TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Nhận diện về JEAN BAPTISTE NGÔ Đ̀NH DIỆM (1897-1963): CHÍNH ĐẠO (UP DATE)


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Tieng Que Huong Radio.

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

  

 

NDVN: Chính Đạo—Nguyên Vũ—Vũ Ngự Chiêu là bút hiệu của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu có hai bằng Tiến sĩ: Tiến sĩ Sử Wisconsin —Tiến sĩ Luật Houston. Ông là nhà biên khảo—nghiên cứu Sử Chính Trị, về hai chế độ Cần Lao Công Giáo Diệm Thiệu—Pháp—Mỹ—Vatican tàn hại đất nước ta trên 100 năm, nghiêm túc— trung thực—can đảm trước đàn sói Cần lao Công giáo Việt gian tái sinh ở Mỹ.

 

Chính thế, Tiến sĩ Chiêu đă để lại cho thế hệ con cháu sau này, 10 tác phẩm biên khảo—nghiên cứu sử chính trị, khai thị hàng ngàn trang sách nghiên cứu lịch sử công phu (tên tác giả các bộ sách biên khảo là Chính Đạo—Nguyên Vũ—Vũ Ngự Chiêu) về hiểm họa thực dân đế quốc Pháp—Mỹ—Vatican, từ khi tên giáo sĩ gián điệp Alexandre De Rhodes (và một số giáo sĩ Bồ—Nha) truyền đạo chui nước ta vào thế kỷ 16—chiến thuyền Pháp do trung tướng Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng ngày 1/9/1858, và các giáo sĩ Pháp tập trung thật đông, trong đó có linh mục Nguyễn Trường Tộ đón quân Pháp ...

 

Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, là Tổng Biên tập và Chủ biên tờ báo giấy Quốc Dân, và là Tổng Giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa và Hoa Trân, và cũng là chủ nhân cơ sở Nhà Sách Văn Hóa trên hai chục năm nay. Tiến sĩ Chiêu, người chịu khó và chịu chi phí tốn kém tài chánh và thời gian, đi truy cứu sử liệu ở các Thư viện, nhất là thư viên Quốc hội Mỹ và Âu châu (Pháp—Tây Ban Nha—Bồ Đào Nha…)

 

Viết đôi ḍng về Tiến sĩ Sử Vũ Ngự Chiêu, để tỏ ḷng tri ân Tiến sĩ Chiêu đă để lại cho dân tộc Việt, 10 tác phẩm nghiên cứu - biên khảo chân chánh Lịch Sử Cận Đại, về hiểm họa và tội ác giặc áo đen Vaticangiặc áo đen “Khuyển Sinh GHCGVN” đối với Nhân loại gần 2000 năm và đối với dân tộc Việt Nam trên 100 năm bị đô hộ thực dân Pháp – đế quốc Mỹ và Tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm – Thiệu, đă được tiến sĩ Chiêu viết: Nhóm Ngô đ́nh Diệm, Nguyễn văn Thiệu, Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên v.v... mới là những tội nhân chính của lịch sử.”  

 

Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, sinh ngày 6 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (12/11/1942), tại Phụng Viên Thượng, B́nh Giang, Hải Dương. Thân phụ là Vũ Ngự Thủy và thân mẫu, bà Phạm Thị Dư. Học trương Trung học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Dương, 1953 – 1954), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng, 1955 – 1958), Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định, 1958 – 1960) Chu Văn An (Sai-g̣n, 1960 -1961). Cử nhân Giáo Khoa Triết Đông (Đại học Sai-g̣n, 1974), Tiến sĩ Sử học (Đại học Wisconsin-Madison, 12/1984), Tiến sĩ Luật khoa (Đại học Houston, 5/1999)

 

Phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, từ năm 1963 – 1975, cấp bậc Đại úy, thuộc binh chủng Pháo Binh, Sĩ quan tiền sát, sĩ quan liên lạc, và pháo đội trưởng tại các đơn vị Bộ Binh, Biệt Động Quân, Nhảy Dù. Sĩ quan báo chí Bộ Tư Lệnh QĐ IV, Bộ Chỉ huy Pháo binh & Sư đoàn 3 Bộ Binh. Bản chất của tiến sĩ Chiêu "bất khuất, chân chính và trung thực không bẻ cong ngoài bút, viết Cung Văn và Bồi bút" cho giặc áo đen Vatican - giặc áo đen “Khuyển Sinh GHCGVN” - Tam đại Việt gian Cần Lao Công giáo Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Cho nên, Nguyễn Văn Thiệu, đă ra lệnh là không cho Vũ Ngự Chiêu nắm binh quyền đơn vị trưởng và thất cử dân biểu, đơn vị quận Hóc Môn, Gia Định.  

 

Trước năm 1975, tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, tác giả trên 20 bút kư, truyện ngắn, truyện dài, kư tên Nguyễn Vũ (sau năm 1975 cho đến hiện nay , những tác phẩm Biên khảo và nghiên cứu Sử, kư tên Tâm bút Nguyễn Vũ, như là: NGÀN NĂM SOI MẶT – PARIS XUÂN 1996 – XUÂN BUỒN THẢM: NHỮNG NGÀY CUỐI CỦA MIỀN NAM). Hai tác phẩm dịch qua Anh ngữ: Trở về từ Cỏi chết(Back From Hell, Vơ Quang Châu) Đêm hưu chiến (The Night of the Cease-Fire, Trần Nhă)

 

Sau năm 1975, hoàn tất 10 nghiên cứu sử học và chính trị với bút hiệu Chính Đao (TỪ PEARL HARBOR TỚI NEW YORK – 55 NGÀY & 55 ĐÊM: CUỘC SỤP ĐỔ CỦA VNCH – VIỆT NAM NIÊN BIỂU, 1939-1975 – MẬU THÂN 68: THẮNG HAY BẠI – TÔN GIÁO & CHÍNH TRỊ: PHẬT GIÁO, 1963-1967....) – Vũ Ngự Chiêu (CÁC VUA CUỐI NHÀ NGUYỄN, 1883-1945)

 

Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, là Tổng Giám đốc Nhà Sách Văn Hóa và Nhà xuất bản Văn Hóa, và là Nhân sĩ, Học giả, Sử gia, Biên khảo tham luận số một tại hải ngoại và Houston. Cho nên, những sử gia, học giả, nghiên cứu Sử Việt Nam ở hải ngoại và trong nước đến Houston, có vài lần thăm xă giao với tiến sĩ Chiêu tại Nhà sách Văn Hóa trên đường TRAVIS và Nhà sách Văn Hóa, 1005 St.Emanuel # 5, Houston, TX 77003: Nguyễn Văn Kim, Cao Thế Dung, Đại tá Phạm Văn Liễu, Linh mục Trần Kim Thiện (chủ tịch đảng của nhóm THỤ NHÂN THÔNG LUẬN –  ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG) giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, Trần Chung Ngọc?, Trịnh Như Hoa, Dương Phục, Lê Hồng Phong, Nguyễn Đắc Xuân, Đạo Tôn, Giuse Phạm Hữu Tạo, Đỗ Hữu Tài, Phan Mạnh Lương...v.v...  

 

Qua 10 nghiên cứu sử học và chính trị giải trừ và giải hoạt  giặc áo đen Vaticangiặc áo đen “Khuyển Sinh GHCGVN” giáo dân ngu nghiện đạo, đă hội tụ và kết nối tâm thức “tri kỷ” với giáo sư Nguyễn Mạnh Quang và nhóm GIAO ĐIỂM. Nhất là, Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Manh Quang kính trọng nhau như anh em cùng cha mẹ sinh ra cùng huyết thống là giải trừ và giải hoạt giặc áo đen Kytô - Rô magiáo (Vatican). Thế nên, nhà xuất bản VĂN HÓA, đă xuất bản, phát hành và hiệu đính, hai Biên khảo của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang: VIỆT NAM ĐỆ NHẤT CỘNG H̉A TOÀN THƯ – THỰC CHẤT GIÁO HỘI LA MĂ... và Hoành Linh Đỗ Mậu: TÂM THƯ. Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu đă cùng Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang ra mắt sách của Giáo sư Quang tại Seattle, tiểu bang Washington State, đă bị cha xứ và giáo dân ngu nghiện đạo Việt gian chống phá hăm dọa, phản đối biểu t́nh....

 

Chính v́ thế, các cố đạo giặc áo đen “Khuyển Sinh”giáo dân ngu nghiện đạo, đă áp lực kinh tế ngầm và công khai, rao giảng tại các nhà thờ không được đọc sách báo Giao Điểm, sách Đỗ Mậu, sách Nguyễn Mạnh Quang, sách báo Nguyên Vũ (báo Quốc Dân), báo Đông Dương Thời Báo Giuse Phạm Hữu Tạo…cùng nhiều sách báo nào khai thị tội ác Việt gian GHCG - Tam Đại Việt Gian Thánh Ngô Đ́nh Diệm - Vatican  sẽ bị cúp phép thông công và đi vào hỏa ngục nghiến răng đời đời. Nhất là vận động các cơ sở Thương mại không cho quảng cáo ŕnh lấy báo vất vào thùng rác (ĐDTB, Viet WEEKLY, Quốc Dân, GĐ…), không những thế biểu t́nh trước ṭa soan báo Viet WEEKLY và chùa Phật Giáo Việt Nam của thầy Pháp Châu ở Cali hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và hàng năm....

 

Cho dù, áp lực kinh tế trong suốt hơn 20 năm trên cơ sở nhà sách và nhà xuất bản VĂN HÓA, tiến sĩ Chiêu chấp nhận sống chật vật kham khổ, để hoàn tất 10 nghiên cứu sử học và chính tri kể trên, chỉ là muốn để lại cho dân tộc Việt Nam, công tŕnh nghiên cứu chân chính Văn hóa Sử nước ta mà thôi, nêu bật tính chất lư tưởnghoài bảo mà ông đă chọn.... và minh thị bản chất “nghèo cho sạch rách cho thơm”

 

NDVN, lần lượt cho lên mạng 10 tác phẩm của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, chỉ qua những trích đoạn thích hợp trong những sự cố đă và đang xẩy ra trong nước và hải ngoại bởi bọn Việt gian phản loạn GHCG RÔ MAGIÁO của DBHB/NED, kinh qua vụ phản loạn Nhà Chung – Thái Hà – Tam Ṭa,...vừa qua. Thân mời, bạn đọc bài viết lấy tựa; NHẬN DIỆN VỀ NGÔ Đ̀NH DIỆM—[trích Hồ Chí Minh (1892-1969): Con người & Huyền thoại, tập III: 1947-1969, đang in]

 

   

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh, Phú Cam, Huế

  

Nhận diện về Ngô Đ́nh Diệm:

 

Sơ lược tiểu sử

JEAN BAPTISTE NGÔ Đ̀NH DIỆM (1897-1963):

THỜI KỲ CHƯA NẮM QUYỀN, 1897-1954

 

Chính Đạo

 

DIỆM VỚI NHẬT, PHÁP VÀ VIỆT MINH [PHẦN I]

 

Ngày 25/4/1961, Tướng Edward G. Lansdale—người được coi như hiểu biết rất rơ Việt Nam Cộng Ḥa [VNCH]—viết báo cáo lên Thứ trưởng Quốc pḥng Roswell L. Gilpatric, Chủ tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm Việt Nam (Presidential Task Force on Vietnam), về “No Din Zee’em” (Ngô Đ́nh Diệm) như sau: (1)

 

Ông ta lùn, mập tṛn. . . Nhiều người không chú ư đến cặp mắt đen hay liếc trộm [snapping] của ông ta mà chỉ chú ư đến cặp gị chỉ vừa đủ chạm mặt đất khi ngồi. Tuy nhiên, ông ta không cảm thấy ngượng ngùng về chuyện lùn, và có vẻ rất tự nhiên chung quanh những người Mỹ cao lớn. . . .

 

Ông ta tỏ vẻ ăn uống ngon lành (và thường có sở thích ăn ngon). Nụ cười của ông ta có vẻ e dè và bất thường. . . .  Diệm sinh ngày 3/1/1901. . . Năm 25 tuổi [1926], Diệm đă được cử làm quan đầu tỉnh. Nhưng sau “sáu tháng làm Thượng thư” Diệm từ chức, trở thành “người hùng thực sự của người Việt.” Từ đó, anh em Diệm “âm thầm chống cả Pháp lẫn Cộng Sản.” Diệm là một người độc thân 60 tuổi, “đă cắt bỏ mối t́nh với người yêu đầu đời để dâng hiến cho tổ quốc.”

 

1. Department of Defense, US-Vietnam Relations, 1945-1967, 12 books, (Washington, DC: GOP, 1971), Bk 11, tr. 36-41.

 

Thực ra, Lansdale dường không biết nhiều, hoặc không muốn viết rơ về Tổng thống Diệm cũng như họ Ngô. Hầu hết chi tiết về hộ tịch Diệm cũng như thành tích chống Pháp của Diệm và gia đ́nh Ngô Đ́nh Khả, đều thiếu chính xác. Các học giả thế giới cũng chẳng bận tâm đến việc tu chỉnh lại tiểu sử  người cầm đầu phe thua cuộc. Đáng buồn hơn nữa, lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ “anecdotes” [câu chuyện thêm thắt vào] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lư do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ư thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực.

 

Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên. Tư liệu chúng tôi sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp thành lập ngày 5/7/1954, hiện vẫn c̣n chưa giải mật. Ngoài ra, c̣n nhiều tư liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Hoa, cùng các tài liệu nguyên bản khác.

 

I. SƠ LƯỢC GIA THẾ:

 

Ngô Đ́nh Diệm, ngoài tên “thánh” Jean Baptiste [Gioan Bao-xi-ta], c̣n có bí danh Nguyễn Bá Chinh. Theo tài liệu văn khố Pháp, Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại Đại Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh.(2)

 

2. SHAT (Vincennes), Indochine, [10H 4195]. Tài liệu này hiện vẫn chưa giải mật. Xem phóng ảnh trong Nguyên Vũ, Paris Xuân 96 (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 165. Những chi tiết không có phụ chú trong bài này đều trích dẫn từ tài liệu trên. Xem thêm Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], tập III: Nhân vật chí, tái bản có bổ sung (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 262. Sẽ dẫn: Nhân vật chí, 1997.

 

Cha là Khả, một người theo đạo Ki-tô tân ṭng, xuất thân thông ngôn cho Pháp, sau đổi qua ngạch quan lại Việt, lên tới chức Đề đốc Kinh thành (1905-1907). “Mẹ” là Phạm Thị Thân.

 

Anh em Diệm khá đông, gồm sáu trai, hai gái. Khôi, con vợ lớn, là anh cả. Diệm, theo lời đồn, đứng hàng thứ ba—em của Khôi, Thục—và anh của Ngô Thị Hiệp (bà Cả Lễ; chồng là Nguyễn Văn Ấm), dù Diệm lớn hơn Thục hơn hai tháng. Dưới Diệm có Nhu, Cẩn, Luyện, cùng một người em gái khác. V́ Khả chết khi Diệm c̣n nhỏ (17 tuổi khai sinh), Khôi quyền huynh thế phụ. Khôi chết, Thục có ảnh hưởng nhất trên Diệm.

 

Cha đỡ đầu Diệm là Nguyễn Hữu Bài (1863-1935), cha vợ Khôi, một thủ hạ cũ của Khả, cũng một Thượng thư uy quyền tại Huế từ 1907 tới 1933. Theo tài liệu Pháp, từ nhỏ Diệm đă được Bài nuôi dưỡng.

 

Sau ngày lên cầm quyền ở miền Nam, Diệm đổi ngày sinh thành 3/1/1901. Chẳng hiểu tại sao có việc “thay đổi” hộ tịch trên.

 

Việc thay tên, đổi họ và ngày sinh tháng đẻ là việc thường xảy ra ở Việt Nam. Trước hết, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc khai hộ tịch không được kiểm soát chặt chẽ. Các viên chức xă ấp tại thôn quê không đặt nặng sự chính xác về ngày sinh của trẻ em. Cha mẹ nhiều khi khai rút tuổi con cái để nhắm mục đích nào đó, như đi học hay khai sưu thuế. Hơn nữa, việc đổi từ ngày nhật (dương) lịch qua nguyệt (âm) lịch rất phức tạp, đôi khi cha mẹ dùng ngày tháng sinh nguyệt lịch làm ngày tháng nhật lịch, rồi dùng năm nhật lịch tương đương trong khai sinh. Thông thường, cha mẹ hay khai rút tuổi các con. Nhưng rất hiếm trường hợp cha mẹ khai con ḿnh tăng thêm ba bốn tuổi, ngoại trừ có biệt lệ nào đó. Phải chăng Diệm rơi vào trường hợp đặc biệt này, v́ nếu sinh năm 1901, Diệm không thể nào được tập ấm chức Cửu phẩm và làm việc tại Tân Thư Viện Huế năm 1917, khi mới 16 tuổi.(3)

 

3. Xem Ngô Đ́nh Diệm, “L’Encrier de S. M. Tu-Duc: Traduction des Inscriptions [Nghiên mực của vua Tự Đức: Bản dịch những chữ khắc];” Bulletin des Amis du Vieux Hue [BAVH], Bộ IV, số 3 (Tháng 7-9/1917), tr. 209.

 

Theo Ngô Đ́nh Luyện, em út trong gia đ́nh họ Ngô, Diệm đă khai tăng bốn tuổi (tức từ 16 lên 20 tuổi) để có thể vào trường Hậu Bổ.(4)

 

4. Phỏng vấn ngày 2/11/1985 tại Paris.

 

Điều này khó tin, v́ măi tới năm 1918-1919, Diệm mới khai là học viên trường Hậu bổ.(5)

 

5. Ngô Đ́nh Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864);” BAVH, Bộ VI, Số 1bis và 2 (Avril-Juin 1919), tr. 161. Luyện cũng  là một nhân chứng không đáng tin cậy. Thí dụ như khi được hỏi về vai tṛ chính trị của Luyện, Luyện nói được lệnh đứng ngoài chính trị. Thực tế, từ thập niên 1940, Luyện đă bí mật tham gia hoạt động cho tổ chức thân Nhật của họ Ngô, và trở thành đặc sứ của Diệm với Bảo Đại, trước khi nắm chức Đại sứ tại London. Luyện cũng tung những tin đồn về giao t́nh giữa Luyện và Bảo Đại, mà theo Bảo Đại không hề có. Xem báo cáo về cuộc đàm thoại tại Nice ngày 28/4/1955 giữa Bảo Đại với Gibson, Đệ nhất thư kư Ṭa Đại sứ Mỹ; FRUS, 1955-1957, I:332-336.

 

Và, như đă lược nhắc, Diệm được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân Thư Viện Huế từ năm 1917, trước khi vào trường Hậu Bổ.

 

Một trong những động lực trong việc sửa đổi hộ tịch có lẽ là để hợp thức hóa vai “em” của Diệm với Giám Mục Thục - Thục sinh ngày 6/10/1897 tại Phước Quả, Thừa Thiên, thua Diệm hơn hai tháng. Nhưng cũng có thể, và điều này cần được tra cứu thêm, Diệm không man khai hộ tịch, mà lư do rất đơn giản là không cùng mẹ (Phạm Thị Thân) với anh chị em khác.(6)

 

6. Xem tiểu sử Thục trong CAOM (Aix), GGI, CP 125; Chính Đạo, Nhân vật chí, 1997:312. Tại Việt Nam, tưởng cũng nên ghi nhận, có tục lấy tên “mẹ già,” tức vợ chính thức, để khai sinh cho các con ngoại hôn hoặc thê thiếp.

 

Có lẽ v́ muốn che đậy bí ẩn này, tiểu sử Thục trong tập Vua chúa và người quí phái [Souverains et Notabilités] của Đông Dương năm 1943 không ghi ngày sinh.

 

Tài liệu văn khố Pháp cũng ghi Diệm sinh tại Đại Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, Lệ Thủy, Quảng B́nh, mà không phải Phước Quả, Thừa Thiên, giống như Thục, Nhu, Cẩn, Luyện, v.. v... Địa danh “Đại Phong Lộc” từng được khai là nơi sinh của Khôi, anh cả trong gia đ́nh, con Khả và người vợ lớn đă chết sớm, trước khi Khả lấy bà kế thất tên Thân.(7)

 

7. Xem Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], Tập I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 110.

 

Rất ít chi tiết về học vấn của Diệm đă được công bố. Có tin Diệm từng học trường Pellerin ở Huế, và tốt nghiệp Diplôme [Trung học đệ nhất cấp]. Diệm cũng biết cả chữ Nho [Hán Việt]. Lại có tin Diệm học ở chủng viện, nhưng bỏ tu nửa chừng. Bởi thế, nhiều hơn một tài liệu cho rằng Diệm thuộc loại “religious fanatic” [cuồng đạo].

 

II. “BÁT CƠM” BẢO HỘ PHÁP:

 

Trong nỗ lực biến hóa Ngô Đ́nh Diệm thành một “lănh tụ anh minh” đủ sức đương đầu với Hồ Chí Minh—kiểu “ăn Ngô th́ no, ăn Hồ th́ đói”—cơ quan tuyên truyền Mỹ và Nam Việt Nam tô chuốt cho Diệm những bảng hiệu như “yêu nước, chống Pháp,” v.. v... Thực ra, Diệm xuất thân từ một gia đ́nh trung gian bản xứ phục vụ Bảo hộ Pháp rất tận tụy. Khả, cha Diệm, từng lên tới chức chánh thông ngôn ṭa Khâm sứ Huế dưới thời Khâm sứ Rheinart des Essarts, rồi chuyển sang làm thương biện Viện Cơ Mật, năm 1892 dịch công văn của Viện Cơ Mật xin Toàn quyền Pháp đừng gửi ra Huế “những người như Petrus [Key], thông phán Tạo, Lê Duy Hinh, hay Diệp Văn Cương, v.. v...” Khả cũng tham dự chiến dịch đánh phá phong trào Cần Vương kháng Pháp tại Hà Tĩnh-Quảng B́nh của Ngự sử Phan Đ́nh Phùng trong hai năm 1895-1896, và được đặc cách lên chức Thái thường tự khanh (Chánh tam phẩm) năm 1896 sau khi hài cốt Ngự sử Phùng bị đốt thành tro, ném xuống sông Lam “theo [lối trừng phạt] truyền thống.” (8)

 

8. Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh (1892-1969), Con người & Huyền thoại, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1997), tập I:161-162; Phụ bản 5, trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, II:602-604. Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược, đă dẫn lời “một đại quan về hưu” để bài bác chi tiết trộn tro than Ngự sử Phùng bắn xuống sông Lam này. “Đại quan về hưu” dấu tên này chắc không thể biết rơ sự việc bàng chính Khâm sứ Huế, người viết báo cáo vào tháng 2/1896. Đó là chưa nói đến thói quen chối tội của các tội nhân h́nh sự. Đáng tiếc v́ không được huấn luyện về phương pháp nghiên cứu và viết sử, lại không có tư liệu, Trần Trọng Kim khiến tập phổ thông lược sử của ông chứa nhiều dữ kiện và nhận định lầm lạc.

 

Sau một thời gian làm Phó Giám đốc trường Quốc Học ở Huế, đặc trách vấn đề nhà cửa, lương bổng và hành chính, Khả được giao chức Đề đốc kinh thành, lo việc bảo vệ và kiểm soát Thành Thái (1889-1907), cầm đầu một toán thân binh cạo răng trắng, hớt tóc ngắn, mang súng trường, nhưng nhiệm vụ chính yếu—nếu tin được báo cáo của Hiến binh Pháp—chỉ để giúp vua lùng sục và bắt cóc gái đẹp quanh kinh thành. Khi về hưu, Khả được chức hàm Thượng thư.(9)

 

9. Xem bản dịch một bài thơ của vua Tự Đức của “hàm Thượng thư” Khả trong BAVH.

 

Khôi, anh cả họ Ngô, bắt đầu “tham chánh” từ năm 1910, sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ. Khoảng 6 năm đầu, Khôi làm tại văn pḥng cha vợ là Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư Bộ Công. Sau ngày tiếp tay cho Khải Định (1916-1925) lên ngôi, Bài được thăng lên Thượng thư Bộ Lại, và Khôi bắt đầu đi ngồi huyện, phủ, rồi lên tới Tuần vũ, Tổng đốc.

 

Diệm th́ năm 1917, được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân thư viện Huế (tức Musée Khải Định sau này). Năm 1918-1919, Diệm vào trường Hậu bổ Huế. (10)

 

10. Xem chú 5 supra. Diệm chỉ dịch một phần tập tâu của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thú, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Đ́nh Ḥe.  Phần c̣n lại do Trần Công Tạn dịch. Tác giả đa tạ ông Nguyễn Đắc Xuân đă cung cấp một phóng ảnh bài viết này.

 

Người đỡ đầu của Diệm có lẽ là Nguyễn Đ́nh Ḥe, một phụ tá cũ của Khả, lúc đó làm Giám đốc trường Hậu Bổ. Thời gian này, triều đ́nh Huế đă bỏ lối thi Hương và thi Hội truyền thống, và trường Hậu bổ mở thêm một phân khoa Pháp chính của trường Đại học Hà Nội. Học viên học tại Huế hai năm đầu, và năm thứ ba phải ra Hà Nội. Có lẽ Diệm được chuyển qua chương tŕnh này.

 

Tốt nghiệp năm 1922, nhờ ảnh hưởng của Thượng thư Bài, Diệm được bổ nhậm ngay. Năm 1929, Diệm lên tới chức Tuần Vũ B́nh-thuận (Phan Thiết). Được cấp trên đặc biệt chú ư v́ thanh liêm và tinh thần diệt Cộng rất cao. Một số nhân chứng ghi nhận rằng Diệm, khi làm tri phủ Hoà-đa (B́nh Thuận), đă dùng đèn cầy [nến] thiêu đốt hậu môn tù nhân CS để lấy khẩu cung. (11)

 

11. Lời chứng của Nguyễn Thi, trong Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng (Hà Nội: NXB Khoa Học, 1964), tập I, tr. 36; Nguyệt Đàm và Thần Phong, Chín năm máu lửa dưới chế độ gia đ́nh trị Ngô Đ́nh Diệm (Sài G̣n: 1964), tr. 18. Theo hai tác giả này, nhân chứng là Cử nhân Nguyễn Trác, cựu Nghị viên trưởng An Nam. Xem thêm, Bùi Nhung, Thối nát. (Sài G̣n: 1969); Hoàng Trọng Miên, Đệ nhất phu nhân (Los Alamitos, CA: 1989), I:128-129.

V́ thế, theo Giám Mục Thục, Cộng Sản đă thuê một sát thủ ra tận Phan-rang mưu sát Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương.(12)

 

12. Nguyên văn: “Các anh em tôi cũng liên tục dâng hiến mạng sống họ cho nước Pháp trong dịp Cộng Sản nổi loạn. Diệm, em tôi, đă ngă xuống v́ những viên đạn súng lục của một người Tàu Chợ Lớn, được gửi tới Phan Rang, nơi Diệm hăng say ngăn chặn sự xâm nhập của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ” [Mes frères, eux mêmes ont exposé leur vie continuellement pour la France lors de la révolte communiste. Mon cadet Diệm a failli tomber sous les coups de révolver d’un chinois de Cholon, envoyé à cet effet à Phan Rang, où Diệm défendait énergétiquement l’entrée de l’Annam aux émissaires communistes envoyées de la Cochinchine]. Thư Ngô Đ́nh Thục gửi Decoux ngày 21/8/1944; CAOM (Aix), PA 14, carton 2. Thư này do tác giả công bố lần đầu tiên trên báo Lên Đường (Houston) năm 1989; in lại trong Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], 1939-1975, tập I-A: 1939-1946, tr. 200.

 

Tóm lại, từ Khả xuống Khôi, rồi Diệm, tinh thần phục vụ và ḷng trung thành với Pháp khá vững chắc. Khôi từng nhờ Nhu khai với Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Paul Arnoux ngày 18/8/1944 tại Huế rằng Khôi “xin thề trên thập tự giá” là lúc nào cũng coi Bảo hộ Pháp như “bát cơm” [bol de riz] của ḍng họ ḿnh. Khôi cũng thường nói với Diệm rằng sở dĩ người Pháp [Khâm sứ Emille Grandjean] không ưa v́ “[họ Ngô] quá toàn vẹn,” và “Phạm Quỳnh th́ khôn khéo, nên được cả Pháp lẫn Nhật quảng cáo tài năng.”(13)

 

13. Nguyên văn: “Franc졩s ne veulent pas de nous, parce que nous sommes trop entiers, à fortiori Japonais qui préfèraient souplesse PHAM QUYNH dont ils vantent talent.” Báo cáo số 1806, A,B,C, D ngày 18/8/1944, Surete gửi DirSurGe; CAOM (Aix), 14 PA, c.2, d.19; trích đăng trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:856.

 

Giám mục Thục, trong thư ngày 21/8/1944 gửi Toàn quyền Jean Decoux, tóm lược rơ ràng nhất công lao và ḷng trung thành với Bảo hộ Pháp của họ Ngô cũng như cá nhân Diệm.(14)

 

14. Xem chú 12, supra.

 

Dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp “yêu nước, chống Pháp” của Diệm, là cuộc "đảo chính cung đ́nh" ngày 2/5/1933. Ngày này, Toàn quyền Pierre Pasquier (12/1928-1/1934) và Quyền Khâm sứ Léon Thibeaudeau (2/1933-7/1934) đột ngột bắt Bài và toàn bộ nội các về hưu. Việc này, theo báo Tiếng Dân, chấn động dư luận Huế. Bẽ bàng nhất cho Bài là Bài cùng các Thượng thư không hề được thông báo trước. Và, khi Khâm sứ Thibeaudeau tuyên bố danh sách nội các mới, một số người vẫn chưa kịp về đến kinh đô.

 

 Nguyên Pasquier, với sự thỏa thuận của Albert Sarraut, quyết định thực hiện một cuộc “đại cải cách” ở An-nam, đánh bóng uy tín nhà Nguyễn để làm giảm bớt và điều-kiện-hóa các phong trào quốc gia mới, nhất là sự du nhập và phát triển của phong trào Cộng Sản từ giữa thập niên 1920. Pasquier và Thibeaudeau đoạn tuyệt với nhóm hợp tác cựu trào (Nguyễn Hữu Bài, Ki-tô giáo), vốn chủ trương  đồng hóa và thống trị (theo kế sách của Giám mục Paul Puginier và Louis Caspar), lúc đó đang trở thành một thứ kiêu binh của cái mà Phạm Quỳnh và Bảo Đại gọi là “một văn pḥng phụ thuộc nho nhỏ của Ṭa Khâm,” tức triều đ́nh Huế, lúc nào cũng mang sức mạnh của khối giáo dân bản xứ ra áp lực Pháp. Ngựa mới của Pasquier là phe tân trào (tiêu biểu bằng Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái Bạt, Lê Dư, v.. v...). Phe này chủ trương hợp tác tinh thành, hay Pháp-Việt đề huề. Quan chức Pháp đă chọn phe tân trào, v́ chủ trương hợp tác có nhiều triển vọng thành công hơn trước sự lớn mạnh của các phong trào quốc gia mới. Trong khi đó, nhóm Quỳnh chấp nhận “tôn quân” cũng là yêu nước,” tạm ngưng lại đ̣i hỏi một thể chế cộng ḥa.

 

Để làm giảm bớt sự chống đối và bi phẫn của nhóm cựu trào, Pasquier và Thibeaudeau đặc cách Diệm—con nuôi của Bài, cũng một trong hai Tuần vũ thanh liêm, chống Cộng nhiệt t́nh nhất—lên làm Thượng thư Bộ Lại.(15)

 

15. “Ngôi sao” thứ hai của Pasquier là Bùi Bằng Đoàn (1890-1955), từ Tuần phủ lên chức Thượng thư Bộ H́nh. Ngày 6/5/1933, các tân Thượng thư mới có mặt đầy đủ tại Huế nhân dịp gắn huy chương cho Bài và 4 người khác. Ngày 17/5, Thibeaudeau chủ tọa phiên họp Hội đồng Nội các đầu tiên. Mười ngày sau, 27/5, tân Nội các họp dưới sự chủ tọa của Bảo Đại và Pasquier. Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000), tập III:793. [Sẽ dẫn: Các vua cuối.] Đoàn sau này hợp tác với Hồ Chí Minh.

 

Nhiều tài liệu, kể cả một số mật báo viên, lầm lẫn ghi rằng Diệm được làm “quan đầu triều Bảo Đại.” Thực ra, từ tháng 5/1933, Bộ Lại mất đi ảnh hưởng của những năm trước, khi Bài được kiêm nhiệm chức Tổng lư [Chủ tịch Viện Cơ Mật], và chỉ ngang hàng với các Bộ khác. Người có uy thế nhất là Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Giáo dục kiêm Ngự tiền Tổng lư của Bảo Đại. Quỳnh không những chỉ chuyển dịch lệnh của Toàn quyền và Khâm sứ -- Pháp cho Bảo Đại, mà c̣n đồng thời thiết kế việc thực thi các lệnh trên, cùng báo cáo kết quả lên Khâm sứ.

 

Thibaudeau c̣n cử Diệm làm Tổng Thư kư Ủy ban Cải Cách, và yêu cầu Diệm làm tờ tŕnh về kế hoạch canh tân. Diệm, có lẽ với sự tiếp tay của Bài, đưa ra 2 điều kiện:

 

- Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ, và tái bổ nhiệm một Tổng Trú sứ (Résident Général) cho Trung và Bắc Kỳ như đă qui định trong Hoà ước 6/6/1884.

 

- Phải cho Viện Dân biểu quyền thảo luận.(16)

 

16. Báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Colonies; CAOM [Aix], INF, c.366/d.2905; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập III:785-809, 1111-1145.

 

Đề nghị này giống hệt kế hoạch của Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức Thống sứ Hà Nội và Khâm sứ Huế; sau đó cho An-Nam ngân sách riêng. Nói cách khác, phải trở lại với Hiệp ước 6/6/1884—đ̣i hỏi mà Bài đă gieo xuống đầu óc thơ dại của vua Duy Tân từ năm 1915-1916, đưa đến việc vua Duy Tân bị truất phế rồi đầy qua Réunion cùng cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân) vào cuối năm 1916. Pasquier, dĩ nhiên, không chấp thuận.

 

Ngày 9/7/1933, Diệm ra Quảng-trị gặp Bài, ở với cha nuôi ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7, Diệm nạp cho Thibeaudeau một bản sao đơn từ chức đă tŕnh lên Bảo Đại. Lư do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với Hiệp ước 6/6/1884—Hiệp ước này qui định Pháp chỉ giữ một chế độ bảo hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà không phải bảo hộ trực tiếp (protectorat direct). (17)

 

17. Báo cáo số 303-A.P., 22/7/1933, Gougal gửi Colonies; INF, c.366/d.2905. Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, 2000, tập III:804-806.

 

Thibeaudeau rất bất măn, gọi Bảo Đại từ Đà Lạt về Huế giải quyết. Bảo Đại bảo thẳng Diệm rằng không thể viện dẫn lư do chính trị để từ chức, v́ đó là hành động phản nghịch. Diệm đành viết lại đơn từ chức khác ngày 18/7, nêu lư do muốn dành th́ giờ cho việc tu hành. Lần này, Diệm được toại ư. Ngày 22/7, Thibeaudeau đổi Thái Văn Toản qua thay Diệm nắm bộ Lại, và đưa Tôn Thất Quảng, Tổng đốc Thanh Hóa, mới lập công lớn trong việc đàn áp đẫm máu tại các tỉnh Bắc An Nam, lên nắm Bộ Công và Nghi Lễ thay Toản.(18)

 

18. Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:806-807. Năm 1962, Diệm lại giải thích với một viên chức Mỹ như sau: Sở dĩ Diệm từ chức v́ không đồng ư với chính sách “chống Cộng” của Pháp. Theo Diệm, Cộng Sản là sản phẩm của các chính phủ tả phái Pháp. Xem Memorandum of a Conversation, Saigon, January 16, 1922; FRUS, 1961-1963, II:41-42. Nội dung buổi nói chuyện này chứng tỏ Diệm, dù tự nhận đă nghiên cứu về Cộng Sản từ năm 1922 qua các tài liệu Switzerland [Thụy Sĩ], chẳng biết ǵ vai tṛ của địa bàn Trung Hoa cùng hoạt động của DALBURO Liên Sô Nga ở Vladivostok, Thượng Hải hay Hong Kong.

 

Ngay sau ngày Bài đột ngột bị cách chức, vài tờ báo Nam Kỳ công khai đả kích Pasquier. Theo một mật báo viên (Luật sư Lê Văn Kim), những bài đả kích trên từ Huế chuyển vào Sài G̣n. Tháng 12/1933, Diệm c̣n vào Sài-g̣n gặp Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v..v... bàn thảo kế hoạch trả thù Pasquier và Thibeaudeau. Tiếp đó, tờ La Tribune indochinoise [Diễn đàn Đông Dương] và tờ La LanterneParis mở chiến dịch đ̣i thay Pasquier bằng cựu Toàn quyền Alexandre Varenne (7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở lại Huế.

 

Biết được tin này, Pasquier truất hết chức tước của Bài, Diệm và Pierre Nguyễn Đệ, Bí thư riêng của Bảo Đại, thuộc một gia đ́nh trung gian bản xứ Ki-tô nổi danh khác ở miền Bắc (Án sát Nguyễn Liên). Diệm c̣n bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng-b́nh. (19)

 

19. CAOM (Aix), INF, c.366/d.2905; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:808.

 

May mắn cho Diệm, ngày 15/1/1934, Pasquier chết v́ tai nạn máy bay trên không phận Paris. Năm sau, Bài chết tại Quảng Trị. Toàn quyền René Robin (7/1934-1/1937) và Khâm sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936, 4/1937-8/1941) phục hồi tước vị cho Bài, Diệm và Đệ. Diệm được về Huế dạy ở trường Providence [Thiên hựu] do Linh mục Thục, “anh trai” Diệm, làm Giám học.(20)

 

20. Năm 1934, Thục cũng t́m cách đả kích Bảo Đại bằng cách áp dụng “giáo luật” vào đám cưới của Bảo Đại với Nam Phương hoàng hậu. Pháp giải quyết bằng cách cho một linh mục Pháp cử hành lễ cưới trong bí mật.

 

III. HỢP TÁC VỚI NHẬT:

 

Thế chiến thứ hai (1939-1945) và việc Nhật xâm chiếm Đông Dương từ hai năm 1940-1941 khiến Diệm và họ Ngô đi t́m một bát cơm ngoại cường khác. Họ Ngô bí mật yểm trợ Hoàng thân Cường Để và từ năm 1942, công khai hợp tác với Hiến binh Nhật (Kempeitai).  Con trai lớn của Khôi, Huân, làm thông ngôn cho Nhật. Trong khi đó, Nhu (1910-1963) che chở cho hai con Cường Để, Tráng Đinh và Tráng Liệt,  tại văn khố Ṭa Khâm sứ Huế. Những người thân Diệm cũng làm việc tại ṭa Lănh sự Nhật từ năm 1942.

 

Đầu năm 1943, Y sĩ Trương Kế An, thủ lănh Liên Đoàn Ái Quốc Việt Nam, gặp Diệm ở Hà-nội. Pierre Đệ, anh rể hụt của Nhu, cũng có mặt.(21)

 

21. Note số 2995-SP/C, Huế, 4/4/43; 14 PA, c.1. Ít tháng sau, do sự dàn xếp của Thân Thị Nam Trân (1905-1986), vợ Luật sư Trần Văn Chương (1898-1986), Nhu khiến gia đ́nh Nguyễn Liên phải hủy bỏ cuộc đính hôn để Nhu kết hôn với Lệ Xuân, con gái thứ hai của Nam Trân-Chương, thua Nhu tới 14 tuổi.

 

Trong khi đó, Khôi, Tổng đốc Nam-Ngăi, đă dùng Dinh thự của ḿnh cho Diệm tiếp xúc với những cá nhân thân Nhật. Khôi c̣n cố ư che chở cho tín đồ Cao Đài trong vùng cai trị. Mật thám Pháp cũng t́m thấy trong nhà một người cháu họ của Khôi ở Quảng Nam, Ngô Đ́nh Dậu, tài liệu liên quan đến Việt Nam Phục Quốc Hội của Cường Để. V́ việc này, trong buổi gặp mặt trên đèo Hải Vân, Khâm sứ Grandjean (6/1941-8/1944) ép Khôi về hưu không được hàm Thượng thư. Tháng 1/1944, Grandjean c̣n cho lệnh Bảo Đại trục xuất Diệm khỏi Huế, chỉ định cư trú ở Quảng-B́nh. Anh em Diệm trút mọi hờn oán lên Phạm Quỳnh, đương kim Tổng lư [Tể tướng] triều đ́nh. (22)

 

22. Mối hiềm khích, nếu không phải hận thù, giữa họ Ngô và Phạm Quỳnh, là điều bất cứ giới chức quan lại nào ở Huế đều rơ. Các viên chức Pháp quyết định không ngả theo phe nào, theo đúng chủ trương chia để trị. Xem thêm chi tiết trong Vũ Ngự Chiêu, “Social and Cultural Change in Vietnam Between 1940 and 1946,” Ph.D. dissertation, December 1984, University of Wisconsin-Madison, Part I, chapters 3, 4 & 6.

 

Mùa Hè 1944, Mật thám Pháp khám phá ra tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm, gồm khoảng 50 đảng viên tích cực, kể cả một số giáo sĩ; nằm ngay trong đội lính khố xanh (Garde indochinoise), cảnh sát v..v... Một trong những lănh tụ là Trần Văn Lư, Tuần vũ Hà-tĩnh.(23)

 

23. CAOM (Aix), GGI, 7F 29, tr. 56.

 

Ngày 12/7, Trung úy Kuga Michio của Hiến binh Nhật đưa Diệm vào Đà Nẵng, rồi đáp phi cơ vào Sài-G̣n. Trong thời gian ở miền Nam, Diệm lui tới với Mitsuhiro, Chủ công ty Đại Nam [Dainan Koosi hay Dainan Konsi], trùm t́nh báo dân sự của Nhật, cũng người tự nhận là bạn thân của Cường Để.(24)

 

24. Matsushita [Tùng Hạ] đă tới Đông Dương từ thập niên 1920. Năm 1938, bị trục xuất; nhưng trở lại Sài G̣n từ năm 1941. Matsushita thường tuyên bố là bạn thân và đại diện của Cường Để tại Đông Dương.

 

Một tháng sau, ngày 12/8, một cán bộ của Diệm là Nguyễn Huy Tân, Cán sự Công chính ở Quảng-Ngăi, khai rằng tổ chức của Diệm có nhiều công chức người Việt, kể cả một Hạ sĩ quan Khố xanh [Đỗ Mậu]. Tân cũng khai Nhật đă chọn Diệm làm Thủ tướng, trong một chế độ quân chủ lập hiến mà người làm vua không nhất thiết phải là Cường Để. Hai ngày sau, 14/8, Paul Arnoux, Giám đốc Cảnh Sát, được lệnh bí mật khai thác Nhu và Khôi ngay tại Huế. Ngày 18/8, Arnoux báo cáo rằng Nhu nh́n nhận việc làm tội lỗi của Diệm, nhưng Khôi không dính líu, xin thề trên thập tự giá là chỉ muốn duy tŕ "bát cơm" Pháp cho. (25)

 

25. Xem chú 13 supra.

 

Ngày 20/8, v́ t́nh h́nh Âu Châu đang rối loạn, phe “Pháp tự do” của Charles de Gaulle đang tiến vào Paris, Decoux đồng ư với đề nghị của Arnoux là chỉ trừng trị những cán bộ hạng trung, tránh khiêu khích Nhật.

 

Trong khi đó, ngày 21/8, Thục—đă được thụ phong chức Giám mục Vĩnh long từ năm 1938—viết thư xin Decoux nghĩ đến công lao hăn mă của cha ḿnh với chính phủ Pháp trong việc “đánh dẹp phản loạn” (tức những phong trào Văn Thân và Cần Vương yêu nước, kháng Pháp) khi xét xử việc làm của Khôi và Diệm. Anh em Thục, Thục nhấn mạnh, cũng đă nhiều lần dâng hiến thân tâm cho Bảo hộ Pháp.(26)

 

26. Xem chú 12 supra.

 

Chẳng hiểu v́ công lao to lớn của Khả (đặc cách từ Thương biện viện Cơ Mật lên Thái thường tự khanh, tức Chánh tam phẩm năm 1896), vị thế Giám Mục của Thục, thành tích phục vụ của anh em Diệm-Khôi, hay v́ mối lo ngại cho sự an nguy chính bản thâ⮠Decoux, Pháp không tiếp tục truy cứu việc này.

 

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Diệm tá túc trong bệnh viện Chợ Quán, được trưng dụng làm cơ sở quân sự của Nhật, sau này đổi tên thành bệnh viện bài lao Hồng Bàng. Tại đây, Diệm cùng Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Y sĩ Lê Toàn, Kỹ sư Vũ Văn An, Kư giả Vũ Đ́nh Dy thành lập Ủy Ban Kiến Quốc, pḥ trợ Cường Để (27)

 

27. Nguyễn Xuân Chữ , Hồi kư Nguyễn Xuân Chữ  (Houston: Văn Hóa, 1996), tr. 243-249.

 

Cuối năm 1944, khi chuẩn bị kế hoạch Mago để lật đổ chế độ thân Vichy Decoux, Hiến binh Nhật đă dự trù Diệm sẽ trở thành Thủ tướng. Tuy nhiên, t́nh h́nh ngày một đổi thay mau chóng. Tướng Tsuchihachi Yuitsu, Tân Tư lệnh Quân đoàn 38—lực lượng trách nhiệm pḥng thủ bán đảo Đông Dương chống lại cuộc đổ quân Đồng Minh—dồn mọi nỗ lực cho mục tiêu quân sự hơn chính trị. Bởi thế Tsuchihachi giữ Bảo Đại làm vua một nước Việt Nam “độc lập trong Khối thịnh vượng chung Đông Á,” chống việc đưa Cường Để về nước.

 

Tháng 3/1945, sau cuộc Hành quân Meigo (9-10/3/1945) loại bỏ chính quyền Decoux, Bảo Đại hai lần nhờ Nhật mời Diệm làm Thủ tướng, nhưng không có hồi âm. Măi sau này, Bảo Đại mới được Nhật thông báo rằng họ không muốn dùng Diệm. (28)

 

28. Bảo Đại, Le Dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980), tr.   . Mùa Thu 1945, Giám mục Thục cho rằng sở dĩ Diệm không nhận lời v́ thấy chế độ do Nhật lập nên khó tồn tại lâu dài; hơn nữa quanh Bảo Đại có những thành phần tả phái và franc-mac-on [tam điểm]. CAOM (Aix), GGI, CP 125. Lời chứng này khó tin cậy. Mục đích của Thục là biện minh cho sự hợp tác của Diệm với Nhật. Và có thể Thục cũng không biết đến quyết định của Tsuchihashi.

 

Thay vào đó, tháng 4/1945, Trần Trọng Kim (1883-1952) được đưa từ Krung thêp về Huế làm Tổng lư nội các [Thủ tướng] “Đế quốc Việt Nam” (4-8/1945). (29)

 

29. Xem Vũ Ngự Chiêu, The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Vietnam (4-8/1945) / Phía bên kia cuộc cách mạng 1945: Đế Quốc Việt Nam (4-8/1945) (Houston: Văn Hóa, 1996). Bản Anh ngữ tập sách nhỏ này, trích ra từ luận án năm 1984, đă in trong Journal of Asian Studies vào tháng 2/1986.

 

Thực ra, nhóm Diệm-Chữ đă bị phân tán ra khắp ba miền. Y sĩ Chữ về lại Nam Định, rồi Hà Nội, và cuối cùng trở thành Chủ tịch Ủy Ban Lănh Đạo Chính trị miền Bắc, thay Khâm sai Phan Kế Toại từ chức vào giữa tháng 8/1945. Diệm về lại Vĩnh Long, tá túc trong giáo phận của Giám mục Thục. (30)

 

30.   Vào cuối tháng 7, đầu tháng 8/1945, có những vận động đón Cường Để hồi hương làm Cơ Mật viện trưởng cho Bảo Đại, nhưng Cường Để không về nước được v́ chiến tranh chấm dứt đột ngột vào giữa tháng 8/1945.

 

IV. DIỆM & VIỆT MINH:

 

Mặc dù sau này Diệm thường tuyên bố tại Việt Nam, Diệm chỉ nổi danh thua Hồ Chí Minh, từ khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8/1945 cho tới đầu năm 1947 là một giai đoạn bí mật nhất đời Diệm.

Như chúng ta đă biết, ngày 17-19/8/1945, Việt Minh lên nắm chính quyền ở Hà-Nội.(31)

 

31. Chủ tịch Ủy Ban Chính Trị Bắc Bộ đă bị bó buộc trao chính quyền cho nhóm Nguyễn Khang-Nguyễn Quyết. Xem Chữ 1996:284-290. Tài liệu CS Việt Nam cho rằng đây là một cuộc “cách mạng,” nhưng chưa phải là “cách mạng vô sản.” Xem những bài viết trên Cờ Giải Phóng (Hà Nội) từ tháng 8 tới tháng 12/1945.

 

Ngày 25/8, Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Khôi và con trai trưởng là Huân bị Việt Minh bắt, rồi thủ tiêu ở vùng Phong-điền, Thừa-Thiên. (32)

 

32. Cùng bị sát hại với cha con Khôi là Phạm Quỳnh.

 

Ngày 7/5/1953, trong buổi thảo luận về t́nh h́nh Đông Dương tại Tối Cao Pháp Viện Mỹ, Diệm tuyên bố từng bị Hồ Chí Minh "cô lập" trong một làng thiểu số năm 1946. Sau 6 tháng, Hồ yêu cầu Diệm tham gia chính phủ. Diệm trả lời rằng v́ biết Hồ là CS, Diệm muốn được toàn quyền và được biết mọi tin tức. Những người ủng hộ Diệm đ̣i Diệm phải được giao Bộ Nội Vụ và nắm ngành Cảnh Sát. Hồ do dự   ít tuần, rồi cuối cùng từ chối. (33)

 

33. FRUS, 1952-1954, XIII:554. Ngày 16/1/1962, Diệm lập lại chi tiết bị bắt giữ ở vùng thượng du Bắc Việt; FRUS, 1961-1963, II:42.

 

Việc Diệm bị Việt Minh bắt được nhiều nguồn tin khác xác nhận. Xuất hiện tại Biên-Hoà vào tháng 10/1945, khoảng hai tháng sau Thục khai với t́nh báo Pháp rằng Khôi và Diệm đều bị Việt Minh bắt và có thể đă bị xử bắn.(34)

 

34.   CAOM (Aix), GGI, CP 125; Nhân vật chí, 1997:313.

 

Ngày 28/12/1945, Tổng Giám mục Antonin Drapier viết cho Trưởng đoàn Truyền giáo Hải ngoại Pháp ở Sài-G̣n, rằng Diệm đă bị Việt Minh bắt.(35)

 

35.    CAOM (Aix), GGI, CP 125. Vẫn theo Drapier, Nhu, lúc ấy ở Hà-nội, không dám ra khỏi nhà v́ sợ bị bắt cóc. Tại Huế cũng có tin Thục bị Việt Minh bắt.

 

Một kư giả Bri-tên ghi rằng theo Diệm, Diệm bị VM bắt vào tháng 9/1945, khi từ Sài G̣n ra Huế ngăn Bảo Đại đừng theo Hồ. Sau đó, bị giải lên thượng du gần biên giới Hoa-Việt, suưt chết v́ bệnh sốt rét. Sáu tháng sau, HCM mang Diệm về Hà-nội, thuyết phục Diệm theo ḿnh. Diệm không đồng ư, HCM bèn thả Diệm. Sau này, Hoàng Tùng cho rằng tha Diệm là một sai lầm. (36)

 

36. Stanley Karnow, Vietnam: A History (New York: Viking Press, 1983), tr. 216-217.

 

Một nguồn tin khác ghi rằng vào khoảng tháng 6/1946, khi Diệm đến Tuy-hoà ở nhà cha Độ䬠chính xứ Tuy-hoà, cán bộ VM đă "khéo léo" mời được Diệm lên miền Thượng (Mọi). Người gia nhân thoát chạy ra Phát-diệm, xin Giám mục Lê Hữu Từ giúp, sợ bị giống như Khôi. Từ bèn cùng Linh mục Phạm Quang Hàm và Dân biểu Ngô Tử Hạ vào Bắc bộ phủ xin Hồ tha Diệm. Chính Hồ cũng không biết việc này, và hứa sẽ can thiệp. Khoảng một tháng sau, Diệm về tới Hà-nội, Vơ Nguyên Giáp cho gọi Nhu tới lĩnh về. (37)

 

37. Giám mục Lê Hữu Từ & Phát Diệm, 1945-1954 , tr. 117.

 

Những chi tiết quanh việc Diệm bị Việt Minh bắt có nhiều nghi vấn:

 

1. Theo thư gửi Decoux đề ngày 21/8/1944, Thục nói Cộng Sản từng sai một tên giết mướn người Hoa ra Phan-rang mưu sát Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương. Nếu bắt được Diệm năm 1945 hoặc 1946, ngay tại miền Trung, cách nào Cộng Sản tha Diệm?

 

2. Xét về ngày tháng Diệm bị bắt, cũng có phần không ổn.

 

a. Karnow dẫn lời Diệm là Diệm bị bắt vào tháng 9/1945. Sáu tháng sau, được tự do. Vậy, tức vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4/1946.

 

b. Ngày tháng mà Từ hoặc tác giả viết hồi kư cho Từ ghi là Diệm bị bắt đúng vào giai đoạn HCM đang ở Pháp, và măi tới ngày 22/10/1946 HCM mới về tới Hà-nội. Vậy Từ can thiệp vào dịp nào? (Diệm cũng không hề nhắc đến việc được Từ và Hạ can thiệp).

 

c. Ngay chính Diệm, ngày 7/5/1953, chỉ nói mơ hồ đă bị "cô lập" tại một làng thiểu số trong 6 tháng vào năm 1946.

 

3. Không ai rơ Diệm được tha vào ngày tháng nào, và cũng chẳng ai rơ hành tung Diệm từ lúc được tự do tới khi xuất hiện ở Hà Nội vào đầu năm 1947 trong bộ đồ tu hành.

 

Cho tới khi có tài liệu rơ ràng, có thể  tin Diệm đă trốn trong nhà tu Redemptoristes [Ḍng Cứu thế] ở Huế hay Đà Lạt như tài liệu văn khố Pháp ghi nhận

V. DIỆM & BẢO ĐẠI: “THÀNH PHẦN THỨ BA” [PHẦN II]

Đầu năm 1947, Diệm xuất hiện ở Hà-nội, ngụy trang như một tu sĩ ḍng Cứu Thế. Được Pháp yêu cầu lập chính phủ chống Cộng, Diệm đưa một kế hoạch không thể chấp nhận được. Diệm c̣n gặp Charles Reed, Tổng lănh sự Mỹ, tại Hà Nội. Trong thời gian ở Hà-nội, ngụ tại tu viện ḍng Cứu Thế ở Thái Hà ấp. Ngày 11/4/1947, Diệm trở lại Sài G̣n. Ngày 5/9/1947, lại trở ra Hà-nội.

A. SỰ H̀NH THÀNH CỦA “THÍ NGHIỆM” BẢO ĐẠI:

Thời gian này, thí nghiệm Bảo Đại bắt đầu thành h́nh.(38) Thí nghiệm này nhằm ngụy trang cuộc tái xâm lăng Việt Nam của Pháp mà chính phủ de Gaulle đă phát động từ năm 1945.

 

38. Trước đây, thường có cuộc tranh căi về hai chữ “giải pháp” [solution] và “thí nghiệm” [experiment]. Biến cố lịch sử cho thấy lá bài Bảo Đại không giải quyết được nhu cầu chính trị của phe chống Cộng, nên không là một “giải pháp.” Nó vẫn nằm trong phạm trù một “thí nghiệm.” 

 

Từ mùa Hè 1945, de Gaulle đă nỗ lực t́m một “chí sĩ quốc gia Việt Nam chân chính” để cầm cờ dẫn Pháp trở lại Đông Dương. Ứng cử viên được nhiều người biết nhất là Hoàng tử Vĩnh San (1900-1945), tức cựu hoàng Duy Tân (1907-1916), đă bị truất phế và đầy qua Réunion năm 1916. Tai nạn phi cơ ngày 26/12/1945 khiến giấc mộng của phe de Gaulle “tan biến như một giấc mơ đẹp.” Hai ngày sau, 28/12, Khâm sứ Vatican là  Tổng Giám mục Antonin Drapier tŕnh lên Cao ủy/Linh mục Georges Thierry d’Argenlieu (1945-1947) kế hoạch cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3; rồi lập Hoàng tử Bảo Long làm vua, Hoàng hậu Nam Phương nhiếp chính, với Diệm làm Thủ tướng.(39)

 

39. Nguyên văn: “À mon avis, il serait avantageux pour le calme de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars.” Ngày 28/12/1945, trong một lá thư gửi một giáo sĩ Pháp, Drapier cho rằng gia đ́nh Bảo Đại là "gia đ́nh thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tous les annamites); CAOM (Aix), CP 125.

 

Một số chính khách, lănh tụ giáo phái Việt Nam cũng xúc tiến việc thực hiện "giải pháp" Bảo Đại từ cuối năm 1945, đầu năm 1946. Người đầu tiên đưa ra ư kiến này là Lê Hữu Từ, tân Giám Mục Phát Diệm. Nhân dịp Bảo Đại về Phát Diệm dự lễ tấn phong của Từ, Từ hỏi Bảo Đại có mưu tính ǵ chăng; nhưng Bảo Đại không có phản ứng tích cực.

 

Một số chính khách không Cộng Sản cũng t́m thấy ở Bảo Đại sự lănh đạo, hoặc ít nữa sự chính thống [legality] cần thiết, để chống Hồ. Hăng say nhất có lẽ là cựu Thủ tướng Kim và đảng viên trẻ Đại Việtkể cả Đỗ Đ́nh Đạo v.. v...(40)

 

40. Trần Trọng Kim, Kiến Văn Lục: Một Cơn Gió Bụi (Sài G̣n: 1969), tr. 134ff. Sẽ dẫn: MCGB, 1969.

 

Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ] và Trung Hoa Quốc Dân Đảng [THQDĐ] cũng ít nhiều tiếp tay Bảo Đại rời Hà Nội vào trung tuần tháng 3/1946.

 

Tuy nhiên, măi tới sau cái chết của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946 và sự khủng hoảng của thí nghiệm "Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị” tr.151;nhất là sau cuộc tấn công của Việt Minh trên khắp miền Bắc vĩ tuyến 16 tối 19/12/1946— vai tṛ Bảo Đại mới sáng giá hơn. Nước Pháp lúc này đứng trước một ngă ba đường. Một, tiếp tục thương thuyết với Việt Minh, hầu t́m một giải pháp chính trị. Nẻo đường khác, là đoạn tuyệt với chính phủ "ương ngạnh" [intransigence] của Hồ, đi t́m một "chí sĩ quốc gia" chấp nhận thỏa hiệp với Pháp. Hầu hết các cấp lănh đạo Pháp—từ Bộ trưởng Marius Moutet cho tới đặc sứ Leclerc—đều nghĩ rằng đă đến lúc đoạn tuyệt với Hồ. Nhân vật ủng hộ Bảo Đại nồng nhiệt nhất là Léon Pignon, Cố vấn Chính trị của d'Argenlieu. Do Pignon tiến cử, ngày 14/1/1947, d'Argenlieu viết báo cáo mật về kế hoạch tái sử dụng Bảo Đại.(41)

 

41. Thierry d’Argenlieu, Chronique, 1985:385-92.

 

Moutet không chấp thuận.(42)

 

42. Nguyên văn công điện số 2464/CI/142, ngày 23/1/1947, như sau: "Ne suis pas d'accord. Ne rien décider avant que nouveau gouvernement ait formé directives;" Thierry d’Argenlieu, Chronique, 1985:387.

 

Thủ tướng Léon Blum (12/1946-1/1947) cũng không tán thành, nhưng chuyển kế hoạch này cho người kế vị là Paul Ramadier (1947-1948). Dẫu vậy, d'Argenlieu vẫn gửi nhân viên Mật thám Cousseau qua Hong Kong để liên lạc với Bảo Đại vào khoảng đầu năm 1947.

 

Sự thành h́nh của chính phủ Ramadier ngày 21/1/1947, và quyết định thay d'Argenlieu bằng Emile Bollaert ngày 5/3/1947 mang lại một không khí mới. Viên chức Pháp nghĩ đến một chính phủ Liên bang Việt Nam, với ba chính phủ địa phương tại ba kỳ, và một chính phủ trung ương tượng trưng sự thống nhất lănh thổ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là ai sẽ cầm đầu chính phủ trung ương đó. Hồ Chí Minh và Bảo Đại trở thành hai tâm điểm của các cuộc thảo luận.

 

Một số chính khách Pháp nghĩ rằng phải nối lại thương thuyết với Hồ. Theo họ, dù Hồ và các thuộc hạ thân tín là Cộng Sản, đa số cấp lănh đạo Việt Minh chỉ là những người yêu nước. Hơn nữa, Hồ và các thuộc hạ là những người có khả năng nhất.(43)

 

43. Số người chủ trương thương thuyết với Hồ chỉ có Đảng Cộng Sản Pháp và một số cá nhân như Léon Blum. Ngày 31/12/1946, trong phần trích dịch những dư luận báo chí ở Paris, báo L' Humanite đăng lại lời b́nh luận của báo Le Parisien libéré [Người Paris Giải Phóng]: “Sẽ là một sự điên rồ khó tha thứ khi mưu toan đặt lên một chính phủ bù nh́n nào đó sẵn sàng hợp tác với chúng ta, nhưng không có nền tảng dân chúng. Một sự điên rồ mà trong tương lai sẽ rất đắt giá cho chúng ta.” (Nguyên văn: Ce serait une impardonable folie que de susciter pour pouvoir comme partenaire, un quelconque gouvernement fantoche prêt à la collaboration avec nous, mais sans fondement populaire. Une folie qui dans l'avenir nous couterait fort cher).

 

Một số khác chủ trương loại bỏ Hồ, thương thuyết với Bảo Đại. Theo họ, Bảo Đại có một số người theo ở Trung Kỳ; và được sự ủng hộ hoặc chấp thuận của nhiều nhân vật có uy tín tại Bắc cũng như Nam Kỳ. (44)

 

44. Cầm đầu nhóm này là phe Gaullist. Xem infra.

 

Ngày 1/4/1947 tân Cao Ủy Bollaert tới Sài G̣n với lệnh tái thiết lập những guồng máy cũ, nhưng đừng để lộ ra là Pháp muốn tái lập nền quân chủ. Việc làm đầu tiên của Bollaert là thay Pignon bằng Didier Michel.

 

Thời gian này, Bảo Đại sống ẩn dật tại Hong Kong. Rời Hà Nội qua Nam Kinh ngày 16/3/1946 trong phái đoàn viếng thăm thân hữu chính phủ Trung Hoa, nhưng đến ngày trở về, Bảo Đại nhận được thư Hồ khuyên nên du lịch thêm một thời gian. Cựu hoàng bèn sang Hong Kong, sống tại đây với một vũ nữ, dưới một tên giả trong khách sạn Saint Francis Hotel. Mùa Thu 1946, Bảo Đại tuyên bố với một kư giả Pháp, Jacques Sallebert, là với cựu hoàng, "chính trị đă chết." Bảo Đại cũng bày tỏ ḷng kính phục Chủ tịch Hồ, và tiết lộ rằng sự thoái vị của ḿnh là chiều theo ư dân.(45)

 

45. Nguyên văn: "Chính trị với tôi đă hết. Dân tộc tôi đă muốn dân chủ: tôi không có ǵ chống lại điều đó, bởi v́ ngay từ đầu tôi đă cộng tác với chính phủ mới.... Tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh" [La politique est pour moi une chose morte. Mon peuple a voulu une démocratie: je n'y ai fait aucune opposition, puisque j'ai même accepté, au début, de collaborer avec le nouveau gouvernement.... J'ai beaucoup d'estime pour le Président Ho Chi Minh....]; Combat (Paris), 15/10/1946; PA 28, Carton 7, Dossier 164; trích đăng trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập III, tr. 995-996.

 

Nhưng nhiều cá nhân và lănh tụ các đảng phái chống Cộng vẫn t́m đến, lôi kéo Bảo Đại khỏi cảnh huống "về hưu" non ở tuổi 33. Trong số này có Nguyễn Tường Tam, Vũ Kim Thành, Trần Trọng Kim v.. v... Vào cuối năm 1946, đầu năm 1947, số người ủng hộ Bảo Đại được tăng cường thêm Hộ pháp của Cao Đài. Mới hồi hương vào tháng 8/1946, sau gần 5 năm lưu đầy, Phạm Công Tắc chủ trương hợp tác với Pháp để chống Cộng. Chính Tắc và Trần Quang Vinh, Tư lệnh lực lượng vơ trang Cao Đài từ năm 1943, đă yểm trợ Y sĩ Lê Văn Hoạch lên cầm đầu chính phủ Nam Kỳ tự trị sau cái chết của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946, hầu loại bỏ Trần Văn Tỷ. Cuộc tổng tấn công ngày 19/12/1946 của Hồ giúp Tắc mạnh bạo hơn. Ngày 1/1/1947, nhân dịp Moutet đang tham quan t́nh h́nh Đông Dương, Tắc yêu cầu Moutet cho Bảo Đại về nước; và hứa sẽ ủng hộ Bảo Đại.(46)

46. SHAT (Vincennes), 10H 643.

 

Nhưng các chính phủ tại Paris—với sự tham dự của Đảng Cộng Sản Pháp—c̣n chưa muốn đoạn tuyệt với Hồ. V́ nhiều lư do, viên chức Pháp vẫn khẳng định muốn thương thuyết, nhưng đặt thêm một điều kiện căn bản—đó là thảo luận trên thế mạnh, không để bạo lực chi phối, và sau khi đă văn hồi trật tự. Ngày 20/12/1946, khi ra trước Quốc Hội điều trần, và tuyên bố sẽ qua Đông Dương tham quan, Moutet đă nhấn mạnh:

 

Nước Pháp muốn hoà b́nh, tôn trọng những nguyên tắc đă tuyên bố, nhưng không chịu khuất phục trước bạo lực. Chính sách của Pháp là bảo vệ quyền lợi nước Pháp và làm cho những quyền lợi ấy được tôn trọng.(47)

 

47. AAN, 1946 [Séance du 20 décembre 1946]:196.

 

Dù chỉ là một b́nh phong cho việc tái chiếm miền Bắc bằng vơ lực, hay phát xuất từ ḷng chân thành, những điều kiện tiên quyết này mở ra một câu hỏi then chốt—đó là thương thuyết với ai? Thêm vào đó, là giới hạn của những nhượng bộ Pháp có thể chấp thuận. Mặc dù bản tuyên cáo ngày 24/3/1945 của chính phủ de Gaulle đă trở thành dĩ văng, đa số giới lănh đạo Pháp vẫn nhấn mạnh ở điểm Đông Dương phải là một thành phần của Khối Liên Hiệp Pháp [L’Union Franc졩se]; không thể thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam v́ miền Nam là một thuộc địa, tức một phần lănh thổ bất khả phân của Pháp như Hiến Pháp 1946 đă qui định; và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa [VNDCCH] của Hồ chỉ là một trong những phe phái mà người Pháp có thể thương thuyết.

 

Ngày 23/12/1946, Dân biểu André Mutter của hạt l'Aube—người từng yêu cầu bắt giữ Hồ tại Paris ít tháng trước—tuyên bố không thể đàm phán với chính phủ Hồ được nữa v́ đó là "bọn phản bội" [traitres]. Mutter nhấn mạnh:

 

Chúng ta không thể coi Hồ Chí Minh như đại diện của một tiểu bang tự do [Etat libre]; đó là một kẻ sát nhân [assassin].(48)

 

48.   AAN, 1946, [2è Séance du 23/12/1946]:321.

Sau khi tham quan Đông Dương về, ngày 18/3/1947, Moutet khẳng định không thể thương thuyết với Hồ nữa. V́ Hồ không những chỉ coi việc kư Hiệp ước như một phương tiện tranh đấu; mà c̣n chủ trương bạo động.( 49)

 

49. AAN, 1947:882-883.

 

Mặc dù vẫn có những người như Pierre Cot chưa dứt khoát—đề nghị đừng nên qui lỗi cho một phe nào—phe cực hữu ngày thêm mạnh. Ngày 13/4/1947, Paul Reynaud tuyên bố trước Quốc Hội Pháp:Hồ Chí Minh là một tên tội phạm [un criminel] và không thể có việc thương thuyết với hắn; hoặc hắn đă bị điều khiển [manoeuvré] và tự chứng tỏ thiếu khả năng để bắt chính quân đội của ḿnh tuân lệnh, vậy th́, đó là kẻ thiếu khả năng và cũng chẳng nên thương thuyết với hắn nữa.(50)

 

50.   AAN, 1947:835.

 

Hôm sau, 14/4, Dân biểu Maurice Violette c̣n đi xa hơn, khẳng định: "Tinh thần quốc gia ở Việt Nam là phương tiện; cứu cánh là thực dân Liên Sô." (51)

 

51. AAN, 1947: 856, col 2.

 

Lời cáo buộc này khiến phe Cộng Sản Pháp, kể cả Marcel Cachin, cực lực phản đối. Ramadier phải công nhận cho tới thời điểm đó, Liên Sô hoàn toàn trung lập. Nhưng từ ngày này, dù công khai hay phía sau hậu trường, các viên chức Pháp, v́ những lư do dễ hiểu, không ngừng tố cáo nguồn gốc Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] của Hồ.(52)

52. Những tài liệu văn khố Nga và Trung Cộng mới giải mật cho biết Hồ chỉ chính thức nối lại liên hệ với Liên Sô Nga từ tháng 2/1950. Nhưng Stalin giao cho Bắc Kinh cai quản Đảng Cộng Sản Đông Dương. Theo một viên chức Trung Cộng, tối 16/2/1950, Stalin từ chối lời đề nghị của Hồ là Liên Sô và VNDCCH kư Hiệp ước hữu nghị giống như Nga mới kư với Trung Cộng.

 

Phe cổ vơ việc cắt đứt thương thuyết với Hồ c̣n đưa ra thêm một lư do khác là từ ngày 19/12/1946, chưa ai được gặp Hồ. Sự biến dạng này khiến không thể không hoài nghi rằng Hồ đă chết; và, những phần tử quá khích như Đại tướng Vơ Nguyên Giáp cùng Hạ Bá Cang (Quận thọt) đang chi phối Tổng bộ Việt Minh. Những văn thư kư tên Hồ gửi cho viên chức Pháp trong những tháng cuối năm 1946, đầu năm 1947—kể cả bản kiến nghị do Trần Ngọc Ranh trao cho Pháp tại Paris vào tháng 2/1947—bị coi là đă giả mạo chữ kư Hồ.

 

Song song với chiến dịch hạ uy tín Hồ là việc tách rời Hồ khỏi khối đại đa số người Việt yêu nước. Ramadier, khi ra thuyết tŕnh trước Quốc Hội vào tháng 2/1947, đă mở đầu cho khuynh hướng này. Tiếp đó, Moutet khẳng định Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 đă được kư kết với một chính phủ liên hiệp Việt Nam, mà không phải với cá nhân Hồ.

 

B. SỨ MỆNH CAO ỦY BOLLAERT:

 

Để đánh dấu sự thay đổi chính sách của ḿnh, Ramadier quyết định thay Linh mục Cao ủy d'Argenlieu v́ d'Argenlieu bị chỉ trích là c̣n nặng đầu óc thực dân; và v́ d'Argenlieu có những khó khăn trong việc liên hệ với những người mà ông ta phải làm việc chung. D’Argenlieu không chịu từ chức, nên bị sa thải.

Bài diễn văn được coi như bản tuyên bố chiến tranh lạnh với Liên Sô của Tổng thống Harry Truman (1945-1953) ngày 12/3/1947 và kế hoạch viện trợ tái thiết Tây Âu của Ngoại trưởng George C. Marshall—được biết như “Kế hoạch Marshall”—ít tháng sau khiến chính phủ Ramadier ngày một nghiêng về phía loại bỏ Hồ, “một cán bộ QTCS.” Tuy nhiên, dự định của Paris nhằm biến hoá cuộc chiến tranh Việt Nam thành một điểm nổ của cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng Sản—hầu xin được viện trợ Mỹ và thiết lập chính nghĩa cho việc tái xâm lăng—không đạt được tốc độ mong muốn. Oat-shinh-tân không muốn trực tiếp can thiệp vào Đông Dương. Dù không muốn thấy “một chế độ tay sai của Mat-scơ-va thống trị bán đảo Đông Dương,” và cũng không muốn bị mang tiếng ủng hộ Pháp tái thiết lập chế độ thuộc địa kiểu tiền chiến tại thuộc địa này, Mỹ chỉ khuyên Pháp nên t́m được một "chí sĩ quốc gia chân chính" lên cầm đầu cuộc chiến chống Cộng. Bởi thế, suốt năm 1947, Bollaert gặp rất nhiều khó khăn trong việc t́m một giải pháp cho Việt Nam.

 

Dẫu vậy, Bollaert đặt xuống những nền tảng cho việc thực thi thí nghiệm Bảo Đại.

 

Giai đoạn đầu là những bước ngoại giao để loại bỏ Hồ.

 

Nguyên từ cuối tháng 12/1946, đầu tháng 1/1947, Hồ nhiều lần xin nối lại thương thuyết. Ngày 20/2/1947, ít tuần trước ngày Đại Hội Các Quốc Gia Á Châu tại New Dehli, Đài Việt Minh công bố một lá thư gửi Ramadier và Moutet của Hồ, kêu gọi thương thuyết. Việt Minh cũng nhờ đại diện Hồng Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Lănh sự Bri-tên một lá thư nghị hoà, nhưng viên chức Pháp ở Paris đều nói không nhận được. Măi tới ngày 26/3, viên chức Ngoại giao Pháp mới nói với Đại sứ Mỹ Caffery là nhận được thư này, nhưng không ai dám khẳng quyết Hồ c̣n sống.(53)

 

53. FRUS, 1947, VI:81-82.

 

Cũng ngày này, tân Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám khẳng định muốn độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 18/4/1947, Giám nhờ Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Miguel de Pereyra, tân Ủy viên Cộng Hoà Bắc Việt, một công hàm yêu cầu ngưng bắn tức khắc và nối lại thương thuyết.(54)

54. FRUS, 1947, VIII:94-95.

 

Hôm sau, 19/4, Giám lại tuyên bố sẵn sàng điều đ́nh, nhưng v́ Pháp đ̣i Việt Minh phải nộp 50% khí giới, phóng thích tù binh Pháp. VM không chịu, v́ như thế là đầu hàng. Việt Minh c̣n cử Thứ trưởng Ngoại Giao Phạm Ngọc Thạch tới Bangkok và các nước Đông Nam Á để vận động. Thạch hai lần tiếp xúc Tùy viên Quân sự Toà Đại sứ Mỹ ở Bangkok, nhưng không đạt kết quả.

 

Tháng 5/1947, Bollaert cử Paul Mus, cố vấn kinh tế, t́m cách liên lạc với Giám. Ngày 9/5, Mus gặp Giám ở Cầu Đuống, rồi được dẫn đi gặp Hồ. Tuy nhiên, khi nghe điều kiện của Bollaert—tức Việt Minh phải buông súng đầu hàng—Hồ chẳng có lựa chọn nào khác hơn từ chối. Bollaert cũng xúc tiến mạnh hơn việc thành lập các cơ cấu hành chính lâm thời tại các vùng chiếm đóng. Khởi đi từ Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời [Comité administratif provisoire] ở Huế (12/4/1947) và Hội đồng An Dân Bắc Việt [Comité provisoire de gestion administrative et d'action sociale] ở Hà Nội (19/5/1947), các ủy ban hay hội đồng hàng tỉnh, hàng quận tiếp tục được thiết lập.

 

Trong hai tháng cuối Xuân, đầu Hạ 1947, Hồ lại mở chiến dịch kêu gọi thương thuyết. Ngày 19/6, Hồ tuyên bố muốn được độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Một tháng sau, ngày 19/7, Hồ cải tổ chính phủ. Hai nhân vật "ôn hoà"—Hoàng Minh Giám và Tạ Quang Bửu—lên nắm Bộ Ngoại Giao và Quốc Pḥng. Chu Bá Phượng, một lănh tụ VNQDĐ vẫn được "nắm" chức Cứu tế, Xă hội (dù trên thực tế đang bị giam lỏng). Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn Hướng, Bồ Xuân Luật là ba Bộ trưởng không bộ nào. Vũ Đ́nh Tụng, Bộ trưởng Cựu Chiến binh, và Ngô Tử Hạ, Thứ trưởng Cựu Chiến binh, đại biểu Giáo phái Ki-tô. Tôn Đức Thắng mất chức Bộ trưởng Nội Vụ; Giáp lên chức Tổng Tư lệnh Quân đội.(55)

 

55. Thành phần chính phủ thứ tư của VNDCCH như sau: Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Cố vấn: Vĩnh Thụy; Ngoại Giao: Hoàng Minh Giám; Quốc pḥng: Tạ Quang Bửu; Tài chính: Lê Văn Hiến; Tư pháp: Vũ Đ́nh Hoè; Kinh tế: Phan Anh; Canh Nông: Ngô Tấn Nhơn(?); Y tế: Hoàng Tích Tri; Lao động: Nguyễn Văn Tạo; Cứu tế, Xă hội: Chu Bá Phượng (?); Giáo dục: Nguyễn Văn Huyên; Cựu chiến binh: Vũ Đ́nh Tụng (Y sĩ, Ki-tô); Trong hàng Thứ trưởng, có: Trần Duy Hưng (Nội vụ), Trần Văn Bính (Tài chính), Trần Công Tường (Tư Pháp), Nghiêm Xuân Yêm (Canh Nông), Tôn Thất Tùng (Y tế), Nguyễn Khánh Toàn (Giáo dục), Ngô Tử Hạ (Cựu chiến binh); Cù Huy Cận (Thứ trưởng Kinh tế Nhà nước).

Giới ngoại giao ghi nhận việc cải tổ chính phủ này như một nỗ lực của Hồ để nối lại thương thuyết. Tuy nhiên, khi trở lại Paris ngày 29/7, Mus tuyên bố khó thể có hoà b́nh v́ cả hai bên đều không tin nhau. Thực ra, Bollaert vốn có ư định cắt đứt liên hệ với Hồ; và bí mật thương thuyết với Bảo Đại cùng các phe phái chống Cộng khác. Mus là một trong những đặc sứ, nhưng quan trọng nhất vẫn là Cousseau, nhân viên t́nh báo có nhiệm vụ kiểm soát và nuôi dưỡng Bảo Đại trong cảnh lưu vong. Nhưng ông vua cuối nhà Nguyễn, người được Đại diện Vatican ca ngợi như thân Pháp nhất tại Việt Nam, đă phần nào thay đổi.(56)

 

56. Ngày 28/12/1945, trong thư gửi một giáo sĩ Pháp, Tổng Giám Mục Drapier cho rằng gia đ́nh Bảo Đại là "gia đ́nh thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tous les annamites), và theo ư ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis, il serait avantageux pour le calme de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars); CAOM (Aix), CP 125.

 

Bảo Đại, và nhất là những cộng sự viên buổi đầu như Kim, Thành, Diệm, Sâm mới trải qua một cơn sốt váng vất độc lập, thống nhất—và, phần nào v́ mặc cảm—đ̣i hỏi Pháp nhân nhượng nhiều hơn những ǵ đă nhân nhượng với Hồ. Gặp Cousseau ở Hong Kong vào tháng 1/1947, chẳng hạn, Kim đưa ra 7 điều kiện để hợp tác: 1/ thống nhất 3 kỳ; 2/ tự trị; 3/ định rơ vị trí của VN trong Liên Hiệp Pháp; 4/ VN phải có quân đội; 5/ VN phải có cơ cấu tài chính; 6/ Pháp nên định một hạn kỳ trao trả độc lập cho VN; 7/ VN có đại biểu ngoại giao với các nước Á Đông và buôn bán với các nước khác.(57)

 

57. Kim 1969:164-165. Ngày 2/2, Kim xuống tàu thủy từ Hong Kong về Việt Nam. Tới Sài G̣n, Kim tạm trú trong nhà Luật sư Trịnh Đ́nh Thảo, cựu Thượng thư Tư pháp trong chính phủ Kim (4-8/1945). Pignon và nhiều người khác, gồm cả cựu Khâm sai miền Nam Nguyễn Văn Sâm, hay tới thăm viếng. Nhưng chỉ hơn một tháng sau, d'Argenlieu bị Dân biểu Bollaert thay thế. Tân Cố vấn chính trị Michel chỉ ghé thăm Kim một lần ngày 8/5/1947, rồi từ đó biệt tín. Nhóm Quảng và Đán cũng xa lánh dần Kim, làm việc cho những "sứ giả" mới của Bảo Đại như Phan Văn Giáo và Trần Văn Quế.(Trần Trọng Kim 1969, tr. 161-9, 171-4, 178. Theo Phạm Khắc Hoè, ngày 8/2/1947, Phan Huy Đán và Đinh Xuân Quảng đưa Hoè tới gặp Trần Trọng Kim và Nguyễn Văn Sâm ở nhà Trịnh Đ́nh Thảo; Phạm Khắc Hoè 1987, tr. 312-4).

 

Tuy nhiên, Pháp không chịu nhượng bộ ngay. Quá tự tin ở sức mạnh quân sự—ít nữa đủ sức đánh tan quân đội chính qui Việt Minh—ai nấy hy vọng chiến thắng không xa. T́nh h́nh quân sự những tháng đầu năm 1947 phần nào thắp sáng ngọn lửa lạc quan. Ngày 17/2/1947, bộ đội Việt Minh rút khỏi Hà-Nội. Gần một tháng sau, ngày 11/3, Pháp làm chủ t́nh h́nh Nam-định. Tại miền Trung, Pháp tái chiếm Hội-an [Faifo] ngày 15/3; Quảng-nam ngày 16/3; đổ bộ Đồng Hới ngày 27/3. Riêng Ḥa-B́nh, ngày 15/4 Pháp làm chủ được t́nh thế.

 

Bởi thế, Bollaert và cố vấn t́m cách kéo dài thời gian, chờ đợi kết quả chiến dịch mùa khô 1947—một chiến dịch mà các Tướng lănh Pháp tin tưởng sẽ bẻ găy xương sống quân đội Việt Minh. Để chuẩn bị cho chiến dịch này, ngày 16/5 Bollaert cử Tướng Raoul Salan—một nhân vật quen thuộc với Đông Dương, từng tham gia cuộc thương thuyết với Trung Hoa và Hồ năm 1946—làm Tư lệnh miền Bắc. Viện binh Pháp cũng lục tục kéo tới, nhiều nhất là lính Lê-dương [Légions étrangères] gốc Đông Âu và lính da đen Phi Châu.

 

Bollaert cũng cho cải tổ những chính phủ "Tề" tại miền Bắc và miền Trung. Ngày 19/5/1947, Y sĩ Trương Đ́nh Tri—nguyên Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Liên Hiệp 2/3/1946 của Hồ—được cử làm Chủ tịch Hội Đồng An Dân Bắc Việt. Tại miền Trung, Trần Văn Lư cầm đầu Chủ tịch Ủy ban Chấp Chính Lâm Thời Trung Kỳ. Nguyễn Khoa Toàn, Tỉnh trưởng Thừa Thiên từ năm 1946, nắm Chủ tịch Hội đồng Thẩm nghị [Tư vấn] Trung Kỳ. Tại miền Nam, mặc dù coi chính phủ Lê Văn Hoạch là gánh nặng của ḿnh, Bollaert biến hoá dần sản phẩm của nhóm Gaullist này. Ngày 19/5, Bollaert trả Dinh Thống Đốc cho Hoạch. Đồng thời, áp lực Hoạch cải tổ chính phủ và tách biệt dần khỏi khuynh hướng tự trị.

 

Trong năm 1947 cũng có nhiều nỗ lực kết hợp các đảng phái Việt Nam đang tập trung tại vùng "Tề." Ngày 17/2, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc (Front d'Union Nationale du Viet-Nam, hay MTQGTNTQ)—hậu thân của Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Dân—chính thức thành lập, qui tụ các đảng viên Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn, Cao Đài, Đoàn Thể Dân chúng, Liên Đoàn Công Giáo. (58)

 

58. CAOM (Aix), INF, c.138-139, d. 1245.

 

Ngày 29/3, MTQGTNTQ ra Tuyên Cáo tại Hong Kong. Theo tuyên cáo này, mục tiêu của Mặt trận là thống nhất tất cả các tổ chức cách mạng, đảng phái chính trị, đoàn thể tôn giáo và xă hội để đấu tranh giành độc lập và thống nhất lănh thổ, củng cố chế độ cộng hoà, dân chủ, hợp tác toàn diện với tất cả các quốc gia trên thế giới trên căn bản công bằng và tự do để văn hồi trật tự thế giới. Về những biến cố ở Việt Nam, Mặt Trận khẳng định cuộc kháng chiến hơn một năm qua không phải là công tŕnh của một đảng phái chính trị nào, mà là của toàn dân Việt. Mặt Trận cũng khẳng định chính phủ Hồ không c̣n được nhân dân tin tưởng và đă mất vị thế trong thế giới trong công cuộc tranh đấu dành độc lập. Bởi vậy, Mặt Trận ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy để thành lập một chính phủ dân chủ thực sự.(59)

 

59. Ibid; FRUS, 1947, VI:133.

Thế chống Cộng của các phe nhóm được tăng hơn nữa sau khi Huỳnh Phú Sổ (1917-1947), Giáo chủ đạo Hoà Hảo, bị Việt Minh sát hại ngày 20/4/1947.

Tại miền Bắc, nhóm Đặng Vũ Lạc (1902-1948), Lê Thăng (1901-1987?), Đỗ Văn Năng (1915-1950) bắt đầu qui tụ các đảng viên Đại Việt và VNQDĐ, thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng hay Tân Đại Việt. Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân cùng Ngô Thúc Địch và một số người khác tái tổ chức VNQDĐ.

 

Tại miền Trung, VNQDĐ và Đại Việt tái xây dựng tại vùng Tề. Tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm cũng hoạt động trở lại. Do Nguyễn Khoa Toàn đề xướng, Trần Văn Lư và Trần Thanh Đạt lập nên Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp làm cánh tay chính trị. Một nhân vật đang lên khác tại miền Trung là Phan Văn Giáo (1901-1963?). Giáo, một Dược sĩ Ki-tô gốc Thanh-hoá từng nổi danh là một cây vợt tennis tên tuổi, bị Việt Minh bắt giữ vào tháng 8/1945 v́ có liên hệ với VNQDĐ, và lên án 6 năm khổ sai, tịch biên gia sản vào tháng 2/1946. Thoát ra Hà-nội tháng 11/1946, Giáo qua Hong Kong hợp tác với Bảo Đại. Tháng 3/1947, được Bảo Đại ủy về nước vận động thành lập một chế độ quân chủ lập hiến.

 

Tại miền Nam, các phe nhóm tự trị thay đổi lập trường, tuyên bố không chống đối việc thống nhất, miễn mỗi xứ vẫn có tự trị về kinh tế và chính trị. Những nhóm chống Cộng khác tổ chức biểu t́nh khắp nơi. Ngày 12/8, Huế biểu t́nh yêu cầu Bảo Đại về nước chấp chánh. Ngày 1/9 và rồi 14/9, biểu t́nh mời Bảo Đại về nước được tổ chức ở Sài-g̣n.

 

Các viên chức vùng Tề khắp ba miền cũng tới tấp đi lại giữa Việt Nam và Hong Kong để "van xin" Bảo Đại đứng ra nhận lănh trách nhiệm. Có những nỗ lực liên hiệp giữa Lê Văn Hoạch và MTQGTNTQ của Nguyễn Văn Sâm, sau khi Hộ Pháp Tắc tuyên bố ủng hộ tổ chức này ngày 16/8. Điều kiện của Sâm là ghế Bộ trưởng Nội Vụ hoặc Quốc Pḥng. Sau đó, MTQGTNTQ ủy nhiệm Hoạch tiếp xúc Bảo Đại để cầm đầu phong trào quốc gia và thống nhất đất nước.

 

Ngày 5/9, Bảo Đại tuyên bố muốn tiếp xúc với các lănh tụ VN để bàn luận thời sự. Cùng ngày, dù không được mời, Sâm qua Hong Kong gặp Bảo Đại.(60)

 

60. FRUS, 1947, VI:133.

 

Ngày 9/9, Bảo Đại tiếp kiến 24 đại diện ba miền. Trong số những đại diện này có Nguyễn Văn Tâm, Bộ trưởng Quốc Pḥng của chính phủ Hoạch. Bảo Đại tuyên bố sẽ đứng ra hoà giải các phe phái sau khi đă thương lượng với Pháp.(61)

 

61. SHAT [Vincennes], 10H 643.

 

Mặc dù có kẻ thù chung là Cộng Sản, các tổ chức chính trị và giáo phái không đạt được sự đoàn kết cần thiết. Màu sắc tôn giáo, địa phương chi phối nặng nề, khiến phần đông hữu danh vô thực. Nguy hiểm nhất là tệ nạn sứ quân.

Dĩ nhiên, phe Việt Minh không chịu bó tay. Đài phát thanh Việt Minh không ngừng đả kích những tên "Việt Gian" đang âm mưu lập nên một “chính phủ bù nh́n tay sai” chống lại chính phủ hợp pháp VNDCCH. Tại miền Nam, Nguyễn B́nh phát động chiến dịch khủng bố và ám sát. Đă có lúc, Việt Minh nghĩ đến việc gửi Phạm Khắc Hoè sang Hong Kong thuyết phục Bảo Đại. Và, khi công bố chính phủ đổi mới vào tháng 7/1947, Hồ vẫn liệt kê Bảo Đại như cố vấn tối cao.

 

Theo đúng kịch bản, ngày 10/9/1947, Bollaert đọc diễn văn lần thứ hai tại Hà Đông.

 

Trong diễn văn này, Bollaert đưa ra khẩu hiệu mới là "Độc lập trong tương trợ [L'Indépendance dans l'interdépendance]." Mục đích chính không phải là hứa hẹn sẽ trao độc lập cho Việt Nam mà chỉ thỏa măn đ̣i hỏi của người Việt bằng cách tạo một tiền lệ nhắc đến hai chữ "độc lập"—từ năm 1945, Pháp chưa hề nhắc đến hai chữ "quốc cấm" này, và chỉ có cặp Ramadier-Bollaert mới không sợ hăi chúng. Việc này sẽ chứng tỏ tinh thần "cấp tiến" của Paris.(62)

 

62.   FRUS, 1947, VIII:133-134..

 

Những đề nghị của Bollaert cũng được cân nhắc sao cho Hồ không thể chấp nhận được; và như thế, tạo lư do chính đáng để phát động chiến dịch mùa khô 1947 sắp tới nhằm cắt đứt trục tiếp vận của Việt Minh từ Hoa Nam, tiêu diệt lực lượng vơ trang Việt Minh, và bắt sống Hồ cùng những cán bộ lănh đạo.(63)

 

63. FRUS, 1947, VIII:138-139.

 

Diễn văn của Bollaert cũng mở cửa cho Bảo Đại. Mặc dù chẳng trọng vọng ǵ cựu hoàng, Pháp miễn cưỡng chấp nhận cho Bảo Đại về nước cầm đầu một chính phủ thống nhất chống Cộng. Bollaert hy vọng rằng việc đả bại Việt Minh sẽ khiến Bảo Đại bớt cứng rắn trong những điều kiện hợp tác.(64)

64 . FRUS, 1947, VIII:140-141.

 

Ngày 18/9—tức 4 ngày sau cuộc biểu t́nh rầm rộ ở Sài-g̣n mời Bảo Đại về nước—Bảo Đại ra tuyên cáo chấp nhận sự ủy thác của quốc dân và sẵn sàng thương thuyết. Ngày 20/9, cựu hoàng nói sẵn sàng gặp đại diện Pháp ở Hong Kong hay Đông Dương. Theo Giám đốc Mật Thám Đông Dương, Perrier, nói với Lănh sự Mỹ tại Sài-g̣n ngày 22/9, Bảo Đại đă đồng ư thương thuyết từ lâu, nhưng tạm thời tŕ hoăn để khỏi mang tiếng do Pháp dựng lên. Vẫn theo Perrier, Pháp chẳng kỳ vọng ǵ ở Bảo Đại, chỉ mong Bảo Đại sẽ lôi kéo được một số người ủng hộ. Sợ rằng Bảo Đại khó lôi kéo số lớn người quốc gia trong hàng ngũ Hồ. Vậy mà Bảo Đại đ̣i hỏi độc lập rộng răi hơn những ǵ Bollaert đă hứa.(65)

65. FRUS, 1947, VI:139-40.

 

Ngày 29/9, Hoạch từ chức. Hai ngày sau, 1/10, Xuân—mới từ Pháp về ngày 15/9—được HĐTV Nam kỳ ủy thác lập chính phủ lâm thời. Một tuần sau, Xuân công bố danh sách chính phủ Lâm thời Nam Phần.(66)

 

66. Chính phủ Nguyễn Văn Xuân ngày 8/10/1947 gồm có: Thủ tướng: Xuân; Phó Thủ tướng: Trần Văn Hữu; Bộ trưởng [BT] Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ; BT Công chính: Nguyễn Văn TﻠBT Canh Nông: Trần Thiện Vàng; BT Thông tin: Nguyễn Phú Khai; Thứ trưởng Thông tin: Trần Văn Ân.

 

Đây là bước chủ yếu để trao quyền thống nhất lănh thổ cho Bảo Đại.

C. CHIẾN DỊCH LÉA:

Ngày 7/10, Pháp mở chiến dịch "Lea" tấn công Việt Bắc. Ngay trong ngày đầu tiên, tái chiếm được Thông và Sơn-la. Ngày 13/10, Nhảy Dù Pháp chiếm Bắc-kạn, Cao-bằng; 20/10, chiếm Yên- Báy; 21/10, chiếm Chapa; và 30/10, chiếm Lào-kay.

 

Tai hướng Đông Bắc, một cánh quân có thiết giáp từ Lạng-sơn ngược đường 4 tiến lên Cao-bằng. Cánh quân khác, gồm 2 tiểu đoàn Bộ Binh, được giang vận ngược sông Hồng, và rồi sông Lô lên Tuyên-quang. Qua tháng 11-12/1947, tức giai đoạn II của chiến dịch, 9 tiểu đoàn từ Hải-dương tiến lên tảo thanh phía Đông, Đông Bắc và chính Bắc Hà-Nội.

 

Chiến dịch mùa Khô 1947 này không đạt được kết quả mong muốn. 60,000 quân Pháp cùng giang hạm, không quân và thiết giáp Pháp chỉ có thể tịch thu và phá hủy một số kho tàng của Việt Minh cùng ba trạm phát tuyến. Mục tiêu chính của cuộc Hành quân Léa, tức toàn bộ chính phủ Hồ, đều chạy thoát, ngoại trừ Nguyễn Văn Tố và phụ tá của Bộ trưởng Tài chính Lê Văn Hiến. Đài phát thanh Việt Minh vẫn tiếp tục hoạt động. Trong khi đó, những đợt phản công của Việt Minh gây tổn thất đáng kể cho lực lượng Nhảy Dù Pháp.(67)

 

67. Vào cuối chiến dịch Léa, hơn 1,000 lính Pháp tử trận, và khoảng 3,000 người bị thương.

 

Đáng sợ hơn nữa, từ ngày 12/10, Hồ ra lệnh "tiêu thổ kháng chiến." Làng mạc bị thiêu hủy. Đường xá, cầu cống bị phá hoại. Nền kinh tế quốc gia ngày một phá sản. Qua đầu năm 1948, tuyến giao thông từ Lào-kay tới Cao-bằng trở lại t́nh trạng tự do như cũ.(68)

 

68. Am Consul, Hanoi, to State Dept, 9 Feb 1948, 851G.00/2-948, RG 59; Ronald H. Spector, United States Army in Vietnam, Advice and Support: The Early Years, 1941-1960 (Washington, DC: Center for Military History, United States Army, 1983), tr. 90. Sẽ dẫn: Spector 1983.

 

Tại miền Nam, việc điều quân Pháp ra Bắc tạo cơ hội cho Việt Minh tăng gia hoạt động. Mặc dù Việt Minh không tạo được chiến thắng lớn nào, những vụ phá hoại đồn bót, cầu cống, ám sát, thủ tiêu diễn ra khắp nơi. Hai vụ ám sát gây tiếng vang nhất là cái chết ngày 10/10/1947 của  Nguyễn Văn Sâm (1898-1947) tại Sài-g̣n và Trương Đ́nh Tri ở Hà Nội.(69)

 

69. Từ Hong Kong trở về, ngày 17/9, Sâm nhân danh MTQGTNTQ gửi thư cho TT Truman, yêu cầu can thiệp vào Đông Dương; FRUS, 1947, VI:142-143. Sâm cũng quyết định xuất bản báo Quần Chúng tại Sài-g̣n để có cơ quan ngôn luận trong tay. Cái chết của Sâm đă được cảnh cáo từ trước—Ngày 23/6/1947, báo L'Echo du Viet-Nam [Dư Luận] của Nguyễn Phan Long đă loan tin Sâm bị Ṭa án Mặt trận Quân Khu VII của Nguyễn B́nh đă cho lệnh bắt giải Sâm ra xét xử về tội vi phạm lệnh giải tán MTQGTNTQ.

D. THỎA ƯỚC HẠ LONG 6-7/12/1947:

Như mũi tên đă rời khỏi giây cung, thí nghiệm Bảo Đại vẫn tiếp tục chu tŕnh tiến hoá của nó. Báo chí Paris bắt đầu nhập cuộc. Ngày 18/11/1947, Le Monde đăng bài của André Blanchet, đề nghị trả độc lập cho một nước Việt Nam độc lập dưới quyền lănh đạo của Bảo Đại. Các đoàn thể, tổ chức chống Cộng người Việt tiếp tục chuẩn bị đón Bảo Đại về nước. Quan trọng hơn, Bollaert quyết định gặp Bảo Đại để thương thuyết.

 

Ngày 6-7/12/1947, Bollaert gặp Bảo Đại ở Hạ Long. Hai bên kư một tạm ước [protocol], theo đó, Bảo Đại sẽ trở lại Đông Dương thành lập chính phủ thống nhất ba miền. Việt Nam sẽ được trao trả độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp. Về ngoại giao, Pháp sẽ chịu trách nhiệm, nhưng sẽ đưa viên chức Việt vào ngạch ngoại giao. Về quốc pḥng, Việt Nam có quân đội riêng, nhưng quân đội này phải hứa sẽ tham chiến trong khối LHP. Quan trọng nhất là mật ước rằng từ nay Pháp sẽ ngưng thương thuyết với Hồ Chí Minh.(70)

 

70. FRUS, 1947, VIII:151.

 

Ngày 12/12, Bollaert về Pháp báo cáo. Ba ngày sau, 15/12, Paris ra tuyên bố sẽ cho Bollaert “toàn quyền hành động và thương thuyết cần thiết để tái lập hoà b́nh và tự do tại Việt Nam." Bản tuyên cáo này cũng nhấn mạnh rằng v́ Hồ đă bác bỏ lời đề nghị trong diễn văn ngày 10/9 tại Hà-đông của Bollaert, Pháp đă ngưng mọi nỗ lực thương thuyết với Việt Minh. Bốn ngày sau nữa, 19/12, Xuân qua Hong Kong yết kiến Bảo Đại.

 

Ngày 23/12, chính phủ Pháp lại ra tuyên cáo là thể theo lời yêu cầu của Paul Coste-Floret, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, Bollaert được phép xúc tiến việc thương thuyết với tất cả các phe phái ở Việt Nam.

 

Trong khi đó, chính phủ Truman bắt đầu lo ngại về sự sụp đổ của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa lục địa. Tướng George Marshall được gửi qua Trung Hoa, hy vọng t́m một giải pháp chính trị. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă quyết định ngả theo Nga, công kích mănh liệt chính sách Mỹ. Bầu không khí chiến tranh lạnh khiến Mỹ chú tâm hơn đến Đông Dương, trực tiếp ủng hộ cuộc tái xâm lăng Việt Nam của Pháp.

 

Ngày 29/12/1947, báo Life đăng bài “The Saddest War” [Cuộc chiến buồn thảm nhất] của William C. Bullitt, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp và Liên Sô, cổ vơ việc trao trả độc lập cho Việt Nam theo kiểu Philippines; giao phó cho người Việt quốc gia chân chính [true nationalists] trách nhiệm lôi cuốn những phần tử quốc gia trong hàng ngũ Việt Minh và tập sự cai quản đất nước. Mặc dù không nhắc đến Bảo Đại, và cũng chỉ đăng h́nh Bollaert cùng Hồ, "phần tử quốc gia" mà Bullit nhắc đến được diễn giải như Bảo Đại. Thực ra, Bullitt chỉ đề nghị duy tŕ một chế độ chống Cộng thân hữu ở Đông Dương.(71)

71. William C. Bullitt, “The Saddest War” [Cuộc chiến buồn thảm nhất]; Life (29/12/1947); FRUS, 1947, VI:110.

 

E. “KHO VŨ KHÍ CỦA THẾ GIỚI TỰ DO”:

 

Từ năm 1947, Diệm đă mở liên lạc với viên chức Mỹ, xin viện trợ. Đây chẳng phải là sáng kiến mới mẻ ǵ của họ Ngô. Hầu hết các chính khách Việt đều nhận rơ vị thế siêu cường của Mỹ, nhưng không có được những đường giây móc nối như anh em họ Ngô. Ngay chính Hồ Chí Minh cũng đă hoạt động cho OSS Mỹ trong hai năm 1944-1945, và lực lượng vơ trang đầu tiên của Việt Minh được OSS Mỹ trang bị và huấn luyện. Hồ Chí Minh c̣n được đặt cho một bí danh là Lucius. Điều khiến Mỹ e ngại, và cuối cùng theo đuổi chính sách “hands-off” [không nhúng tay] khi Pháp tái xâm lăng Việt Nam là thành tích hoạt động cho QTCS của Hồ. Việc Hồ quyết định giải tán Đảng CSĐD ngày 11/11/1945 vẫn chưa đủ thuyết phục các viên chức Ngoại giao Mỹ—những người vẫn chủ trương chỉ có Âu Châu mới đáng chú tâm hàng đầu.

 

Sau khi Bollaert kư thông cáo chung Hạ Long (6-7/12/1947) với Bảo Đại, ngày 21/12, Diệm cùng Nguyễn Văn Xuân và Trần Văn Lư lênHong Kong gặp cựu hoàng. Trước khi qua Geneva ngày 24/12, Bảo Đại ủy Diệm về nước tham khảo ư kiến các phe phái để thành lập chính phủ thống nhất. Diệm từ chối v́ những nhượng bộ của Pháp quá ít so với đ̣i hỏi của Việt Nam. Ngày 26/12, Diệm trở lại Sài-g̣n chờ đợi t́nh thế chuyển biến.

 

Điều ít ai biết là phía sau hậu trường, ngày 24/12/1947, Diệm bí mật gặp Tổng lănh sự Mỹ tại Hong Kong là George D. Hopper, tŕnh bày về nội t́nh VN và giải pháp Bảo Đại. Mục đích chính của Diệm, theo Hopper, là xin viện trợ Mỹ. Hopper chỉ ghi nhận mà không hứa hẹn ǵ. (72)

 

72. Ngày 18/12/1947, Tổng Lănh sự Charles Reed đă từ Sài-g̣n điện trước cho Hopper rằng có thể Diệm sẽ ghé thăm; FRUS, 1947, VI:152-155.

 

Tại Việt Nam, đa số các chính khách chống Cộng đă tạm thời thỏa măn. Ngày 25/12, mặc dù không ưa Xuân, Hoạch thành lập Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp để ủng hộ "giải pháp Bảo Đại."(73)

 

73. CAOM (Aix), 7F 27.

 

Riêng Diệm, qua đường giây Giám mục Thục, bí mật tổ chức một nhóm thân Mỹ và chống Cộng. Tại miền Bắc, Diệm có những thân hữu cũ như Trần Trung Dung, Nguyễn Xuân Chữ, Nguyễn Đ́nh Thuần, v.. v... Tại miền Trung, Trần Văn Lư thành lập Đảng Xă Hội Công Giáo. Tại miền Nam, Diệm được sự yểm trợ của Nguyễn Phước Hậu, Bertin, Nguyễn Bửu, Trần Tử Hoàng, v.. v....(73)

 

73. Theo tin t́nh báo Pháp, ngày 8/2/1848, Diệm đồng ư với lập trường của VNQGLH: Độc lập - thống nhất. Năm Lửa Trần Văn Soái cùng lập trường, và tỏ ư quí trọng Diệm. (10H 4201). Ngày 11/2/1948, Tiết, một người thân cận Diệm và Nhu, từ chức Giám đốc báo Thống Nhất ở Huế, về Quảng-nam làm Giám đốc trị sự công ty bảo hiểm Le Secours. Lư do chính là không đồng ư với Trần Văn Lư (10H 4201). Ngày 12/2/1948, Diệm cử Đông đi Hà-tiên, Sa-đéc, Cần-thơ, Vĩnh-long gặp một số linh mục kháng chiến cùng đại diện Cao Đài, Hoà Hảo để vận động cho Bảo Đại. Theo Đông, phần lớn giáo dân trong vùng Việt Minh ủng hộ kháng chiến; nhưng sẽ ngả theo Bảo Đại nếu được độc lập, thống nhất. Cũng định gửi một số sách báo vào vùng Việt Minh, như cuốn Tôi Muốn Tự Do. Nhu sẽ lên đường qua Pháp chừng hai tháng. Dự trù gặp Bảo Đại, và xuống Roma (10H 4201).

 

Tháng 2/1948, Diệm lại qua Hong Kong, chờ đón Bảo Đại. Ngày 14/3/1948, Bảo Đại về tới Hong Kong. Gặp Chủ tịch các Hội Đồng An Dân Hà-Nội và Hội Đồng Chấp Chánh Huế. Có Tướng Xuân và Hoạch của Cộng Ḥa Nam Kỳ Tự Tri. Mọi người yêu cầu Bảo Đại xúc tiến nhanh hơn việc thương thảo. Xuân đồng ư thống nhất 3 miền. Bảo Đại sai Diệm về Sài G̣n báo cho Bollaert biết là "Nguyện vọng của dân Việt vượt quá những điều kư kết ở Hạ-long [Les aspirations du peuple vietnamien dépassaient les termes de l'accord d'Halong [12/1947]."] Tuy nhiên, vai tṛ Diệm bị lu mờ dần trước những khuôn mặt được Pháp chọn lựa. Một trong những lư do là thành tích hợp tác với Nhật của Diệm

 

Chuyến viếng thăm Sài-g̣n ngày 25/5/1948 của Hồng y Francis Spellman mở thêm đầu mối liên hệ với Mỹ cho anh em Diệm. TGM Sài-g̣n, Cassaigne,  mời Thục tham dự buổi tiếp đón Spellman.(75)

75. Tháp tùng Spellman có Fulton G. Green. Thời Sự (Hà Nội), 7/3/1949.

 

Ngày 5/6/1948, Bollaert cùng Nguyễn Văn Xuân và đại diện ba miền kư Thoả ước Hạ-Long với “sự chứng kiến” của Bảo Đại. Trư ớc đó, Bảo Đại đă cử Xuân làm Thủ tướng chính phủ Lâm thời Quốc Gia Việt Nam trong khi chờ đợi một hiệp ước cơ bản cuối cùng giữa Bảo Đại và Pháp. Thủ đô đặt ở Hà Nội, nhưng mỗi miền có một Thủ hiến và lực lượng an ninh riêng.

 

Trong tháng 6/1948, Trần Văn Lư chính thức thành lập Đảng Xă Hội Công Giáo, do Thục bảo trợ. Diệm được coi như lănh tụ tối cao của đảng này.(76)

 

76. CAOM (Aix), Indochine, 7F 29, tr. 57.

 

Tại Đà Lạt, Nhu cùng nhóm Linh mục Parrell tụ họp nhân sự cho hạt nhân đầu tiên của chủ thuyết “Nhân vị.” Thuyết này dựa theo thuyết Personalisme [Nhân vị] của Emmanuel Mounier, đặt trên cơ bản thần quyền Ki-tô giáo. Tuy nhiên, Diệm không hợp tác với Xuân.

 

Những chiến thắng liên tiếp của Mao Trạch Đông tại lục địa khiến Pháp hối hả hơn trong việc thực hành thí nghiệm Bảo Đại. Cao ủy Léon Pignon góp công lớn trong việc này. Ngày 8/3/1949 Tổng thống Pháp Vincent Auriol trao đổi công hàm với Bảo Đại, nh́n nhận Việt Nam là một Tiểu bang tự do [l’Etat libre] trong Liên Hiệp Pháp. Quốc hội Pháp cũng thông qua đạo luật trả lại Nam Việt cho Bảo Đại. Tháng 4/1949, Bảo Đại về Đà Lạt. Có tin Diệm lại từ chối lời mời lập chính phủ; nêu lư do sợ giáo dân Ki-tô bị VM thảm sát. Thực ra, Diệm không thoả măn với nội dung thỏa ước 8/3/1949. Đích thân Bộ trưởng Hải Ngoại Coste-Floret cố gắng thuyết phục Diệm, nhưng không thành công. (77)

 

77. Irving 1975:69.

 

Ngày 21/9/1949, Diệm về Huế, sống ở nhà Ngô Đ́nh Cẩn (1911-1964), em trai áp út. Ngày 22/11—sau khi Mao Trạch Đông đă tuyên bố thành lập chế độ Cộng Sản ở Trung Hoa lục địa (ngày 1/10/1949), và các đạo Hồng quân Trung Cộng đang tiến sát dần tới biên giới Việt-Hoa, Diệm rời Huế vào Sài-g̣n, rồi Vĩnh-long, và Đà Lạt (2/1950).

 

Thời gian này, Giáo hoàng Vatican cũng ra lệnh rút phép thông công bất cứ ai liên hệ với Cộng Sản. Thánh lệnh này khiến các cộng đồng Ki-tô giáo Việt ngày một nghiêng về phía Thế giới Tự Do, thắp hồng “cuộc thánh chiến chống Cộng Sản.” Tuy nhiên, Diệm vẫn đứng ngoài cuộc chơi. Tháng 3/1950, Giám mục Từ tại Phát Diệm phải sai Lê Quang Luật vào Nam yêu cầu Diệm đừng "chùm chăn" và "ngang bướng" nữa, cần yểm trợ Bảo Đại.(78)

 

78. Ngày 24/3/1950, Luật tiết lộ với cơ quan t́nh báo Pháp (SEHAN) rằng Diệm không thân cận được với Bảo Đại v́ bản tính nhu nhược (faible) và thiếu cương quyết (indécis) của Bảo Đại. Nếu lên nắm quyền, Diệm sẽ chống Cộng thẳng tay, mà muốn thế cần có sự tín nhiệm và yểm trợ tuyệt đối của Bảo Đại. Điều này chắc không có. Ngoài ra, lập trường chính trị của Diệm cũng khác biệt. Thứ nhất Diệm muốn biết chắc thể chế độ chính trị của Việt Nam sẽ được tương tự như India trong Liên Hiệp Bri-tên. Nhưng sự bảo đảm chắc chắn này không được chứng tỏ qua thực tế, như việc bàn giao chủ quyền, hay qua sự tiến hoá của các khuynh hướng chính trị tại Pháp. Luật thêm rằng tại miền Bắc, Diệm chẳng có bao nhiêu người ủng hộ, ngoại trừ phe Ki-tô chịu ảnh hưởng Phát-diệm. Tại Hà-nội, theo Luật, có thể có Trần Văn Lai, Trần Trung Dung và Nguyễn Xuân Chữ. SHAT (Vincennes), Indochine, 10H 1039.

 

Ngày 9/4/1950, Tổng lănh sự Mỹ Edmund Gullion báo cáo chính phủ Nguyễn Phan Long sắp đổ và Trần Văn Hữu có thể lên thay. Gullion nghĩ rằng Pháp hẳn muốn Diệm, nhưng Bảo Đại không đồng ư.

 

Giữa năm 1950, Diệm có ư định thành lập một lực lượng thứ ba, thân Mỹ, chống Pháp để lôi kéo những người bất măn trong hàng ngũ Việt Minh. Cuối tháng 6/1950, tổ chức Phong Trào Quốc Gia Quá Khích ra đời ở Trung và Nam Việt, có liên hệ với Diệm.

F. MỸ “MẤT “ TRUNG HOA:

Thời gian này, t́nh h́nh thế giới cực kỳ căng thẳng. Thế giới chia làm hai phe rơ rệt. Một phe thuần phục Liên Sô Nga của Joseph Stalin. Một phe khác nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên bang Mỹ.

 

Tháng 1/1950, Hồ Chí Minh đi bộ 17 ngày đêm qua tới Nam Ninh (Quảng Tây), rồi được Lưu Thiếu Kỳ đón lên Bắc Kinh. Hồ cho biết mục đích của chuyến đi là xin viện trợ. V́ cả Mao Trạch Đông lẫn Chu Ân Lai đă qua Mat-scơ-va, ngày 3/2, Lưu Thiếu Kỳ dàn xếp cho HCM qua Nga. Tại Mat-scơ-va, HCM được gặp Josef Stalin lần đầu. Stalin hỏi Hồ về lư do giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11/11/1945, rồi chỉ thị cho Mao tiếp tay Đảng CSĐD. Đây là lần đầu tiên Hồ được gặp “người thép Nga,” dù đă chính thức hoạt động cho QTCS từ hơn phần tư thế kỷ trước.(79)

 

79. Một trong những biên khảo xuất sắc về liên hệ giữa QTCS với Đảng CSĐD do học giả Anatoli Sokolov thực hiện. Ấn bản Việt ngữ của tác phẩm này, theo Sokolov, không được chính xác. Một số phụ chú đă bị cắt bỏ. Tác phẩm Ho Chi Minh: The Missing Years, 1924-1941 (2003) của Quinn-Judge và Lê Hồng Phong (Hà Nội: 2002) cũng chứa đựng nhiều tài liệu giá trị Nga.

 

Để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm Bắc Kinh, ngày 15/1/1950, đài phát thanh Việt Minh đă công bố nh́n nhận chính quyền Cộng Sản Trung Hoa, và yêu cầu các nước Cộng Sản nh́n nhận chính phủ VNDCCH. Ba ngày sau, 18/1, Bắc Kinh chính thức nh́n nhận VNDCCH. Ngày 30/1 đến phiên Mat-scơ-va. Các nước Cộng Sản khác liên tục mở bang giao với chế độ Hồ. Ngày 17/2/1950, Hồ tháp tùng phái đoàn Mao và Chu Ân Lai rới Mat-scơ-va. Sau đó, Hồ ở lại Bắc Kinh tiếp tục thảo luận về việc viện trợ. Lưu Thiếu Kỳ, Phó Chủ tịch Trung Cộng, đích thân điều động công tác “nghĩa vụ quốc tế” này. Hồ xin Bắc Kinh cung cấp chuyên viên quân sự để cố vấn và chỉ huy từ cấp Sư đoàn trở lên, nhưng Lưu Thiếu Kỳ chỉ đồng ư gửi cố vấn. La Quí Ba [Luo Guibo] được chọn làm Cố vấn trưởng chính trị; trong khi Vi Quốc Thanh [Wei Guoqing] cầm đầu phái đoàn cố vấn quân sự.  Trung Cộng cũng hứa giúp huấn luyện và trang bị vũ khí cho 6 đại đoàn (sư đoàn) Việt Minh. Các trung đoàn đầu tiên qua Vân Nam huấn luyện thuộc Đại đoàn Quân Tiên Phong (308) của Vương Thừa Vũ, và 312 của Lê [Trịnh] Trọng Tấn. Để bảo đảm cho việc tiếp vận từ Trung Cộng, Bắc Kinh giúp Hồ mở chiến dịch biên giới “Cao-Bắc-Lạng,” hay Lê Hồng Phong II (16/9-14/10/1950), nhằm tiêu diệt lực lượng đồn trú tại Lạng Sơn và Cao Bằng. Người thực sự chỉ huy trận này là Chen Geng [Trần Canh], cựu Tư lệnh Quân Khu Vân Nam, do Hồ xin đích danh. Tư ớng Carpentier rúng động, phải cho lệnh triệt thoái tất cả những vị trí trú quân dài theo biên giới, chỉ c̣n giữ lại Tiên Yên-Móng Cáy.(80)

 

80. Hầu hết các chi tiết trên đă được công bố từ thập niên 1950. Tuy nhiên, ngày tháng và chi tiết mới được tài liệu văn khố Trung Cộng xác tín từ thập niên 1990. Một trong những tác phẩm nên đọc: Qiang Zhai, China & The Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill: Univ. of North Carolina Press, 2000), tr. 15-20. Xem thêm Vơ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ (Hà Nội: NXBQĐND, 2001), tr. 10-16.

 

Từ ngày này, thế trận đă thay đổi hoàn toàn. Việt Minh bắt đầu chủ động chiến trường. Chính phủ Hồ Chí Minh bắt đầu đư ợc giao nhiệm vụ mới: Tiền đồn của Xă hội chủ nghĩa.(81)

 

81. Đại tướng Vĩ Nguyên Giáp, trong tập hồi kư Điện Biên Phủ (1994) đă đủ can đảm và sự lương thiện trí thức để ghi nhận sự thực lịch sử cay đắng này.

 

Trong khối Tự Do, ngày 4/2/1950, Mỹ nh́n nhận chế độ Bảo Đại v́ “Hồ đă để lộ bản chất thật sự Cộng Sản.”  Rồi đến Bri-tên và một số nước khác. Từ ngày này Pháp t́m cách lôi kéo Mỹ và Bri-tên vào “trận chiến chống Cộng” ở Đông Dương. Đại sứ Donald Heath (1950-1954) của Mỹ thận trọng thêm vào mối đe dọa của Trung Cộng hai chữ “Nga Sô.” Việc Mỹ tham chiến ở Triều Tiên, và nhất là cuộc triệt thoái các tiền đồn biên giới Việt-Hoa, khiến cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga bắt đầu chi phối nội t́nh Việt Nam. Pháp bị đặt vào vị thế cực kỳ tế nhị. Một mặt, cần thành lập quân đội bản xứ để phụ giúp cho quân viễn chinh Pháp; và ngày càng tùy thuộc nhiều hơn vào viện trợ Mỹ. Mặt khác, giới thẩm quyền Mỹ không ngừng áp lực Pháp phải trao trả dần độc lập cho Việt Nam, và áp lực Mỹ gia tăng theo viện trợ.

 

Winston Churchill—người cực lực chống lại kế hoạch Quốc tế quản trị Đông Dương của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, và tác giả thuật ngữ “bức màn sắt” ở Âu châu—sau ngày lên nắm chức Thủ tướng Bri-tên lần thứ hai, cũng muốn dựng “bức màn tre” ở Đông Dương. Nhưng Churchill chỉ muốn góp ư mà không tán thành việc gửi quân tác chiến qua Đông Dương.(82)

 

82. Ngày 21/6/1954, Churchill viết thư cho Eisenhower, đề nghị: “establishing a firm front against Communism in the Pacific sphere. We should certainly have a SEATO, corresponding to NATO in the Atlantic and European sphere. In this it is important to have the support of the Asian countries. This raises the question of timing in relation to Geneva. In no foreseeable circumstances, except possibly a local rescue, could British troops be used in Indochina, and if we were asked our opinion we should advise against United States local intervention except for rescue.” (FRUS, 1952-1954, XIII:1728-1729)

G. QUA MỸ XIN VIỆN TRỢ:

Ngày 18/6/1950, Giám mục Thục gặp XLTV Đại sứ Gullion tại Sài-G̣n, xin giấy nhập cảnh Mỹ trên đường qua Roma dự năm Thánh cho ḿnh và Diệm. Tháng 7/1950, có tin Diệm nhiều lần bị Việt Minh đe dọa đến tính mạng. Ngày 15/7/1950, Diệm về Huế thăm mẹ bị đau nặng. Ngày 2/8, Diệm trở lại Sài-g̣n sau khi ghé ngang Đà Nẵng. Ngày 14/8, Diệm cùng Thục rời Sài-G̣n trên tàu La Marseillaise. Gặp Cường Để ử Nhật, bàn việc thành lập một chính phủ chống Cộng. (83)

 

83. Sau đó, có tin đồn Cường ĐểBangkok, được một cán bộ CS tên Quy hết sức chiều đăi. Tuy nhiên, hiện chưa có tài liệu nào minh chứng việc này.

 

Ngày 2/9, Diệm và Thục tới Mỹ. Hơn hai tuần sau, ngày 21/9, William S. B. Lacy, Trưởng Nha Philippines và Đông Nam Á, tiếp Diệm và Thục. Thục tuyên bố phải lập một quân đội quốc gia, lấy giáo dân Ki-tô làm hạt nhân để không sợ đào ngũ mang súng qua hàng VM. Lacy nhận xét rằng Thục mới là phát ngôn chính, trong khi Diệm chỉ tán thưởng ư kiến Thục.(84)

 

84. FRUS, 1950, VI:884-886. Tối ngày 25/10/1950, Acheson điện cho Heath về việc thành lập QĐGVN. Theo Acheson, viên chức Pháp nghĩ rằng có thể đưa các lực lượng giáo phái vào, tổng số chừng 75,000 người. Thục, Chi và Diệm cũng muốn biến lực lượng Ki-tô Giáo thành một phần quân đội; Ibid., VI:909-10. Ư kiến của Thục, thực ra, chẳng có ǵ mới lạ. Từ năm 1947, quan tư ớng Pháp đă khéo léo sử dụng các sứ quân tôn giáo, và ngay cả băng đảng, để ngăn chặn Việt Minh. Các Đơn Vị Lưu Động Bảo Vệ Ki-tô Giáo cua Leroy [UMDP] hoat dong khong xa giao phan cua Thuc. Tháng7/1950, Bộ Chỉ Huy Các Đơn Vị Lưu Động Bảo Vệ Ki-tô Giáo rời về tỉnh Bến-tre. Trung tá Leroy được làm Tỉnh trưởng tỉnh này [cho tới ngày 25/11/1952 (10H 643). Những cuộc tắm máu “bạo lực cách mạng” của Việt Minh trong giai đoạn 1945-1946 là một trong những động lực phá vỡ sự liên kết từ trên xuống của các đảng phái.

Ngày 15/10, Diệm và Thục rời Mỹ qua Paris. Sau đó, xuống Roma, rồi trở lại Paris vào trung tuần tháng 11/1950.

 

Ngày 8/12/1950, Thục rời Âu Châu trở lại Việt Nam. Cuối tháng đó, Diệm, qua trung gian Bửu Kĩnh, Nghị viên Hội Đồng Liên Hiệp Pháp, gửi cho Bảo Đại một thư riêng, đề nghị một chương tŕnh hoạt động.(85)

 

85. Ngày 24/1/1951, XLTV Đại sứ Mỹ Gullion báo cáo là Bảo Đại đă nhận được thư của Diệm. Nhưng Bảo Đại không ưa Diệm v́ Diệm từng nhiều lần từ chối hợp tác. Phần anh em Diệm và Thục chủ trương giải pháp lập Bảo Long lên ngôi, với Nam Phương và Cường Để làm Nhiếp Chính. FRUS, 1951, VI:359-61.

 

Sau đó sang Mỹ. Ngày 15/1/1951, Diệm khai với nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ là mới từ Paris qua được khoảng một tháng để nghiên cứu về cơ cấu chính quyền Mỹ và giáo lư. Nói thêm là đă cho Bảo Đại biết sẵn sàng làm Thủ Tướng với một số điều kiện. (86)

 

86. FRUS, 1951, VI:348.

 

Trong thời gian ở Mỹ, nhờ sự che chở của Spellman, Hồng Y Giám đốc Tuyên úy Ki-tô Roma trong quân đội Mỹ, Diệm tá túc tại Tu viện Maryknoll, thuộc tỉnh Lakewood, tiểu bang New Jersey. Có dịp làm quen với nhiều Dân biểu, Thượng Nghị sĩ như Mike Mansfield, John F. Kennedy, Walter Judd, v.. v... Diễn thuyết tại nhiều nơi. Từ ngày này, Diệm trở thành một lá bài “chí sĩ quốc gia chống Cộng” trừ bị của Mỹ. Diệm cũng thường tuyên bố ḿnh là nhân vật được biết nhiều nhất tại Việt Nam, chỉ thua có Hồ Chí Minh. (87)

 

87. Ngày 21/6/1954, Diệm nói với Đại sứ Heath: “I am best known figure in Vietnam after Ho Chi Minh;” XIII:1727. Khi đại ngôn điều này, Diệm quên mất Bảo Đại, bậc quân vương cũ của ḿnh. Phê b́nh về lời tuyên bố hợm hĩnh của Diệm, một viên chức ngoại giao Mỹ nhận xét Diệm là “nhân vật thứ hai, cách rất xa, Hồ Chí Minh.”

 

Đại sứ Heath và các viên chức Mỹ nhiều hơn một lần tiến cử Diệm trong các cuộc khủng hoảng chính phủ, nhưng cả Bảo Đại lẫn Pháp chỉ muốn những người đáng tin cậy như Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, v.. v... Ngày 12/5/1952, chẳng hạn, Heath đề nghị cho Bảo Đại sẽ tạm thời nắm chức Thủ tướng, và mời những người có khả năng như Nguyễn Hữu Trí hay Ngô Đ́nh Diệm vào nội các, với chức vụ Phó Thủ Tướng, Pháp cần ra tuyên ngôn về một chính sách "tiến hoá" (evolutionary statement) đối với nền độc lập của Việt Nam. Một số điều khoản lỗi thời trong Hiệp định 8/3/1949 và Hiệp ước Pau cần sửa đổi. Pháp phải đẩy mạnh hơn việc thiết lập QĐVN. (88)

 

88. FRUS, 1952-1954, I:134-41.

 

Sau khi chính phủ Joseph Laniel (5/1953-6/1954) đồng ư trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam năm 1953,(89) họ Ngô ráo riết vận động lên cầm quyền. Diệm từ Mỹ sang Belgium lo tiếp xúc Bảo Đại, qua môi giới Ngô Đ́nh Luyện.

 

89. Ngày 28/4/1954, Laniel và Nguyễn Trung Vinh kư thoả hiệp "kiện toàn [perfection] nền độc lập của Việt Nam."

 

Tại Việt Nam, Thục và Nhu mở rộng hoạt động với các tổ chức tôn giáo và chính trị. Nhu hợp tác cả với Lê Văn “Bảy” Viễn, Phạm Công Tắc, v.. v... trong việc thành lập một liên minh chính trị vào cuối năm 1953. Đầu năm 1954, Thục, Nhu cùng nhóm Tinh Thần của Y sĩ Trần Văn Đỗ và Liên Đoàn Thanh Lao Công của Trần Quốc Bửu lập ra tiền thân của tổ chức được biết sau này như Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng, tức Cần Lao. (90)

 

90. Xem chi tiết về tổ chức này trong Chính Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963 (Houston: Văn Hóa, 2000) & Tập II-B: Các tổ chức chính trị (Houston: Văn Hóa, đang in). Xem thêm Liễu, Trả Ta Sông Núi, I:333-342. Nên lưu ư, trong Chính Cương của Cần Lao, không hề đề cập đến thuyết “sáng tạo” hay “tạo hóa” mà đôi lần đề cập đến thuyết “tiến hóa.” Điều này chứng tỏ Nhu có thể là một tín đồ Ki-tô, nhưng “chống Giáo sĩ” [anti-clerical] như Nhu thú nhận với Phái đoàn điều tra LHQ vào ngày 28/10/1963; UNGA, Agenda Item 77, Doc. A/5630, 7/12/1963.

 

V. THỦ TƯỚNG TOÀN QUYỀN (1954-1955): [PHẦN III]

 

Mùa Xuân-Hè 1954—giữa lúc dư luận Pháp rung chuyển v́ cuộc thất trận tại Điện Biên Phủ (7/5/1954), hội nghị Geneva đang nhóm họp (từ ngày 8/5/1954) nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn,  chính phủ Laniel bị bất tín nhiệm (12/6/1954), thay thế bằng Pierre Mendès-France (21/6/1954-2/1955), người từ năm 1952 đă cổ vơ thương thuyết với Hồ Chí Minh—Diệm qú gối trước mặt vợ chồng Quốc trưởng Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương, “thề trên thập tự giá” rằng sẽ trung thành với Bảo Đại và duy tŕ cơ nghiệp nhà Nguyễn. Diệm cũng cam đoan sẽ rời bỏ quyền lực bất cứ lúc nào Bảo Đại muốn. Ngày 16/6/1954 này, Bảo Đại phong Diệm làm Thủ tướng Toàn quyền, dù trong thâm tâm cho rằng chỉ có những “tên khùng” (psychopath) tự nghĩ ḿnh có một “sứ mạng” của “bề Trên” mới chịu làm Thủ tướng trước viễn ảnh đất nước chia đôi, và người Pháp có thể bỏ rơi miền Nam trong ṿng hai năm.(91)

 

91. Xem buổi thảo luận giữa Bảo Đại và nhân viên ngoại giao Mỹ ngày 29/4/1955; Chính Đạo, VNNB, I-C: 1955-1963, tr. 54-55.

 

Trước khi rời Paris về nước ngày 23/6, Diệm thảo luận với tân Thủ tướng Mendès-France nhiều lần và mong muốn Mandès-France cho toàn quyền cũng như Bảo Đại, đặc biệt là vấn đề kiểm soát Ngân hàng và Viện Hối đoái (Office des Changes). Trong buổi nói chuyện với Đại sứ Heath ở Paris hai ngày trước, 21/6, Diệm và Luyện cũng cho biết không muốn thấy Bảo Đại về nước v́ hai lư do: Bảo Đại có thể bị ám sát và sự hiện diện của Bảo Đại sẽ khiến có những sự phá rối từ văn pḥng Quốc trưởng (Nguyễn Đệ). Chính v́ sự khuấy rối [intriguing] này, Diệm đă xin được toàn quyền hành động. Diệm cũng nói cần ba bốn tháng để củng cố chính quyền.(92)

 

92. FRUS, 1952-1954, XIII:1728.

 

Trong buổi hội kiến giữa Mandès France và Thứ trưởng Ngoại Giao Walter B. Smith tại Quai d’Orsay ngày 20/6/1954—trong đó Mandès France nói về nhu cầu đạt một hiệp ước của Pháp với Việt Minh, Chu Ân Lai đề nghị gặp ở Geneva, và Smith cho Mendès-France biết đă cảnh cáo Molotov ngày Thứ Sáu, 18/6/1954, rằng Mỹ không chấp thuận cho CS giành được những ǵ vượt ngoài cái họ xứng đáng, và nhất là không được sỉ nhục nước Pháp, một đồng minh mà Mỹ vẫn yểm trợ—Mendès France yêu cầu Mỹ can thiệp để Diệm, “một người quá khích [a fanatic] giống như Lư Thừa Văn,” t́m cách chống lại việc thương thuyết. (93)

 

93. FRUS, 1952-1954, XIII:1726.

 

Marc Jacquet phải từ chức v́ tiết lộ cho báo chí kết quả cuộc thị sát chiến trường Đông Dương của Ely và Salan. (Báo cáo ngày 24/6/1954 của McClintock; III:1735)

 

Trước ngày từ chức, Navarre nhiều lần khẳng định Pháp không thể duy tŕ t́nh trạng quá ngày 1/10/1954 nếu không “quốc tế hóa” tức có sự can thiệp của Mỹ. Ely cũng đồng ư. (Báo cáo ngày 24/6/1954 của McClintock; XIII:1735)

 

Ngày 25/6/1954, Diệm rời Paris về nước. Tháp tùng có Trần Chánh Thành, Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng; Lê Quang Luật, Tổng Trưởng Thông Tin; và Nguyễn Văn Thoại. Tới Sài G̣n ngày 26/6, Diệm tạm trú tại Dinh Gia Long, v́ Dinh Norodom vẫn được dùng làm tư dinh Cao Ủy Pháp.

 

Ngày 29/6, Diệm và Nhu, "đồng Thủ Tướng" không chính thức, gặp XLTV Đại sứ Mỹ Robert McClintock tại Sài-g̣n. Theo McClintock, Diệm rất lo lắng về t́nh h́nh miền Bắc. Mặc dù Diệm đă yêu cầu Tướng Raoul Salan ngừng di tản chiến thuật, Salan nói đă nhận chỉ thị rơ ràng từ Paris, và tiếp tục việc triệt thoái. Diệm yêu cầu McClintock nhờ BNG Mỹ vận động ngoại giao để Pháp đừng rút quân quá nhanh đừng bỏ rơi Bắc Việt như một củ khoai nóng. Bằng không, Diệm sẽ không thành lập chính phủ. Diệm cũng xin Mỹ giúp di tản một số lớn dân Bắc, nếu Pháp và Việt Minh chia đôi Việt Nam. (94)

 

94. FRUS, 1952-1954, XIII:1762-1763.

 

Trong báo cáo về Oat-shinh-tân, McClintock cho biết đă hai lần yêu cầu tương tự với Oat-shinh-tân (ngày 17 & 22/6/1954).(95)

 

95. FRUS, 1952-1954, III:1718, 1729.

 

Ngày 1/7/1954, Ngoại trưởng Dulles chỉ thị cho Đại sứ Dillon tại Paris can thiệp với Mendès-France về việc di tản châu thổ sông Hồng; và lưu ư Mendes-France về mối quan tâm của Mỹ với giáo dân Bùi Chu-Phát Diệm. Đại sứ Johnson cũng cần hỏi Jean Chauvel là việc triệt thoái có phải là thỏa thuận ngầm với Việt Minh hay chăng. (96)

 

96. FRUS, 1952-1954, XIII:1772.

 

Nhưng ngày 6/7/1954, Tướng Ely, Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh Đông Dương, cho McClintock biết rằng chính ông ta đă cho lệnh triệt thoái ba tỉnh miền Nam để giữ trục chiến lược Hà Nội-Hải Pḥng. Sẽ c̣n triết thoái phía Tây, lấy sông Đà làm tuyến pḥng thủ. Đáng lẽ nên rút cả Hà Nội, chỉ giữ Hải Pḥng, nhưng mất Hà Nội là một đại họa chính trị. Nếu bỏ Hà Nội, Ely sẽ từ chức.

 

30/6/1954: Tướng Ely thông báo cho Đại tá de Brebisson biết kế hoạch rút Nam Bắc Việt đă được hoạch định từ ngày 15/5/1954, và do đích thân Ely trao cho Tướng Navarre trong dịp qua Đông Dương.

 

Sài G̣n, 29/6/1954: McClintock gặp Hoàng tử Savang và Thủ tướng Souvana Phouma.. Savang và Phouma nói không thành lập chính phủ liên kết với em (half-brother), lănh tụ Pathet Lào. (XIII:1764-1765)

 

Diệm yêu được gặp lại McClintock vào ngày Thứ Sáu, 2/7/1954. (XIII:1763)

 

28/6/1954: Cannes: Heath gặp Bảo Đại vào buổi tối. Theo Heath, Bảo Đại đang là một quan sát viên hăi sợ [craven spectacle]. Không c̣n chuyện chiến đấu đến giây phút cuối cùng như đă hứa chắc hai tháng trước. Bảo Đại có lẽ đang bị bệnh; và y sĩ riêng của Bảo Đại gửi cho Heath một lá thư yêu cầu khuyên Bảo Đại nên đi dưỡng bệnh ở Vittel khoảng 6 tuần lễ. Đau ốm hay chăng, theo Heath, Bảo Đại đă có vẻ chịu thua cuộc, trừ trường hợp Mỹ giúp ông ta "kéo tủ ra khỏi đống lửa" bằng cách can thiệp quân sự.

 

Sau khi kể lể về sức khoẻ, Bảo Đại hỏi Heath nghĩ ǵ về Hội nghị Geneva. Heath nói VM sẽ đồng ư lấy phần đất phía Bắc Đồng Hới, ngoại trừ khu vực Hải Pḥng, và có thể khu Bùi Chu-Phát Diệm.

 

Bảo Đại nghĩ VM muốn có một chính phủ liên hiệp, và Bảo Đại có thể là Quốc trưởng, miễn hồ VM nắm được những bộ quan trọng như Nội Vụ. Bảo Đại cũng được nghe rằng Mendès-France và Chu Ân Lai đă đồng ư tại Berne là sẽ có tổng tuyển cử trong ṿng 1 năm.

 

Về phần Diệm, Bảo Đại chẳng hiểu tại sao Diệm chịu nhận chức Thủ tướng. Bảo Đại đă hỏi chính sách của Diệm ra sao, thương thuyết với VM chăng? Diệm trả lời là không thương thuyết, và sẽ trông cậy vào sự yểm trợ của Mỹ. Bảo Đại thêm rằng VM sẽ chịu lùi bước nếu Mỹ can thiệp bằng quân sự. Quân đội QGVN cũng sẽ mạnh hơn, đả bại được VM. Nhưng hiện tại Bảo Đại chẳng làm được ǵ nữa; Mendès-France đă bỏ rơi Việt Nam.

 

Heath lập lại lời Ngoại trưởng Dulles đă nói với Nguyễn Quốc Định trước ngày khai mạc Hội nghị Geneva: Nếu một quốc gia muốn chống lại sự xâm lăng, quốc gia đó sẽ t́m được bạn và đồng minh. Bảo Đại bỏ qua vấn đề.

 

Bảo Đại cũng không trả lời câu hỏi của Heath là liệu có về nước để đối phó với t́nh thế. Theo Heath, thật rơ ràng là Bảo Đại không có ư định làm một việc ǵ có vẻ liều lĩnh như trở lại Việt Nam trong hoàn cảnh hiện tại. Nếu Mendès-France đạt một thoả thuận nào với VM th́ ông ta cũng chỉ sẽ chống đối chiếu lệ [pro forma remonstrance], và cúi đầu. Nhờ sự đồng loă của cơ quan hối đoái Pháp, Bảo Đại đă có một tài sản đáng kể ở hải ngoại. (FRUS, 1952-1954, XIII:1760]

 

Ngày 1/7, Diệm ra Hà-nội ḍ xét t́nh h́nh. Hôm sau, 2/7, Diệm về Huế. Sau chuyến đi Bắc, Diệm nói với nhân viên Mỹ là đồng ư lập chính phủ. (97)

 

97. FRUS, 1952-1954, XIII:1773.

 

Ngày 5/7/1954, Diệm công bố danh sách nội các.(98)

 

98. Thủ Tướng, kiêm Nội Vụ và Quốc Pḥng: Diệm; Quốc Vụ Khanh: Trần Văn Chương; Tổng Trưởng [TT] Ngoại Giao: Trần Văn Đỗ㻠TT Tài Chính và Kinh Tế: Trần Văn Của; TT Lao Động và Thanh Niên: Nguyễn Tăng Nguyên; TT Công Chính: Trần Văn Bạch; TT Y Tế và Xă Hội: Phạm Hữu Chương;  TT Canh Nông: Phan Khắc Sửu; TT Quốc Gia Giáo Dục: Nguyễn Dương Đôn.

 

Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng: Trần Chánh Thành; Thông Tin: Lê Quang Luật; Công vụ Phủ Thủ Tướng: Phạm Duy Khiêm; Nội Vụ: Nguyễn Ngọc Thơ; Quốc Pḥng: Lê Ngọc Chấn.

 

Thứ Trưởng Quốc Pḥng: Hồ Thông Minh; Tư Pháp: Bùi Văn Thinh; Kinh Tế: Nguyễn Văn Thoại; Tài Chính: Trần Hữu Phương (10 H 4195).

 

6/7/1954: Heath trở lại Sài-g̣n. Tướng Ely cũng trở lại Sài-g̣n sau khi về Paris tham khảo với chính phủ Mendès-France và tân Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Hiệp Guy de La Chambre.

 

Ngày 7/7/1954, Diệm chính thức cầm quyền. Hôm sau, 8/7, khi gặp Heath và Tướng O’Daniel, Diệm than phiền ràng nếu mất Bắc Việt khó giữ Trung và Nam. Diệm muốn Mỹ can thiệp để Pháp đừng chia cắt đất nước. Diệm cũng mong Mỹ can thiệp cho QĐQGVN phải được tự trị càng sớm càng tốt. (99)

99. FRUS, 1952-1954, XIII:1793-1794.

 

Qua ngày 9/7, Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí và Phan Văn Giáo từ chức. Tại Trung Việt, Diệm cử Nguyễn Đôn Duyến làm Đại biểu; tại Bắc Việt, Hoàng Cơ B́nh làm Đại biểu, kiêm Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ; Trần Chánh Thành, Ủy viên dân sự, và Thiếu tướng Nguyễn Văn Vận, Ủy viên quân sự.

 

Nhưng Diệm vừa lên cầm quyền chưa đầy hai tuần lễ, Pháp và Việt Minh kư Hiệp ước Geneva (21/7/1954). Việt Nam bị chia làm hai vùng tập trung quân sự, chờ ngày Tổng tuyển cử, trong ṿng 2 năm.

 

Mặc dù đại diện của chính phủ Diệm tại Geneva là Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ không chịu kư vào Hiệp ước, nhưng nhờ có danh nghĩa quân đội Pháp và nhất là sự trợ giúp tích cực, hầu như vô giới hạn của Liên Bang Mỹ, Diệm được thừa hưởng vùng đất phía Nam vĩ tuyến 17 để thiết lập một tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do trong ṿng hai năm im tiếng súng. Hầu như toàn bộ quân đội Quốc Gia Việt Nam ở miền Bắc, ngoại trừ một thiểu số đào ngũ theo Việt Minh, đều được tập trung vào miền Nam. Chính phủ Mỹ c̣n yểm trợ việc di cư vào Nam hơn 800,000 người sinh trưởng ở miền Bắc theo điều khoản mọi người được quyền tự do chọn chỗ cư trú tại vùng tập trung ḿnh ưa thích.(100)

 

100. Con số chính thức là hơn 800,000, nhưng khó có được chính xác tổng số người Bắc di cư. Các đơn vị quân đội và giáo xứ thường man khai số người trong gia đ́nh để xin trợ cấp.

 

Trong khi đó, đại bộ phận quân đội Việt Minh cũng rút ra phía Bắc vĩ tuyến 17, chỉ để lại một số cán bộ trung kiên chuẩn bị đấu tranh chính trị trong ṿng 2 năm. Lê Duẩn (1908-1986), Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, chỉ c̣n giữ chức Bí thư Nam bộ.

 

Sự trợ giúp chính phủ Diệm một cách ồ ạt và mạnh mẽ của Mỹ khiến báo chí Pháp và dư luận Việt Nam trong thời gian này đều tin rằng Diệm là “lá bài Mỹ.” Nhưng vấn đề người Mỹ có đưa Diệm về nước cầm quyền hay chăng, c̣n một số khoen nối thiếu sót.

 

Nguồn tin quân sự Mỹ cho rằng Hồng Y Francis Spellman và Tướng hồi hưu William Donovan—cựu Giám đốc Sở T́nh Báo Chiến Lược (OSS), tiền thân của Cơ quan Trung Ương T́nh Báo Mỹ (CIA), lúc đó đang cầm đầu một cơ sở kinh tài trên đường Wall Street, New York—đứng sau kế hoạch vận động Diệm về cầm quyền. V́ thế, từ ngày 1/6/1954—gần một tháng trước ngày Diệm về nước—Đại tá Edward G. Lansdale đă qua Việt Nam để giúp Diệm củng cố quyền lực. (101)

 

101. Xem, Lansdale, In the Midst of Wars. Năm 1960-1961, khi t́nh h́nh trở nên nghiêm trọng, chính Diệm lại xin Lansdale làm Cố vấn cho ḿnh, nhưng Mỹ không chấp thuận. Đây có thể là một trong những lư do khiến Diệm-Nhu bắt đầu có thái độ chống Mỹ để bảo vệ quyền lực cá nhân và gia đ́nh—giống như âm mưu chống lại Toàn quyền Pasquier năm 1933.

 

Mặt khác, XLTV Đại sứ Mỹ, Robert McClintock, không dấu bực dọc về tin đồn rằng Diệm là người của Mỹ, và công khai chỉ trích Diệm cùng “đồng Thủ tướng” [Nhu] là chẳng có kế hoạch ǵ hơn “nương tựa vào Mỹ.” (102)

 

102. CĐ 2807, ngày 17/6/1954, McClintock gửi BNG; FRUS, 1952-1954, XIII:1718 CĐ 2932, 29/6/1954, McClintock gửi BNG; Ibid., XIII:1772)

 

Cuối năm 1954 và đầu năm 1955, Ngoại trưởng Dulles cũng khẳng định Diệm là do Pháp chọn. (103)

103. Xem, chẳng hạn, thư ngày 20/4/1955, Dulles gửi Collins; hay, biên bản cuộc họp Tam cường Mỹ-Bri-tên-Pháp ngày 8-11/5/1955.

 

Bảo Đại th́ không nói rơ tại sao đă chọn Diệm làm Thủ tướng thay Hoàng thân Bửu Lộc. Trên danh nghĩa, Bảo Đại đă chọn Diệm nhưng ai cũng rơ Bảo Đại—một Quốc trưởng do Pháp lập nên từ năm 1949 với sự khuyến khích của Mỹ—chẳng có quyền lực ǵ trong việc lựa chọn Thủ tướng hay hoạch định chính sách. Nhiệm vụ Quốc trưởng của Bảo Đại chỉ thuần có tính cách “nghi lễ,” với số lương hàng năm là “5% tổng số thu nhập toàn quốc.”

 

Sự thăng tiến của Diệm ít nhiều ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn của Hồ Chí Minh với báo Expressen của Norway [Thụy Điển] ngày Chủ Nhật, 29/11/1953, để đáp ứng lời kêu gọi thương thuyết của chính phủ Laniel. Hồ nói sẵn sàng cứu xét mọi đề nghị của Pháp, nhưng chỉ thương thuyết với Pháp. (104)

 

104. FRUS, 1952-1954, XIII:890-891. Sau này, tại Hội nghị ngưng bắn Trung Giá, Văn Tiến Dũng cũng chỉ chấp thuận cho trồng hai cột cờ: một treo cờ Việt Minh, một treo cờ tam tài bên trên, cờ vàng ba sọc đỏ bên dưới.

 

Đại sứ Heath và rồi chính Ngoại trưởng John Foster Dulles cam đoan với Bảo Đại rằng nếu những người Việt Quốc Gia c̣n muốn tiếp tục chống Cộng—“đánh riêng trận Điện Biên Phủ của họ” như Bảo Đại ao ước—họ sẽ không đơn độc.(104)

 

104. Ngày Chủ Nhật, 17/1/1954, Bảo Đại nói với Đại sứ Heath rằng Giám Mục Thục và Diệm không chống đối Bảo Đại. Diệm rất ao ước được nối lại liên hệ với bậc quân vương cũ của ḿnh. Cơ cấu chính quyền Việt Nam, theo Bảo Đại, sẽ mô phỏng theo Mỹ. Hội Đồng Tư Vấn (Cơ Mật Viện) mà Bảo Đại mới chỉ định sẽ là tiền thân của Thượng Nghị Viện; và sẽ tiến tới việc bầu cử Quốc Hội; FRUS, 1952-1954, XIII, 1:978-81. Ngày 24/4/1954, khi Dulles hỏi Việt Nam sẽ làm ǵ nếu Pháp quyết định ngưng bắn, Bảo Đại nói sẽ tiếp tục chiến đấu; nhưng cần được yểm trợ vũ khí. Theo Bảo Đại, Điện-biên-phủ có thể là trận đánh cuối cùng của Pháp, nhưng người Việt chưa đánh trận Điện-biên-phủ cuối cùng của họ; FRUS, 1952-1954, XIII:1384-1385.

 

Dựa trên những tài liệu đă giải mật, có thể kết luận rằng lá bài Diệm đă do Pháp tiến cử, qua Bảo Đại, và được sự chấp thuận của Mỹ. Pháp cũng như Bảo Đại đều nghĩ rằng Diệm là “người của Mỹ,” và có thế tựa Ki-tô giáo. Diệm, ít nữa cũng mở ra cho Pháp và Bảo Đại một hy vọng duy tŕ t́nh trạng hiện hữu, nhất là viện trợ Mỹ, thêm một thời gian. Phần Mỹ, mà người có tiếng nói quan trọng trong chính sách về Đông Dương là Đại sứ Heath, chưa muốn “mất” Đông Dương. Cuộc họp Thượng đỉnh Eisenhower-Churchill từ 26 tới 29/6/1954 đi đến kết luận rằng cần lập một bức màn tre dài theo vĩ tuyến 17 hay 17.5. Mặc dù Bri-tên cũng như Mỹ đều không muốn đem quân tham chiến ở Đông Dương, quân đội viễn chinh Pháp có thể được thay thế bằng lực lượng Liên minh pḥng thủ Đông Nam Á (SEATO), theo kiểu mẫu Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO).

 

Dù nổi danh là người xa rời thực tế và cứng đầu, nhưng Diệm có lực lượng yểm trợ chính trị—tức giáo hội Ki-tô mà cách tổ chức chẳng khác biệt bao lăm với Cộng Sản. Diệm cũng có thành tích chống Cộng, và sống như một thầy tu. Ít nữa, ở thời điểm mùa Hè 1954, Diệm có cùng mục đích chống Cộng với Mỹ. Cuộc hôn nhân v́ tiện nghi này sẽ cho Mỹ một thời gian vừa phải để nghiên cứu có nên tiến xa hơn trong kế sách ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản xuống vùng Đông Nam Á hay chăng.

 

Nói cách khác, dù Mỹ không chính thức chọn Diệm, chẳng có ǵ sai lạc khi nói Diệm đă đưa Mỹ về làm Thủ tướng, trong một sách lược chung (joint adventure) Mỹ-Pháp-Việt. Tuy nhiên, cả Pháp lẫn Việt đều là cổ đông thiểu số, hay phụ thuộc, v́ phần vốn đầu đóng góp của hai “cổ đông”này chỉ có máu xương trai tráng Liên Hiệp Pháp và Việt Nam.

 

Houston, 1993-2003

CHÍNH ĐẠO

 

[Trích: Hồ Chí Minh (1892-1969): Con người & Huyền thoại, tập III: 1947-1969, đang in]

 

Trích GIAO ĐIỂM, mùa Thu 2003

NDVN, ngày 24/3/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend