô thần. [Xin đọc bản tin của VietCatholic ngày 19/5/2005: “Linh Mục Đặng Thế Dũng: Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI mạnh mẽ kết án chủ thuyết quốc xă và chủ thuyết cộng sản vô thần.”] Và trong đại hội giới trẻ Công Giáo ở Sydney năm ngoái, Giáo hoàng Benedict XVI đă chính thức tiếp nhận chiếc khăn quàng cờ vàng ba sọc đỏ, một biểu tượng của Công giáo chống đối một sống một c̣n với chính quyền Việt Nam, và quàng nó lên cổ.

 

Những người đă từng nghiên cứu lịch sử Công giáo đều biết rơ rằng Công giáo đă từng liên kết chặt chẽ với phát xít Đức và Ư. [Xin đọc John Cornwell: Hitler’s Pope: The Secret History of Pius XII, 1999] Những tài liệu và h́nh ảnh về vấn đề này đă có đầy trong các thư viện và trên Internet [http://www.nobeliefs.com/nazis.htm]

 

Trước những bằng chứng lịch sử bằng văn và bằng h́nh ảnh bất khả phủ bác như vậy mà ngày nay Giáo hoàng Benedict XVI lại lên án chủ thuyết quốc xă th́ những lời lên án đó có giá trị ǵ. Ông ta không thể không biết đến những liên hệ của Giáo Hội Công giáo với những chế độ Phát xít Đức, Ư, và những lời lên án của ông đă quật ngược lại Giáo hội Công giáo La Mă, chứng tỏ đó chỉ là một hành động vô liêm sỉ và đạo đức giả, đưa bộ mặt thánh thiện giả tạo của chính ông và giáo hội mà ông đứng đầu. Nhưng những hành động vô liêm sỉ và đạo đức giả như vậy chỉ có thể lừa bịp được đám tín đồ ngu ngơ như Linh Mục Đặng Thế Dũng chứ không thể lừa bịp được ai khác.

 

Thật ra, sự vô liêm sỉ và đạo đức giả của Benedict XVI trong việc lên án quốc xă chỉ là đi theo vết chân của Giáo hoàng Pius XII, Hitler’s Pope. Chúng ta biết rằng John Cornwell đă xuất bản cuốn Hitler’s Pope: The Secret History of Pius XII năm 1999 dựa theo những hồ sơ mật của Vatican mà ông được phép tham khảo, và những nguồn tài liệu của Đức về những hoạt động của Pius XII ở Đức trong những thập niên 1920, 1930 kể cả những cuộc thương thuyết của ông ta với Hitler trong năm 1933 [Two key officials granted me access to secret material: depositions under oath gathered 30 years ago to support the process for Pacelli's canonization, and the archive of the Vatican Secretariat of State, the foreign office of the Holy See. I also drew on German sources relating to Pacelli's activities in Germany during the 1920s and 1930s, including his dealings with Adolph Hitler in 1933.] Với hàng ngàn tài liệu tham khảo, John Cornwell đă thấy những ǵ? Chúng ta hăy nghe ông mô tả trong một đoạn ngắn.:

 

“Những bằng chứng nổ tung như bom. Lần đầu tiên chúng chứng tỏ Pacelli (tức giáo hoàng Pius XII) là người chống Do Thái có môn bài, qua chính những lời nói của ông ta. Chúng phanh phui ra rằng ông ta đă giúp Hitler lên nắm quyền lực và cùng lúc phá ngầm khả năng chống đối của Ca-Tô ở Đức. Chúng chứng tỏ ông ta đă phủ nhận và tầm thường hóa Holocaust, tuy rằng ông ta đă có những hiểu biết đáng tin cậy về mức độ của Holocaust. Và, tệ hơn nữa, ông ta là một tên đạo đức giả, v́ sau chiến tranh ông ta đă vơ vào ḿnh công lao thái quá là trong quá khứ ông ta đă nói thẳng ra để chống sự bạo hành của Nazi.” [The evidence was explosive. It showed for the first time that Pacelli was patently, and by the proof of his own words, anti-Jewish. It revealed that he had helped Hitler to power and at the same time undermined potential Catholic resistance in Germany. It showed that he had implicitly denied and trivialized the Holocaust, despite having reliable knowledge of its true extent. And, worse, that he was a hypocrite, for after the war he had retrospectively taken undue credit for speaking out boldly against the Nazis’ persecution.]

 

Đạo đức vô đạo đức của các vị chủ chăn Công giáo như Pius XII, John Paul II thường là lắt léo, lá mặt lá trái như vậy, cho nên ngày nay chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy giáo hoàng Benedict XVI, nguyên là một phần tử trong đoàn Thiếu Niên Tiền Phong của Hitler, lên án quốc xă.

 

Bây giờ đến vấn đề Benedict XVI lên án Cộng Sản Vô Thần. Có lẽ v́ suốt đời sống trong cái “bóng tối dày đặc của ư thức hệ La Mă” (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism) cho nên Giáo hoàng Benedict XVI không hề được học rằng, giữa thế kỷ 18, nhà Đại Văn Hào Pháp Voltaire đă nhận định: “vô thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people) để đối chiếu với số đông những người “hữu thần” ngu dốt tin nhảm tin nhí vào một thần của Do Thái trong thời đó ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là tín đồ Ki-Tô Giáo.

 

Nhưng có vẻ như đám người ngu dốt này, qua sự bành trướng của Công Giáo, không chỉ giới hạn ở Âu Châu, không tiến bộ được chút nào trải qua đă vài thế kỷ, cho nên chúng ta vẫn thấy họ dùng những từ như “Cộng sản vô thần” tràn ngập trên Internet, hầu hết từ phía những người Công giáo Việt Nam, hàm ư “vô thần” là một cái ǵ xấu xa, v́ không chịu tin nhảm tin nhí vào ông thần Do Thái của họ. Thật là tội nghiệp cho họ. Họ có biết đâu “vô thần” là biểu hiện của tự hào, của danh dự, của sự tiến bộ trí thức, và “vô thần” đă có trong suốt gịng lịch sử của nhân loại, trong khi Cộng Sản mới chỉ thành h́nh vào đầu thế kỷ 20. Tại sao họ lại đần độn và mù quáng đến độ ngày nay c̣n dùng đến chiêu bài “Cộng sản vô thần” như vậy? V́ họ đă bị những tôn giáo độc thần làm tê liệt đầu óc, khiến cho họ suốt đời phải bám víu vào một vị thần tưởng tượng do tôn giáo đó bày đặt ra, như bám víu vào một cặp nạng để lê lết trên trường đời.

 

Họ là những người mù nhưng lại muốn dẫn đường cho những kẻ sáng. Họ là những người què quặt nhưng lại muốn phát cho những người lành lặn mỗi người một cặp nạng. Họ được dạy vô thần là chống thần của họ, cho nên với bất cứ giá nào, họ phải chống những người “vô thần” để duy tŕ sự mù quáng và những cặp nạng của họ. Họ không thể hiểu được rằng, đối với những người vô thần th́ thần của Ki-Tô Giáo cũng như lông rùa, sừng thỏ, không thể có, không thể hiện hữu, cho nên chống cái không có, không hiện hữu, là một chuyện phi lư, không có mấy ai có đầu óc đi làm chuyện phi lư đó.

 

Đọc danh sách những người “vô thần” chúng ta thấy hầu hết đều là những danh nhân trí thức trên thế giới, trong khi đọc danh sách những giáo hoàng Công giáo, những người “hữu thần” nặng kư nhất, chúng ta thấy không thiếu ǵ những kẻ ngu dốt, ác độc, giết người, loạn luân, phạm đủ mọi thứ tội ác thế gian. Vậy “vô thần” hơn hay là “hữu thần” hơn?

 

Những cuộc thánh chiến tôn giáo, những ṭa án xử dị giáo, những cuộc tra tấn nơi h́nh ngục, những cuộc thiêu sống con người, những cuộc săn lùng phù thủy, những cuộc chiếm đất diệt chủng của Ki-Tô Giáo, hai cuộc thế chiến vào thế kỷ 20 v..v.., là do “vô thần” hay “hữu thần” gây ra? Benedict XVI có biết đến lịch sử vô cùng tàn bạo đẫm máu của chính giáo hội Công giáo La Mă trên khắp thế giới không? Trong khi lịch sử của “Cộng sản vô thần” (sic) chỉ thu hẹp trong một số địa phương và có đáng kể ǵ so với lịch sử tàn bạo của Công giáo? Vậy Benedict XVI lấy tư cách ǵ để mà lên tiếng kết án chủ thuyết Cộng Sản vô thần?

 

Cho nên, mười ngàn lời lên án Cộng Sản Vô Thần của Benedict XVI cũng không thể xóa bỏ được ảnh hưởng của Cộng Sản trong vấn đề làm Công Giáo suy sụp trên thế giới. Như vậy, thực chất những lời lên án chủ thuyết quốc xă và chủ thuyết Cộng sản vô thần của Benedict XVI là hoàn toàn vô giá trị, chỉ có tính cách ngụy quân tử và khuyến khích tín đồ Công giáo Việt Nam hăy tích cực chống Cộng. Giáo hoàng lên án chủ thuyết Cộng Sản Vô Thần là điều tất nhiên v́ Công Giáo vốn không đội trời chung với Cộng Sản, một ư thức hệ đối nghịch với ư thức hệ Công giáo và đă đưa Công giáo vào một bước ngoặt lịch sử trên con đường suy thoái.

 

Hiện tượng suy thoái của Công Giáo La Mă trên khắp thế giới, nhất là ở Tây Phương, cái nôi của Công Giáo trước đây, đă là điều hiển nhiên đối với những người để tâm t́m hiểu. V́ vậy, Công Giáo đang có nỗ lực cải đạo Á Châu, một lục địa đông dân và tài nguyên phong phú, nơi đây đám đông quần chúng c̣n nghèo và không có cơ hội học hỏi t́m hiểu để mở mang trí tuệ, để có cùng tŕnh độ hiểu biết và suy luận về tôn giáo như đa số người dân Tây Phương, cho nên dễ bị mê hoặc bởi những mồi vật chất nhỏ nhoi và bởi những điều mê tín hoang đường đă không c̣n chỗ đứng ở Tây Phương.

 

Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan v..v.. là những miền đất tốt để cho Công Giáo thực hiện âm mưu mang đồ phế thải ở Âu Mỹ tới trồng cấy đàng sau chiêu bài cải đạo Á Châu, với hi vọng có thể xóa bỏ nền văn hóa Đông Phương, biến con người thành những đàn chiên, tuyệt đối tuân phục Vatican như những tín đồ trong thời Trung Cổ trước đây. Ở Thái Lan, Công giáo và Tin Lành đă công khai in ấn những tài liệu xuyên tạc, phỉ báng Phật Giáo. Nhưng ở Trung Quốc và Việt Nam, Công Giáo không thể tự do hoành hành. V́ vậy từ nhiều năm nay, Vatican luôn luôn muốn ve văn Trung Quốc và Việt Nam để đi đến thiết lâp bang giao, những nước xă hội chủ nghĩa không chấp nhận cho con dân của nước ḿnh phải lệ thuộc một thế lực ngoại bang mà thực chất chỉ là một tổ chức thế tục. Muốn biết rơ bộ mặt thực của Vatican xin hăy đọc rất nhiều tài liệu về Vatican trên

 

 http://www.bibliotecapleyades.net/esp_vatican.htm#Books_and_Treaties dưới đầu đề “The Dark History of the Vatican .

 

Việc thiết lập quan hệ ngoại giao b́nh thường giữa Việt Nam và Vatican thực ra không phải là vấn đề, v́ trên thế giới đă có nhiều nước bang giao với Vatican. Toàn thể Âu Châu đều bang giao với Vatican nhưng Vatican không c̣n ảnh hưởng ǵ nhiều trên những quốc gia mà khi xưa có thể nói là toàn ṭng Công giáo như Pháp, Ư, Tây Ban Nha. Lư do là dân trí ở các nơi đây đă cao, cho nên dù là tín đồ Công giáo người dân cũng chỉ theo trên h́nh thức và thần quyền cũng như thế quyền của Vatican khi xưa đă không c̣n một tác dụng nào trên xă hội.

 

Mới đây, ngành tư Pháp Ư c̣n ra lệnh phải tháo bỏ những cây thập giá treo trên các tường của trường học, và xe ô-tô- búyt c̣n mang bảng hiệu “Thiên Chúa có thể không hiện hữu”.

 

Nhưng đối với Việt Nam th́ có khác. Chỉ chiếm 7% dân số mà họ đă tự tung tự tác coi thường pháp luật, coi giáo luật của Công giáo đứng trên hết, như lời khẳng định của hội đồng giám mục Việt Nam trước yêu cầu của Nhà Nước muốn thuyên chuyển một số linh mục làm loạn ra khỏi địa phần Thủ Đô Hà Nội. Đó là khi mà Vatican chưa có thực quyền trực tiếp đối với giáo dân Công giáo ở Việt Nam.

 

Tuy nhiên, có hai vấn đề cần được đặt ra.

 

Nhà Nước cần phải biết rơ ḿnh bang giao với ai, một quốc gia thế tục như mọi quốc gia khác, hay một tôn giáo? Như vậy, điều cần thiết là Vatican cần khẳng định với Việt Nam: Vatican là một quốc gia thế tục hay là một tôn giáo?

 

Nếu là một quốc gia như mọi quốc gia thế tục khác th́ việc bang giao với Vatican là chuyện tất nhiên, cũng như Việt Nam đă bang giao với nhiều quốc gia khác, và cũng lẽ dĩ nhiên, v́ là ngoại bang, Vatican không được có một bất cứ quyền hạn nào đối với con dân Việt Nam, bất kể là họ theo tôn giáo nào..

 

Nếu chỉ là một tôn giáo thuần túy lo việc tâm linh của tín đồ của một tôn giáo trong vô số tôn giáo trên thế gian, thí dụ như Hồi giáo, Do Thái giáo, Ấn Độ Giáo v..v.. , th́ không có lư do ǵ để Việt Nam phải bang giao với một tôn giáo, nhất là tôn giáo này đă đưa đến Việt Nam nhiều hệ lụy và c̣n đang nắm giữ đầu óc của 5-7% dân số người Việt.

 

Nếu Vatican vừa là một quốc gia thế tục vừa là một tôn giáo th́ có lẽ Việt Nam cũng cần phải đắn đo suy nghĩ xem bang giao như thế nào, có những điều kiện và tiêu chuẩn nào v..v…, nhất là trong thời điểm này, khi mà giáo dân Việt Nam chưa mở mang trí tuệ đủ để hiểu rằng tôn giáo là việc riêng tư, giáo luật của tôn giáo nào chỉ có giá trị trong tôn giáo đó, và người Việt Nam phải được giáo dục để đặt ḷng yêu nước lên trên hết. Mặt khác, trước khi bang giao với Vatican, Việt Nam có nhiều điều cần phải giải quyết với Vatican.

 

Nhà Nước cần giải quyết dứt khoát với Vatican:

 

- những vấn đề lịch sử khi Công Giáo đến Việt Nam, nhất là trong thời kỳ Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa và sau đó;

 

- vấn đề những đất đai và tài sản mà Công Giáo đă dựa vào thế lực của thực dân Pháp và của chế độ Công giáo Ngô Đ́nh Diệm trong 9 năm ở miền Nam để cướp đoạt của Việt Nam;

 

- những hệ lụy mà Vatican đă mang đến Việt Nam;

 

- những giáo lư và thực chất của Thiên Chúa trong Kinh Thánh của Công giáo và truyền thống văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam v..v…,

 

- và nhất là vấn đề tôn trọng chủ quyền Việt Nam trong mọi h́nh thức hoạt động xă hội cũng như tôn giáo ở Việt Nam. Đây là những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết một khi cuộc bang giao đă h́nh thành. Và ngày nay, nếu muốn, Nhà Nước có thể có đầy đủ tài liệu về những vấn đề này để đặt trên bàn đối thoại thương thuyết với Vatican.

 

Như vậy, bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng Việt Nam cần phải “biết ḿnh, biết người”. Việt Nam cần phải biết rơ chính ḿnh và quan trọng hơn nữa là cần phải biết rơ Vatican. Hi vọng người dân trong nước, nhất là khối Phật Giáo, có thể tích cực giúp Nhà Nước trong vấn đề biết rơ truyền thống văn hóa Việt Nam. Biết rơ Vatican trong chính sách đối ngoại là vấn đề then chốt có ảnh hưởng đến tương lai của cả dân tộc, của “dân vạn đại”, chứ không chỉ ảnh hưởng đến một Đảng, một tôn giáo, hay một chế độ “quan nhất thời”.

 

Cũng v́ vậy mà Nhà Nước cần sự góp ư của người dân, những người dân không thuộc thế lực phi dân tộc và tất nhiên phản dân tộc. Hi vọng bài viết này có thể góp được một phần, dù nhỏ nhoi, trong chính sách đối ngoại của Nhà Nước đối với Vatican, qua một số thông tin về bản chất, chủ trương của Vatican, và nhất là thực lực của Vatican trên thế giới ngày nay.

 

Việt Nam là một nước Phật Giáo, điều này không ai có thể chối căi, đại lễ Vesak vừa qua đă chứng tỏ như vậy. Nhưng ư thức tôn giáo của Việt Nam là một ư thức chiết trung, nghĩa là dung ḥa mọi tín ngưỡng. Do đó tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho, Lăo) Đồng Nguyên đă là một vết son đậm trong lịch sử tôn giáo của Việt Nam. Truyền thống văn hóa cao cả này của Việt Nam hoàn toàn đối ngược với những tôn giáo độc thần như Ki-Tô-Giáo, Do Thái Giáo, và Hồi Giáo, những tôn giáo cho rằng con người chỉ có quyền được thờ thần của họ, dù rằng thần của họ chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của người dân miền Trung Đông trong thời kỳ bán khai mà ngày nay đă không c̣n chỗ đứng trong những xă hội văn minh tân tiến. Những bằng chứng khoa học ngày nay đă chứng tỏ rơ ràng như vậy hơn bao giờ hết.

 

Tôi nghĩ rằng Nhà Nước Việt Nam cũng nên biết rơ thực lực và thực chất của Vatican và Công giáo ngày nay trên thế giới ra sao để có thể đi đến một quyết định sáng suốt trong vấn đề đi tới thiết lập liên hệ ngoại giao với Vatican. Tôi hi vọng một số tài liệu sau đây có thể giúp Nhà Nước nắm rơ vấn đề hơn.

 

Công giáo là một tôn giáo, theo như Robert G. Ingersoll, mạnh về số đông nhưng rất yếu kém về trí thức. Và khi trí tuệ con người mở mang tiến bộ như ở Âu Châu th́ Công giáo phải suy thoái. Thật vậy, nữ học giả Công giáo Joane H. Meehl, người mà sau khi đă thấy rơ chủ đích và những việc làm của giáo hội Công giáo từ thế kỷ 4 tới nay, đă viết trong cuốn "Người Tín Đồ Công giáo Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic), trg. 288, như sau:

 

"Đạo Công giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải mái" (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant. It is overcome by education and economic well-being).

 

Những điều trên không phải là những nhận định vu vơ mà đă là những sự kiện mà chính Giáo hoàng Benedict XVI cũng phải thú nhận gần đây. Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, th́ Giáo hoàng Benedict XVI đă lên tiếng phàn nàn như sau:

 

- “Những tôn giáo chủ đạo Tây Phương có vẻ đang chết dần v́ các xă hội càng ngày càng trở nên thế tục và không c̣n cần đến Thiên Chúa nữa” [Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God].

 

- “Trong khi đức tin ở các nước đang phát triển đang lên th́ ở Tây Phương lại khác, một thế giới chán ngấy với chính nền văn hóa của ḿnh [Thật ra Tây Phương chán ngấy nền văn hóa Ki Tô Giáo chứ không phải là nền văn hóa Tây Phương, Giáo hoàng Bê-nê-đít-to XVI đă nhập nhằng đánh đồng nền văn hóa Tây Phương, một nền văn hóa thiên về suy lư sáng tạo, với nền văn hóa Ki-Tô Giáo, một nền văn hóa thiên về một đức tin mù quáng. TCN] nơi đây không c̣n bằng chứng về một sự cần đến Thiên Chúa, và ngay cả sự cần đến đấng Ki-Tô lại c̣n ít hơn nữa ” [It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there's no longer evidence for a need of God, even less of Christ].

 

- “Trong một số quốc gia tiến bộ có khi chỉ có 5% giáo dân đi xem lễ ngày Chủ Nhật” [Participation at Sunday Mass in some developed countries was as low as 5 percent.]

 

- “Benedict cũng tỏ ra rầu rĩ về vấn đề những tín đồ Ca-Tô ly dị đă tái hôn mà không cần đến phép hủy hôn của Giáo hội. Ông ta khẳng định lại là những người này không thể được hưởng bí tích ăn bánh thánh nhưng nhấn mạnh là họ nên nghĩ rằng họ vẫn c̣n ở trong giáo hội.” [Benedict also expressed sadness at the plight of divorced Roman Catholics who remarry without getting an annulment, reaffirming that they cannot receive Communion but streessing they should feel they still belong to the church.]

 

- Benedict nói: Sự “vui mừng” về số lượng các linh mục gia tăng trong các nước đang phát triển th́ kèm theo một “sự cay đắng hiển nhiên” v́ một số các linh mục tương lai chỉ theo đuổi một đời sống tốt đẹp hơn. [Đồng nghĩa với “theo đạo có gạo mà ăn”] Trở thành linh mục, là họ trở thành như một ông tù trưởng, đương nhiên được hưởng sự ưu đăi và có một lối sống khác.[Benedict said the "joy" at the growing numbers of churchmen in the developing world is accompanied by "a certain bitterness" because some would be priests were only looking for a better life."Becoming a priest, they become almost like a head of a tribe, they are naturally privileged and have another type of life.] (Điều này thật đúng v́ thống kê cho biết đa số chủng sinh vào nghề linh mục ở Mỹ hiện nay là gốc Mễ và gốc Mít, chẳng phải là v́ “ơn kêu gọi” của Thiên Chúa mà v́ ông Washington trên những tấm giấy xanh gọi. Báo Chicago Tribune ngày 11 tháng 12, 2005 đăng mẩu tin: “Vào thời điểm mà có ít tín đồ Công giáo Mỹ biểu lộ sự thích thú vào nghề linh mục, những người Mỹ gốc Việt là một sự bất thường. Họ là khối thiểu số lớn thứ nh́ trong các trường ḍng, chỉ hơi ít hơn những người Mễ, trong đó có một số người già, như Trinh Quang Le, đă 51 tuổi” [At a time when fewer American Catholics are expressing interest in the priesthood, Vietnamese-American men are an anomaly. They are the second-largest minority ethnic group in seminaries, only slightly behind Hispanics. There are a few older seminatians, like Trinh Quang Le, 51…]. TCN). Lẽ dĩ nhiên những người Mỹ gốc Việt này xuất thân từ những gia đ́nh có truyền thống Bùi Chu - Phát Diệm – Hố Nai – Gia Kiệm và những chuyên viên “bảy nghề”.

 

Đó cũng là vấn đề tại sao Vatican rất thích thú với tín đồ Công giáo Việt Nam và mong muốn được mang đồ phế thải ở Âu Châu về tích cực mở mang nước Chúa ở Việt Nam

 

Những lo ngại của Benedict XVI không phải là vô căn cứ v́ t́nh h́nh Công Giáo ở Âu Châu đang suy thoái một cách thê thảm. Ngày nay Vatican chỉ c̣n dựa trên đám tín đồ thấp kém, hơn 70% thuộc thế giới thứ ba và một vài ốc đảo ngu dốt ở Á Đông, nơi đây tổng số tín đồ chỉ chiếm nhiều nhất là 2% dân số Á Đông. Đây chính là thực lực thực sự của Công Giáo La Mă. Nhưng bộ máy tuyên truyền của Vatican với sự phụ họa của đám con chiên nô lệ vẫn cố sức đưa ra những h́nh ảnh hào nhoáng không thực về thực lực của Vatican.

 

Thật vậy, t́nh trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo La Mă nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ là một t́nh trạng đă rơ rệt, không ai có thể phủ nhận. Một vài tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho chúng ta thấy rơ hiện tượng này. Trong cuốn Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries) của Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa trên một chương tŕnh TV 6 kỳ của đài BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể đọc được vài sự kiện như sau:

 

Trang 242: Âu châu đă trở thành “một mối bối rối, lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà nhà thần học Đức Kierkegaard đă gọi là lục địa của những “người ngoại giáo đă được rửa tội”. Nói ngắn gọn, Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của chương tŕnh truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó lại đă trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một số người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”.

 

Theo Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) th́: Người ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại Thượng đế th́ sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại Âu Châu. [Nếu có một Thượng đế].

 

Những nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều của chủ nghĩa thế tục. Họ cực lực phủ nhận đó là định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc gia theo Ki Tô Giáo.

 

(Europe had become “an embarrassement to Christianity”, a continent of what the German theologian Kierkegaard called “baptised pagans”. In short, Europe, for centuries the craddle of Christian Mission, had itself become a mission field… Some say it is a “post-Christian” continent.

 

For Floyd McClung: there is a fear that if Europe continues to turn its back on God, the time may come when God will turn His back on Europe.

 

The missionaries believe that Europe is in danger of being swamped by a tidal wave of secularism. They vigorously deny that this is the inevitable and ultimate destiny for all Christian nations..)

 

Trang 244: Ở Anh Quốc: T́nh trạng vô Thượng đế ở Anh được coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao động ở đô thị. Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể, giới trung lưu vẫn c̣n là những người, nếu không phải là sợ Thượng đế th́ ít nhất cũng là những kẻ tiếp tục đi lễ nhà thờ... H́nh ảnh này đă hoàn toàn thay đổi. Sự truyền nhiễm đă tràn vào giới trung lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của giáo hội, những giáo xứ ở miền quê, cũng đă bị nhiễm độc. Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851, vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ. Một thế kỷ sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào khoảng gần 10%.

Các nhà thống kê tranh căi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần thành ở Anh thấp như thế nào. Một số người cho rằng số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%. Tới năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; 3/4 có dưới 100 tín đồ.. Nhà thờ trên khắp nước Anh bị bỏ hoang vắng. Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời lớn. Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và Highgate, những nhà phát triển địa ốc đă biến những nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho thuê; ở Wales, giáo phái Trưởng Lăo Tin Lành (Bresbyterian) biến cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một căn nhà đầu tiên. Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và làm tiệm ăn.

 

Tuy nhiên sự quan tâm về t́nh trạng suy sụp tâm linh ở Anh chẳng có nghĩa lư ǵ khi so sánh với Pháp. Theo nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù Pháp có một nền văn hóa phong phú, dân Pháp cũng “không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế giới.” Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo Tin Lành. Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo Công giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày chủ nhật. Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của Công giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được truyền giáo.

 

(In Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a contagion confined to the urban working classes. Although there were notable exceptions, the middle classes remained, if not God- fearing, then at least church-going folk…The picture had completely changed. The disease had spilled into middle-classes suburbia and even the life-blood of the church, the rural parishes, had been infected. On census Sunday in 1851, some 40% of the population went to church. A century later, in 1951, it was nearer 10%.

 

The statisticians quibble about how just low the figures are for practising Christians in Britain. Some argue that consistent church attendance is as low as 4%. By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant churches had congregations of less than 25; ¾ had less than 100 members… Churches all over Britain lie abandoned and derelict. In London particularly, church conversion has become big business. Disco lights illuminate the stained-glass windows of one central London church, renamed the Limelight Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and Highgate, developers have turned Victorian churches into exclusive apartments; ..In Wales, the Bresbyterian Church is converting 300 churches into homes for young married couples struggling to buy a first house. Elsewhere, churches are being used as furniture warehouse, carpet disount stores and restaurants.

 

But concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing compared to that over France. According to the American missionary David Barnes, despite the richness of their culture, the French “are as ignorant of the things of God as the uncivilised natives of one of the world’s darkest continents”. A mere 0.22% of France’s 54 million population are evangelical Protestants. Although 94% are baptised Catholics, a mere 2% regularly attend church. Despite the huge influence of the Catholic Church, the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared France a mission field.)

 

Ở Mỹ, t́nh trạng Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, cũng không sáng sủa ǵ hơn. Đức tin Công giáo càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ư nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật. Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân Mít, Mễ, và gốc Phi Châu. 60% tín đồ của hệ phái Tin Lành lớn nhất United Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà thờ, Công giáo cũng như Tin Lành, được rao bán để người mua muốn sử dụng làm ǵ th́ làm, có nhiều trường hợp nhà thờ nay biến thành chùa. Nhiều trường học Công giáo ở các địa phương đóng cửa v́ không có học tṛ và không đủ tài chánh để tiếp tục hoạt động. Nhưng các giáo xứ vẫn có tiền bồi thường, thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân của các linh mục can tội loạn dâm.

 

Năm 1990, linh mục David Rice ḍng Đô-Mi-Nic xuất bản cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo (Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây số) để phỏng vấn và t́m hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:

 

Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Công giáo La mă đă bỏ đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi. Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đ́nh – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành.

 

(100000 Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than one every two hours. Almost half of all American priests will leave – most often, to marry – before the 25th anniversary of their ordination. The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the most grievous crisis to face the Church since the Protestant Reformation)

 

John Cornwell, một tín đồ Công giáo và cũng là một chuyên gia về Công giáo và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng về Vatican: A Thief in the NightHitler’s Pope, đă viết thêm một tác phẩm về Ca Tô giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Công giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of Catholicism), xuất bản năm 2001, trong đó chương đầu viết về Một Thời Đại Đen Tối Của Công Giáo (A Catholic Dark Age). Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra t́nh trạng suy thoái trầm trọng của Công giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp. Số tín đồ mang con đi làm lễ rửa tội giảm sút, v́ ngày nay người ta nhận thức được rằng chẳng làm ǵ có tội ở đâu mà phải đi rửa; đám cưới tổ chức không cần đến linh mục, v́ hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài nhà thờ và bí tích hôn phối đă mất hết ư nghĩa; giới trẻ không buồn đến nhà thờ, v́ chẳng thấy ǵ hấp dẫn trong những lời giảng đi ngược thời gian của các linh mục; số từ bỏ đức tin gia tăng, v́ người ta không c̣n chịu chấp nhận một đức tin mù quáng; từ 1958 đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v.. [Vatican vớt vát được một phần bằng cách tuyển mộ được một số linh mục Mít và Mễ] T́nh trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Công giáo, thật là thê thảm. Ở Tây Âu (Western Europe), từ 30 đến 50% các giáo xứ không có linh mục. Ở Ư, 90% theo Công giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10% kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Ḍng giảm một nửa. Ở Ái Nhĩ Lan (Ireland), xứ Công giáo, số người cảm thấy ḿnh được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970 c̣n 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng thời gian. Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đă quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.) Ở Nam Mỹ, t́nh trạng cũng không khá hơn. 7000 tín đồ mới có một linh mục. Chỉ có 15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật. Theo một hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây th́ mỗi năm có khoảng sáu trăm ngàn tín đồ bỏ đạo (according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000 Catholics leave the Church each year.)

 

Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới đă trở thành “vô thần”. Đây là một hiện tượng bất khả đảo ngược v́ nó phù hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nằm trong luật Tiến Hóa của vũ trụ.

 

Thời gian qua, với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân loại, ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đă bị phơi bầy, và chính ở trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang tuột dốc theo luật đào thải của con người văn minh tiến bộ.

 

Trừ lớp tín đồ thấp kém trong Công Giáo La Mă vẫn tin rằng ḿnh ở trong một “hội thánh”, “tông truyền”, “thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v.., những thuộc tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu Mỹ tiến bộ ngày nay đă nhận ra bộ mặt thật của Công giáo La Mă. Tài liệu về bộ mặt thật này, kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dăy trong các thư viện và tiệm sách lớn và trên Internet. Giáo hội đă mất đi quyền lực ngăn chận những tác phẩm này như khi xưa giáo hội đă làm. Dân trí mở mang, sự thật được phơi bày, và giới chăn chiên trong giáo hội chỉ c̣n có cách khuyên các con chiên không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là “chống Công giáo” tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những sự thật lịch sử về Công Giáo, những sự thật mà giới chăn chiên không bao giờ muốn cho các con chiên của ḿnh biết đến.

 

Nhưng Tiến hóa là một định luật thiên nhiên, cho nên không có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được những bước tiến trí thức của nhân loại. Do đó sự tiến bộ trí thức của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, bởi v́ căn bản tín ngưỡng Ki Tô Giáo đă không c̣n chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su, về các tín điều hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và trước những thành quả của khoa học ngày nay về nguồn gốc con người và vũ trụ.

 

Thật là đáng buồn, trong khi đạo Công giáo đang suy thoái ở Tây Phương như vậy, th́ có lẽ v́ “cái khó nó bó cái khôn”, nên một số người ở trong những hoàn cảnh khó khăn về kinh tế ở Đông phương, và thiếu khả năng ở Tây Phương, lại lao đầu vào ṿng nô lệ tôn giáo, chạy theo một sản phẩm hầu như đă bị phế thải ở nơi chính nó đă sản xuất ra, nhưng vẫn hănh diện tự khoe rằng ḿnh đă được “ơn kêu gọi” để che đậy động cơ vật chất đă khiến ḿnh bước vào nghề linh mục. Chúng ta cũng biết Giáo hội Công giáo La Mă đang bị khủng khoảng về nạn thiếu hụt linh mục nên đă bắt buộc phải hạ thấp tiêu chuẩn tuyển chọn và đă chọn cả những người Tin Lành có vợ cải đạo sang Công Giáo và những người đă nhiều tuổi. Nhà Nước Việt Nam nên nắm vững những sự kiện về Công Giáo để có thể định ra một đường hướng ngoại giao thích đáng với Vatican, tuyệt đối không nên để cho Vatican có cơ hội mang đồ phế thải ở Âu Châu vào làm ô nhiễm đất nước Việt Nam và có những thái độ trịch thượng coi thường chủ quyền Việt Nam, đặt giáo luật lên trên luật pháp của Nhà Nước. Vatican ngày nay chỉ c̣n lớp sơn phết bên ngoài, che dấu một khối mọt rỗng ở đàng sau, nhưng luôn luôn vẫn dùng lớp sơn phết này với hậu thuẫn của đám tín đồ thấp kém cuồng tín để ḷe thiên hạ và đẩy mạnh những mưu toan bành trướng của ḿnh nơi miền đất mới: Á Châu.

 

Cho nên, chính quyền Việt Nam không nên mơ mộng tin vào những lời đường mật hứa hẹn của Vatican về bất cứ vấn đề ǵ. Sách lược đối ngoại của Vatican luôn luôn là có lá mặt lá trái, thả con săn sắt bắt con cá rô. Toán học Vatican chỉ có dấu cộng dựa theo dấu thập ác chứ không có dấu trừ. Khi ở thế yếu th́ Vatican nhũn như con chi chi, hợp tác với bất cứ thế lực, chủ thuyết nào, bất kể là độc tài tàn bạo như thế nào, thí dụ như Phát Xít Đức, Ư, Tây Ban Nha, Croatia v..v.., miễn là có thể duy tŕ được quyền lợi và mưu đồ thống trị thế giới bằng đạo Công giáo của Vatican. Khi ở thế mạnh th́ Vatican sẽ không khoan nhượng và không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt đối phương. Đối với Vatican, Cộng Sản luôn luôn là kẻ thù truyền kiếp. Lời lên án Cộng Sản Vô Thần của Benedict XVI gần đây chỉ có mục đích hồi phục và mở đầu cho một chiến dịch chống Cộng mới mà thôi. Benedict XVI lên án Cộng Sản Vô Thần nhưng thế giới chưa hề quên lịch sử Công Giáo La Mă là một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, với hàng trăm triệu xác người vô tội, từ già tới trẻ, đè trên bờ vai của Giáo hội Công giáo khiến cho Giáo hoàng John Paul II đă phải lên tiếng đăi bôi xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội đối với thế giới.

 

Do đó, tin rằng Vatican thật t́nh muốn giúp Việt Nam, một nước Phật Giáo, hiện đảng Cộng Sản đang cầm quyền, với những hứa hẹn bất cứ về vật chất hay về cái ǵ khác, th́ thật là ngây thơ hết chỗ nói. Vatican có tất cả những ṿi của một con bạch tuộc (Octopus Dei) và có thể ôm chặt và nghiền nát cả một quốc gia. Lịch sử Công Giáo, hơn ǵ hết, đă chứng tỏ như vậy. Rất có thể Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, tung hỏa mù về thế lực giả tạo của Vatican, chịu khó bỏ tiền ra mua chuộc cán bộ nhà nước, cộng với áp lực của Mỹ, sẽ áp dụng chính sách dùng “củ cà rốt và cây gậy” ở Việt Nam, để Nhà Nước phải nhượng bộ ít điều liên quan đến quyền lực của Vatican, tin rằng như vậy chứng tỏ là đă tiến bộ về vấn đề Tự Do Tôn Giáo trước thế giới, thỏa măn yêu cầu của Mỹ, và do đó sẽ có lợi cho Việt Nam. Thật đáng tiếc, Nhà Nước đă không đánh giá đúng mức thực lực của Vatican trên thế giới cho nên đă có những nhượng bộ đối với Vatican không cần thiết. Nhà Nước cần phải hiểu sách lược của Vatican là “được đàng chân, lân đàng đầu” và như vậy Nhà Nước sẽ c̣n phải tiếp tục nhượng bộ nhiều hơn nữa. Bài này hi vọng có thể giúp Nhà Nước nhận ra thực chất của Vatican và ngưng những nhượng bộ khác mà thực sự không cần thiết và không hợp lư. Đối với khối dân tộc phi Công giáo..

 

Vatican không ngừng t́m cách, nhất là sách lược tạm thời “khom ḿnh để chinh phục” (stoop to conquer), để tái diễn tấn tuồng Ba Lan ở Việt Nam. Sự làm càn cuồng tín của các tín đồ Công giáo Việt Nam, đồng thời một mặt đẩy mạnh bộ mặt thánh thiện từ thiện giáo dục xă hội để tạo uy tín, len lỏi vào những cơ quan công quyền, mua chuộc nhân sự v..v.. đều nằm trong sách lược này. Nhưng ở hải ngoại, Công Giáo và những tay sai không ngừng dùng mọi thủ đoạn, kể cả bịa đặt, xuyên tạc lắt léo để chống Cộng và họ đă từng lên tiếng gợi ư van xin Giáo Hoàng John Paul II: “Cha đă tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha [Ba Lan], và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con [Việt Nam].” [Xin đọc cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng, Thăng Tiến, 1995, trang 11]. Cái nguy hại của Công Giáo không phải là ở chỗ tin nhảm tin nhí vào một vị thần của Do Thái, mà là họ không chấp nhận bất cứ một đạo nào khác ngoài đạo của họ, và khi có quyền lực hay có cơ hội họ sẽ không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn, bất kể là vô đạo đức và tàn nhẫn như thế nào, để cưỡng bách người ngoại đạo theo đạo của họ, phải tin theo những điều nhảm nhí của họ, phải tuân theo những tiêu chuẩn mà họ cho là đạo đức, và nhất là, phải tuân phục Vatican không điều kiện. Lịch sử Công Giáo trên thế giới đă chứng minh như vậy. Và những sự kiện lịch sử về một số chính quyền Công giáo trong thế kỷ 20, Pavelic ở Croatia, Franco ở Tây Ban Nha, Ngô Đ́nh Diệm ở Nam Việt Nam, là những bằng chứng rơ ràng hơn ǵ hết.

 

Có thể có độc giả cho rằng tôi đă viết quá dài ḍng, ra ngoài chủ đề bang giao với Vatican. Không hẳn vậy, tôi thấy thực sự cần thiết phải đóng góp phần nào, cung cấp giúp cho Nhà Nước Việt Nam một số thông tin, và đây chưa thể gọi là đủ đâu, về bộ mặt thật và thế lực thực sự của Công giáo La Mă để Nhà Nước Việt Nam sửa soạn con đường đi đến bang giao với Vatican.

 

Con Đường Bang Giao.

 

Vài nét đơn sơ về Vatican và đạo Công giáo La Mă ở trên hi vọng có thế giúp chính quyền Việt Nam phần nào trong sách lược ngoại giao đối với Vatican. Như trên đă nói, việc bang giao với Vatican không thành vấn đề, nhưng gồm có hai mặt: mặt thế tục và mặt tôn giáo. Về mặt thế tục, Vatican như là một quốc gia nhỏ với dân số ở Vatican vào khoảng một ngàn người, không mang ǵ đến được cho Việt Nam. Vatican rất giầu về tiền bạc nhưng như trên đă nói, toán học Vatican chỉ có dấu cộng chứ không có dấu trừ. Bất cứ ở địa hạt nào, nếu không có lời, Vatican không bao giờ bỏ vốn ra, nhất là cho không. Bởi vậy tài sản của Vatican ngày nay đă lên tới trên ngàn tỷ đô-la. Thật vậy, Nino Lo Bello viết trong cuốn Đế Quốc Vatican (The Vatican Empire), trang 153-154: “Đối với người Ư, đặc biệt là những người sống ở Rome, Vatican nổi tiếng là “rẻ tiền”, “thắt chặt hầu bao”, “keo kiệt”. Chẳng cần phải gợi ư, người thường ở ngoài đường phố có thể nói với bạn : “Vatican thu vào nhưng chẳng cho ai đồng nào” (Among the Italians, particularly among the residents of Rome,, the Vatican has a reputation for being “cheap”, “tight,” “stingy”. Without much provocation, the ordinary man in the street is likely to tell you , Il Vaticano riceve – ma non da a nessuno (The Vatican receives – but gives to no one). Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng, khi Vatican bỏ tiền ra là luôn luôn có mưu đồ đàng sau. Vatican đă bỏ ra hàng trăm triệu đô-la vào Ba Lan để lật đổ Cộng Sản ở Ba Lan. Khi cần, Vatican có thể “bóc lột tiền của kẻ nghèo để trả kẻ giầu” (Rob Peter to pay Paul). Ḍng “Thừa sai Bác Ái” của bà Teresa đă kiếm cho Giáo hội bao nhiêu triệu để trong các ngân hàng là một thí dụ điển h́nh. Giáo hoàng tới thăm đâu, giáo hội địa phương phải trang trải phí tổn cho chuyến “thăm giáo dân” của Ngài. Mỹ đă tốn trên 2 triệu đô-la cho một chuyến thăm Mỹ của John Paul II trước đây.

 

Tin vào sự viện trợ của Vatican hay bất cứ hứa hẹn vật chất nào của Vatican là chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng. Chính sách của Vatican đă rơ rệt từ muôn đời: bỏ ra một, lấy lại 10 hay nhiều hơn. Họ dùng bả vật chất để chiêu dụ tín đồ, một khi tín đồ đă bị mê hoặc bởi một cái bánh vẽ trên trời rồi th́ sẽ suốt đời t́nh nguyện đóng góp cho Giáo hội dù có nghèo đến đâu, quy luật của giáo hội là phải đóng 10% lợi tức. Ở Âu Châu trước đây, Giáo hội thu tiền của cả những người cùi, ăn mày, gái điếm và người chết như Avro Manhattan đă viết trong cuốn The Vatican Billions. Bất cứ ở đâu có chính quyền Công giáo là tài sản quốc gia được vơ vét cho Vatican và cho giáo hội địa phương. Những sự kiện lịch sử ở một số nước Phi Châu, Nam Mỹ và ở Nam Việt Nam dưới chính quyền Ngô Đ́nh Diệm là những bằng chứng bất khả phủ bác. Đổi Thánh Kinh lấy tài sản là sách lược cố hữu của Công Giáo La Mă. Họ mang cuốn Kinh Thánh đến để mê hoặc ḷng người, nhưng kết quả là đất đai thuộc về giáo hội như lời than tiêu biểu sau đây của Giám-mục Tutu:

 

"Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu nguyện. Khi mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có đất đai của chúng tôi."

 

["We have our lands and they came here with their Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we opened our eyes, we have the Bible and they have our lands."]

 

Kinh nghiệm ở Việt Nam cũng cho thấy, theo Linh mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm:

 

"Năm 1939, tài sản Nhà Chung thừa sai Pháp (tại Việt Nam) trị giá 50 triệu quan Pháp. Trị giá đó là chính thức, nhưng theo các luật gia thuộc địa Caratini và Grandjean th́ thấp hơn giá trị thực tế và không bao gồm tất cả tài sản của Giáo Hội, v́ đă bỏ ra ngoài của cải của các xứ đạo và nhiều pháp nhân giáo hội khác vốn có quyền sở hữu. Tài sản các Nhà Ḍng Đa Minh Tây Ban Nha cũng rất quan trọng… Nhà Chung được liệt vào hạng địa chủ lớn nhất của thời ấy."

“Chỉ một ḿnh Nhà Chung Công Giáo mà chiếm hết một phần tư đất trồng trọt ở Nam Kỳ. Phương thế chiếm hữu đất đai đó rất đơn giản: dùng tham nhũng, hối lộ và cưỡng ép. Đây là một vài ví dụ rơ ràng. Nhà Chung lợi dụng khi mất mùa để cho nông dân vay tiền. Tiền lời cho vay rất nặng, nên con nợ sẽ không thanh toán nổi khi tới ngày trả, và như thế là đất cầm trở thành đất Nhà Chung. Giáo Hội không từ một việc nào để nắm được những giấy tờ hệ lụy bí mật và nhờ đó dọa dẫm các quan chức, bắt họ phải làm theo muốn. Giáo Hội cũng liên minh với những tay tài phiệt để khai thác những vùng đất nhượng cho không và những thửa ruộng cướp được của nông dân. Giáo Hội có người của ḿnh nắm những vai tṛ thế giá trong chính quyền thuộc địa…"

 

Đây là một kinh nghiệm để đời cho các dân tộc nghèo đang phát triển nhưng lại nghe lời đường mật của Vatican, và đặt niềm hi vọng vào những hứa hẹn giúp đỡ vật chất của Vatican. Vatican có hai mặt, vừa là một tôn giáo, vừa là một quốc gia có chủ quyền. V́ thế chính trị của Vatican cũng có hai mặt, lúc th́ nhân danh là một tôn giáo, lúc th́ nhân danh là một quốc gia. V́ vậy Vatican có liên hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác. Mỹ và Mễ Tây Cơ đă có thời cắt đứt liên lạc ngoại giao với Vatican nhưng rồi lại tái thiết lập v́ t́nh h́nh chính trị và v́ cả hai nước đều có nhiều tín đồ Công Giáo, ở Mỹ vào khoảng 22%, ở Mễ Tây Cơ hầu như toàn ṭng. Tuy vậy, v́ những tác hại và lạm dụng của giới linh mục trong nước nên Mễ Tây Cơ đă có đạo luật cấm các tu sĩ Công Giáo không được mặc y phục Linh mục nơi công cộng, không được mở trường học v..v.. Ở Mỹ, đa số người dân vẫn không ưa Công Giáo. H́nh ảnh những người dân Mỹ biểu t́nh phản đối cuộc viếng thăm trước đây của Giáo hoàng John Paul II, cầm biểu ngữ đ̣i: Chính phủ Mỹ chấm dứt công nhận Vatican (End US Gov’t Recognition Of The Vatican), Hăy đăng kư các giám mục như là những điệp viên ngoại quốc (Register Bishops As Foreign Agents), Ngưng nạn đói: Hăy bán đi Vatican (Stop Starvation: Sell The Vatican), Vatican chống dân chủ (The Vatican Is Anti-Democratic) v..v.. có lẽ đă nói lên phần nào thực chất của Vatican. Tất cả những h́nh ảnh này đều có trong phần cuối của cuốn Vatican: Thú Tội Và Xin Lỗi?, Nhiều tác giả, Giao Điểm, 2000.

Tất cả những sự kiện như trên, và đây chỉ là một số tượng trưng, đă chứng tỏ là vấn đề tâm linh và đạo đức không phải là chủ trương của Giáo hội Công giáo La Mă, mà là vấn đề làm sao có thể vơ vét của cải, tích lũy tài sản, và dùng chúng để đẩy mạnh những mục tiêu thế tục, thống trị hoàn cầu mới là chính. Nhưng hiện nay, như trên đă nói, ngoài mặt th́ đối với những người không biết rơ nội t́nh, thế lực của Vatican c̣n rất mạnh. Nhiều người c̣n tin vào thế lực giả tạo của Vatican v́ với một định chế thần trị, và với sự tuân phục tuyệt đối của đám tín đồ, không ai có thể coi thường Vatican. Nhưng những người này không nh́n kỹ vào nội t́nh Vatican và nhất là không nh́n vào thực tế trên thế giới. Tuy tín đồ Công giáo hoàn toàn tuân phục Vatican, nhưng ngày nay tôi đố Vatican có thể hô hào khởi sự một cuộc Thánh Chiến như trước, tôi đố Vatican có thể ép buộc mọi tín đồ phải tuân theo luật lệ và những tiêu chuẩn đạo đức mà Vatican chỉ thị. Giáo hội Công giáo ngày nay cũng giống như một cái Cafeteria, trong đó có nhiều món ăn, thực khách vào đó thích món nào th́ ăn món đó chứ không bắt buộc phải ăn tất cả mọi món. Về chính trị xă hội, Vatican chỉ có thể khích động tín đồ ở một số địa phương nhỏ và hầu như không thể tạo ra ảnh hưởng ǵ trên thế giới. Nhưng Vatican có thể sẽ không ngần ngại sử dụng, hi sinh một số tín đồ cuồng tín gây rối ở một số địa phương nhỏ trong những quốc gia đang phát triển để ḍ đường và đẩy mạnh những âm mưu của ḿnh.

 

V́ thế giới đă tiến bộ, v́ tŕnh độ hiểu biết trên thế giới đă tiến nhiều, v́ con người đă nhận ra sự không cần thiết đến một Thiên Chúa, cho nên điều không thể tránh được là Vatican đang khủng khoảng, ở trên đà suy thoái, và uy tín của Vatican đă giảm đi nhiều. Qua những x́-căng-đan mà cả thế giới đều biết, nhưng rất ít tín đồ Công Giáo biết, nhất là ở trong những ốc đảo ngu dốt (từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh) ở Phi Châu, Nam Mỹ và một vài nơi ở Á Châu, chiếm trên 70% số giáo dân trên thế giới, cộng với sự tiến bộ trí thức của nhân loại, th́ Công Giáo đang ở trên đà suy sụp bất khả cứu văn. Những sự kiện sau đây đă góp phần nào vào sự suy thoái của Công Giáo.

 

Giáo hội đă bắt buộc phải xưng thú 7 núi tội ác của Giáo hội đối với nhân loại qua những lời xin lỗi suông trên bờ môi mép lưỡi. Báo chí thế giới đă phanh phui ra những chuyện động trời trong giáo hội như: Linh mục hiếp dâm các nữ tu (sơ) trên 23 quốc gia và nếu ai mang thai th́ cưỡng bách họ phải đi phá thai trong khi giáo lư chính thức của Giáo hội là cấm dùng thuốc ngừa thai hay phá thai; trong một viện mồ côi ở Canada, các “em hiền như ma sơ” mặc y phục xám (gray nuns) đă chọc thủng màng tai của một số trẻ mồ côi để lấy thêm tiền trợ cấp của chính quyền v́ số tiền trợ cấp cho các em bị tàn tật th́ nhiều hơn là cho các em b́nh thường; trong một viện mồ côi khác, các sơ đă đổ nước sôi vào tay trẻ mồ côi v́ chúng bị để đói nên đi ăn cắp thức ăn của các sơ dùng để nuôi thỏ; vụ nổ ở bên Anh: các em bị cha mẹ bỏ rơi hay nhà quá nghèo khổ, được hứa hẹn mang đi nuôi, cho ăn học tử tế, rút cuộc đă phải vào làm lao động đầu tắt mặt tối trong một xưởng giặt ở nước ngoài của “hội Thánh”, trong mấy tháng trời không thấy ánh sáng mặt trời; và nhất là vụ Vatican bao che trên mấy ngàn linh mục can tội loạn dâm với các trẻ phụ tế và nữ tín đồ v..v.. Ngoài ra, ở phương trời Âu Mỹ, như chúng ta đă biết, Linh mục, nữ tu, và giáo dân bỏ đạo hàng loạt; nhiều nhà thờ, trường học Công giáo phải đóng cửa và rao bán, số giáo dân đi lễ nhà thờ và đóng tiền cho nhà thờ giảm sút nhanh, khiến cho Giáo hội phải đi kiếm những vùng đất mới để cắm cây thánh giá và vơ vét tiền bạc, của cải. Vùng đất mới này không ǵ khác là Á Châu, vùng đất chưa bị ô nhiễm nhiều bởi Công giáo. Đó là tại sao Vatican cố gắng để có liên lạc ngoại giao với Trung Quốc, Việt Nam v..v..

 

Nhưng yếu tố quyết định sự suy thoái của Ca-Tô Giáo La Mă không phải là những chuyện nhơ bẩn trên, v́ tín đồ rất ít biết đến những sự thật trong nội t́nh Công Giáo, mà chính là sự tiến bộ và những khám phá của khoa học về vũ trụ và con người. Khoa học đă bắt buộc Giáo hoàng John Paul II phải lên tiếng, nhưng đa số tín đồ trong các ốc đảo không bao giờ nghe thấy, công nhận thuyết Big Bang (nguồn gốc vũ trụ), thuyết Tiến Hóa (nguồn gốc con người), và phủ nhận sự hiện hữu của Thiên đường (nơi linh hồn những người được Giê-su cứu rỗi tái nhập với thân xác và sống đời đời) và Hỏa Ngục (nơi Giê-su dùng ngọn lửa vĩnh hằng để thiêu đốt những người không tin ông ta). Như vậy, các tín lư của Giáo hội bày đặt ra trước đây, vừa để khuyến dụ vừa để hù dọa những đầu óc yếu kém, như “Tội tổ tông”, “Chúa Giê-su chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho nhân loại”, “Giê-su sinh ra từ một Nữ Đồng Trinh”, “Maria đồng trinh suốt đời”, “Giê-su sống lại”, “Rửa Tội”, “Ai tin Giê-su th́ được cứu rỗi”, “quan niệm về Thiên Đường, Hỏa Ngục”, và sự hoang đường của các “bí tích” v..v.. đă không c̣n một chút giá trị nào trong thế giới những người hiểu biết nữa. Cho nên t́nh trạng suy thoái của Công Giáo trên khắp thế giới, nhất là ở phương trời Âu Mỹ, nơi đây người dân thường xuyên được cập nhật hóa những thông tin về khoa học, xă hội, tôn giáo v..v.., là một hiện tượng đă khá rơ rệt, và đă có nhiều nghiên cứu thống kê về t́nh trạng này. V́ vậy, Vatican đang cố gắng dùng mọi thủ đoạn để cải đạo Á Châu, nhiều nơi ở trên lục địa này người dân c̣n nghèo khổ, c̣n bị áp bức, ít hiểu biết, nên rất dễ ăn vào cái bả của Công Giáo.

 

Thực chất th́ như vậy, nhưng Giáo hội có đủ phương tiện truyền thông để lái dư luận, để tiếp tục nhốt tín đồ trong ṿng ngu dốt, đồng thời tiếp tục phô trương quyền lực giả tạo để thủ lợi. Sức mạnh của Vatican dựa trên một giáo hội có một tổ chức toàn trị rất chặt chẽ, có một số tín đồ đông đảo nhất, nằm vùng trong hầu hết các quốc gia trên thế giới, và sẵn sàng nhắm mắt nghe theo lệnh của Vatican xuyên qua các “bề trên” như các tổng giám mục, giám mục, linh mục địa phương. Trong cuốn The Vatican Empire, Nino Lo Bello viết, trang 167: “Các chiến thuật của Vatican đều dựa trên một niềm tin là, Giáo hội sẽ dễ dàng hơn trong việc duy tŕ sức mạnh ở những nơi mà sự nghèo khổ và ngu dốt được nuôi dưỡng.” (Vatican strategies are based on a belief that it is easier for the Church to maintain its strength where poverty, misery, and ignorance breed) Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi thấy Công Giáo càng ngày càng mất ảnh hưởng ở phương trời Âu Mỹ, nơi đây đời sống kinh tế của người dân cao, và tŕnh độ hiểu biết của người dân cũng cao.

 

Hiểu rơ thực chất của Công-Giáo La Mă trên thế giới ngày nay và thấy rơ âm mưu bành trướng của Vatican trong những vùng đất mới ở Á Đông, tôi hi vọng khối Phật Giáo ở bên nhà, với tinh thần vô úy, hăy lên tiếng, đặt vấn đề trước Nhà Nước, góp ư cùng Nhà Nước, và cùng Nhà Nước nghiên cứu những vấn nạn liên quan đến những diễn biến ngoại giao giữa Nhà Nước và Vatican. Hơn bao giờ hết, Nhà Nước Việt Nam cần phải hết sức thận trọng, đắn đo từng bước khi dấn thân vào con đường “đánh đu với tinh”, và phải hoạch định một đường lối sáng suốt thích hợp để đối phó với âm mưu và sách lược của Vatican.

 

Vài Đề Nghị Với Nhà Nước Việt Nam

Khi Bang Giao Với Vatican.

 

Trước khi đi vào những đề nghị với Nhà Nước Việt Nam tôi nghĩ cũng cần ôn lại chút ít những hệ lụy mà Công Giáo La Mă đă mang đến cho Việt Nam. Sau đây là vài sự kiện:

 

1). Trở lại lịch sử, Công Giáo xâm nhập vào Việt Nam từ 1533, và 140 năm sau, tới đầu thập niên 1670, các thừa sai Công giáo mới khuyến dụ được khoảng 60000 người theo đạo, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém nhất trong xă hội Việt Nam (Xin đọc Catholicism et Sociétés Asiatiques của Yoshiharu Tsuboi), không có khả năng phân biệt chánh tà, chân giả cho nên rất dễ bị lùa vào trong ṿng mê tín của Công Giáo. Sau đó, các thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam, mở đầu cuộc xâm chiếm bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng năm 1858. Sau khi tích cực giúp quân xâm lăng Pháp để đưa Việt Nam vào ṿng đô hộ, Công Giáo ở Việt Nam dựa vào thế lực thực dân để truyền đạo, làm mưa làm gió trên đất nước Việt Nam. Nhưng dù ở thế thượng phong, dưới cái dù của thực dân trong gần 100 năm, cộng với 9 năm miền Nam dưới chế độ độc tài, gia đ́nh trị, Công giáo trị của Ngô Đ́nh Diệm, số tín đồ Công giáo trên tỷ lệ dân số luôn luôn chỉ ở mức 7 phần trăm hay ít hơn. Điều này chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam không tương hợp với nền văn hóa Ki Tô.

 

2). Bản chất của Giáo hội Công giáo Việt Nam chỉ là một mớ tín đồ hạng hai. Công giáo vào Việt Nam từ 1533 nhưng 400 năm sau (1933) mới có một giám mục đầu tiên (Nguyễn Bá Ṭng). Nhưng tệ hơn cả là Giáo hội này hoàn toàn lệ thuộc Vatican bất kể là những quyết định của Vatican xâm phạm đến chủ quyền dân tộc và xúc phạm đến nền văn hóa của Việt Nam tới đâu. Lịch sử cho thấy quyền lợi của Vatican luôn luôn đối nghịch với quyền lợi của Việt Nam. Chừng nào mà tinh thần nô lệ này c̣n tồn tại, th́ chừng đó người dân Việt Nam vẫn c̣n phải lưu tâm đề pḥng lịch sử tái diễn. Tinh thần nô lệ này hoàn toàn trái ngược với tinh thần yêu nước, yêu độc lập của người dân Việt Nam, đă được chứng minh qua bao cuộc đánh đuổi quân ngoại xâm. Ai có thể tin rằng người dân Việt Nam đă quên đi vai tṛ của giáo hội Công giáo La Mă tại Việt Nam trong việc đưa nước Việt Nam vào ṿng nô lệ của Pháp?

 

3). Bản chất của Công Giáo và cả Tin Lành là lợi dụng sự cuồng tín của tín đồ, tạo thành một lực lượng xă hội, để khi có cơ hội và quyền thế th́ sẽ khuynh loát chính quyền, đàn áp và áp bức tín đồ của các tôn giáo khác. Bản chất cuồng tín này, nếu ở vị thế nắm quyền hành th́ sự tác hại của nó đối với khối dân chúng không đồng tín ngưỡng không biết lên tới mức độ nào. Kinh nghiệm lịch sử ở những nơi mà Công giáo là chủ lực tinh thần trong thời Trung Cổ, và trong thời cận đại ở Tây Ban Nha dưới quyền của nhà độc tài Công giáo Franco, ở Croatia dưới quyền của tên Công giáo Ante Pavelic và những linh mục khát máu ḍng Phan-xi-cô, và ở Nam Việt Nam dưới chế độ Công giáo Ngô Đ́nh Diệm là một tấm gương cảnh tỉnh những người c̣n mơ mộng là "tôn giáo nào cũng tốt cả". Ngày nay, không ai c̣n coi Ki Tô Giáo là một lực lượng tôn giáo thuần túy mà trái lại chỉ là những định chế coi nặng vấn đề quyền lợi chính trị và kinh tế.

 

4) Sách lược truyền giáo của Công giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng bạo lực thắng công lư, dùng gian xảo, dối trá để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê tín dị đoan để chiêu dụ và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc làm mê mẩn đầu óc tín đồ v..v.. Chúng ta chỉ nh́n vào những cảnh tín đồ đổ xô đến quỳ cầu nguyện ở bất cứ nơi nào có tin bà Mary hoặc khóc, khoặc chảy nước mắt, hoặc có cái h́nh trong có vẻ giống bà Mary (chẳng ai biết mặt mũi bà ta ra sao) do vết nước rỉ dưới gầm cầu, hoặc trên một miếng Pizza, trên một vựa thóc, trên sàn nhà v..v.. là có thể sự thành công của Giáo hội Công giáo về phương diện này như thế nào.

 

5) Kinh nghiệm cay đắng của Việt Nam đối diện với sự xâm nhập của Công giáo c̣n ghi rơ trong sử sách. Ở đây, sách lược truyền giáo có tính cách hoang đường bịp bợm để mê hoặc những người ngu dốt như của Alexandre de Rhodes trong cuốn Hành tŕnh Truyền Giáo của đạo Công giáo đă đưa tới những cảnh bất ḥa trong những gia đ́nh nào có người bỏ tôn giáo truyền thống của gia đ́nh, của dân tộc, để tin theo những lời dụ dỗ huyền hoặc của Công giáo, từ bỏ không c̣n tôn trọng những lễ tiết truyền thống trong gia đ́nh. Công giáo cũng đưa tới những cảnh Lương Giáo nghi kỵ, thù nghịch, tàn sát lẫn nhau như lịch sử đă chứng tỏ. Gần đây, Công giáo c̣n đưa ra sách lược nham hiểm: dùng bọn người trí thức nô lệ mất gốc, đưa ra những tác phẩm xuyên tạc lịch sử, văn hóa Việt Nam, nhất là lịch sử và văn hóa Phật Giáo, hoặc đánh đồng khập khiễng vài nét văn hóa Việt Nam hoặc Phật Giáo với nền văn hóa Ki Tô, ngụy trang đằng sau những chiêu bài đầu môi chót lưỡi như “Thần học Ki Tô Giáo theo cung cách Á Châu”, hoặc “quay về với truyền thống dân tộc, hội nhập văn hóa dân tộc”, trong khi bản chất độc tôn cuồng tín về “Chúa KiTô là đấng trung gian duy nhất”, nô lệ Vatican vẫn không thay đổi.

 

Qua những tài liệu vừa tŕnh bày ở trên, tôi hi vọng Nhà Nước Việt Nam đă có thể nắm được phần nào về bộ mặt thật của Công giáo La Mă cũng như về thực lực của Vatican trên thế giới hiện nay. Không nên tin rằng Vatican có thể giúp Việt Nam trên chính trường quốc tế, nhất là đối với Mỹ. V́ thực sự Vatican chỉ có tiếng chứ không có miếng. Tiếng nói của Vatican chỉ để cho tín đồ nghe và ca tụng, ngoài ra thế giới chẳng có ai thèm để ư tới. Tại sao? Tại v́ chính lịch sử của Công giáo La Mă, v́ những tệ nạn trong nội bộ Giáo hội Công giáo, những vụ x́-căng-đan mang tai tiếng liên tiếp xảy ra đă cho thế giới thấy rơ bản chất của Vatican trái ngược với những lời nhân nghĩa, đạo đức phát ra từ Vatican. Phần lớn những vụ phanh phui trong Công giáo lại do Mỹ, v́ chính nước Mỹ cũng không ưa ǵ Vatican. Vụ Linh mục loạn dâm nổ ở Boston trước đây, vụ kiện Vatican và ḍng tu Phan-Xi-Cô gần đây về tội chứa chấp tài sản chiếm hữu bất lương ở Croatia của chính quyền Công giáo Pavelic trong kỳ Đệ Nhị Thế Chiến cũng như tội Vatican rửa tiền bẩn thành tiền sạch, và nhiều báo chí Mỹ đă viết về Benedict XVI với danh hiệu “The Nazi Pope” làm cho Vatican đau đầu lên tiếng cải chính và than phiền v..v.. đă chứng tỏ là Mỹ đối với Vatican như thế nào. Thế lực của Vatican nằm trong đám tín đồ thấp kém cuồng tín chứ không ở trong chính trường quốc tế. Với những sự kiện như trên, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều ǵ?

 

1. Thực chất Giáo hội Công giáo La Mă không phải là một tôn giáo lo phần tâm linh và đạo đức của tín đồ mà nặng về chính trị thế tục thủ lợi. Sức mạnh của Công giáo nằm trong đống tài sản khổng lồ của Vatican và nằm trong tuyệt đại đa số tín đồ được nuôi dưỡng trong ṿng ngu dốt, nhưng đây chỉ là sức mạnh của một định chế thần trị, thu hẹp trong nội bộ giáo hội, không có ảnh hưởng ǵ đến ngoài thế giới..

 

2. Thực lực thực sự của Vatican không như người ta thường tưởng. Giáo hoàng John Paul II đă phải xin lỗi Phật Giáo v́ viết bậy về Phật Giáo trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng. Trong vụ phong Thánh cho các Hán gian ở Trung Quốc, Trung Quốc vừa mới lên tiếng phản đối, Vatican đă phải vội vàng xin lỗi.

 

3. Vatican đang suy thoái ở phương trời Âu Mỹ và đang có kế hoạch cải đạo Á Châu để kiếm tín đồ và từ đó thu lợi vật chất. Hai quốc gia Vatican nhắm tới hiện nay là Trung Quốc với hơn một tỷ dân, và Việt Nam trong đó đă có sẵn 7% giáo dân nằm vùng sẵn sàng hành động theo kế hoạch của Vatican.

 

4. Vatican luôn luôn chủ trương không đội trời chung với Cộng Sản và luôn luôn mưu đồ để phá đổ Cộng Sản với mọi thủ đoạn, kể cả các thủ đoạn nhân nhượng, khép ḿnh, và ve vuốt. Lời lên án chủ thuyết Cộng Sản của Benedict XVI gần đây là một dấu hiệu chiến lược, khuyến khích các tín đồ địa phương ở Trung Quốc và Việt Nam hăy “được đàng chân th́ lân đàng đầu.”

 

5. Một khi Công giáo nắm được chính quyền rồi th́ các lực lượng phi Công giáo sẽ khốn khổ với Công giáo, khoan kể đến Cộng Sản sẽ đương nhiên bị diệt tận gốc.

 

6. Với tài sản hiện nay của Vatican, Vatican có thể bỏ ra vài trăm triệu hay cả tỷ đô la không khó khăn ǵ để chiêu dụ qua những hứa hẹn viện trợ, giúp đỡ giáo dục, mở trường học v..v.. Nhưng mưu đồ chính của Vatican là mở rộng các ṿi bạch tuộc để nắm giữ quần chúng và chính quyền. Báo chí Mỹ cho biết Giáo hội Công giáo đă bỏ ra từ 2 đến 3 tỷ đô-la để bồi thường cho các nạn nhân bị các linh mục loạn dâm, và cũng đă bỏ ra nhất nhiều tiền để mua sự im lặng của giới truyền thông đồng thời tuyên truyền cho bộ mặt “thánh thiện” của Công giáo.

 

7. Cách hữu hiệu nhất để chống lại những âm mưu của Vatican là mở mang dân trí. Những tài liệu nghiên cứu về lịch sử và những hoạt động buôn thần bán thánh của Vatican phải được phổ biến rộng răi trong quần chúng.

 

8. Quần chúng phải được dạy về những hiểm họa của Ki-tô Giáo nói chung, dựa vào những sự kiện lịch sử và dựa vào ngay những điều viết trong cuốn Kinh Thánh của Ki-Tô Giáo.

 

9. Quần chúng phải được dạy về những khám phá khoa học và những sự kiện khoa học khám phá ra về vũ trụ và nhân sinh.

 

10. Quần chúng phải được dạy về chủ trương nhân chủ và nhân bản của Tam Giáo.

Vậy th́, dựa trên những thông tin ở phần trên, tôi xin đề nghị cùng Nhà Nước Việt Nam hăy sửa soạn kỹ những vấn đề trong việc đi đến bang giao với Vatican. Việc sửa soạn này có hai phần, phần đối nội và phần đối ngoại.

 

1). Về Phần Đối Nội.

 

Tôi thành thực ước mong chính quyền Việt Nam hăy lưu tâm đến những tiếng nói từ phía Phật Giáo, một chủ lực xây dựng và ǵn giữ nước như trong lịch sử Việt Nam đă ghi rơ. Tôi cũng hi vọng Nhà Nước Việt Nam hăy nh́n rơ hiểm họa của Công giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, trên đất nước và đưa ra một chính sách tôn giáo hợp lư, không thiên vị. Đừng bao giờ để rơi vào những cạm bẫy “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết quốc gia” mà ngăn chận chính sách mở mang dân trí. Dân trí mở mang không bao giờ có thể là nguồn gốc của sự chia rẽ hay gây hận thù. Sự ḥa hợp giữa những khối dân có tín ngưỡng khác nhau trong những quốc gia tân tiến Âu Mỹ, nơi đây các tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được phổ biến rộng răi, là một bằng chứng rơ rệt nhất về lợi ích của việc mở mang dân trí để cho người dân biết rơ sự thật về tôn giáo trong xă hội. Thật vậy, khoảng 80% dân Mỹ theo Ki Tô Giáo trong đó có khoảng 25% theo Công giáo Rô Ma, hơn 80% dân Pháp rửa tội theo Công giáo v..v.. nhưng những tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo: những sự thực về lịch sử những tội ác của Công giáo, về tổ chức độc tài của Giáo hội, về những thần quyền tự phong của giới lănh đạo Công giáo, cùng những tín điều hoang đường phi lô-gic, phi lư trí, phản khoa học, huyền hoặc, lỗi thời v..v.. của Công giáo nói riêng, Ki Tô Giáo nói chung, về con người lịch sử Giê-su, về những sai lầm trong Thánh Kinh v..v.. đều được tự do phổ biến mà các chính quyền Mỹ, Pháp không sợ làm mất sự “đoàn kết tôn giáo” hay “đoàn kết dân tộc” trên đất nước của họ, th́ thử hỏi tại sao Việt Nam chỉ có 5-7% dân chúng theo Công giáo mà chính quyền lại sợ rằng những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh với đầy đủ tài liệu về tôn giáo lại có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết tôn giáo hay đoàn kết dân tộc trên đất nước? Ngăn chận sự mở mang dân trí trong thời buổi này là có tội với dân tộc, với lịch sử.

 

Ngày nay, không một người nào có đầu óc c̣n nghĩ đến những biện pháp cấm đạo và bách hại những người đi đạo như khi xưa nữa. Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và ǵn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam? Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Công giáo và Tin Lành, cái hiểm họa đă được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo, ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết ngăn chận sự xâm nhập của các thừa sai truyền đạo vào trong đất nước, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí. Qua con đường này, người dân sẽ biết rơ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, và từ đó sẽ đỡ bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lư của Ki Tô Giáo. Theo nữ học giả Ca-Tô Joane H. Meehl, chỉ có sự mở mang dân trí và đời sống thoải mái kinh tế mới có thể loại trừ tinh thần độc tôn và những tín điều hoang đường của Công giáo. Loại trừ bằng hiểu biết chứ không phải bằng những biện pháp cứng rắn. Nhưng tại sao phải loại trừ? V́ Vatican đă thành công đào tạo được một đám tín đồ bản xứ cuồng tín nô lệ Vatican. Điều này sẽ gây nên những hành động theo chỉ thị ở ngoài, thường là trái ngược với quyền lợi quốc gia, nếu không muốn nói là phản bội quốc gia như sử sách đă ghi chép. Với sự hiểu biết, các tín đồ sẽ bớt đi những sự mê tín và cuồng tín và có thể nh́n về phía dân tộc nhiều hơn.

 

Điều này đă xảy ra trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ trong đó đời sống vật chất của con người tương đối cao, và những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về tôn giáo, bất kể tôn giáo đó là tôn giáo nào, và bất kể chủ đề nghiên cứu là chủ đề nào, của những người có uy tín trong giới trí thức như lănh tụ tôn giáo, học giả, chuyên gia, giáo sư đại học v..v.. được phổ biến rộng răi trong quần chúng. Hi vọng với đà tiến triển về kinh tế hiện nay ở Việt Nam, với nhiều tác phẩm nghiên cứu về tôn giáo được nhà nước sáng suốt cho phép phổ biến, Việt Nam có thể giảm bớt hiểm họa Ki Tô trên đất nước.

Cần phải đưa cuốn Kinh Thánh ra Quốc Hội phân tích, vạch ra những sự giết chóc độc ác, vô luân, loạn luân, hoang đường mê tín phản khoa học v..v.. trong đó, và làm luật để ngăn cấm cuốn sách không thích hợp với giá trị đạo đức và truyền thống văn hóa của Việt Nam được phổ biến công khai trên toàn cơi Việt Nam.. Đây không phải là vấn đề vi phạm tự do tín ngưỡng mà là vấn đề lành mạnh hóa xă hội, phù hợp với truyền thống văn hóa bao dung, đạo đức, lành mạnh tâm linh của Việt Nam. Cuốn Kinh Thánh có thể được dùng trong phạm vi các nhà thờ Ki-Tô Giáo nhưng không được tŕnh bày lộ liễu nơi công cộng, và nhất là không được mang đi để truyền đạo công khai. Nhà nước có đủ lư lẽ chính đáng và bằng cớ chính xác từ cuốn Kinh Thánh để làm như vậy, và làm công khai trên diễn đàn quốc tế.

 

Việt Nam cần phải ư thức được sự nguy hại của chiêu bài nhập nhằng tự do tôn giáo với tự do truyền đạo để có thể t́m cách đối phó, đưa ra những biện pháp ngăn chận thích nghi, hợp lư. Những biện pháp ngăn chận này phải nằm trong quốc sách và phải được cương quyết thi hành. Tôi tin rằng đa số người dân Việt Nam sẽ ủng hộ những biện pháp bảo vệ nền văn hóa truyền thống Việt Nam này v́ chúng ta ư thức rơ ràng rằng không có một chế độ nô lệ nào độc hại bằng nô lệ văn hóa.

 

2). Về Phần Đối Ngoại.-

 

Theo ư của chúng tôi th́ Giáo hoàng Benedict XVI cần xin lỗi Phật Giáo về những lời rất khiếm nhă đối với Phật Giáo trước đây. Nhưng chỉ xin lỗi Phật Giáo không không đủ, v́ Phật Giáo dù sao cũng chỉ là một tôn giáo ở Việt Nam, dù chiếm đa số. Vấn đề ở đây là cả nước Việt Nam đă chịu nhiều khổ nạn v́ sự truyền đạo của Công giáo vào Việt Nam. Cho nên, theo ư chúng tôi, Việt Nam đừng bao giờ có thêm những nhượng bộ đối với con cọp giấy Vatican trước khi Vatican chính thức lên tiếng, nhân danh Công giáo La Mă, xin lỗi Việt Nam về những hoạt động của Công giáo tiếp tay với thực dân Pháp để xâm chiếm Việt Nam trước đây, và sau đó Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đă toa rập với thực dân Pháp để cướp bóc đất đai, tài sản, chùa chiền của nhân dân Việt Nam, và thành thực sám hối qua những hành động cụ thể như hoàn trả lại cho nhân dân Việt Nam những tài sản đă chiếm hữu, và bồi thường cho Việt Nam những tác hại mà Công giáo đă mang đến Việt Nam. Ngoài ra Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng phải bố cáo rộng răi, lên tiếng xin lỗi tương tự nhân dân Việt Nam, bỏ đi những lời xúc phạm đến cả nước Việt Nam, đến Phật Giáo, trong Kinh Nhựt Khóa của họ, và hoàn trả những ǵ đă chiếm hữu của nhân dân Việt Nam từ trước tới nay.

 

Những ư kiến trên của tôi ở trên mà tôi đă từng nêu lên trên trang nhà Giao Điểm trước đây rất phù hợp với những yêu cầu của Tỳ Kheo Thích Chơn Tế trong bức thư bằng tiếng Anh mà Tỳ Kheo gửi cho Giáo hoàng Benedict XVI. Để kết thúc bài viết này, tôi xin phép được liệt kê những điểm yêu cầu của Tỳ Kheo Thích Chơn Tế, gồm có những điểm sau đây:

 

1- “Xin lỗi dân tộc Việt Nam về những hành động sai lầm của Giáo hội Công giáo La Mă và những tín đồ Công giáo trong hai thế kỷ vừa qua, đặc biệt là trong những thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp và dưới chính quyền độc tài Ngô Đ́nh Diệm. Giáo ḥang tiền nhiệm, John Paul II, đă xin lỗi nhiều quốc gia ngoại trừ Việt Nam, tuy rằng những bằng chứng lịch sử về tội ác của Giáo hội Ngài không thể phủ bác” (Apologize to the Vietnamese people for all the erroneous actions generated by the Roman Catholic Church and its followers during the past two centuries, especially during the periods under French colonialism and under the Ngo Dinh Diem’s dictatorship. The preceding Pope, John Paul II, has already asked for a public apology from several other nations except Vietnam, even though the historical evidences of the criminality of Your church are irrefutable.)

 

2- “Bồi thường thỏa đáng cho những nạn nhân chiến tranh trong những thời kỳ chiếm thuộc địa của Pháp và dưới chính quyền độc tài Ngô Đ́nh Diệm v́ chính Vatican của Ngài đă dẫn đường mở lối và tích cực ủng hộ cả hai. Một trong những tín đồ của Ngài, Giám mục Pháp Puginier, đă thú nhận dứt khoát là “Nếu không có những linh mục và giáo dân Việt Nam th́ người Pháp ở Việt Nam cũng như những con cua đă bị bẻ găy hết càng.” (Recompense satisfactorily to the war victims during the periods under French colonialism and under the Ngo Dinh Diem’s dictatorship since it was Your Vatican who led the way and actively supported both of them. One of your ardent follower, French Catholic priest Puginier, emphatically confessed in a historical document that: “Without the Catholic priests and (Vietnamese) Catholic populace, the French (in Vietnam) will become like a crab with broken legs”.)

 

3- “Hăy hoàn trả cho dân Việt Nam nhiều đất đai và tài sản mà giáo hội Ca-Tô đă chiếm hữu dựa vào quyền lực của chính quyền thực dân Pháp và chính phủ Ngô Đ́nh Diệm” (Return to the people of Vietnam numerous parcels of land and properties that the Catholic Church exhorted by relying on the power of the French colonial administration and the Ngo Dinh Diem government.)

 

4- “Hăy hoàn trả cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam những Chùa đă bị chiếm hữu theo chủ trương biến đổi Chùa thành nhà thờ như Chúa Báo Thiên đă trở thành nhà thờ lớn Hà-Nội, Chùa La Vang đă trở thành nhà thờ La Vang, một Chùa rất cổ đă trở thành nhà thờ Đức Bà ở Sài G̣n” (Return to the Vietnamese Buddhist Church various pagodas being exhorted to transform into Catholic cathedrals such as the Bao Thien Stupa which has become the current Main Hanoi Cathedral, the La Vang pagoda which has become the current LaVang Cathedral, a very old pagoda which has become the current Cathedral of Saigon.

 

5- “Hăy giáo dục giới linh mục Việt Nam và những tín đồ rừ bỏ niềm tin ô nhục “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa, niềm tin đă biến họ trở thành những tay sai của ngoại bang đồng thời phản bội dân tộc và nền văn hóa của chúng tôi” (Educate the Vietnamese Catholic clergy and its followers to renounce the infamous credo “Better to loose the Fatherland than loosing belief in God”. The credo that turned them into lackeys of foreign governments while betraying our people and our culture.)

 

6- “Hăy ra lệnh cho giới linh mục Việt Nam xưng tội và chấm dứt mọi sách nhiễu t́nh dục đối với trẻ con và phụ nữ như đă từng xảy ra trong nhiều quốc gia khác” (Order the Vietnamese Catholic clergy to confess and to stop all sexual abuses onto children and women as already happened in many other countries.)

 

7- Hăy giáo dục những tín đồ Công giáo chấm dứt thái độ sai lầm, theo tín lư và kiêu căng trong niềm tin là những người phi Công giáo th́ xấu và những tín ngưỡng cổ truyền, nhân bản của dân tộc chúng tôi là không chính thống” (Educate Catholics to end the wrongful, dogmatic and arrogant attitude in their belief that non-Christians are evil and traditional humanistic faiths of our people are heterodoxy.)

 

8- Hăy dạy dỗ giới linh mục và tín đồ Công giáo tôn trọng nhân quyền, đặc biệt trong những lănh vực sau:

 

- Chấm dứt thói bắt buộc những người trong tín ngưỡng khác phải từ bỏ niềm tin tôn giáo của họ và phải cải đạo để được phép kết hôn với một người Công giáo.

- Hăy chấm dứt thói lùa những người sắp chết và/hoặc những người già bệnh tật cải đạo vào Công giáo trong khi họ ở trong t́nh trạng không sáng suốt hoặc trong khi họ không có thân nhân ở bên.

 

- Hăy chấm dứt những hoạt động từ thiện dùng tiền và thực phẩm/thuốc men để cải đạo những người nghèo và cô nhi vào Công giáo.

(Teach the Catholic clergy and followers to respect human rights, especially in the

following areas:

 

- To end the practice of coercing peoples of other faith to deny his/her own religious belief and to be converted to Catholicism in order for them to get permission to marry with a Catholic.

 

- To end the practice of luring the dying and/or old aged patient to convert to Catholicism while the patient is in a bewildering state or while the patient is alone without company of relatives.

 

- To end the kind of charity works with money and food/medicine aids to convert the poor and the orphans to baptize them into a Catholic.)

 

9. “Hăy hủy bỏ ngay sự phong thánh hấp tấp cho 117 người Việt Nam và ngoại quốc chết trong nước tôi trong hai thế kỷ qua. Những bằng chứng và hồ sơ lịch sử đă chứng minh rơ ràng là họ bị kết án tử h́nh bởi Triều Đ́nh v́ họ đă phản bội quốc gia và/hoặc đă có những ho ạt động t́nh báo cho những lực lượng xâm lăng Pháp. Những bằng chứng cũng đă chứng tỏ rằng họ không phải là những “thánh tử đạo” mà Vatican đă ngụy tạo lên để thúc đẩy những tín đồ Công giáo Việt Nam đi vào con đường phản bội quốc gia để được phong thánh.” (Immediately cancel the unusually urgent and serial canonization by Pope John Paul II of 117 Vietnamese and foreigners who died in my country during the past two centuries. Historical evidences and records clearly proved that they received the official death sentence by the Court because of their betrayal and/or their spying activities for the French invading forces. The evidences also show that they were not “martyrs” as maliciously fabricated by Vatican to incite the Vietnamese Catholic followers to betray their country in order to get canonized.)

 

Chúng tôi khẩn xin quư vị có trách nhiệm ở Việt Nam hăy nghĩ đến tương lai dân tộc để có thể định ra một đường lối ngoại giao thích hợp đối với Vatican một khi quư vị đă nắm được phần nào thực chất của Vatican. Chúng tôi, những người ở hải ngoại tuy không bị ảnh hưởng trực tiếp những việc xảy ra ở bên nhà nhưng dù sao cũng c̣n ít hiều gắn bó với dân tộc Việt Nam, quả thực là không an tâm khi thấy có vẻ như cơn sốt quyền lực, tiền tài vật chất đang hành hạ quư vị lên đến cao độ. Ngay những bộ phim ảnh của Việt Nam cũng nói lên rất rơ rệt t́nh trạng này. Vậy chúng tôi nghĩ đă đến lúc quư vị nên t́m cách làm giảm những cơn sốt này.

 

Tôi xin quư vị hăy b́nh tâm suy nghĩ lại, nếu quư vị chạy theo vật chất vô thường, bỏ bê vấn đề tâm linh trau giồi đạo đức, như vậy có đáng không? Có lẽ quư vị chưa bao giờ nghĩ đến chân lư sau đây: “Không lâu đâu, chỉ vài chục năm sau là nhiều, vấn đề không c̣n là quư vị có bao nhiêu tiền trong chương mục, đi xe loại ǵ, ở nhà cao rộng như thế nào, ăn uống của ngon vật lạ ra sao v..v.. mà chỉ c̣n là vấn đề quư vị đă làm ǵ cho tương lai của con em, tương lai của đất nước và dân tộc.” Nghĩ được như vậy, cơn sốt của quư vị sẽ giảm và giảm rất nhanh.

 

Mong vậy thay.

 

NDVN, ngày 17/2/09

ĐDTB, ngày 17/2/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend