TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

SỬ DỤNG CHẤT ĐIÔXIN TRONG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VN....VI PHẠM LUẬT PHÁP QUỐC TẾ


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

<> QUỐC KỲ - QUỐC CA 

<> QUỐC KỲ VIỆT NAM

<> QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA  

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

 Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

 

 

 

Trân Chung Ngọc

 

Charlie Nguyễn 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

 

Hoàng Nguyên Nhuận

 

  Nguyễn Mạnh Quang

 

 

 Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

Thân Hữu  

 

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

  

 

Trang Nối Kết

 

 

 

 

Websites trong nước

 

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

 

Websites hải ngoại

 

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

 

 

 

Studies have shown the compound of dioxin, a component of "agent orange" herbicides sprayed during the war, is still present in so-called "hot spots" at levels hundreds of times higher than would be accepted elsewhere.

The United States has maintained there is no scientifically proved link between the wartime spraying and the claims of dioxin poisoning by more than 3 million people in Vietnam. Click đọc:journals.democraticunderground.com/Jeffersons...

 

SỬ DỤNG CHẤT ĐIÔXIN
TRONG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM:
MỘT SỰ VI PHẠM LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

 

 

Vụ kiện 37 công ty hoá chất Mỹ của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đă thu hút sự quan tâm và ủng hộ đặc biệt của dư luận thế giới. Tuy nhiên, giới chức Mỹ đă gây sức ép buộc thẩm phán Uây-xtơn ra phán quyết bác vụ kiện.

Bài viết này phân tích cơ sở pháp lư cho yêu cầu bồi thường của bên nguyên đơn, trong đó tập trung vào các quy phạm pháp luật quốc tế về cấm vũ khí hoá học; từ đó cho thấy quyết định của thẩm phán Uây-xtơn là vô lư và những động cơ chính trị thiếu trong sáng đằng sau sự can thiệp của chính quyền Mỹ.

1. Luật pháp quốc tế về cấm vũ khí hoá học

Vũ khí hoá học gồm nhiều dạng như chất độc, vũ khí chứa chất độc, hơi ngạt, hơi độc ... bị coi là phương tiện chiến tranh có tác động đặc biệt ghê tởm(1) nên bị nghiêm cấm sử dụng từ rất sớm trong luật quốc tế.

Năm 1899, Hội nghị hoà b́nh lần thứ I được tổ chức ở La-hay (Hà Lan) đă thông qua Công ước La-hay II về tôn trọng luật và tập quán về chiến tranh trên bộ, trong đó đặc biệt cấm sử dụng chất độc và vũ khí chứa chất độc. Quy định này được tiếp tục khẳng định trong Công ước La-hay IV được thông qua tại Hội nghị hoà b́nh lần thứ II vào năm 1907 và hiện vẫn có hiệu lực pháp lư. Đức là nước đầu tiên sử dụng vũ khí hoá học (cuối Chiến tranh thế giới lần thứ nhất), dẫn đến một điều khoản cấm sử dụng hơi ngạt trong Hiệp ước hoà b́nh Véc-xây năm 1919.

Năm 1925, cùng với vũ khí sinh học, vấn đề cấm sử dụng vũ khí hoá học được pháp điển hoá bằng một điều ước quốc tế riêng là Nghị định thư về cấm sử dụng hơi ngạt, hơi độc hoặc các loại khí độc khác trong chiến tranh và cấm sử dụng các phương pháp chiến tranh vi khuẩn. Theo Nghị định thư, không chỉ hơi ngạt, hơi độc, khí độc mà cả những vật liệu, thiết bị chứa các hoá chất đó cũng bị cấm sử dụng.

Do nội dung của Nghị định thư năm 1925 mới chỉ dừng lại ở việc cấm sử dụng chưa đề cập đến việc cấm sản xuất, tàng trữ, buôn bán vũ khí hóa học... nên ngày 13-01-1993, Liên hợp quốc đă thông qua Công ước về cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hoá học và về việc phá huỷ những vũ khí này (gọi tắt là Công ước về vũ khí hoá học). Công ước có hiệu lực từ ngày 29-4-1997, là sự kế thừa và phát triển nhưng không thay thế Nghị định thư năm 1925.

Công ước về vũ khí hoá học đưa ra nhiều định nghĩa và tiêu chí cụ thể, trong đó có hai định nghĩa quan trọng là "vũ khí hoá học" và "hoá chất độc".

Theo Điều 2(1) của Công ước, vũ khí hoá học bao gồm các loại sau (tồn tại dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất): (a) Các chất độc hoá học và các tiền tố, trừ phi nhằm sử dụng cho những mục đích không bị cấm..;(b) Đạn dược và thiết bị được thiết kế nhằm gây tử vong hoặc tác hại khác thông qua những độc tố của các chất độc hoá học quy đnh trong tiểu mục (a)..; (c) Bất kỳ loại trang thiết bị nào được thiết kế chuyên dụng trực tiếp liên quan đến sử dụng các loại đạn dược và thiết bị đă nêu ở tiểu mục (b).

Điều 2(2) định nghĩa hoá chất độc"...bất kỳ loại hoá chất nào mà thông qua phản ứng hoá học của nó lên các quá tŕnh sống, có thể gây tử vong, mất khả năng tạm thời hoặc tác hại lâu dài đối với con người hoặc động vật.., không phân biệt nguồn gốc, phương pháp sản xuất, nơi sản xuất là các nhà máy, công binh xưởng hoặc bất cứ nơi nào khác".

Theo Điều 1 và Điều 7, các quốc gia thành viên có những nghĩa vụ cơ bản sau:

- Không phát triển, sản xuất, t́m kiếm, tàng trữ, lưu giữ, chuyển giao, sử dụng, chuẩn bị, hỗ trợ, khuyến khích hoặc xúi giục sử dụng vũ khí hoá học;

- Phá huỷ những cơ sở sản xuất vũ khí hoá học ḿnh sở hữu hay nằm trong phạm vi tài phán của ḿnh hoặc do ḿnh bỏ lại trên lănh thổ quốc gia thành viên khác;

- Nghiêm cấm và xử lư h́nh sự các thể nhân và pháp nhân thuộc quyền tài phán của ḿnh đă tiến hành các hoạt động bị cấm theo Công ước này.

2. Đi-ô-xin – chất độc hoá học bị cấm theo luật pháp quốc tế

Lập luận chính mà thẩm phán Uây-xtơn đưa ra để bác đơn kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam là: chưa đủ cơ sở để chứng minh các chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam là hoá chất độc hại với con người và môi trường và v́ vậy, chúng không được coi là vũ khí hoá học(!).

Lập luận này là hết sức phi lư, vô trách nhiệm, v́ rất nhiều công tŕnh nghiên cứu đă chứng minh rằng, các "chất diệt cỏ" đó chứa những thành phần vô cùng độc hại, đặc biệt là đi-ô-xin.

Theo các nghiên cứu, đi-ô-xin là hoá chất độc nhất trong những chất độc mà con người đă t́m ra. Nó độc hơn nhiều so với các chất độc khủng khiếp từng được sử dụng trong chiến tranh như y-pe-rit, ta-bi-un và sa-rin. Năm 1974, Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ đă xác nhận, đi-ô-xin là chất cực kỳ độc đối với động vật thực nghiệm. Chỉ với liều lượng một phần ngh́n tỉ gam, chất này đă làm biến dị sự phát triển của bào thai, 5 phần tỉ gam có thể gây ung thư và 50-70 phần tỉ gam có thể gây chết người. Báo cáo về tác động của chất da cam tại Hạ viện Mỹ ngày 15-3-2000 nêu rằng, độc tố của chất này cao gấp 100.000 ngàn lần so với thuốc tha-li-đô-mit - loại thuốc an thần mà năm 1961 đă bị xếp vào loại chất gây biến dị cho thai nhi của những phụ nữ mang thai dùng thuốc này ở Mỹ(2). Theo một nghiên cứu, chỉ cần 80 gam đi-ô-xin ḥa vào hệ thống cấp nước đă đủ để giết chết toàn bộ 8 triệu dân thành phố Niu Oóc.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), liều lượng cho phép của đi-ô-xin chỉ là 1-4 phần ngh́n tỉ gam cho một kg trọng lượng cơ thể người trong một ngày đêm. Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) c̣n đánh giá đi-ô-xin độc hại hơn khi quy định liều lượng đó chỉ là 0,006pg, nhỏ hơn 160 lần so với quy định của WHO.

Nói đến đi-ô-xin, người ta thường nghĩ đến ung thư và những dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu, chất này c̣n gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm khác. Cụ thể, Viện hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ xác nhận có ít nhất 13 bệnh liên quan đến đi-ô-xin. Đợt nghiên cứu năm 2002 với 1.951 cựu binh Mỹ bị phơi nhiễm chất độc da cam khi tham chiến ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tuưp 2 rất cao và hàm lượng đi-ô-xin trong máu tỷ lệ thuận với nguy cơ và thời gian sớm nhiễm bệnh này. Nghiên cứu trên cũng xác nhận những kết quả nghiên cứu trong các năm 1992 và 1997, cho thấy mối liên hệ giữa chất độc da cam và bệnh máu trắng. Từ báo cáo của Viện Y học Hoa Kỳ, Quốc hội Mỹ đă buộc phải công nhận mối liên hệ giữa việc phơi nhiễm chất độc da cam với hơn 30 loại ung thư khác nhau (năm 1991), và với các dị tật bẩm sinh và bệnh nứt đốt sống (năm 1996). Đặc biệt, Tổng thống B. Clin-tơn, trong buổi họp báo ngày 28-5-1996 tại Nhà Trắng, đă tuyên bố công nhận tác hại của chất độc da cam với sức khỏe con người và thừa nhận thêm một số bệnh do chất này gây nên, như ung thư tiền liệt tuyến, ung thư gan, rối loạn thần kinh, bệnh thần kinh ngoại vi...

Đầu thập niên 1980, sau một thời gian dài chịu những bệnh tật do tác động của chất độc da cam, các nạn nhân là cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam đă khởi kiện các công ty hoá chất sản xuất chất này. Kết cục là bên bị đơn phải tự chấp nhận bồi thường 180 triệu đô la Mỹ cho bên nguyên(3).

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu gần đây của phía Mỹ, từ năm 1961 đến 1971, 76 triệu lít chất diệt cỏ chứa hơn 300 kg chất đi-ô-xin đă được quân đội Mỹ rải xuống miền Nam(4). Đây là lượng hóa chất khổng lồ, quy mô sử dụng đứng hàng đầu trong lịch sử chiến tranh thế giới. Ước tính có từ 2,1 đến 4,8 triệu người (gồm cả binh lính Mỹ và một số nước chư hầu) đă bị nhiễm các chất này. Hiện ở Việt Nam có khoảng một triệu nạn nhân chất độc da cam, trong đó có gần 150.000 trẻ em khuyết tật. Đă phát hiện những trẻ em ở thế hệ thứ hai (thế hệ cháu) bị dị tật bẩm sinh v́ ảnh hưởng của chất này.

Những nghiên cứu kể trên cho thấy tính chất độc hại của đi-ô-xin là quá rơ ràng và hậu quả của chất này đối với con người là thực tế không thể phủ nhận. Điều này đă bác bỏ hoàn toàn lập luận vô đạo đức, trốn tránh trách nhiệm của giới chức và các công ty hoá chất Hoa Kỳ là "chưa có bằng chứng xác thực giữa tác hại tới sức khoẻ con người của chất da cam và các hoá chất nông nghiệp khác được sử dụng ở Việt Nam"(!).

Cũng từ những dẫn chứng kể trên, hoàn toàn rơ ràng, chất độc da cam đi-ô-xin mà quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam là vũ khí hoá học bị cấm sử dụng theo luật pháp quốc tế.

Những vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế

Việc sử dụng chất đi-ô-xin không chỉ trái với các công ước về cấm sử dụng vũ khí hoá học nêu trên (mà Mỹ là thành viên), mà c̣n vi phạm nghiêm trọng một loạt nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế về chiến tranh.

Thứ nhất, tính chất độc hại khủng khiếp thể hiện ở tác động và di chứng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của hàng triệu nạn nhân cho thấy, quân đội Mỹ đă vi phạm một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về chiến tranh, đó là cấm sử dụng những loại vũ khí, đạn dược hoặc các chất gây cho đối phương những đau đớn và đau khổ không cần thiết.

Thứ hai, trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đă rải chất diệt cỏ xuống hơn 20 ngàn làng mạc, với từ 2,1 đến 4,8 triệu người dân đang sinh sống(5). Đây rơ ràng là hành động tấn công cố ư vào dân thường, tấn công không phân biệt cố t́nh phá huỷ các cơ sở vật chất nuôi sống dân thường, vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cấm tấn công không phân biệt, cấm tấn công các mục tiêu dân sự, cấm tấn công dân thường cấm tiến hành các phương pháp chiến tranh tác động trực tiếp đến đời sống của dân thường được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế về chiến tranh.

Thứ ba, luật quốc tế về chiến tranh cấm phá huỷ, đặc biệt là gây tổn hại trên diện rộng, lâu dài và nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên nếu như không có sự cần thiết trực tiếp và thích đáng xét về mục đích quân sự. Vậy mà quân đội Mỹ đă rải chất màu da cam xuống 29 triệu héc-ta đất đai ở Việt Nam, phá huỷ hơn ba triệu héc-ta rừng, huỷ diệt hoặc làm ảnh hưởng trầm trọng đến nhiều loài động, thực vật hoang dă. Do chu kỳ bán hủy của đi-ô-xin ở bề mặt phải từ 9-25 năm, ở các lớp đất sâu lên tới 25-100 năm nên tác hại của nó là rất lâu dài. Sự huỷ diệt như vậy chắc chắn không thể biện minh bằng "sự cần thiết trực tiếp và thích đáng của hoạt động quân sự".

Theo luật quốc tế, những hành động sử dụng vũ khí hoá học; cố ư tấn công vào dân thường và các mục tiêu dân sự; cố ư tấn công dù biết sẽ huỷ hoại nghiêm trọng, lâu dài môi trường tự nhiên quá mức so với sự cần thiết trực tiếp, thích đáng của hoạt động quân sự... là những vi phạm nghiêm trọng bốn Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949(6) và là những hành vi cấu thành các tội ác chiến tranh, tội diệt chủngtội ác chống nhân loại.

3. Trách nhiệm không thể chối bỏ

Theo điều 3 Công ước La-hay (IV) năm 1907 và điều 91 Nghị định thư (I) năm 1977, các quốc gia tham chiến phải chịu trách nhiệm và bồi thường tất cả những vi phạm do lực lượng vũ trang bên ḿnh gây ra trong chiến tranh. Như vậy, trách nhiệm của chính phủ Mỹ với những tổn thất về con người và môi trường ở Việt Nam do chất đi-ô-xin là không thể chối bỏ.

Có lập luận rằng, khi rải chất độc da cam ở Việt Nam, các công ty hoá chất và chính quyền Mỹ chưa biết tính độc hại của nó(!). Đây là sự ngụy biện trơ trẽn, phủ nhận trách nhiệm, bởi lẽ trong Đại chiến thế giới thứ II, chất 2,4,5T (thành phần chính của chất độc da cam) đă được Mỹ nghiên cứu, thử nghiệm như một loại vũ khí hoá học nhằm phá hoại mùa màng của Nhật Bản. Độc tính của 2,4,5T đă bộc lộ từ những năm 1948-1949, khi 228 công nhân nhà máy sản xuất chất này của công ty Môn-san-tô bị nhiễm độc, trong đó 121 người bị bệnh chloracne. Hiện tượng tự cũng xảy ra tại nhà máy của công ty Đao đầu năm 1964, với 61 trường hợp nhiễm độc, có 49 người mắc bệnh chloracne. Rơ ràng hơn, ngay khi chất diệt cỏ bắt đầu được rải ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đă phát hiện nó gây ung thư và dị biến ở thai nhi. Bởi thế, tháng 2-1967, 5.000 nhà khoa học, gồm 17 người được giải Nô-ben và 129 viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Mỹ, đă yêu cầu chính phủ Mỹ ngừng ngay việc sử dụng chất này. Thế nhưng, việc phun chất này ở Việt Nam chỉ chấm dứt vào năm 1971.

Cũng không thể viện cớ là khi rải chất độc màu da cam ở Việt Nam, Công ước về vũ khí hoá học chưa ra đời, chưa có định nghĩa rơ ràng về chất độc hoá học nên không thể buộc Mỹ chịu trách nhiệm; bởi lẽ, theo luật tập quán quốc tế, việc chế tạo bất kỳ loại vũ khí nào đều phải bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc có liên quan của luật pháp quốc tế về chiến tranh. Thêm vào đó, tại thời điểm ấy, Mỹ đă là thành viên của Công ước La-hay (IV) năm 1907 và Nghị định thư năm 1925.

Theo luật pháp quốc tế, không chỉ nhà nước mà các thể nhân và pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm với các tội ác chiến tranh. V́ vậy, nghĩa vụ bồi thường cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam trước hết thuộc về các công ty hoá chất v́ lợi nhuận đă che giấu, bất chấp sự thật về độc tính sản phẩm khi cung cấp chúng cho quân đội Mỹ dưới cái tên gọi là "thuốc khai quang". Nghĩa vụ này không phải sự hồi tố, bởi từ khi sản xuất, các công ty đó đă biết hàm lượng độc tố và tính nguy hại trong sản phẩm của họ. Việc truy cứu các công ty này phù hợp với thực tiễn pháp lư quốc tế, v́ sau Chiến tranh thế giới thứ II, các công ty hoá chất Đức cũng đă phải bồi thường v́ vi phạm tương tự.

Ngoài ra, dù không tham gia các điều ước về tội phạm chiến tranh, chính quyền Mỹ vẫn phải truy cứu h́nh sự những cá nhân có vai tṛ quyết định trong việc sản xuất và rải chất độc đi-ô-xin ở Việt Nam, bất kể đó là ai; do trách nhiệm h́nh sự quốc tế được coi là những quy phạm mệnh lệnh có hiệu lực với mọi quốc gia, bất kể là thành viên các điều ước có liên quan hay không.

4. Hành động đen tối không thể che lấp công lư

Về sự can thiệp của giới chức Mỹ vào vụ kiện, một số chuyên gia đă nhận định, đó là v́ họ xem vụ việc là mối đe dọa đối với quyền phát động chiến tranh của tổng thống Mỹ, sợ nó trở thành án lệ dẫn tới những vụ kiện nữa về việc sử dụng những loại vũ khí hủy diệt khác (như đạn chứa chất u-ra-ni-um nghèo..) của quân đội Mỹ ở Nam Tư cũ, Áp-ga-ni-xtan và I-rắc...

Dù thế nào th́ việc bác vụ kiện cũng gây căm phẫn sâu sắc trong dư luận thế giới. Giáo sư J. Héc-man ở trường Đại học Niu Oóc phát biểu rằng, phán quyết vô nhân đạo đó là một thí dụ nữa cho thấy thói đạo đức giả của chính quyền Mỹ, luôn cho ḿnh là kẻ đứng đầu về nhân quyền nhưng lại vi phạm nó hào phóng nhất, là một sự lảng tránh trách nhiệm phi lư và phi nghĩa của nước Mỹ trước những hành động của ḿnh trong suốt và sau chiến tranh Việt Nam. Một nhà khoa học khác phẫn nộ: "Nước Mỹ tiếp tục trợ cấp thương tật cho các cựu binh Mỹ, những người bị phơi nhiễm chất độc da cam thoáng qua trong chiến tranh, nhưng lại khước từ bất cứ liên hệ nào giữa chất này và hàng triệu nạn nhân Việt Nam... Đó là một sự vi phạm trách nhiệm và nhân quyền không thể tha thứ được, cần phải bị lên án mạnh mẽ"... Bất chấp phán quyết vô lư này, các nhà khoa học và tổ chức phi chính phủ quốc tế khẳng định, chiến dịch v́ công lư cho nạn nhân da cam Việt Nam vẫn tiếp tục.

Chiến tranh đă qua đi 30 năm, nhưng chất độc đi-ô-xin c̣n để lại những di chứng tàn khốc với hàng triệu người Việt Nam. Mấy chục năm qua, hàng vạn nạn nhân đă chết trong đau khổ; hàng chục vạn người bị mất thiên chức làm bố, làm mẹ; hàng triệu người và cả con, cháu họ bị bệnh tật, dị tật, và v́ vậy, đang phải sống trong đau đớn và nghèo khó.

Dù vậy, vụ kiện đi-ô-xin không nhằm khơi lại hận thù, mà là tiếng nói của lương tri và quyền con người đ̣i đạo lư và công lư, v́ quyền sống của các nạn nhân chất độc da cam không chỉ ở Việt Nam mà c̣n nhiều nước khác, kể cả ở Mỹ.

Lương tri và công lư phải được tôn trọng trên trái đất này. Nhân loại tiến bộ đang sát cánh và đấu tranh cùng các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam cho một phán quyết công bằng tại phiên phúc thẩm vụ kiện sẽ diễn ra ở Mỹ tháng 3-2006.

 

Vũ Công Giao, Tạp Chí Cộng Sản – 2006

NDVN, ngày 20/4/09

 

GHI CHÚ:

 

* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(1) Xem The 1993 Chemical Weapons Convention, ICRC Website (Advisory Service).

(2) Xem: Agent Orange: Stutus of the Air Force Ranch Hand Study, Document of the 106th Congress House Hearings, 15-3-2000, DOCID: f:67153.wais.

(3) Xem AP (1-4-2002) và San Francisco Chronicle (2-4-2002).

(4) Theo một nghiên cứu khác của Đại học Columbia (Mỹ), lượng chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng lên tới 100 triệu lít (chứ không phải 76 triệu lít). Như vậy, số lượng đi-ô-xin c̣n cao hơn 300 kg. C̣n theo chuyên gia người Nga Folkin, lượng chất đi-ô-xin chắc chắn cao hơn con số trên, ước tính phải vào khoảng 500 kg, do công nghệ sản xuất chất 2,4,5-T ở những năm 1960 c̣n lạc hậu.

(5) Xem The Extent and Patterns of Usage of Agent Orange and Other Herbicides in Vietnam, tài liệu đă dẫn.

(6) Cụ thể về các vi phạm nghiêm trọng, xem điều 147 Công ước Giơ-ne-vơ (IV) năm 1949.

 

 

Bài đọc thêm

 

UNITED STATE

Vietnam War veterans fight Agent Orange profiteers

 

EVA CHENG

 

Many of the 2.6 million US soldiers who served in the Vietnam War have contracted cancer and a cocktail of serious health problems that they believe to be directly linked to their exposure to the dioxin-contaminated defoliant Agent Orange. The US military sprayed Agent Orange heavily in some parts of Vietnam for 10 years during the war.

 

These soldiers were exposed unknowingly while executing US military orders to spray and dump the chemical or operate in an environment contaminated by it. Evidence has emerged since the end of the war that the US government was fully aware of the extreme toxicity of Agent Orange but chose not to warn its soldiers.

A November 1990 US Veteran Dispatch staff report gives a sense of just how in the dark the US soldiers in Vietnam were: “[The US ground troops] lived in the chemical mist of rainbow herbicides [Agent Orange and its family of similar herbicides]. They slept with it, drank it in their water, ate it in their food and breathed it when it dropped out of the air in a fine, white pungent mist … Some … used the empty Agent Orange drum for barbecue pits. Others stored watermelons and potatoes in them. Still others rigged the residue laden drum for showers.”


An encrypted warning came belatedly in 1969, after the US had sprayed Agent Orange in Vietnam for more than eight years. In an October 23 message that year from Fort Detrick, Maryland, the troops in Vietnam were urged to clean the drum containing the herbicides, particularly those containing Agent Orange. The message stated: “Using the [Agent] Orange drums for storing petroleum products without thoroughly cleaning them can result in creation of an orange aerosol when the contaminated petroleum are consumed in internal combustion engine.” Yet widespread re-use of herbicide drums by US soldiers in Vietnam to carry petrol meant that dioxin-contaminated exhaust pumped out routinely by trucks and other vehicles spread the deadly chemical far beyond the jungles.


Hundreds of thousands of Vietnam War veterans and their families have been seeking compensation to alleviate their health problems, but Washington has ignored their plea, hiding behind “sovereign immunity”. A few dozen chemical companies that supplied the chemical to the US Army have also denied responsibility, claiming that they only followed government orders.


However, the corporate profiteers now face legal challenges initiated by the US Vietnam War veterans and the Vietnamese victims over the companies’ role in devastating the lives and health of millions of people and their offspring. Dioxin is notorious for inflicting birth defects in second, or even third generations, most extensively in Vietnam where pockets of serious contamination in the environment often catch its victims unaware.


The first group of cases were initiated formally by two US veterans and are test cases that may affect tens of thousands of former US soldiers in similar situations. Similarly, the second action — now in appeal stage — affects an estimated 4 million victims in Vietnam, though launched in the name of a few individuals. Both groups of cases are presided over by senior US district judge Jack Weinstein, who heard the contending arguments earlier this year and is expected to present his judgement shortly.


The Vietnamese victims first initiated the legal action in early 2004, but their case was dismissed by Weinstein without even a chance to present their argument.


The US veterans’ case has a longer history. Since 1978, US veterans have initiated hundreds of individual and class actions against the chemical companies — three-dozen notorious corporate sharks such as Dow Chemical, Monsanto, Diamond Shamrock and Hercules. These cases were gradually consolidated into a class action in 1982 for trial in May 1984. In a surprise twist a few hours before the trial, the chemical companies agreed to a US$180 million settlement on the basis of not admitting responsibility. This was meant to cover all veteran complainants once and forever! After some $9 million of lawyers’ fees, what was left only paid minor compensation to some 50,000 veterans who were able to demonstrate they were suffering from “total disability” before the funds dried up in 1994.


Some Agent Orange-triggered illnesses can take decades to become evident and many veterans weren’t aware of the 1982 class action when it was underway. Many veterans tried to seek legal redress against the chemical companies after 1994 but were routinely dismissed by the court.


Then came the cases of Joe Isaacson and Daniel Stephenson, both US veterans in the Vietnam War who discovered they had contracted cancer in the late 1990s. An Eastern District Court ruled against the case going ahead, but this decision was reversed in November 2001 by the 2nd Circuit Court. The chemical companies appealed to the Supreme Court in February 2003 but were greeted by a rare 4-4 tied decision out of a nine-judge panel, allowing the 2nd Circuit Court decision to stand.


The ninth judge, John Paul Stevens, sat the case out without providing a reason. His son, a Vietnam War veteran, died in 1996 due to cancer.


Apart from denying responsibility, Agent Orange manufacturers for the US military also, in the face of the victims’ challenge, routinely denied that dioxin was harmful to humans. But the November 1990 US Veteran Dispatch staff report revealed that Dow Chemical, even back in the 1960s, had suppressed information about the toxic hazards of dioxin from both the government and the public.


The report quoted a February 22, 1965 internal company memo that recorded a meeting of 13 executives who discussed the potential hazards of dioxin. It also quoted records of a March 1965 meeting between major US chemical companies to discuss the toxicity issue and a June 1965 Dow memo that contained warnings of the “exceptional toxicity” of dioxin and its ability to inflict systemic injury. This memo decreed that “under no circumstances” should the information be leaked outside Dow.


There is also strong evidence from as early as 1967 that the US government was aware of the toxic power of dioxin. James Clary, a US Air Force scientist in Vietnam closely involved in the Agent Orange operation, wrote in 1988 to a member of Congress: “[We] were aware of the potential for damage due to dioxin contamination in the herbicide. We were even aware that the ‘military’ formulation had a higher dioxin concentration than the ‘civilian’ version, due to the lower cost and speed of manufacture. However, because the material was to be used on the ‘enemy’, none of us were overly concerned.”


Clary added: “We never considered a scenario in which our own personnel would become contaminated with the herbicide. And, if we had, we would have expected our own government to give assistance to veterans so contaminated.” It didn’t and still doesn’t

 

(http://www.greenleft.org.au/2006/689/35808)

  

Eva Cheng, greenleftonline, ngày 4/11/09

NDVN, ngày 20/4/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend