TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

“PHIẾN CỘNG” TRONG DINH GIA LONG (II): Chính Đạo


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Tieng Que Huong Radio.

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

 

 

 

“PHIẾN CỘNG” TRONG DINH GIA LONG (II)

 

 

II. NHỮNG THẾ LỰC CHI PHỐI BÊN NGOÀI:

 

    A. TRUNG CỘNG:

 

    Trung Cộng cũng ra sức tiếp tay Hà Nội trong việc đánh chiếm miền Nam, ít nữa từ sau ngày Phạm Văn Đồng nh́n nhận lănh hải mới do Trung Cộng vẽ ra năm 1958. Ngoài ra, mục tiêu chiến lược của Bắc Kinh là giữ quân đội Mỹ và ảnh hưởng Mỹ ở ngoài miền Nam Việt Nam. Nói cách khác, Trung Cộng muốn Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam, và cái giá phải trả, nếu cần, là sinh mạng cuối cùng của trai tráng Việt.

 

    Cho tới khi tài liệu văn khố giải mật, chúng ta mới biết rơ được bàn tay của Trung Cộng và cán bộ t́nh báo nằm vùng của Trung Cộng trong cảnh mà Cố vấn Ngoại giao McGeorge Bundy gọi là “cơn điên hoảng của một gia đ́nh cai trị chưa hề thấy từ thời Nga Hoàng.”

 

    Một chi tiết đáng ghi nhận là chiều ngày 2/9/1963, Nhu nói với Lodge rằng Trung Cộng từng đề nghị bán 2 phi cơ U-40. Thực chăng có đề nghị trên? Chi tiết này có liên quan ǵ đến việc Y sĩ Trần Văn Đỗ và Ngô Đ́nh Luyện thường nhắc đến lời mời thiết lập một Ṭa Lănh sự Nam Việt Nam tại Bắc Kinh của Chu Ân Lai sau khi kư Hiệp định Geneva 20-21/7/1954?

 

    B. VATICAN:

 

    Giáo hoàng John XXIII (1958-1963), người từng trao đổi quà tặng với Nikita Khrushchev nhân dịp Giáng Sinh 1962, cũng ít nhiều tiếp tay anh em ông Diệm-Nhu trong việc “ve văn” Cộng Sản này (với niềm tin rằng Hồ Chí Minh chủ ḥa, và Trung Cộng chủ chiến).

 

    Từ năm 1962, John XXIII bắt đầu rời vị thế “thánh chiến chống Cộng,” t́m cách ḥa hoăn với Liên Sô Nga và Đông Âu. Hơn 100 triệu tín đồ Đông Âu hẳn có giá trị chiến lược cao hơn năm, sáu triệu tín hữu của “cô con gái đầu ḷng” tại Đông Nam Á.

 

    V́ thế, họ có thể khuyến khích Nhu mở đường giây đối thoại với Hà Nội. Sau cái chết của anh em Diệm, Paul VI, người kế vị John XXIII, c̣n hăng say hơn trong việc mưu t́m ḥa b́nh cho Việt Nam. [Năm 1968, Vatican tự hào tuyên bố là đă góp công lớn cho Hà Nội ngồi vào bàn hội nghị với Mỹ tại Paris].

 

    C. PHÁP:

 

    Liên hệ giữa Pháp và Nam Việt Nam từ năm 1954 tới 1963 khi vui, lúc buồn bất chợt. Sau hơn 20 năm sống trong sự nghi ngờ của các viên chức Bảo hộ Pháp—đi tu th́ không thành, người vợ chưa cưới bỏ vào ḍng tu kín Carmel—Diệm và họ Ngô bắt đầu đi t́m những bát cơm mới, khác với bát cơm bảo hộ Pháp mà Ngô Đ́nh Khả, Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục và cá nhân Diệm từng kiêu hănh hưởng thụ. (42)

 

42. Xem báo cáo của Arnoux ngày 18/8/1944; CAOM [Paris], Papiers Decoux [PA 14], carton 2. Trích in trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, tập III:856.

 

    Sau gần bốn năm trời tự đặt ḿnh trong quĩ đạo Hiến binh [Kempeitai] Nhật ở Huế và Sài G̣n, từ cuối năm 1946 Diệm hướng về Oat-shinh-tân. Bởi thế một số đạo hữu của Diệm, như Giám mục Lê Hữu Từ và Luật sư Lê Quang Luật, từng gọi Diệm là “trùm chăn,” không chịu tích cực yểm trợ chế độ Bảo Đại do Pháp tạo ra.(43)

 

43. Chính Đạo, VNNB, I-B: 1947-1954, tr. 172-173.

 

    Khác với dư luận người Việt đồn đại, Diệm chẳng có bao công lao trong việc giành độc lập cho Việt Nam từ tay người Pháp. Tháng 7/1933, Diệm đă từ chức Thượng thư Bộ Lại chỉ v́ cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa nhóm hợp tác cựu trào (tiêu biểu bằng Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài thuộc khối Ki-tô giáo) và nhóm hợp tác tân trào (tiêu biểu bằng Phạm Quỳnh, Nguyễn Thái Bạch, Nguyễn Bá Trác) chủ trương hợp tác thay v́ đồng hóa (tức Ki-tô hóa, theo kế hoạch Puginier). Thành tích “chống Pháp” của Diệm chỉ khởi đầu từ ngày ngả theo Nhật vào khoảng năm 1942-1945, và rồi mưu cầu viện trợ Mỹ từ năm 1946, qua trung gian hệ thống Giáo hội Vatican.

 

    Trên thực tế, từ năm 1953, Pháp đă đồng ư trả lại tự do hoàn toàn cho Việt Nam. Tuy nhiên, do t́nh thế quân sự trong hai năm 1954-1955, Mỹ và Pháp—với sự  đồng ư của Diệm—muốn lưu giữ quân viễn chinh Pháp tại phía Nam vĩ tuyến 17 hầu bảo vệ cho vùng đất này, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử dự trù vào tháng 7/1956, hoặc một biến chuyển chính trị mới. Bởi thế, Pháp thuận tham gia Liên Minh pḥng thủ Đông Nam Á [Southeast Asian Collective Defense Treaty Organization, hay SEATO]. Đổi lại, Liên bang Mỹ đồng ư trả quân phí cho đạo quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Liên minh Mỹ-Pháp này là điều mà chế độ Diệm, đặc biệt là Trần Chánh Thành, cố t́nh dấu kín dư luận Việt Nam. Thực ra, chính nhờ liên minh Mỹ-Pháp trong giai đoạn 1954-1955, họ Ngô mới được thừa hưởng quyền cai trị miền Nam vĩ tuyến 17 “từ trên trời rớt xuống.”

 

    Mặc dù cũng muốn duy tŕ một miền Nam chống Cộng, điểm khác biệt giữa Pháp và Mỹ là khả năng lănh đạo của Diệm. Các viên chức Pháp đều cho rằng Diệm không đủ khả năng lănh đạo một chế độ chống Cộng ở miền Nam, và muốn thay Diệm từ mùa Hè 1954. (Một chuyên viên Pháp từng nhận định rằng một lănh tụ đủ khả năng duy tŕ miền nam chống Cộng hoặc đă chết (Nguyễn Hữu Trí), hoặc c̣n đang ở tuổi ấu thơ, hoặc chưa sinh ra đời) Hơn nữa, Pháp c̣n có những quyền lợi kinh tế và văn hóa ở miền Bắc, nên muốn duy tŕ một ṭa Tổng Đại biểu ở Hà Nội, và thành lập một công ty hỗn hợp Pháp-CSViệt Nam. Qua mắt nh́n của họ Ngô, Pháp theo đuổi chính sách thời cơ, không triệt để ủng hộ chế độ Diệm và phản bội lại cuộc “thánh chiến chống Cộng.” Tuy nhiên, v́ nhận hiểu t́nh trạng sơ sinh của Quân đội Quốc Gia Việt Nam, Diệm vẫn núp bóng quân viễn chinh Pháp trong giai đoạn ḥa b́nh chuyển tiếp mà Hiệp ước Geneva mang đến—dù trên danh nghĩa cả Quốc Gia Việt Nam lẫn Mỹ đề không kư hoặc nh́n nhận hiệp ước nói trên.

 

    Phần v́ bị ràng buộc bởi Hiệp ước Geneva, phần v́ muốn chiều ḷng Mỹ, chính phủ Mendès-France tạm thời chấp thuận yểm trợ Diệm, với điều kiện phải t́m một giải-pháp-khác-Diệm, tức t́m một người khác làm Thủ tướng. Ngày 25/9/1954, khi gặp Ngoại trưởng Foster Dulles và Tướng Walter B. Smith tại Bộ Ngoại giao My, Bộ trưởng Các quốc gia liên kết Pháp là  Guy la Chambre nói suốt ba tháng qua Pháp đă yểm trợ Diệm, nhưng Diệm chứng tỏ thiếu khả năng, và thật khó cai trị khi chống lại quân đội và lực lượng B́nh Xuyên (đang cầm đầu cảnh sát). Tuy nhiên, nếu Diệm đủ khả năng ổn định t́nh thế, Pháp sẽ tiếp tục ủng hộ như từ trước tới nay. Smith trả lời rằng theo TNS Mansfield, Diệm vẫn là Thủ tướng hàng đầu mà miền Nam có được. Mặc dù chính phủ của ông ta bất lực, và ông ta vụng về, nhưng Diệm là “một người lương thiện và đó là một nhà ái quốc chân chính”. Vấn đề cần biết là quân đội có theo gương Cao Đài và Ḥa Hảo để liên kết với ông ta hay chăng. Phần B́nh Xuyên là “bọn côn đồ” cần phải loại bỏ. Smith c̣n nói trong tương lai sẽ loại cả Bảo Đại (44)

 

44. SHAT (Vincennes), Tư liệu Ely [1K 233], carton 40.

 

    Sau ba ngày hội thảo, chiều 29/9/1954, Mỹ và Pháp kư mật ước [Minute of Understanding] Walter B. Smith-Guy La Chambre, ủng hộ Diệm và chính phủ chống Cộng ở miền Nam. Pháp hứa trả tự trị cho VN càng sớm càng tốt. Việc bàn giao các cơ sở hành chính, kinh tế sẽ hoàn tất vào cuối tháng 12/1954. (45)

 

45. Xem thông cáo chung ngày 29/9/1954; FRUS, 1952-1954, XIII, 2097-2098. Về nội dung của mật ước, xem Ibid, 2098-2102.

 

    Tuy nhiên ngày Thứ Bảy, 2/10, Bộ Ngoại Giao Pháp gửi thư cho Bộ Các Quốc Gia Liên Kết, thông báo bỏ câu "yểm trợ chính phủ Diệm" trong mật ước ngày 29/9/1954 (1K 233, carton 40). Nói cách khác, Pháp chỉ c̣n ủng hộ nguyên tắc một chính phủ chống Cộng ở miền Nam, không nhất thiết do một cá nhân nào cầm đầu.

 

    Trong khi đó, từ ngày 28/9/1954, Phụ tá Cao ủy Maurice Dejean đă xuống Cannes gặp Bảo Đại. Dejean nói đă nhận được chỉ thị từ Oat-shinh-tân là cả Mỹ và Pháp đều muốn Bảo Đại yêu cầu Hinh và B́nh Xuyên ủng hộ Diệm. Bảo Đại tỏ ư ngạc nhiên về việc “can thiệp bất b́nh thường” của Mỹ và Pháp, “không phù hợp với t́nh trạng độc lập” của Việt Nam. Bảo Đại nghĩ Diệm cần phải rời chính quyền để chiến thắng Việt Minh, và đề cử  Tướng Nguyễn Văn Xuân thay thế.  (FRUS, 1952-1954, XIII, 2:2081).

 

    Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Donald Heath, phải xin với BNG cho qua Cannes gặp Bảo Đại. Trước đó, Heath đă nói chuyện với Nguyễn Đệ và Ely cũng đă nói chuyện với Bảo Đại. Bởi thế, trong buổi hội kiến ngày 3/10/1954, Bảo Đại khẳng định không chống lại việc giữ Diệm làm Thủ tướng, và giải thích rằng lệnh bắt Diệm nhận Xuân, Hinh và Bảy Viễn vào chính phủ là một "lầm lẫn khi thảo văn thư [drafting error]." (46)

 

46. Tuy nhiên, Bảo Đại muốn giữ Hinh làm Tổng Tham Mưu trưởng. Về phần Diệm, theo Bảo Đại, dù trong sạch và lương thiện, không có khả năng của một lănh tụ và cũng chẳng thông minh ǵ lắm. Bảo Đại cũng muốn có cơ hội về nước; nhưng Heath bảo thẳng Bảo Đại rằng dư luận chẳng hâm mộ ǵ ông ta. (FRUS, 1952-1954, XIII, 2116). Ngày 7/10/1954, XLTV Đại sứ Cameron điện báo từ Sài G̣n rằng theo lời Wesley Fishel, Luyện đă báo cho Diệm biết là Bảo Đại mới gửi cho Xuân, Viễn và Hinh một loạt công điện mới: Cho lệnh Bảy Viễn hợp tác với Diệm, Hinh và Xuân ngưng mọi hoạt động chống Diệm (FRUS, 1952-1954, XIII, 2118).

 

    Tại Sài G̣n, sau khi thuyết phục Bảo Đại cho lệnh Tướng Nguyễn Văn Hinh rời nước vào tháng 11/1954, ngày 13/12/1954 hai Tướng Ely và Collins kư một mật ước [Minute of Understanding] khác, khẳng định yểm trợ một miền Nam tự do, chống Cộng. Pháp hứa sẽ trả quyền tự trị hoàn toàn cho miền Nam ngày 1/7/1955; và cơ quan MAAG Mỹ sẽ bắt đầu huấn luyện Quân Đội QGVN từ tháng 1/1955, dưới quyền tổng quát của Tổng Tư lệnh Đông Dương. Quân đội viễn chinh Pháp sẽ ở lại Đông Dương, và Mỹ viện trợ 100 triệu Mỹ kim quân phí. (FRUS, 1952-1954, XIII, 2:2366-2368).

 

    Ngày 16/12/1954, BNG và QP Mỹ chấp thuận thoả ước này. Nhưng Pháp không hài ḷng, v́ Pháp chỉ được 1/3 số quân viện đ̣i hỏi. Thủ tướng Mendès-France, trong cuộc thảo luận vào tháng 11/1954, cũng từng nói với Dulles rằng Nam Việt Nam khó mà đạt được tự trị hoàn toàn vào tháng 7/1955, và việc tăng cường huấn luyện viên Mỹ vi phạm Hiệp ước Geneva. Bởi thế, Mendès-France không phê chuẩn.

 

    Ngày 19/12/1954, nhân dịp nhóm họp ở Paris, các Ngoại trưởng Dulles, Eden và Mendès-France họp tay ba về Việt Nam. Thoạt tiên, Mandès-France khẳng định phải ngưng yểm trợ Diệm. Đề nghị 2 giải pháp:

 

    1. Bảo Đại sẽ ủy quyền cho một Khâm sai [Viceroy] có toàn quyền giải quyết những tranh chấp giữa các phe nhóm. Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm hay Phan Huy Quát có thể được đề cử làm Khâm sai.

 

    2. Bảo Đại có thể trở lại Sài-g̣n, thành lập một chính phủ với Hữu làm Thủ tướng, Tâm nắm Nội Vụ, và Quát Quốc Pḥng.

 

    Dulles đồng ư Diệm có nhược điểm, nhưng chưa t́m thấy người tốt hơn. Sự yểm trợ của Mỹ không phải là vô giới hạn và không thể rút lại. Cần áp lực Diệm hơn nữa trước khi quyết định.

 

    Thực ra, Mendès-France chủ trương "sống chung hoà b́nh," nên không ưa lập trường chống Cộng cực đoan của Diệm. Hơn nữa, Diệm đang phát động một chiến dịch chống Pháp một cách quá khích. Nhưng cuối cùng, Mandès-France cũng đồng ư với Dulles, nêu ra 3 điểm: 1. Tiếp tục ủng hộ Diệm; 2. Nghiên cứu một giải pháp khác; 3. Chỉ thị cho Collins và Ely nghiên cứu giải pháp khác Diệm, kể cả việc sử dụng Bảo Đại. Collins và Ely cũng nghiên cứu thời gian c̣n có thể tiếp tục yểm trợ Diệm, và đặt ra thời hạn chót. Dulles đồng ư, nhưng đưa thêm điểm thứ tư: Nếu thấy không ai khá hơn Diệm, Mỹ sẽ nghiên cứu có nên tiếp tục đầu tư vào Đông Dương nữa hay chăng. Trường hợp này, sẽ phải xét lại Chính sách Đông Dương, và tham khảo ư kiến của các tiểu ban Quốc Hội. Ngắn và gọn, trên thực tế Dulles chỉ đồng ư với Pháp một điểm: Ely và Collins sẽ cùng nghiên cứu những người có thể thay Diệm. Dulles quyết định sẽ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam để ít nữa cũng kéo dài thời gian cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á chuẩn bị và kiện toàn t́nh thế—Ngày 1/5/1955, Mỹ sẽ bắt đầu viện trợ trực tiếp cho Nam VN.(47)

 

47. US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 4:A3:22-25;  Gravel, I:227-229; 1K 233, carton 40.

 

    Ngày 6/1/1955, Guy La Chambre than phiền với Đại sứ Mỹ tại Pháp (Dillon) rằng La Chambre rất bất măn mật ước ngày 19/12/1954. Sự thỏa thuận giữa ba Ngoại trưởng tương phản lại những ǵ Tướng Smith và La Chambre đă đồng ư vào tháng 9/1954, khi Pháp đồng ư ủng hộ Diệm: Đó là cho Diệm một thời gian vừa phải, rồi sẽ nghiên cứu một thí nghiệm khác. Theo La Chambre, “thời gian vừa phải" đă chấm dứt từ lâu, nếu Mỹ từ chối thực hiện một thí nghiệm khác, sẽ không c̣n đủ th́ giờ đương đầu Việt Minh trong kỳ Tổng Tuyển cử. Tuy nhiên, La Chambre tạm yên ḷng khi Ngoại trưởng Dulles sẵn sàng nghiên cứu biện pháp khác Diệm, và hy vọng rằng Dulles sẽ cho Collins toàn quyền để phối hợp với Ely t́m ra biện pháp khác ấy. Theo La Chambre, Ely báo cáo rằng t́nh h́nh xấu hơn và La Chambre không c̣n hy vọng ǵ ở Diệm nữa. Nhưng La Chambre chưa có một ư kiến rơ rệt nào về biện pháp khác Diệm. Dillon nói cho tới nay, chưa có một đề nghị nào tốt hơn chính thí nghiệm Diệm. La Chambre đồng ư, nhưng đă chỉ thị cho Ely trở lại Sài-g̣n để làm việc với Collins, t́m ra một phương thức trước cuối tháng 1/1955. Chính phủ Pháp cũng đồng ư duy tŕ 75,000 quân đội viễn chinh Pháp cho tới ngày 1/6/1955. Sau đó, việc triệt thoái sẽ từ từ cho tới trước ngày Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956. (FRUS, 1955-1957, I, tài liệu 15) Theo La Chambre, giải pháp tốt nhất là cho Bảo Đại hồi hương tức khắc. Trần Văn Hữu có thể làm Thủ tướng; Nguyễn Văn Tâm coi Nội vụ. Diệm có thể tham gia chính phủ. Riêng "thí nghiệm Bửu Hội" không sử dụng được. Ngày 7/1/1955, Pháp đưa ra một dự thảo hiệp ước mới.

 

    Thời gian này, Đặc sứ Mỹ  Lawton Collins cũng bắt đầu thất vọng về Diệm; nhất là từ sau ngày Diệm không cử Phan Huy Quát làm Tổng trưởng Quốc Pḥng. Collins đưa ra hai giải pháp: (1) Yêu cầu Bảo Đại bổ nhiệm Quát làm Thủ tướng; hoặc (2) Đích thân Bảo Đại về nước trong t́nh trạng khẩn cấp. (48)

 

48. FRUS, 1952-1954, XIII, 2:2365-366; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 4:A3:20.

 

    Ngày 16/12/1954, khi được yêu cầu tái xét trường hợp Diệm, Collins lại đề nghị với Oat-shinh-tân:

 

    1. Yểm trợ Diệm một thời gian nữa; nhưng Mỹ không khởi đầu một chương tŕnh viện trợ đặc biệt nào.

 

    2. Nghiên cứu khẩn cấp việc Bảo Đại hồi hương.

 

    3. Nếu sau một thời gian trắc nghiệm thêm mà Diệm không chứng tỏ dấu hiệu tiến bộ, và nếu chính phủ Mỹ đồng ư, sẽ cho Bảo Đại hồi hương tức khắc.

 

    4. Nếu Bảo Đại không chấp nhận được, và nếu Diệm tiếp tục biểu lộ sự thiếu khả năng đoàn kết các phe nhóm, cần duyệt xét lại chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á—rút khỏi Nam Việt Nam (như đă đề cập ngày 13/12/1954).

 

    Đại sứ Heath, lúc này đă trở về Bộ Ngoại Giao, không đồng ư. Theo Heath, chủ trương của Dulles là tŕ hoăn [buying time] để giúp Lào, Miên và Thái Lan mạnh hơn; trong khi đề nghị của Collins chỉ nhắm giải quyết tức khắc vấn đề trước ngày 1/1/1955. Hơn nữa, Diệm là người duy nhất phục vụ đắc lực mục tiêu của Mỹ. Mối lo sợ rằng 300 triệu MK quân viện và uy tín nước Mỹ sẽ bị mất trong việc duy tŕ một nước Việt Nam tự do là chính đáng, nhưng ngưng yểm trợ [Diệm] lúc này c̣n mang lại hậu quả tai hại hơn. (49)

 

49. US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 4:A3:21-22;  Gravel, I:226-227.

 

    Một biến cố khác khiến liên hệ giữa Pháp và Diệm thêm căng thẳng là ngày 26/12/1954, Pháp khai trương  Ṭa Tổng Đại biểu ở Hà Nội. Jean Sainteny, người đă kư Hiệp ước 6/3/1946 với Hồ, được cử làm Tổng Đại biểu. Mỹ cũng không tán thành việc lập những tổ hợp liên doanh Pháp-Bắc Việt. La Chambre biện minh rằng Sainteny chỉ lo về quyền lợi kinh tế và thương mại, và Pháp dự định họp các công ty ở miền Bắc thành một tổ hợp lớn để dễ điều hành. Ngày 11/2/1955, Jacques Roux, Phó Tổng Giám đốc Chính trị vụ BNG Pháp, nói thẳng rằng kế hoạch duy tŕ quyền lợi kinh tế và văn hoá tại Bắc VN không phải là ư kiến riêng của Sainteny, mà là chính sách của nước Pháp. Pháp chẳng có lợi ǵ khi rút lui, v́ cố vấn Trung Cộng sẽ thay thế, và điều khiển các cơ sở Pháp để lại. Sự hiện diện của Pháp sẽ khiến Hồ bớt tùy thuộc vào quĩ đạo CS. Roux nhấn mạnh rằng HCM, trái ngược với miền Nam, muốn Pháp ở lại; và Việt Minh muốn Pháp hướng dẫn về kỹ thuật. Roux hy vọng Mỹ sẽ nghiên cứu lại vấn đề những công ty hỗn hợp Pháp-Việt Minh sẽ không bị ràng buộc trong Sắc Luật  "buôn bán với các quốc gia Cộng Sản" của Mỹ. (FRUS, 1955-1957, I, tài liệu 43)

 

    Nhưng BNG Mỹ vẫn không đồng ư kế hoạch thành lập công ty hỗn hợp Pháp-Bắc Việt Nam. Theo kế hoạch này,  Hà-nội giữ đa số cổ phần, như thế đi ngược lại lời tuyên bố yểm trợ Nam VN và chính sách liên hiệp Pháp-Mỹ; nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của Pháp tại Lào và Miên; và làm hại đến cơ hội của miền Nam trong cuộc Tổng tuyển cử 1956. (FRUS, 1955-1957,  I:89n3)

 

    Tại Việt Nam, ngày 7/1/1955, Đặc sứ Collins họp cùng Đại sứ Miên McClintock và Đại sứ  Lào Yost tại Đà-Lạt. Họ đồng ư rằng cơ hội ngăn chặn CS ở Đông Dương xứng đáng để Mỹ thử nghiệm. Tiền viện trợ cho NVN chỉ vào khoảng 440.5 triệu MK, Miên, 55, và Lào, 62 tới 67 triệu MK. (Trong tổng số từ 557.5 triệu tới 562.5 triệu, 100 triệu MK dành cho quân viễn chính Pháp). Hôm sau, 8/1/1955, Collins gặp Ely thảo luận về đề nghị sửa đổi Thỏa ước 13/12/1954. Ely nói chính phủ Pháp đồng ư duy tŕ 75,000 quân đội viễn chinh Pháp cho tới ngày 1/6/1955. Sau đó, việc triệt thoái sẽ từ từ cho tới trước ngày Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956. (FRUS, 1955-1957,   I, tài liệu 15)

 

    Ngày  24/1/1955 [Nguyên đán Ất Mùi] Collins về tới Oat-shinh-tân. Nạp báo cáo trong ngày 24/1/1955, và họp ngay với Dulles. Sau đó Dulles viết thư cho Thủ tướng Edgar Faure để giải quyết "sự hiểu lầm" quanh việc thay hay không thay Diệm. Đề nghị Ely viết thư thông báo cho Diệm rằng từ ngày 1/7/1955, quân đội QGVN được hoàn toàn tự trị. Rồi Ely viết thư cho Collins, thông báo các cố vấn Mỹ và Pháp sẽ do MAAG điều động, dưới sự chỉ huy tổng quát của Ely. (FRUS, 1955-1957,Tài liệu 26) Ngày 28/1/1955, Mendès-France chấp thuận đề nghị của Dulles.

 

    Trong khi đó, phiên họp thứ 234 của Hội đồng ANQG Mỹ ngày 27/1/1955, do Eisenhower chủ tọa, quyết định:

 

    (1) Tại hội nghị SEATO ở Bangkok sắp tới, Dulles sẽ yêu cầu các thành viên sẽ yểm trợ VN Tự Do một khi chiến tranh tái phát;

 

    (2) V́ VN Tự Do khó tồn tại nếu không có Pháp yểm trợ, phải áp lực Pháp thực thi thỏa ước Smith-La Chambre trong hội nghị 27-29/9/1954, và những nguyên tắc căn bản trong qui ước ngày 13/12/1954 giữa Ely và Collins.

 

    (3) Tiếp tục yểm trợ chính phủ Diệm.

 

    Ngoài ra, yểm trợ các chương tŕnh cải tổ quân đội, cải cách điền địa, tái định cư dân tị nạn, và thiết lập một Quốc hội. Trong ṿng 2 tháng tới, BNG Mỹ sẽ nghiên cứu và đệ tŕnh một kế hoạch về tổng tuyển cử 7/1956. Chấp thuận viện trợ cho NVN, về quân sự và các lănh vực khác, và tái khẳng định yểm trợ Việt Nam Tự Do của Nghị quyết NSC 5429/5, tiết 10-a. (FRUS, 1955-57, I, tài liệu 28)

 

    Trong mùa Xuân 1955, liên hệ Pháp-Việt ngày thêm căng thẳng qua quyết định tấn công B́nh Xuyên và các giáo phái của Diệm. Ngày 9/4/1955, Đặc sứ Collins lại muốn thay ngựa sau khi Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ, nhóm Tinh Thần và Hồ Thông Minh xin từ chức. Thoạt tiên, Ngoại trưởng Dulles đồng ư. Nhưng do sự can thiệp của TNS Mansfield, Eisenhower cuối cùng giữ Diệm v́ không thấy một “ngựa” nào khá hơn để thay thế. (VNNB, I-C: 1955-1963, tr.46-47, 49-52)

 

    Trong khi đó, mặc dù các quan Tướng Pháp và cá nhân Bảo Đại đứng ra điều đ́nh, đầu tháng 5/1955 Diệm cho Quân đội Quốc Gia Việt Nam dẹp tan nhanh chóng B́nh Xuyên, thu lại sự kiểm soát ngành Cảnh Sát. Sau đó, mở những cuộc càn quét cứ điểm Ḥa Hảo, Cao Đài. Lê Văn “Bảy” Viễn phải chạy qua Pháp. Phạm Công Tắc chạy qua Miên tị nạn. Tướng “Năm Lửa” Trần Văn Soái về hàng. Lănh chúa Ḥa Hảo cuối cùng là Ba Cụt Lê Quang Vinh bị bắt sống khi về thương thuyết, rồi bị làm án tử h́nh.

 

    Chiến thắng này khiến chính phủ Eisenhower quyết tâm ủng hộ chế độ Diệm, chấp thuận cho Diệm truất phế Bảo Đại, thiết lập chế độ Cộng Ḥa. Đồng thời, quay mặt làm ngơ cho Diệm mở một chiến dịch bài Pháp dữ dội. Giám mục Thục c̣n vận động việc triệu hồi các nhà truyền giáo để “Việt Nam hóa” giáo hội Vatican bản xứ.(50)

 

50. Xem cuộc gặp mặt giữa Ely và Randolph A. Kidder ngày 1/5/1955, FRUS, 1955-1957,   I:340-344.

 

    Ngày Chủ Nhật, 8/5/1955, ba Ngoại trưởng Dulles, Fauvre và Macmillan lại họp tại Paris. Laforest tŕnh bày t́nh h́nh Đông Dương. Theo Laforest, Diệm không những thiếu khả năng mà c̣n khùng (fou). Pháp không thể tiếp tục chấp nhận sự liều lĩnh với Diệm. Tiếp tục yểm trợ Diệm sẽ có 3 kết qủa tai hại: (1) Sẽ mang lại chiến thắng của Việt Minh; (2) Sẽ tạo sự thù hận Pháp; và, (3) Sẽ tạo nên sự xa cách giữa Pháp và Mỹ. Ai cũng tin rằng Mỹ yểm trợ Diệm và xúi Diệm chống Pháp, dù rằng chính phủ Mỹ không làm điều đó. (FRUS, 1955-1957, I:375) Bảo Đại là lá bài xấu, nhưng có thể c̣n sử dụng được; với Diệm th́ thất bại hoàn toàn. Ngày nào c̣n Diệm, không thể có một giải pháp. Diệm là một lá bài bất khả, và không có một cơ hội nào để thắng lợi hay cải đổi t́nh thế. Mặc dù Pháp không có ai để thay Diệm, nhưng bất cứ ai cũng có cơ hội thành công, ngoại trừ Diệm. "Diệm là một sự lựa chọn tồi dở, một giải pháp không thể thành công hay cải thiện t́nh thế. Không có Diệm, một giải pháp c̣n khả dĩ, nhưng nếu Diệm ở đó th́ bất khả." Rồi Laforest đặt câu hỏi liệu Mỹ muốn Pháp triệt thoái hoàn toàn khỏi VN, và liệu Mỹ có thể bảo đảm quyền lợi Pháp kiều tại VN hay chăng?

 

    Dulles nói vấn đề chính là sự khác biệt quan điểm giữa Pháp và Mỹ về Diệm. Mỹ nghĩ rằng Diệm có khả năng. Mỹ cũng có thể sẽ rút khỏi Việt Nam. Ba phe đồng ư sẽ thảo luận thêm vào ngày hôm sau.(51)

 

51. Tài liệu Ngũ Giác Đài ghi là buổi họp này diễn ra ngày 10/5/1955, nội dung như sau: Trước đó, Dulles đă khẳng định Diệm là phương tiện duy nhất để cứu Nam Việt Nam; Bảo Đại đă hết thời. Mặc dù trước khi cuộc thanh trừng B́nh Xuyên xảy ra, Collins và Ely đă đồng ư thay Diệm, nhưng nay quyết định yểm trợ Diệm. Ngoại trưởng La Forest và Thủ tướng Faure không đồng ư. Faure cho rằng Diệm không những "thiếu khả năng" [incapable] mà c̣n "khùng [mad]." Diệm sẽ mang đến chiến thắng cho Việt Minh, khiến mọi người ghét Pháp, và gây sự đổ vỡ giữa Mỹ và Pháp. Faure kết luận: “Diệm là một sự lựa chọn tồi, một giải pháp bất cập, không có một cơ hội nào để thành công, không có cơ hội nào để cải thiện t́nh h́nh. Không có ông ta, c̣n có thể t́m được một giải pháp, nhưng có ông ta th́ bất khả.” Sau đó, Faure đề nghị triệt thoái tức khắc quân viễn chinh Pháp khỏi Việt Nam, nếu Mỹ muốn. Dulles nói Mỹ chỉ muốn Nam Việt Nam không bị lọt vào tay Cộng Sản; và sẽ để Pháp tự do hành động. Tuy nhiên, nếu Pháp thay Diệm, Mỹ có thể ngưng tài trợ. Ngoại trưởng Bri-tên, MacMillan, đề nghị cần thêm thời gian để thảo luận trước khi có quyết định. (Gravel, I:237-8).

 

    Ngày Thứ Hai, 9/5, Mỹ, Pháp và Bri-tên bắt đầu Hội nghị Tam cường về vấn đề Việt Nam [cho tới ngày 11/5/1955]. Trong buổi họp giữa Laforest, Berard và Risterucci với Robertson, Young và Gibson, Laforest lập lại vấn đề triệt thoái quân Pháp khỏi Nam Việt Nam, và muốn biết Mỹ có bảo đảm tính mạng và quyền lợi Pháp kiều hay chăng. (FRUS, 1955-1957, I:Tài liệu 182) Hôm sau, Thứ Ba, 10/5/1955, Hội nghị Ngoại trưởng bàn về việc pḥng thủ Âu Châu; nhưng vấn đề Việt Nam được đưa ra bàn thảo. Dulles tuyên bố nếu Pháp rút lui, Mỹ sẽ tiếp tục yểm trợ một chính phủ chống Cộng ở miền Nam VN. Fauvre nói dư luận Pháp đang nghiêng về phía chấp nhận Bắc Việt và bỏ rơi miền Nam; hoặc Diệm phải ra đi. Tuy nhiên, Fauvre đồng ư yểm trợ Diệm với hai điều kiện: Ngưng chống Pháp; và, mở rộng chính phủ. Fauvre cũng muốn duy tŕ Bảo Đại. Hôm sau nữa, Thứ Tư, 11/5, Dulles đề nghị Pháp tiếp tục ủng hộ Diệm cho đến ngày bầu cử Quốc Hội, để quyết định thể chế miền Nam, có hay không có Diệm. Faure nhấn mạnh Diệm phải mở rộng chính phủ, duy tŕ Bảo Đại như Quốc trưởng, bầu cử càng sớm càng tốt, ngừng ngay luận điệu tuyên truyền chống Pháp; Mỹ tiếp tục viện trợ, và triệu hồi những cá nhân gây trở ngại cho liên hệ Pháp-Mỹ (như Lansdale).

 

    Dulles đồng ư, nhưng đề nghị mỗi nước công bố riêng chính sách và đường lối của ḿnh. Điều này có nghĩa Mỹ bắt đầu tách dần khỏi kế hoạch liên minh Pháp-Mỹ tại Việt Nam (Gravel, I:239). Ngày 12/5/1955, Dulles chỉ thị Collins thông báo với Diệm về những điểm đă đồng ư trong Hội nghị Tam cường. Hôm sau, 13/5, từ Paris, Dulles chỉ thị cho G. Frederick Rheinardt, tân Đại sứ được chỉ định, về những việc phải làm:

 

    (1) Tiếp tục yểm trợ chính phủ Diệm, và đối xử với chính phủ này như một chính phủ độc lập, có chủ quyền mà chúng ta tin rằng nó là như thế và phải như thế.

 

    (2) Chúng ta muốn thấy chính phủ này mạnh hơn.

 

    (3) Chính phủ sẽ có quyền không những với quân đội mà cả cảnh sát. B́nh Xuyên phải bị giải tán.

 

    (4) Cần chấm dứt việc chống Pháp.

 

    (5) Mỹ và VN đều không kư hiệp ước Geneva, nhưng đồng ư nghiên cứu việc Tổng tuyển cử vào tháng 7/1956, với điều kiện được tự do bầu cử.

 

    (6) Quân Pháp sẽ triệt thoái nhanh khỏi Nam Việt Nam.

 

    (7) Tự do không thể duy tŕ được ở VN nếu các lực lượng cách mạng được mang ra chơi ở VN. Chắc chắn VM sẽ t́m cách điều khiển v́ họ là những bậc thày trong ngành này. Diệm cần thi hành một chính sách ôn ḥa và xây dựng.

 

    Hôm sau, Thứ Bảy, 14/5/1955, Collins rời Việt Nam. Kidder XLTV một thời gian.

 

    Thứ Năm, 19/5/1955—đúng ngày Pháp triệt thoái khỏi Hải-pḥng và Việt Minh rút khỏi B́nh-định và Quảng-ngăi—HĐ/ANQG Mỹ họp lần thứ 249. Dulles tường tŕnh về chuyến đi ParisVienna: Pháp sẽ triệt thoái quân viễn chinh xuống tới 50,000. Hai ngày sau, 21/5,  XLTV Đại sứ Kidder báo cáo từ Sài G̣n là đă thông báo với Ely về kết quả hội nghị Tam cường ở Paris. Ely không tán thành nghị quyết trên, và đă xin hồi hương. (FRUS, 1955-1957, I:408)

 

    Trong khi đó, Diệm phát động phong trào bài Pháp và truất phế Bảo Đại. Ngày 31/5/1955, Hội đồng NDCM bắt mở cửa Ngọ Môn, tịch thu ấn tín và nhiều vật dụng trong văn pḥng Bảo Đại. Đứa con “tập ấm” của “bát cơm Bảo hộ Pháp” quyết tâm vùi chôn một lần và măi măi “tàn dư phong, thực, cộng.” Người cầm đầu chiến dịch chống Pháp này là Trần Chánh Thành. Ngày 20/7/1955, ngày dự trù bàn thảo về việc Hiệp thương Bắc-Nam, Diệm tổ chức học sinh, sinh viên di cư biểu t́nh tấn công phái đoàn quân sự BV của Văn Tiến Dũng tại khách sạn Majestic và khách sạn trên đường Trần Hưng Đạo. Cao điểm của chiến dịch là cuộc “trưng cầu dân ư” truất phế Bảo Đại ngày 23/10/1955, mở đường cho “Chí sĩ” Diệm bước lên ngai vị Tổng thống.

 

    Ngày 1/12/1955, Diệm cắt đứt liên hệ kinh tế và tài chính với Pháp, và đ̣i triệu hồi phái đoàn Sainteny ở Hà Nội. Ngày 7/12/1955, ra Dụ số 10 về quốc tịch. Theo một tờ tŕnh của Bộ Tư lệnh Viễn chinh Pháp, ngày 23/1/1956, 6,650 trong số khoảng 7,000 người Việt có quốc tịch Pháp trước ngày 8/3/1949 đă xé bỏ quốc tịch. Trong số này, có các tướng Trần Văn Minh, André Trần Văn Đôn và 14 sĩ quan cao cấp khác. Y sĩ Trần Văn Đôn, cha André Đôn, đại sứ ở Roma, và Luật sư Trần Văn Chương, đại sứ ở Mỹ, cũng xin bỏ quốc tịch. Những người có quốc tịch Pháp sau ngày 8/3/1949 sẽ tự động bị hủy bỏ v́ hiệp ước Pháp-Việt ngày 6/8/1955. (SHAT (Vinvennes), Indochine, 10H 4197).

 

    Ngô Đ́nh Thục, người từng một thời rất kiêu hănh về người cha đă ra công hăn mă bất kể sống chết cho nền bảo hộ Pháp tại Việt Nam, cũng phát động chiến dịch bài Pháp, lên án các nhà truyền giáo Pháp là “bảo hộ.”

 

    Tháng 4/1956, quân viễn chinh Pháp chính thức triệt thoái khỏi Nam Việt Nam.

 

    Pháp vẫn duy tŕ Ṭa Đại sứ Việt Nam Cộng Ḥa ở Paris, nhưng từ năm 1962 đón nhận một đại diện thương mại của Hà Nội. Trong khi đó, Ṭa Đại sứ Pháp đặt tại Sài G̣n, nhưng Pháp cũng có một đại diện ở Hà Nội. Pháp viện trợ kinh tế và văn hóa cho VNCH, nhưng cương quyết đứng ngoài “cuộc thánh chiến chống Cộng” của Diệm và nước Mỹ. Chính sách công khai của Pháp là không can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam, mà chỉ lo vấn đề kinh tế và văn hóa với cả hai miền.

 

    Giao t́nh Việt-Pháp cải thiện vào năm 1959, sau khi Roger Lalouette tới làm Đại sứ. Pháp cho VNCH vay 70 triệu MK để thực hiện khu kỹ nghệ An Ḥa, cùng một số công tŕnh kỹ nghệ khác. Nhưng t́nh trạng suy thoái an ninh ở Lào, và nhất là việc Pháp kư Hiệp ước hoàn trả Việt kiều từ Nouvelle Calédonie về Bắc Việt khiến họ Ngô luôn luôn hoài nghi Pháp.

 

    Ngày 24/8/1960, chẳng hạn, Nhu nói với Đại sứ Durbrow rằng người Pháp đứng sau vụ Kong Le đảo chính ở Lào. Nhu cũng tin rằng Pháp đứng sau lưng các nhóm bất măn ở miền Nam để gia tăng tinh thần trung lập. Pháp lầm lẫn tưởng rằng giảm ảnh hưởng của Mỹ tại Lào và Việt Nam có thể giúp Pháp tăng gia ảnh hưởng trong vùng. De Gaulle đă lầm lẫn khi kư hiệp ước với Hà Nội về việc hồi hương Việt kiều tại Nouvelle Calédonie sẽ khiến Hà Nội giảm bớt ao ước xâm chiếm Lào hay Nam Việt Nam. (FRUS, 1958-1960, I:543-544n3)

 

    Sau chuyến thăm Pháp lần thứ ba vào tháng 6/1961—mặc dù de Gaulle từ chối không can thiệp vào Lào như lời yêu cầu của Kennedy ngày 31/5/1961—Nhu và các viên chức Việt Nam Cộng Ḥa t́m cách cải thiện liên lạc với Pháp. (CLV, SV, d. 13:39) Một trong những lư do là t́nh h́nh miền Nam ngày thêm suy thoái, khiến Diệm phải tuyên bố t́nh trạng lâm nguy ngày 18/10/1961.

 

    Ngày 26/10/1961, khi gặp Lalouette, Diệm nói t́nh h́nh nghiêm trọng. Cần sự liên kết của tất cả các quốc gia tự do chống lại Cộng Sản. “Trường hợp chúng tôi là điển h́nh. Nước Pháp sẽ làm ǵ?” [Nos cas est un symbole. Que va faire la France?] Việc quân đội Mỹ đến VN sẽ được dân Việt Nam nồng nhiệt tiếp đón. [La présence des forces alliées sur le territoire d'un pays, a-t-il ajouté, n'est plus considérée aujourd'hui comme une atteinte à l'indépendance de ce pays.] Khi được hỏi liệu khi t́nh h́nh khẩn trương, Diệm có kêu gọi sự giúp đỡ của các cường quốc thân hữu, Diệm trả lời: "Trong những công điện mới đây, tôi đă khẩn thiết kêu gọi sự đoàn kết của Thế giới Tự Do. Lập lại những lời kêu gọi trên chỉ khiến làm giảm ư nghĩa” [Dans mes récents messages, j'ai déjà adressé un appel pressant à la solidarité du Monde Libre. Renouveller cet appel serait en affaiblir la portée]. Theo Diệm, một cuộc chiến tranh Cao Ly thứ hai đang hiện hữu ở miền Nam [La guerre de Corée existe déjà au Vietnam, mais elle n'avoue pas son nom]. (52)

 

52. CĐ số 1094/101, ngày 8/11/1961, Lalouette gửi Paris; AMAE [Paris], CLV, SV, 14:17.

Thứ Sáu, 8/12/1961: BNG ra Bạch thư về việc CSBV tấn công miền Nam. Tài liệu này gồm 2 phần, với tựa A Threat to Peace: North Vietnam’s Effort to Conquer South Vietnam.

Thứ Hai, 11/12/1961: Hội nghị tay ba Mỹ, Pháp và Bri-tên tại Bộ Ngoại giao Pháp. Mỹ đă công bố Bạch thư ngày 8/12/1961: Biến loạn ở VN không thuần là nội loạn, mà do CSBV phát động. Mỹ không có ư định gửi các đơn vị tác chiến vào Nam Việt Nam; nhưng sẽ giúp Diệm tự vệ, bằng cách viện trợ trực thăng, vũ khí, v.. v... (FRUS, 1961-1963, I:Tài liệu 316)

 

    Theo phúc tŕnh ngày 9/1/1962 của Nha Á Châu-Đại Dương, Sở Miên-Lào-Việt, từ tháng 10/1961, các giới trong Dinh Độc Lập c̣n cho Pháp biết là muốn cân bằng áp lực Mỹ bằng cách dựa vào các thế lực khác, nhất là Pháp. “Một lời tuyên bố ư định đă đủ [Une déclaration d’intention, un geste suffirait].” (AMAE [Paris], CLV, SV, dossier 91, tr. 2).

 

    Cuối năm 1961, đầu năm 1962, các viên chức VNCH liên tục thúc dục Pháp can thiệp và yểm trợ. Ngày 21/12/1961, Đại sứ Phạm Khắc Hy gửi thư cho Charles Lucet, ngỏ ư muốn liên lạc với Pháp. Hơn nửa tháng sau, ngày 7/1/1962, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đích thân gặp đại diện Pháp, xác nhận ư muốn liên lạc. Trương Vĩnh Lễ, Chủ tịch Quốc Hội, cũng tiết lộ với giới ngoại giao Pháp ở Sài G̣n là Nhu muốn Pháp tái khẳng định lập trường, v́ Sài-g̣n có cảm tưởng rằng Paris đang nghiêng dần về phía Hà-nội. (CLV, SV, 91:10)  Sự lo ngại của Nhu có lẽ do sự lo sợ Mỹ sẽ thay đổi chính sách.

 

    Phiếu tŕnh ngày 9/1/1962 của Nha Á Châu-Đại Dương phản ảnh vị thế “khó xử” của Pháp. Pháp có trên 15,000 kiều dân tại miền Nam (trên 17,000 năm 1963), một số tiền đầu tư khá quan trọng, và liên hệ văn hóa. Một mặt, khó thể cung cấp viện trợ quân sự cho miền Nam. T́nh trạng hiện nay xảy ra không có sự hiện diện của Pháp, và cách nào đó, chống lại Pháp. Mặt khác, nếu Pháp ngả về phe Mỹ, lập tức sẽ bị Việt Minh trả đũa. Sự quan hệ giữa Pháp với Việt Namquyền lợi vật chất và tinh thần, trong khi Mỹ cơ bản là vấn đề chiến lược. Nếu bị áp lực, Pháp có thể sẽ hợp tác, nhưng trong bí mật và ít thôi, chỉ vừa đủ thỏa măn chế độ Diệm [une coopération aussi modeste et discrète que possible, mais suffisante pour qu’il s’en contente.] (p.5). Về phương diện chính trị, biên độ hoạt động của Pháp rất hẹp. Chính phủ Pháp khó thể ra một tuyên cáo ủng hộ chế độ Diệm. Có thể nhờ đài truyền h́nh Pháp đi một bản tin về hiểm họa Cộng Sản, hoặc cử một phái đoàn Dân biểu tới tham quan. Về phương diện quân sự, Pháp khó thể làm ǵ trong khi Mỹ tiếp tục gia tăng sự can thiệp. Hai cách hành động là cung cấp viện trợ quân cụ và chuyên viên. Hiện Pháp c̣n một kho quân trang ở Marseille vốn dự định gửi qua Đông Dương. Cũng có thể cố vấn việc pḥng thủ vùng cao nguyên Trung phần. Về phương diện hành chính và kinh tế, Pháp có thể yểm trợ trên nhiều mặt.  Pháp không muốn yểm trợ chính trị cho chế độ Diệm, nhưng cũng không thể không bảo vệ quyền lợi Pháp tại đây. Oái oăm là mặc dù biết rơ lập trường của Pháp, chính quyền Nam Việt Nam vẫn tiếp tục áp lực, yêu cầu Pháp có bổn phận bảo vệ miền Nam trước hiểm họa Cộng Sản. Mỹ, bị cô lập, cũng muốn các quốc gia khác nhập cuộc. Bri-tên, dù thiện cảm với chế độ Diệm, cũng chỉ bí mật tiếp tay. (53)

 

53. Direction Asie-Océanie, Note a/s Soutien au gouvernement Vietnamien- Démarche de l'Ambassadeur Pham Khac Hy; CLV, SV, d. 91:2-9.

 

    Ngày 31/3/1962, Diệm đích thân viết thư cho Tổng thống de Gaulle xin trợ giúp chống lại sự xâm lăng của CSBV. Theo Diệm, CSBV đang công khai xâm lăng VNCH. Ngày 18/1/1962, đài Hà Nội loan tin thành lập Đảng Nhân Dân Cách Mạng [Parti Révolutionnaire du Peuple] mà mục tiêu tức khắc là đoàn kết dân chúng và lật đổ chính quyền miền Nam [“dont la tâche immédiate” est d’unifier le peuple et de “renverser” le gouvernement du Viêt Nam]. Đảng này cũng kêu gọi dân chúng miền Bắc xây dựng một miền Bắc giàu có và vững mạnh, để biến thành một hậu phương vững chắc cho cuộc tranh đấu giành thống nhất ḥa b́nh cho xứ sở và để yểm trợ tích cực đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh cách mạng [Elle fait aussi “appel à la population du Nord pour bâtir un Nord-Viêtnam toujours plus propère et plus fort, en vue d’en faire une base solide pour la lutte pour la réunification pacifique du pays, et de donner un soutien actif aux compatriotes du Sud- Viêtnam dans leur lutte révolutionnaire.] Trong Đại hội của Đảng CSViệt Nam năm 1960, Hà Nội cũng khẳng định sẽ “giải phóng miền Nam.” Tài liệu bắt được cho thấy Hà Nội xâm nhập người vào Nam. (54)

 

54. AMAE [Paris], CLV, SV, d. 91:35-37. Ngày 26/4/1962, Vũ Văn Mẫu mới xác nhận trong một buổi họp báo Diệm đă viết thư cho de Gaulle ngày 31/3/1962. Thư này gửi cho 93 quốc trưởng khác nữa. Tuyên bố Sài-g̣n có thể tẩy chay (boycott) Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến. (CLV, SV, 91:42)

 

    Tuy nhiên, trong thư trả lời, de Gaulle chỉ ghi nhận lời kêu gọi của Diệm, nói chung chung là cần tôn trọng Hiệp định Geneva, chủ quyền và lănh thổ của quốc gia, và dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống trong ḥa b́nh và tự do. (Ibid., tr. 38)

 

    Ngày 31/5/1962, Ngô Đ́nh Nhu từ London tới Paris, sau 1 chuyến đi của phái đoàn Dân biểu tới Roma và Bonn. Tuy nhiên, không rơ de Gaulle có tiếp kiến Nhu hay Lệ Xuân theo lời yêu cầu hay chăng.

 

    Ngày Thứ Bảy, 30/6/1962, Ngoại trưởng Couve de Murville tiếp Vũ Văn Mẫu tại nhà riêng v́ t́nh bạn học cũ, nhưng giao t́nh giữa hai nước vẫn chẳng cải thiện bao lăm. Chủ trương của de Gaulle là trung lập hóa toàn Đông Dương, trong khi Nhu chỉ muốn lợi dụng Pháp để giảm bớt áp lực Mỹ.

 

    Ngày 7/7/1962, XLTV Đại sứ Pháp báo cáo rằng các cấp lănh đạo VNCH có tinh thần bài Pháp v́ các Pháp kiều không chịu chống Cộng theo đường lối Mỹ-Việt. Hai Pháp kiều Etchegarray và de la Chevrotière vẫn bị giam giữ sau vụ đánh bom Dinh Độc Lập. Chỉ có Heurtier được phóng thích. Tổng Lănh sự Pháp đă gửi hai thư phản kháng về việc chính quyền địa phương trưng dụng tài sản của Pháp kiều làm đồn binh hay trại tạm cư cho dân tị nạn. Một quản lư đồn điền cao su ở Minh Thành đă bị cáo buộc nạp cho Việt Cộng 27,000 đồng, rồi mỗi tháng đóng thuế 1,200 đồng. Lời cáo buộc này xảy ra sau một tai nạn tại phi trường của đồn điền trên: 4 du kích Việt Cộng đă cướp đoạt một xe Jeep của viên Trưởng ty Cảnh sát rồi bỏ chạy khi một chiếc phi cơ chở Giám mục Đà-lạt hạ cánh xuống đồn điền này. (CLV, SV, 91:84-90) Ngày 16/8/1962, BNG Việt Nam c̣n phản đối với Đại sứ Pháp về việc Y sĩ Phạm Huy Cơ từ Pháp qua Nam Vang gặp gỡ Việt kiều. (CLV, SVN, 91:92)

 

    Chuyến ghé Paris của Nguyễn Đ́nh Thuần vào ngày 3/10/1962 cũng chẳng mang lại được lời hứa nào của Ngoại trưởng Couve de Murville. (CLV, SV, 91:101)

 

    Ngày 5/12/1962, Diệm phải than thở với Đại sứ Lalouette là không hiểu nổi chính sách của Pháp; Pháp có quyền lợi kinh tế ở Việt Nam, mà dửng dưng. (CLV, SV, 91:113)

 

    Từ đầu năm 1963, có những dấu hiệu cải thiện liên hệ Pháp-Việt. Tháng 2/1963, một phái đoàn Quốc hội VNCH qua thăm Pháp được tiếp đăi nồng hậu. Cầm đầu là Trương Vĩnh Lễ, Chủ tịch Quốc Hội. Lễ là nhân vật thứ ba của Việt Nam CH, rất trung thành với Diệm. Ḍng giơi Petrus Ky, nói tiếng Pháp thành thạo. Tháp tùng có Hà Như Chi, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Quốc Hùng, Trần Văn Thọ. (CLV, SV, 22; Mậu 1993:568)

 

    Thứ Tư, 10/4/1963, Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu than phiền với Rusk về những nỗ lực của một số người Pháp trong kế hoạch trung lập hóa và tự hỏi tại sao những phần tử như Trần Văn Hữu có thể qua Mỹ. (FRUS, 1961-1963, III:219-220)

 

    1. Đại sứ Roger Lalouette

 

    Những tài liệu văn khố đă giải mật cho thấy phía sau lớp b́nh phong “không can thiệp chính trị” của chính phủ de Gaulle, Đại sứ Lalouette tích cực dàn xếp cho Nhu tiếp xúc đại diện Hà Nội. Theo Lalouette, v́ kinh tế miền Bắc gặp khó khăn, và áp lực Trung Cộng ngày một gia tăng, Bắc Việt thành tâm muốn t́m giải pháp chính trị, để trục xuất Mỹ khỏi miền Nam, và tránh áp lực Trung Cộng. Hơn nữa, Hồ vốn là người bài Hoa, thân Tây phương.(55)

 

55. Vấn đề Hồ có bài Hoa hay thân Tây phương chăng cần được nghiên cứu thêm. Các viên chức Pháp dường không biết đến việc từ năm 1958, Hồ đă sai Phạm Văn Đồ cắt lănh hải cho Trung Cộng để xin quân viện đánh miền Nam.

 

    Vai tṛ của Lalouette thoáng bộc lộ trong chuyến về nghỉ phép vào tháng 6/1963. Ngày 25/5/1963, Diệm tiếp kiến Lalouette. Trong cuộc gặp gỡ kéo dài 3 tiếng đồng hồ này, Diệm bàn về rất nhiều vấn đề. Về các nước lân bang, Diệm đặc biệt quan tâm đến Lào. Theo Diệm, Hà Nội và Bắc Kinh tạo nên t́nh trạng căng thẳng ở Lào. V́ cảm thấy phải bỏ ư định chiếm Nam Việt Nam bằng vơ lực nên Hà Nội muốn bành trướng ảnh hưởng Pathet Lào dài theo biên giới Việt Lào. Về Bắc Việt, Diệm cho rằng các nhà lănh đạo Hà Nội đă bắt đầu nhận hiểu chỉ vô dụng khi đánh chiếm miền Nam. Chẳng cần phải có thương thuyết, cuộc chiến sẽ một ngày đột ngột ngừng lại giống như lúc khởi sự năm 1960. [“à se lasser eux aussi d’une lutte dont ils comprendraient aujourd’hui l’inutilité.” . . .  “sans qu’il soit nécessaire d’ouvrir un dialogue entre Saigon et Hanoi, la guerilla pourrait bien un jour cesser soudainement comme elle avait commencé au début de 1960.”] Lalouette có cảm nghĩ rằng chính do sự tiên đoán này, và để chuẩn bị cho điều này, Diệm và Nhu đă nêu lên vấn đề triệt thoái từ từ các cố vấn Mỹ” [“dans son esprit comme dans celui de M. Nhu, c’est en prévision d’une telle évolution, et peut être pour la préparer, que Saigon a posé la question du retrait progressif des Conseillers militaires Américains]. Tuy nhiên, Diệm không nhắc ǵ đến vấn đề này. (56)

 

56. Rapport No. 369/AS, 29 mai 1963, Lalouette gửi Couve de Murville; AMAE (Paris), CLV, SV, 91:137-143.

 

    Về bang giao Việt-Pháp, Diệm ghi nhận sự hợp tác của Pháp kiều tại Nam Việt Nam trên các lănh vực kinh tế và văn hóa, và hy vọng sẽ tiếp tục như thế. Diệm hài ḷng khi các đồn điền cao su bí mật cho mượn đất làm ấp chiến lược. Diệm mừng thấy liên hệ giữa hai nước cải tiến, đặc biệt là chuyến qua Pháp của Trương Vĩnh Lễ, vào tháng 2/1963.(57)

 

57. Sau hội nghị SEATO [OTASE], Đại sứ Mỹ tại Paris báo cáo về Bộ NG là lănh đạo Pháp bắt đầu chú ư hơn đến Đông Nam Á [manifestaient un intérêt croissant pour le Sud Est Asie]. (tr. 145) Diệm muốn vay thêm Pháp số tiền 100 triệu MK, giống như số tiền vay từ tháng 11/1959 tới tháng 3/1960. Lăi tức thấp (4%), kéo dài từ 10 tới 15 năm. Nhằm tăng thêm số vốn 30 triệu đă bỏ vào khu kỹ nghệ An Ḥa, lập một nhà máy lọc đường [une sucrerie], một ḷ sát sinh ở Sài G̣n, đường tàu điện ở Đà Lạt, cầu Mỹ Thuận, xây dựng phi trường Sài G̣n.(tr. 145-146) Lalouette cho biết Paris đang nghiên cứu đơn xin vay tiền, nhưng có vẻ không tốt. Quan trọng nhất là VNCH phải hoàn tất các giao kèo thực hiện những kế hoạch đă mượn tiền từ trước cho kế hoạch An Ḥa. Nhu đă nói với Lalouette rằng “le Vietnam travaillait à se rendre disponible,” và sẽ qua Pháp nếu cần (se rendre à Paris “si un tel voyage pouvait être utile.” [tr. 146-147] (Báo cáo số 383/AS, ngày 31/5/1963; CLV, SV, d. 91:144-147.

 

    Về tới Pháp, Lalouette làm phiếu tŕnh đặc biệt ngày 21/6/1963 lên Ngoại trưởng Couve de Murville. Không rơ Bộ Ngoại Giao Pháp có quyết định nào hay chăng.(58)

 

58. Tôi chưa được tham khảo nguyên bản tài liệu này. Những bước kế tiếp đầy những khoen nối thiếu sót. Có thể dự thảo của Lalouette đă lọt vào mắt de Gaulle, v́ bỗng dưng hơn hai tháng sau, ngày 29/8/1963, de Gaulle đột ngột tuyên bố Pháp có trách nhiệm giúp dân tộc Việt thoát khỏi cảnh chia phân do ảnh hưởng ngoại cường. Rất tiếc trong hai lần gặp Maurice Couve de Murville tại Paris năm 1983, v́ trọng tâm nghiên cứu của tôi là giai đoạn 1939-1946, nên không nêu lên vấn đề này với cựu Ngoại trưởng Pháp.

 

    Trở lại Sài G̣n, Lalouette tiếp tục làm chim xanh cho Nhu và Hà Nội. Lalouette, phối hợp với các Đại sứ India, Italia và Vatican giới thiệu Nhu vớ Maneli.

 

    Như để tiếp tay de Gaulle, ngày 29/8/1963, Mao Trạch Đông gặp phái đoàn đại diện MT/GPMN tại Bắc Kinh. Đây có thể chỉ là dấu ấn đóng lên MT/GPMN, biến cơ cấu ngoại vi của Đảng Lao Động Việt Nam thành một thực thể chính trị; nhưng cũng có thể hàm ư một thông điệp ngoại giao nào đó.

 

    Qua Lalouette và một số nhà ngoại giao khác, tối 25/8/1963, Maneli gặp Nhu, mở đường cho cuộc gặp mặt chính thức tại Dinh Gia Long ngày 2/9/1963. Năm ngày sau, 30/8, Maneli lại tiết lộ kế hoạch “đi đêm” này với CIA. Lodge bèn tới gặp Lalouette. Lalouette khuyên Lodge nên làm việc với họ Ngô để thắng cuộc chiến, và c̣n đề nghị đưa Nhu lên làm Thủ tướng. Lalouette cũng nhận định rằng cuộc chiến tranh du kích sẽ sớm kết thúc trong ṿng 1, 2 năm. Khi cuộc chiến du kích chấm dứt, chính là miền Nam, lúc ấy sẽ mạnh hơn miền Bắc, sẽ đề nghị hiệp thương, trao đổi gạo miền Nam lấy than miền Bắc. Điều này có thể dẫn tới việc thống nhất đất nước với miền Nam vượt thắng. Tuy nhiên, chuyện c̣n xa.(59)

 

    59. “In a year or two the guerrilla danger might be ended. The Viet Cong are very discouraged and morale is very low in North Vietnam, concerning which he said he was well informed inasmuch as the French have a mission there. When the guerrilla war is ended, it might be for the South Vietnamese, who would be stronger than the North Vietnamese, to propose trading some of their rice for North Vietnamese coal. This might lead towards a unified Vietnam with South Vietnam the dominant element. But all of this was remote.” CĐ 384, Saigon, 30/8/1963, Lodge gửi Rusk; FRUS, 1961-1963, IV:58-59.

 

    Hôm sau, Lodge thêm rằng Lalouette đă có mặt bên Nhu khoảng 4 tiếng đồng hồ trong cuộc “vét chùa.” Một nguồn tin đáng tin cậy c̣n cho Lodge biết là Lalouette muốn Mỹ triệt thoái khỏi miền Nam, và Pháp sẽ đứng ra dàn xếp giữa Bắc và Nam Việt Nam. . . . Nhu đang ở vào t́nh trạng bốc đồng và một vài cử chỉ với Bắc Việt qua Nhu chẳng phải là không thể xảy ra.(60).

 

60. Nguyên văn: “I am reliably informed that French Ambassador Lalouette was with Nhu for four hours on August 20 when the attack on the pagodas took place. I am also advised by a dependable source that he wants the US government out of Vietnam so that the French can become the intermediary between North and South Vietnam. . . . I am reliably advised that Nhu is in a highly volatile state of mind and that some sort of gesture through Nhu to North Vietnam is not impossible.” CĐ 391, 31/8/1963, Lodge to Rusk; CĐ 391, 31/8/1963, Lodge to Rusk; FRUS, 1961-1963, IV:67-68.

 

    Ngày Thứ tư, 4/9/1963, Lodge báo cáo thêm rằng, trong buổi gặp mặt, Lalouette lập lại rằng Nhu có thể dàn xếp một thỏa hiệp với VC để ngừng chiến tranh. Khi Lodge hỏi với điều kiện nào [quid pro quo hay consideration trong luật khế ước], Lalouette đáp: “Triệt thoái một số lính Mỹ.” Lalouette c̣n nhấn mạnh rằng không có một giải pháp khác Diệm và Mỹ phải hợp tác với Diệm [Lalouette “reiterated that Nhu believed he could work out an arrangement with the VC whereby the guerrilla war would be ended. I asked what would be the quid pro quo, and he said: the withdrawal of some US troops.” Điều mà Lalouette muốn đặc biệt nhấn mạnh là niềm tin của ông ta chẳng có một giải pháp nào khác Diệm, và Mỹ phải làm việc với họ để chiến thắng [“particularly stressed was his belief there is no alternative to the Diem regime and that we must work with them as partners to win the war.”] (61)

 

61. CĐ 410, Saigon to Washington; JFKL, NSF, Country Vietnam, Vietnam State Cables; FRUS, 1961-1963, IV:111, n3.

 

    Ngay ngày hôm sau, 5/9/1963, nhật báo New York Thời báo đăng bản tin của Robert Trumbull, tiết lộ rằng Lalouette muốn khuyến khích Lodge ngưng chỉ trích chế độ Diệm. Theo Trumbull, Lalouette được các Đại sứ Tây Đức, Italia và Khâm sứ Vatican yểm trợ. Giới ngoại giao cho rằng de Gaulle đă giữ Lalouette tại Sài G̣n lâu hơn lệ thường nhằm để chống lại Lodge, người bị cáo buộc là chống Pháp. Vẫn theo Trumbull, Lalouette đă khuyến khích Nhu liên lạc với miền Bắc, qua trung gian Maneli để thành lập một nước Việt Nam thống nhất, trung lập. Bài viết kết luận bằng câu: “Bà Ngô Đ́nh Nhu đă tuyên bố trong tuần này là ông Lalouette là một Đại sứ khả kính [éminent] và bà ta chỉ trích Lodge.” Thông báo cho Lalouette bản tin báo nói trên,  Giám đốc Chính trị Vụ BNG Pháp chỉ thị:

 

    “Tôi muốn lập lại với ông rằng chúng ta không hề có ư định can thiệp vào nội t́nh Việt Nam hay biến thành những nhà vô địch bên cạnh ông Nhu hay bà Nhu. Những công điện trước đây của tôi đă chỉ thị chính xác vấn đề này. Chúng ta cũng không muốn cố vấn cho ông Cabot-Lodge hay chịu trách nhiệm về việc ông ta làm hay không làm đối với gia đ́nh Diệm. Cuối cùng, ví thử thống nhất là mục tiêu của chúng ta, chúng ta cũng không khuyến khích những cuộc tiếp xúc của ông Nhu với các sứ giả của miền Bắc.” (62)

 

62. CĐ 16957/63, Lucet gửi Lalouette; CLV, SV, d. 18:197-199.

 

Một chi tiết trong đoạn kế tiếp của Lucet khiến gợi nhiều tra vấn. Lucet viết:

 

 

    Bài viết trên NYT xác nhận những tin đồn đă báo cáo lên chúng tôi từ Đại sứ Bri-tên (xem CĐ số 740). Nó theo đúng điều ông đă tŕnh bày trong phiếu tŕnh ngày 21/6 vừa qua và nó, trên mọi phư ơng diện, không thể là bản văn những chỉ thị mà ông nhận được.

 

    Trong mọi điều kiện, làm ơn, sau khi nhận được công điện này, báo cáo cho tôi bằng công điện những ǵ là sự thực trong bản tin của kư giả Mỹ và cho tôi biết một cách hoàn toàn chính xác về thái độ mà họ nói về ông (63)

 

63. Cet article du New York Times confirme les rumeurs que nous avait rapportés l’Ambassade de Grande Bretagne (mon télégr. no 740). Il suit aussi les lignes d’une note que vous avez rédigée à Paris le 21 juin dernier et qui ne peut en aucune facon être considérée comme le texte d’instructions que vous avez recues. Dans ces conditions, veuillez, dès réception, m’indiquer par télégramme ce qu’il peut y avoir de vrai dans l’article du journaliste américain et me donner toute précision sur l’attitude que l’on vous prête. Diplomatie, p.o., Lucet;” .CĐ 16957/63, Lucet gửi Lalouette; CLV, SV, d. 18:199.

 

    Hôm sau, BNG Pháp cho hăng tin AP cải chính rằng Lalouette không hề dính líu vào nội t́nh chính trị Việt Nam. Hơn nữa, lời tuyên bố ngày 29/8 của de Gaulle là lời phủ nhận rơ ràng nhất những chi tiết trong bài viết của Trumbull. Kế hoạch “con thoi” giữa Hà Nội và Sài G̣n của Lalouette bị chấm dứt ngày này.

 

    Riêng báo cáo của Lalouette về buổi gặp mặt Diệm ngày 2/9/1963, chẳng hiểu có gây phản ứng nào tại Quai d’Orsay? Trong buổi họp kéo dài 3 giờ do Diệm yêu cầu này, theo Lalouette, Diệm có vẻ b́nh tĩnh hơn thường lệ. Lalouette trao cho Diệm bản tuyên ngôn của de Gaulle. Diệm nói về liên hệ với Mỹ, và có lúc đổi sắc mặt nói: “Người ta nói về một cuộc đảo chính. Người ta nói với tôi rằng mạng sống tôi đang nguy hiểm. Thật không thể chấp nhận được rằng người ta có thể đối xử như thế với một chính phủ bạn.” [On parle d’un projet de coup de force. On me dit que ma vie serait en jeu. Il est inconcevable qu’on puisse recourir à de tels agissements contre le gouvernement d’un pays ami]. Tuy nhiên, Diệm thêm rằng hiện tại t́nh h́nh tạm lắng dịu.

 

    Tổng thống Mỹ, do sự khuyến khích của Đại sứ Lodge, đă khôn ngoan không bật đèn xanh. Đó là chiều hướng ôn ḥa của lời tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 2/9. (64)

 

64.  CLV, SV, d. 18. Theo Lalouette, khi giải thích về những biến động Phật Giáo, Diệm cho rằng t́nh h́nh nghiêm trọng v́ các sư trẻ thay thế những nhà sư lớn tuổi, khả kính cũ từ năm 1962. Theo Diệm, Nam Việt Nam có 3000 tăng, 600 ni, 1 triệu tín đồ thuộc Tổng Hội Phật Giáo và 3 triệu cảm t́nh viên. Nhu thế Phật tử chỉ chiếm tối đa 28% dân số. Mặc dù có người bị thương, nhưng không ai bị chết trong cuộc tấn công chùa chiền. Chính phủ phải đương đầu từ hạ tuần tháng 7/1963 một kế hoạch xách động chính trị có phối hợp nhịp nhàng sử dụng mọi phương tiện để chống lại chính phủ, và chính phủ phải phản ứng.

 

    Ngày 10/9/1963, đúng ngày Lalouette nhận lệnh triệu hồi, Lalouette gửi về Paris báo cáo chót về buổi gặp mặt với Lodge. Lodge nói với Lalouette là chính phủ Mỹ chưa có quyết định nào về khủng hoảng bang giao Việt-Mỹ. Lodge như người đi trong sương mù [Il se trouvait lui-même, m’a-t-il dit, en plein brouillard]. Buổi gặp mặt giữa Diệm và Lodge ngày 9/9/1963 “chưa chín mùi”  v́ ông ta không có ǵ để nói nữa [prématuré puisque de son cote, il n’avait rien plus dire].” Lodge sợ rằng Quốc Hội Mỹ sẽ đặt vấn đề viện trợ với chế độ Diệm. Lodge hy vọng rằng khó khăn sẽ vượt qua v́ Tổng thống Kennedy mới tuyên bố là “Liên bang Mỹ đă quyết định ở lại Việt Nam nếu nước này tiếp tục chống sự tấn công của Cộng Sản [les Etats Unis sont décidés à rester au Vietnam tant qu’il faudra lutter contre l’offensive communiste]. Với hiện trạng cần thận trọng khi phán định. (CLV, SV, d. 18:111)/span>

 

    2. Kế hoạch trung lập hóa Việt Nam:

 

    Ngày 29/8—giữa lúc Bạch Cung chấp thuận cho các Tướng làm đảo chính, với mục tiêu tối thiểu là loại bỏ Cố vấn Nhu—Bộ trưởng thông tin Pháp Peyrefitte đột ngột công bố quyết định của de Gaulle về Việt Nam trong một buổi họp Hội đồng chính phủ tại Paris: Đó là dân tộc Việt Nam xứng đáng được sống trong ḥa b́nh, độc lập, thoát khỏi sự can thiệp của ngoại bang. Do những liên hệ của Pháp với Việt Nam bấy lâu, chính phủ Pháp sẽ vận dụng hết khả năng để thực hiện mục tiêu này.(65)

 

65. Nguyên văn: Les graves événements qui se déroulent au Vietnam sont suivis à Paris avec attention et avec émotion. L’oeuvre que la France se naguère accomplie en Cochinchine, en Annam et au Tonkin, les attaches qu’elle a gardées dans l‘ensemble du pays, l’intérêt qu’elle porte à son développement, l’amènent à comprendre particulièrement bien et à partager sincèrement les épreuves du peuple vietnamien.

D’autre part, la connaissance que la France a de la valeur de ce peuple lui fait discerner quel rôle il serait capable de jouer dans la situation actuelle de l’Asie pour son propre progrès et au bénéfice de la compréhension internationale dès lors qu’il pourrait déployer son activité dans l’indépendance vis-à-vis de l’extérieur, la paix et l’unité intérieures, la souhaite au Vietnam entier.

Il apparait naturellement à son peuple, et à lui seul, de choisir les moyens d’y parvenir. Mais tout effort national qui serait accompli au Vietnam trouverait la France prête, dans la mesure de ses propres possibilités, à organiser avec ce pays une cordiale coopération.” CLV, SV, 18:156; Le Figaro [Paris), 30/8/1963.

 

    Ngày 30/8, báo chí Mỹ phản ứng giận dữNhiều báo cho rằng de Gaulle muốn can thiệp vào Việt Nam, loại bỏ ảnh hưởng Mỹ. Bộ Ngoại Giao Mỹ phải yêu cầu Đại sứ Pháp tại Oat-shinh-tân giải thích rơ lập trường của de Gaulle. Alphand được yêu cầu phải giải thích lời tuyên bố của de Gaulle chỉ là một viễn kiến cho tương lai.

 

    Nhưng báo chí Việt trong hai ngày 30 và 31/8  nồng nhiệt tán thưởng đề nghị của de Gaulle. Theo Quyền Ngoại trưởng Trương Công Cừu, bản tuyên bố này được cứu xét trong phiên họp Hội đồng chính phủ và đi đến quyết định cho in nguyên văn bản dịch tin này trên trang nhất bản tin Thông Tấn Xă Việt Nam. Bản tin VTX chỉ bỏ đi câu trả lời của Peyrefitte với phóng viên hăng Reuter rằng “Elle signifie que nous donnons un rendez-vous à l’avenir.” [Điều này có nghĩa chúng tôi có một cuộc hẹn gặp trong tương lai]. Các giới chức chính phủ, theo Cừu nói với Lalouette, hiểu tất cả ư nghĩa lời tuyên bố của de Gaulle, và giữa lúc cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở Việt Nam, lời tuyên bố của de Gaulle được một sự cộng hưởng đặc biệt [la portée de la déclaration qui, dans la crise que traverse présentement le Vietnam, avait une résonnance particulière.] VTX viết: “Trên b́nh diệﮠchính thức, không có ǵ chứng tỏ rằng lời tuyên bố trên làm phiền đến Tổng thống Kennedy” [que, sur le plan officiel, rien ne permet de justifier l’interprétation d’après laquelle cette déclaration pourrait être ‘une nouvelle facon d’ennuyer le Président Kennedy’]. Lalouette kết luận: “Quelque soit l’issue de la crise actuelle la sémence est jetée, elle germera.” [Dù cuộc khủng hoảng hiện tại này ra sao, việc gieo mầm đă bắt đầu, nó sẽ nẩy mầm(66)

 

66. CĐ số 733-735, Lalouette gửi BNG, ngày 31/8/1963; CLV, SV, 18:46-47.

 

    Tại Paris, ngày 2/9/1963, Đại sứ Phạm Khắc Hy xin tiếp kiến Ngoại trưởng Couve de Murville, yêu cầu Ngoại trưởng Pháp giải thích thêm về lời tuyên bố của de Gaulle trong buổi họp Hội đồng Tổng trưởng ngày 29/8/1963. De Murville khẳng định Pháp chỉ có quyền lợi kinh tế văn hóa ở Nam Việt Nam, và đứng ngoài vấn đề chính trị [Quant à la politique, [France] s’abstient d’en faire]. Khi thông báo tin này cho Đại sứ Lalouette, Murville chỉ thị: “Trong hoàn cảnh hiện tại, thái độ chờ đợi và không can thiệp phải được triệt để thi hành ở Sài G̣n cũng như Paris.“[Dans les circonstances présentes une attitude d’expective et de non ingérence s’impose pour nous à Saigon comme à Paris.”] (67)

 

67. CĐ 737/39, ngày 2/9/1963, Paris gửi Sàig̣n; CLV, SV, carton 18.

 

    Trong khi đó, tại Sài G̣n, trong buổi gặp mặt từ 16G00 tới 18G00 tại Dinh Gia Long, Nhu tuyên bố với Lodge: De Gaulle có quyền phát biểu ư kiến, nhưng những người không tham gia vào trận chiến không có quyền can thiệp. Sự trung thành của chúng tôi với Mỹ ngăn cấm chúng tôi nghiên cứu tuyên bố của de Gaulle hay Hồ. Người Mỹ là dân tộc duy nhất trên trái đất dám giúp Nam Việt Nam.(68)

 

68. CĐ 403, ngày 2/9/1963, Lodge gửi BNG; FRUS, 1961-1963, IV:85.

 

    Cùng ngày 2/9/1963, Giám đốc Nha Á châu-Đại dương Lucet cũng thông báo cho Lalouette biết rằng theo tin t́nh báo của Ṭa Đại sứ Bri-tên ở Sài G̣n, người ta tự hỏi phải chăng chính sách của Pháp là yểm trợ Ngô Đ́nh Nhu như người tốt nhất để theo đuổi chính sách thống nhất và độc lập với Mỹ. [on pouvait se demander si la tendance actuelle de la politique francaise n’était pas de soutenir M. Ngo Dinh Nhu comme étant l’homme le mieux placé pour engager son pays dans une politique d’unité et d’indépendance vis-à-vis de l’Amérique.] BNG Pháp trả lời với Đại sứ Bri-tên tại Paris rằng “Đây không hề là chính sách của chúng tôi”[“ceci n’était en aucune facon notre politique.”] Lucet chỉ thị cho Lalouette phải trả lời cho Đại sứ Bri-tên tại Sài G̣n, nếu được hỏi, rằng: “Chính sách của Pháp là không can thiệp vào nội t́nh Việt Nam.” (69)

 

69. CĐ 740.41, 2/9/1963, Lucet gửi Lalouette; CLV, SV, d. 18.

 

    Ngày 3/10/1963, Couve de Murville giải thích trước Ủy ban Ngoại giao QH Pháp về lời tuyên bố ngày 29/8/1963 của de Gaulle: Pháp sẽ ủng hộ giải pháp thống nhất, độc lập của Việt Nam. Đây là một chính sách dài hạn không phải là mục tiêu của một hành động tức khắc [une politique à long terme qui ne fait pas l’objet d’une action immédiate], Lời tuyên bố của de Gaulle không được đón nhận tốt đẹp ở Oat-shinh-tân cũng như Mat-scơ-va v́ cả hai chế độ tại miền Bắc và Nam đều phải thay đổi. Trung Cộng đă bành trướng ảnh hưởng tại Bắc Việt. Mục tiêu duy nhất của Pháp tại Việt Nam là “thống nhất trong độc lập” [la réunification dans l’indépendence]. (70)

 

70. Bản tin AFP ngày 4/10/1963; CLV, SV, carton 18.

 

    Ngày 5/9/1963, sau khi New York Times đăng bản tin về Lalouette yêu cầu Lodge ngừng công kích Diệm, chính phủ Pháp cho AP đăng bản tin cải chính:

 

    “Những tin tức trên tuyệt đối không phù hợp với chính sách của Pháp . . . Thật khó thể tưởng tượng được rằng một Đại sứ Pháp có thể hướng dẫn một cuộc vận động như trên. Người ta thêm rằng lời tuyên bố tại phiên họp Hội đồng chính phủ tuần qua của Tướng de Gaulle, mong muốn rằng  nền ḥa b́nh nội bộ của Việt Nam sẽ được thể hiện không do ảnh hưởng ngoại bang, tự nó đă phủ nhận những tin tức trên tờ New York Times. Vả lại, cần nhấn mạnh rằng lời tuyên bố của Tướng de Gaulle nhằm diễn tả một quan điểm cho tương lai và không nên coi như chống lại Liên bang Mỹ”)

 

71. Nguyên văn: “De telles informations n’ont absolutment aucun rapport avec la politique francaise. . . . il est impensable qu’un ambassadeur de France mène lui même une telle campagne. On y ajoute que la déclaration faite la semaine dernière par le Général de Gaulle au cours du Conseil des Ministres souhaitant qua la paix intérieure au Vietnam soit réalisée sans influences étrangères, constitue en elle-même une réfutation des informations du New York Times. Cette déclaration du Général de Gaulle, souligne-t-on par ailleurs, était l’expression d’une vue à long terme de la situation et ne doit pas être considérée comme un affront à l’égard des Etats-Unis.”SLV, SV, d. 91:59.

 

    Ngày 6/9/1963, khi tiếp kiến phái đoàn Nhật Ohira và Haguiwara, Ngoại trưởng Couve de Murville tái khẳng định rằng lời tuyên bố của de Gaulle là nhắm vào tương lai, không phải là giải pháp tức khắc. De Gaulle theo đuổi lập trường các ngoại cường không nên can thiệp vào nội t́nh các nước khác [non-ingérence]. Chính sách của Pháp là không can thiệp vào nội t́nh Việt Nam [ne pas intervenir dans les affaires intérieures du Vietnam]. Chỉ muốn kinh tế và văn hóa. Bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng Trung Cộng nhiều hơn Nga [Il apparait bien que ces pays subissent plus l’influence de la Chine que celle de la Russie]. Về miền Nam, theo Couve de Murville, hiện trạng sẽ kéo dài một thời gian. Có thể một Tướng lănh sẽ được đưa lên cầm quyền. Nhưng đây không phải là một chính phủ được dân ủng hộ. Sai lầm của chế độ hiện nay là không được dân chúng giúp đỡ và ủng hộ. Một tay độc tài khác lên thay sẽ chẳng thay đổi được ǵ cả. Couve de Murville phủ nhận là không có một ứng cử viên người Việt tị nạn nào ở Pháp để thay thế Diệm. [nous n’avons pas de candidats]. Tránh không trả lời về vị thế của Pháp nếu có cuộc thảo luận về Phật giáo tại Hội đồng LHQ. ( CLV, SV, d. 18:164-166)

 

    Nhưng ngày 18/9/1963, báo Washington Post vẫn đăng đăng bài “Very Ugly Stuff” [Những thứ rất xấu xí] của Joseph Alsop. Bài này dựa theo những tin đồn và những cuộc phỏng vấn, kể cả Nhu. Nói về những nỗ lực t́m cách giải ḥa Nam-Bắc với sự tiếp tay của Pháp. Alsop nghĩ rằng hai anh em họ Ngô có lẽ không c̣n tỉnh táo nữa [he feels that “both Ngos brothers may no longer be rational.”] (FRUS, 1961-1963, IV:298)

 

    Như để trả lời, ngày 28/9, de Gaulle lập lại ước muốn thống nhất và ḥa b́nh cho các quốc gia nghèo, bị chia cắt do sự can thiệp từ bên ngoài với sự trung gian tự nguyện của nước Pháp. (CLV, SV, 18:161)

 

    Hai ngày sau, Đại biện Pháp ở Sài G̣n, Perruche, giải thích với Sullivan rằng cả Nhu lẫn Lalouette đều kết luận rằng sự tiến triển của trận chiến, trước khi xảy ra những vụ rắc rối mới đây, khiến cuộc giao dịch Bắc-Nam có thể hoàn tất vào cuối năm [1963]. Việc Nhu tiết lộ với kư giả Alsop khiến người Pháp bẽ mặt và bây giờ họ tuyên bố không tín nhiệm được mục tiêu tối hậu của Nhu.(72)

 

72. The French Chargé admitted that . . .both Nhu and Lalouette had concluded that the progress of the war, prior to recent events, was such that a deal could probably safely be negotiated by the end of this year. Nhu’s subsequent disclosure of these talks to Alsop has embarrassed the French and they now say they distrust Nhu’s ultimate intentions.( FRUS, 1961-1963, IV:326)

 

III. “SỰ ĐIÊN RỒ TẬP THỂ CỦA MỘT GIA Đ̀NH CAI TRỊ”

 

    Ngày 11/9/1963, trong buổi họp Ban Tham Mưu Bạch Cung, sau khi bàn về công điện số 478 của Lodge về hiện t́nh Nam Việt Nam và bài “On Suppressing the News Instead of the Nhus” [Về việc cắt bỏ tin tức thay v́ vợ chồng Nhu] trên New York Thời Báo của James Reston, Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ, McGeorge Bundy, được Michael Forrestal cho biết Ngô Đ́nh Thục đă rời Roma qua New York để  dàn xếp cho Lệ Xuân sang Mỹ “giải độc.” Trong một cơn nóng giận, Bundy buột miệng:

 

    Đây là lần đầu tiên thế giới phải đối diện với “sự điên rồ tập thể của một gia đ́nh cai trị” chưa hề thấy sau thời các Nga hoàng.(73)

 

73. Nguyên văn:This was the first time the world had been faced with collective madness in a ruling family since the day of the tsars;” FRUS, 1961-1963, IV:175. Thục, do áp lực của Khâm sứ d’Asta và Cabot-Lodge, đă phải rời Sài G̣n qua Roma cùng Giám mục Picquet bốn ngày trước (7/9). Có lẽ chẳng vui vẻ ǵ, Thục tuyên bố ở Roma rằng CIA Mỹ đang bỏ ra 20 triệu Mỹ Kim để âm mưu đảo chính vào ngày 21/9 sắp tới. Thục c̣n khẳng định các sư không tự thiêu mà bị giết bằng búa. Chẳng hiểu v́ những lời tuyên bố này, hay lư do nào đó, Giáo Hoàng Paul VI hủy bỏ buổi triều kiến dự trù, mà cũng chẳng đề cập ǵ đến việc thăng cấp Hồng Y. V́ măi cuối tháng đó Công đồng Vatican II mới tái nhóm, nên ngày 11/9, Thục qua New York để vận động cho Lệ Xuân vào Mỹ đ̣i hỏi “công lư,” như ông Diệm nói với Lodge.

 

    Thực ra, McGeorge Bundy chưa nghiên cứu kỹ tiểu sử Diệm và họ Ngô, nên cho rằng gia đ́nh Diệm đang điên rồ tập thể. Lời phê b́nh, một tuần sau của Alsop, rằng anh em họ Ngô không c̣n biết lư lẽ cũng quá phiến diện.

 

    Lư lẽ của họ Ngô, nếu có sự hiểu biết về gia đ́nh này, rất dễ hiểu ở Việt Nam. Đó là không ăn được th́ đạp đổ. Năm 1907, Ngô Đ́nh Khả và Nguyễn Hữu Bài, với sự tiếp tay của Hội truyền giáo, đă cáo buộc Toàn quyền Paul Beau là tru diệt Ki-tô giáo khi truất phế vua Thành Thái. Những tháng cuối năm 1933, sau khi “từ chức” Thượng thư Bộ Lại, Diệm và họ Ngô từng mở chiến dịch bôi nhọ Pierre Pasquier và kế hoạch đại cải cách của Sarraut-Pasquier khiến Pasquier phải truất cả chức tước, phẩm hàm của Diệm và cha đỡ đầu là Nguyễn Hữu Bài, đầy ra Quảng B́nh. (74)

 

74. Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập [Houston: Văn Hóa, 1999-2000], II:582-585; FRUS, 1961-1963, III:808)

 

   Anh em họ Ngô, sau buổi họp gia đ́nh vào cuối tháng 6/1963, có lẽ đă quyết định theo đuổi chính sách “ăn không được th́ đạp đổ” này. Không những thẳng tay đàn áp Phật Giáo, họ Ngô c̣n dùng báo chí trong nước, kể cả nhật báo Times of Vietnam bằng Anh ngữ ở Sài G̣n, và vài kư giả ngoại quốc chịu ảnh hưởng hay có cảm t́nh với họ Ngô. Margueritte Higgins chỉ là một trong số này. Không kém hiệu lực là Tổng Giám mục Thục và Lệ Xuân. Thục có tước vị Tổng Giám Mục Ki-tô. Lệ Xuân th́ có nhan sắc, và miệng lưỡi của những người sinh hoạt thường xuyên tại chợ Đồng Xuân hay Cầu Ông Lănh, Khánh Hội. Nghệ thuật “tinh tinh” của Lệ Xuân đă được tinh luyện qua những lần gọi điện thoại chửi bới Trần Văn Đỗ khi Đỗ nghiêng về phía B́nh Xuyên, hay những Dân biểu VNCH dám chống lại dự thảo Luật Gia Đ́nh. Mùa Thu 1963, sau khi bị đuổi khỏi nước, Lệ Xuân chỉ trích cả Kennedy hay các viên chức MỹﮠNhu cũng cùng đi một chuyến đ̣. Nhưng v́ c̣n e sợ người Mỹ, Nhu chỉ cho tung tin có âm mưu ám sát Lodge mà không dám dùng những lời đe dọa công khai (như “treo cổ” cha vợ (Trần Văn Chương) tại bùng binh Sài G̣n, để Lệ Xuân hớn hở “xiết chặt giây tḥng lọng.” Người thay Nhu làm việc này với cả hai vợ chồng Chương năm 1986 là Trần Văn Khiêm, em trai Lệ Xuân) Diệm cũng vậy. Ẩn dấu phía sau bề ngoài “đạo đức Khổng học” là một tâm hồn bệnh hoạn (psychopath), vui buồn bất chợt (maniac). Người Việt chưa quên những ngón nghề tra tấn như dùng nến đốt hậu môn nghi can Cộng Sản của tri huyện, tri phủ Diệm ngày nào—những tṛ tra tấn giúp Tể tướng Bài cho Diệm thăng quan, tiến chức không ngừng từ 1921 tới 1933; nhưng cũng đồng thời, nếu tin được lời Thục viết cho Toàn quyền Decoux ngày 21/8/1944, khiến Cộng Sản phải thuê một sát thủ người Hoa ra tận Phan Rang trừ khử đi, nhưng Diệm chỉ may mắn bị thương.(75)

 

75. Xem thư ngày 21/8/1944, Thục gửi Decoux; CAOM (Aix), PA 14, carton 2.

 

    Trong những năm cầm quyền ở miền Nam, nhiều đêm Diệm bất thần gọi các Bộ trưởng, Tướng lănh vào Dinh Độc Lập hay Gia Long, bắt thức thâu đêm suốt sáng.(76)

 

76. Phỏng vấn cố kư giả Như Phong Lê Văn Tiến (Houston, 1998-1999).

 

IV. KẾT TỪ:

 

    Hành động “ve văn” [flirtation] Cộng  Sản của anh em Diệm-Nhu—và như thế phản bội lại đa số dân chúng miền Nam—chỉ được đồn đăi từ năm 1962 ở Sài G̣n, và được bạch hóa sau ngày các Tướng làm đảo chính giết chết họ Ngô năm 1963. Yếu tố “phiến Cọng” này mới thực sự mang lại sự sụp đổ của Đệ Nhất Cộng Ḥa (1956-1963), mà không phải cuộc tranh đấu của Phật Giáo, hay cái gọi là “bảo vệ chủ quyền quốc gia,” “quốc thể,” “nền độc lập” như nhiều người tưởng nghĩ.

 

    Trong công điện gửi về Oat-shinh-tân ngày 31/8/1963 để báo tin hoăn lại cuộc đảo chính dự trù vào ngày 1/9/1963, Đại sứ Lodge ghi thêm chi tiết  Cố vấn Nhu đang bí mật tiếp xúc với Cộng Sản Bắc Việt qua trung gian hai đại sứ Pháp và Poland [Ba Lan], v́ hai chính phủ này muốn một giải pháp Việt Nam trung lập. Ngay trong ngày 31/8, Hội Đồng ANQG Mỹ đă thảo luận về việc này. Hilsman tuyên bố đă có trong tay một công điện chứng tỏ Nhu liên lạc với Việt Cộng qua trung gian Pháp, và đang vận động trục xuất các cố vấn cấp tỉnh. Cựu Đại sứ Nolting, có mặt trong buổi họp, bào chữa cho Nhu là Nhu sẽ không chịu chấp nhận mọi điều kiện của Hồ Chí Minh. (US-Vietnam Relations, Bk 12:542) Tuy nhiên, hột xúc xắc đă được gieo xuống.

 

    Cơ sở thành lập chế độ miền Nam sau Hiệp định Geneva (20-21/7/1954) là lập trường chống Cộng. Sở dĩ người Mỹ đổ bao tiền của, vũ khí và nhân vật lực vào miền Nam từ năm 1954 cũng chỉ nhằm mục tiêu chiến lược duy tŕ miền Nam như “một tiền đồn chống Cộng của thế giới tự do.” Bởi thế, họ Ngô được toàn quyền Tố Cọng, Diệt Cọng, bắt giữ hàng ngàn người t́nh nghi. Chỉ cần liên hệ hay phổ biến tài liệu Cộng Sản đă là một h́nh tội, được qui định rơ ràng trong luật pháp cũng như sinh hoạt hàng ngày ở miền Nam. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm ngày đêm ra rả lập trường chống Cộng. Viên chức chế độ mang c̣ng sắt, súng đạn và máy chém đến khắp hang cùng ngơ hẻm, làng xóm, thôn bản phía Nam vĩ tuyến 17 để tiêu diệt “phiến Cọng”—tội danh chính thức của các cán bộ Cộng Sản hoặc những người t́nh nghi dưới chế độ Diệm. Các trại “cải huấn” chật ních những cán bộ Cộng Sản, kể cả những cán bộ cao cấp của tổ chức trí vận Sài G̣n-Gia Định như Dược sĩ Phạm Thị Yên, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Bùi Thị Nga (vợ Huỳnh Tấn Phát, Tổng thư kư MT/GPMN), v.. v...

 

    Nhưng ai ngờ  chính anh em Diệm-Nhu, người đang được Mỹ ủng hộ và trao phó trách nhiệm chống và Diệt Cọng, từ đầu năm 1963 đă trở thành, âm mưu trở thành, hoặc bị Mỹ t́nh nghi là, phiến Cọng nằm vùng hàng đầu trong Dinh Gia Long—và như thế đáng bị tử h́nh theo Sắc Luật 10/59 do chính Diệm ban hành.(77)

 

77. Ngày 21/8/1956, Diệm ra Sắc Luật 47, lên án tử h́nh những hành vi phá rối trị an có liên hệ với Cộng Sản. Ngày 6/5/1959, Diệm ban hành Luật 10/59 nhằm diệt Cộng và thiết lập ṭa án quân sự lưu động để xét xử cán bộ Việt Cộng. Toà Mặt Trận này có quyền chung thẩm; dùng Dụ số 47 năm 1956 để trừng trị Việt Cộng. Một trong những “phiến Cọng” nằm vùng nổi danh là “Cố vấn chính trị” Vũ Ngọc Nhạ, trưởng cụm t́nh báo A-22. Theo một tài liệu Cộng Sản, cán bộ nằm vùng khác là “Bảy Hồng,” một linh mục mỗi tuần thường làm lễ trong Dinh Độc Lập, và thân cận với họ Ngô.

 

   Thực khó kết luận thực chăng Nhu muốn bắt tay với Hà Nội, hay chỉ muốn đánh một canh bạc với Mỹ. Ngày 30/9/1963, Phụ tá đặc biệt Thứ trưởng đặc trách Chính trị vụ BNG là Sullivan báo cáo rằng XLTV Đại sứ Pháp, Canada và India đều tỏ ư nghi ngờ về thực chất của những tin đồn quanh mối giao dịch Hồ-Diệm. Tuy nhiên, tất cả nhấn mạnh rằng mối giao dịch đó có thể xảy ra trong tương lai. XLTV Đại sứ Pháp [Perruche] cho rằng có thể xảy ra trong ṿng ba, bốn tháng. [All of them were inclined to doubt that there was much substance in current rumors about a Nhu-Ho deal. However, all of them insisted that we should not discount the possibility of such a deal in the future. The French Chargé said “three or four months.](FRUS, 1961-1963, IV:325-326) Tất cả cảm thấy rằng miền Bắc đang bị suy thoái về kinh tế và biết rằng Việt Cộng đang thua trận tại miền Nam. V́ thế miền Bắc sẽ thương thuyết một hiệp ước ngưng bắn để đổi lấy hai điều kiện: hiệp thương Nam-Bắc và việc triệt thoái quân Mỹ. [Their reasoning was similar. All of them felt that the North was hurting very badly economically and was aware that the Viet Cong was losing the battle in the South. They therefore conclude that, in return for two stipulations, the North would be willing to negotiate a cease-fire agreement with the South. These two stipulations are: North-South trade and the departure of US forces].(Ibid.) Một yếu tố nữa là áp lực của Trung Cộng. Nếu Mỹ rút khỏi miền Nam, Trung Cộng sẽ giảm bớt áp lực và cho Hà Nội được nhiều quyền tự trị hơn [An additional factor was the Chinese pressure. If US forces could be removed from Vietnam, the Chinese might ease somewhat their pressure on Hanoi and grant them a greater measure of autonomy]. Phần Nhu có thể muốn hoàn tất cuộc đổi chác này v́ hai lư do: Trước hết, sự tự tin thái quá về khả năng “đả bại Cộng Sản ngay trong chiếu bạc của họ;” và, thứ hai, “ư muốn loại bỏ người Mỹ” [Brother Nhu might be willing to make such a deal for two reasons: First, his supreme confidence in being able to “beat the Communists at their own game;” and second, his desire to get rid of the Americans]. (Ibid.)

 

    Robert McNamara và Tướng Maxwell D. Taylor, Tổng Tham Mưu trưởng Liên Quân Mỹ—những người không muốn thay ngựa—cũng chẳng dấu nổi khó chịu về sự “trở cờ” của Nhu. Trong báo cáo ngày 2/10/1963 đệ tŕnh lên Kennedy sau khi tham quan Việt Nam, McNamara và Taylor nhận xét:

 

    Một khía cạnh gây khó chịu khác nữa là việc Nhu đang ve văn ư đồ thương thuyết với Bắc Việt, dù ông ta có thực tâm hay chăng. Điều này gây bối rối cho những người Việt có trách nhiệm và, trên căn bản, tạo sự lo ngại rằng có thể không có sự đồng nhất với các mục đích của Liên Bang Mỹ. (78)

 

78. US-Vietnam Relations, Bk 12:594. Hơn ba thập niên sau, năm 1995, McNamara viết trong hồi kư In Retrospect (1995:51) như sau: “Đầu mùa Hè [1963], chúng tôi đư ợc tin Diệm, qua em trai Nhu, đă bí mật móc nối với Hà Nội. De Gaulle, rất muốn tái lập ảnh hưởng Pháp ở Đông Dương, cũng được thông báo từ Bắc và Nam Việt Nam nguồn tin này, thấy đây là một cơ hội. Ông ta lập tức kêu gọi thống nhất và trung lập hóa Việt Nam. Chúng tôi không rơ đây là sự thực hay chỉ lời đồn, và chúng tôi tự hỏi phải chăng Diệm đang định bắt chẹt [blackmail] chúng tôi để làm giảm áp lực việc ông ta đàn áp thô bạo những phần tử chống đối.”. Nguồn tin McNamara nhắc đến trong hồi kư là công điện ngày 2/9/1963 của Sở CIA Sài G̣n về buổi nói chuyện với một mật báo viên vẫn c̣n dấu tên vào tối ngày 30/8/1963; FRUS, 1961-1963, IV:89-90.

 

    Trong công điện gửi lên TT Lyndon B. Johnson ngày 1/1/1964, Lodge cho rằng Kennedy chưa được ca ngợi đúng mức về việc ngăn chặn khuynh hướng tàn hại ở Việt Nam: Nếu trong mùa Hè và Thu 1963, Kennedy không kịp thời ngăn chặn, t́nh thế ở miền Nam đă dẫn đến đại họa. (FRUS, 1964-1968, I:1-2)

 

    Lời chứng của Lodge trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện ngày 30/6/1964, c̣n đi thẳng vào vấn đề hơn:

 

     “Mùa Thu [1963] vừa rồi, nếu chính phủ Diệm không bị dứt điểm và tồn tại thêm khoảng một tháng nữa, tôi nghĩ chúng ta đă thấy Cộng Sản cướp chính quyền. Tôi nghĩ yếu tố này rất quan trọng.” (79)

 

79. Nguyên văn: "Last fall, if the Diem government hadn't come to an end and had gone on for another month, I think we might have had a Communist takeover. I think that it had become that important." Dẫn trong Gibbons 1993, II:204.

 

    Lodge, tưởng cần nhấn mạnh, được Kennedy giao cho đặc quyền hành xử ở Sài G̣n. Bởi thế, dù Lodge có bất măn về những tṛ khiêu khích của vợ chồng Nhu hay chăng, việc ve văn Cộng Sản của Nhu—giống như hành động của Raymond Khánh vào cuối năm 1964, đầu năm 1965—là chiếc đinh cuối cùng đóng lên nắp quan tài chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa.

 

   Những lời cáo buộc các Tướng lănh cầm đầu cuộc đảo chính 1/11/1963 là “sát nhân” mà Lệ Xuân rên rỉ, hay âm thầm nguyền rủa trong vùng bóng tối lạnh lẽo của kiếp sống lưu vong tại Paris, chỉ là dư hưởng của “cơn điên cuồng tập thể của một gia đ́nh cai trị” đă bị ném xuống mặt đất sau cuộc tế lễ “chống Cộng.” Hai viên đạn bắn vào gáy Diệm-Nhu, cuộc hành h́nh Cẩn vào tháng 5/1964, hay cảnh chết già trong điên loạn, bị rút phép thông công của Tổng Giám mục Thục hai mươi năm sau ở Missouri—dù có khiến trạnh ḷng trắc ẩn của người Việt, một dân tộc đầy ḷng độ lượng và khoan hồng—nhưng chính thực là những bản án xứng đáng cho tội bội phản và âm mưu bội phản của họ Ngô.

 

Houston, 12/8/2003

CHÍNH ĐẠO



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend