TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TRONG V̉NG TAY CÁC GIÁO SĨ (Chương I) Và HẠT TIÊU VÀ CÁC LINH HỒN (Chương II)


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED  

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

  

TRONG V̉NG TAY CÁC GIÁO SĨ

(CHƯƠNG I)

 

Như ta đă biết, ngay từ thuở ấu thơ, Trương Vĩnh Kư đă được uốn nắn trong ṿng tay của một linh mục bản xứ : cụ Tám. Hơn mười năm về trước, khi triều đ́nh Huế cấm đạo gắt gao, cụ Tám từng được thân phụ Trương Vĩnh Kư - ông Trương Chánh Thi [1] - lúc ấy là một vơ quan (lănh binh) của triều đ́nh che chở cho thoát nạn. Hiển nhiên, giữa vị thầy Ḍng bản xứ và gia đ́nh họ Trương có mối liên hệ mật thiết, sâu xa.

 

Năm lên 8 tuổi (1845), Trương Vĩnh Kư có học chữ quốc ngữ với cụ Tám; và cũng chính cụ Tám đă truyền thụ cái tinh thần Đông phương (!) [2] của ông cho cậu bé tâm hồn c̣n trong trắng. Qua năm 9 tuổi, v́ t́nh thế đ̣i hỏi ở cụ Tám nhiều khả năng chính trị hơn là truyền giáo thuần tuư, Trương Vĩnh Kư đă không được theo chân học hành. Nhưng chắc chắn là phải có sự giới thiệu, gởi gắm nồng nhiệt của cụ Tám, nên khi người Thầy Giảng hành đạo ít nhưng làm chính trị nhiều này chết đi tại PhnomPenh [3], Trương Vĩnh Kư liền được giao qua tay một linh mục người Pháp, tục gọi cố Long, nuôi dạy. Trương Vĩnh Kư bắt đầu học chữ la - tinh lúc này.

 

Cố Long t́m thấy ở Trương Vĩnh Kư một đồng đạo tương lai, bèn gởi cậu bé vào học một trường đạo ở Cái Nhum (1846). Trường đạo lúc bấy giờ là những nhà lá sơ sài, cất lên một cách tạm bợ v́ sự rượt đuổi của quan, quân triều đ́nh. Sự học cũng rất khó khăn, khi phải trốn nhủi ngoài đồng ruộng, khi chạy vào rừng, do đó bệnh thổ tả và đậu mùa hoành hành bổn đạo.

 

Là một đệ tử thuần thành với nhiều sáng ư báo hiệu một tài năng mai sau, Trương Vĩnh Kư rất được cố Long thương yêu chăm sóc. Cố nghĩ đến sự phải kéo người "giáo hữu tương lai" ra khỏi cảnh bị rượt bắt và bệnh hoạn kia. Thế là Trương Vĩnh Kư được gởi qua Pinha-lu.

 

Pinha-lu là ṭa giám mục của Đức Cha Miche [4] tại Cao miên, cũng là Trung ương điều khiển các công tác của giáo đoàn Thiên Chúa giáo. Nơi đây, dưới sự chỉ dạy của cố Hoà (Belleveaux), nhiều chủng sinh từ nhiều quốc tịch khác nhau thuộc bán đảo Đông Dương đến ṭng học. Trương Vĩnh Kư thụ giáo tại đây cho đến hết năm 11 tuổi ; ngoài sở đắc về giáo lư, ông c̣n biết thêm các dụng ngữ Khmers, Miến Điện, Xiêm, Lào và Trung Hoa nhờ chung đụng thường ngày với chúng bạn.

 

Những người điều khiển ở Pinha-lu xét thấy đúng lúc cần đẩy Trương Vĩnh Kư lên một tŕnh độ cao hơn nữa cho những ư đồ về sau, nên trong ba học bổng cấp du học trường Dulama ở Pinang, họ đă quyết định dành một cho Trương Vĩnh Kư. Thế là, do sự dẫn dắt của cố Long, Trương Vĩnh Kư được gởi sang Pinang. [5]

 

Poulo-Pinang là nơi đặt Chủng viện chung của Hội Truyền giáo nước ngoài tại Viễn Đông (Séminaire général de la Société des Missions Étrangères en Extrême-Orient). Trương Vĩnh Kư đă theo học từ 1852 cho đến 1856 th́ được phong Linh mục (Sacerdote) ; và sau sáu năm học (1852-1858), ông trúng giải nghị luận triết học "Con của Người phải chăng là Chúa?" [6] kèm theo món tiền thưởng một trăm đồng bạc [7]. Môn la-tinh đối với ông trở thành ngôn ngữ chính bên các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật và Ấn độ.

 

Ông ra trường năm 21 tuổi và trở về Nam Kỳ vào mùa thu năm 1858 để chịu tang mẹ tại Cái Mơn. Nhưng quê nhà không có duyên giữ chân ông ở lại lâu [8], v́ sau đó ông đă bỏ sang cư ngụ bên xứ đạo Cái Nhum, giúp việc cho cố Hoà. Giữa khi đó, những cuộc truy lùng cấm đạo của triều đ́nh Huế vẫn diễn ra không ngớt. Tin báo  về cho các quan biết có nhiều giáo sĩ người Âu tụ họp tại Cái Nhum ; lập tức, hàng ngàn nha dịch được phái tới để bao vây và thắt chặt xứ đạo lại. Giữa t́nh thế khẩn trương, Trương Vĩnh Kư được lệnh giám mục trở lên Saigon. Phải mất tới năm tháng từ Cái Nhum, ông mới lên được Chợ Lớn.

H́nh như sau cái tang mẹ, biến cố ở Cái Nhum đă tác độﮧ mạnh đến tâm năo người trai 21 tuổi. Một tài liệu của gia đ́nh họ Trương cho thấy tâm trạng "xuống tinh thần" ấy của Trương Vĩnh Kư : "Giữa lúc ấy ông có xin được đi La Mă, nhưng giám mục [9] can ngăn và khuyên nên nhận làm thông ngôn cho nhà cầm quyền Pháp..." [10].

 

Một thanh niên từ tấm bé cho đến tuỏi trưởng thành, được nuôi dạy từ tay linh mục này qua tay cố khác, thấm nhuần giáo lư của Chúa, nay xin đi La Mă lại bị cản ngăn và phải làm một công việc chẳng ăn nhập ǵ tới sở học của ḿnh, đó phải chăng là một sự kiện nghịch thường ? Điều này sẽ khiến chúng ta không ngạc nhiên mấy khi hiểu rằng "chính sách của thừa sai là chính sách vẫn được áp dụng từ trước tới nay." [11]

 

Với chức vụ thông ngôn mà giám mục đề nghị, cuộc đời Trương Vĩnh Kư rẽ sang một lối ngoặt : con đường chính trị. Chúng ta sẽ thấy, bắt đầu từ đây, Trương Vĩnh Kư mỗi ngày càng bước sâu theo gót giày xâm lược Pháp qua những giai đoạn điêu đứng nhất của non sông Việt Nam.

 

Việc một nhà tu hành khước từ lời cầu xin của môn đệ đi chiêm bái "kinh đô nước Chúa" để buộc phải nhận hợp tác với đạo quân xâm lược chẳng phải là việc ngẫu nhiên mà có. Cũng như những lư lẽ (bảo vệ tín ngưỡng) nêu ra của quân cướp nước không phải là không có dự tính chu đáo.

 

Người ta sẽ không lấy làm lạ đối với hai sự kiện trên khi nhớ rằng chính sách "hạt tiêu và các linh hồn" là một sách lược tốt vốn được thực dân Tây Âu áp dụng từ nhiều thế kỷ nay đối với các nước Á châu kém mở mang...

 

Chú thích:

 

1. Nên Trương Vĩnh Kư c̣n có tên là Trương Chánh Kư.

 

2. Chữ dùng của Bouchot, sđd, trang 2.

 

3. Nhân một sứ mạng bên cạnh vua Cao miên.

 

4. Jean Claude Miche là một trong năm giáo sĩ (Siméon Berneux, Jean Galy, Pierre Charrier, Pierre Duclos, Dominique Lefebvre và Miche) bị triều đ́nh Huế kết án tử h́nh. Bị giam hai năm ở Huế, sau được tha tại Đà Nẵng, giao cho tàu Pháp.

 

5. Nằm trong quần đảo Malacca, Mă lai.

 

6. Xem Le Collège général de Penang et le VietNam par Hung Binh trong Missionnaires d'Asie số 109 Mai - Juin 1960, trang 84-88.

 

7. Đó là một số tiền đáng kể. Nên biết, sau 1862, nghĩa là Pháp đă chiếm và thiết lập bộ máy cai trị 3 tỉnh miền đông Nam kỳ, họ trả lương tháng một Đốc học 40$, Tri huyện (tân trào) 30$, Lại dịch 10$, giáo dân làm suất đội 10$ v.v... (Theo Tờ Khai bẩm của các Ty : Trần Ngọc Thanh và Nguyễn Đức Tánh năm Tự Đức thứ XVI, tập san SỬ ĐỊA số 3, tr. 113)

 

8. Có thể do t́nh h́nh bất an tại Cái Mơn, v́ chính tại nơi đây, ngày 3.7.1853 một linh mục bản xứ từng du học Pinang tên Philippe Minh đă bị hành h́nh (xem G. Taboulet, La Geste francaise en Indochine, tome I, tr. 132 và 401, và P. Destombes, Le Collège général de la Société des Missions. Étrangères de Paris 1665-1932. tr.132)

 

9. Dominique Lefebvre, giám mục giáo khu Saigon; thủ phạm chính của những cuộc lùng bắt khởi từ cuộc xâm lăng Việt Nam của liên quân Pháp - Y năm 1859. Nhập cảnh Nam kỳ ngày 15-3-1835, cộng tác viên của giám mục Cunéot ở G̣ Thị cạnh Qui Nhơn ngày 01-8-1841 ; năm 1844 bị bắt ở Cái Nhum và bị đưa về giam tại Huế ; được đô đốc Cécile can thiệp giải thoát  năm 1845 ; ngày 8-6-1846, lại bị bắt tại Nam kỳ và giải về Huế kết án tử h́nh, nhưng cuối cùng được tha, đến Tân Gia Ba ; năm 1847, lại trở lại Nam kỳ, lánh mặt đó đây cho đến khi có cuộc chinh phục năm 1859, ông đặt chân lên biên đạo Xóm Chiếu rồi Saigon vào năm 1860. Ông có dựng ở Cái Mơn, sinh quán Trương Vĩnh Kư , một tu viện, và một nhà thương ở Chợ Quán. Trương Vĩnh Kư khi rời Cái Nhum trốn lên Saigon, cư ngụ tại nhà ông.

Xem : - A. Launay, Mémo rial de la Société des Misions Étrangères vol. 2, tr. 378-379 ; Bouchot, sđd, tr. 12-13 chú thích (2).

 

10. Bouchot , sđd, tr.12-13, chú thích (2).

 

11. "... chính đường lối đó chỉ đạo một cách trực tiếp hay gián tiếp việc ông Harmand hay Patenôtre kư các hoà ước và những dự định của Paul Bert" sau này. (Lanessan, l' Indochine francaise. tr. 715-716 (trích dẫn theo Nguyễn Văn Trung, sđd , tr.113).

 

 

HẠT TIÊU VÀ CÁC LINH HỒN

(CHƯƠNG II)

 

Danh từ này người ta t́m thấy trong cuốn "Khi Âu châu t́m đến Á châu" (Quand l' Europe cherchait l'Asie) của sử gia Đức Plattner.

 

Từ thế kỷ 16,17 trở đi, trong xă hội phong kiến Tây phương, thế quyền của giới thương nhân (bourgeois) và giáo quyền của giới tu sĩ trở thành hai thế lực chính chi phối toàn bộ cuộc diện Âu châu. Dần dần lục địa này hoá ra chật hẹp trước tầm hoạt động, bành trướng của hai thế lực đang thời sung măn kia nên đă đưa tới những cuộc phiêu lưu của các tay mạo hiểm như Tavernier, Cook, Magellan v.v... [1]

 

Theo chân những nhà thám hiểm, các giáo đoàn Ḍng Tên (Jésuites) Đa Minh (Domimicains), Phan-xi-cô (Franciscains)... thuộc các quốc tịch Pháp, Y-pha-nho, Bồ đào nha.. cũng đi t́m đất mới để "mở rộng nước Chúa" và "gieo rắc nền văn minh Thiên Chúa giáo" ; nhưng đồng thời các giao sĩ cũng không quên cái mục đích "hạt tiêu" mà chính phủ của họ giao phó.

 

Năm 1587, chiếc tàu Y-pha-Nho San Felipe cập bến Nhật Bản, có người hỏi viên thuyền trưởng tàu ấy rằng : "Làm thế nào mà Y-pha-Nho có thể có nhiều đất đai đến thế ?" th́ được anh ta trả lời : "Các nhà truyền giáo đă đi mở đường và quân đội sẽ tới sau" [2].

 

Cuối thế kỷ XVII, mặc dù không được giáo hội Công giáo ở La Mă đồng ư thông qua, vua Pháp Louis XIV vẫn lấn lướt, bất chấp giáo quyền của Hội Thánh, tổ chức chương tŕnh Ki-tô giáo hoá (Christianiser) vùng Viễn Đông [3].

 

Ngày 22-5-1804, trong phiên họp của Tham chính viện nước Pháp, Nă-phá-Luân đệ I đă vạch rơ vai tṛ của giáo sĩ trong công cuộc khai thác thuộc địa như sau :

 

"Ư định của Trẫm là thích lập lại nhà truyền giáo hải ngoại ; các tu sĩ này rất hữu ích cho Trẫm ở Á châu, Phi châu và Mỹ châu; Trẫm sẽ phải họ đi dọ thám t́nh h́nh ở đó. Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy được mục đích chính trị và thương mại. Đức Giáo hoàng sẽ không ở La Mă nữa mà ở Ba Lê. Giới  tăng lữ hài ḷng và chấp thuận việc thay đổi này; Trẫm sẽ cấp cho họ số niên kim đầu tiên là 15.000 quan. Ta đều biết, các nhà truyền giáo hải ngoại hữu ích biết bao. Như những người do thám của ngoại giao ở Trung Hoa, Nhật và toàn Á châu, ngay cả ở Phi Châu và Syrie ; chẳng mang một danh nghĩa chính thức nào mà lại tốn kém ít và được người bản xứ kính nể, họ không thể làm chính quyền phải liên luỵ  hay bị sỉ nhục. Ḷng nhiệt thành về tôn giáo khích lệ các tu sĩ làm việc và mạo hiểm hơn cả một viên chức dân sự nhiều". [4]

 

Đó là tất cả lư do khiến các giáo đoàn truyền giáo đă đặt chân tới lục địa Á châu từ mấy thế kỷ trước đây.

 

Riêng bán đảo Đông Dương, đặc biệt là Việt Nam với vị trí rất thuận lợi [5] cho trục giao thông Âu - Á, khó thể thoát khỏi sự ḍm ngó của các nhà thám hiểm cũng như các thừa sai. Các linh mục Saint Phalles, Tissanier  [6]- vào hai thế kỷ XVII, XVIII - đă không tiếc lời tán tụng hai nước "Tunquin" và "Cochinchine"; đến nỗi tại Paris vào cuối thế kỷ XVIII đă có sáng kiến lập ra một hội khảo sát về Đông Dương mệnh danh là "Société académique indochinoise" [7]

 

Mặc dù nhiều lúc có lệnh cấm đạo gắt gao của nhà cầm quyền bản xứ, các thừa sai đă không chùn bước , trái lại họ hăng hái t́m mọi cách liên lạc với các trục Goa (Ấn Độ), Malacca (Mă Lai), Manille (Phi Luật Tân), Ma Cao (Trung Hoa) ... để xâm nhập và "truyền đạo" tại Việt Nam cho bằng được. Cái đặc tính kiên quyết ấy đă được chính viên tư lệnh quân xâm lược là Bonard mô tả trong bức thư đề ngày 28-7-1868 gởi Tổng Trưởng Hải quân Pháp :

 

"Về phần các tu sĩ Ḍng Đa minh người Y-pha-Nho thường ở miền Bắc Bắc kỳ th́ không thể nào cai trị được : họ nóng nảy và cuồng tín hết mức, một số khá đông trong bọn họ xuất thân từ đám du kích và đảng viên của Don Carlos đă từ bỏ Y-pha-Nho ; họ sẵn ḷng đeo gươm mang súng cùng cây thánh giá và tham dự hết ḷng vào những cuộc nổi loạn làm đau khổ Bắc kỳ" [8].

 

Sự hăng hái nồng nhiệt của các giáo sĩ sở dĩ có được v́, như đă nói, họ được dẫn dụ bởi các thế lực thực dân trong hứa hẹn hưởng các đặc quyền tại thuộc địa; ngay như đương thời, họ cũng đă được thanh toán ṣng phẳng bằng số "hiện kim đầu tiên là 15.000 quan". Và cũng chính sự "tham dự hết ḷng" trong sứ mạng "hạt tiêu và các linh hồn" cho riêng mỗi màu cờ quốc gia họ mà đă khiến nổ ra nhiều cuộc tranh chấp gay gắt ngay trên các vùng đất mới đầy hứa hẹn là những thuộc địa màu mỡ tương lai : những cuộc thanh toán, gièm pha, giành giựt giáo dân của nhau giữa các giáo đoàn Ḍng Tên, Đa-Minh, Phan-xi-cô thuộc các quốc tịch Pháp, Y-pha-Nho, Bồ-đào-Nha tại Việt Nam đă để lại nhiều vết đen trên trang sử truyền giáo của họ. [9]

 

Năm 1844, Giáo hoàng Grégoire XVI khởi sự phân định lại địa phận "hành đạo" cho các thừa sai :

 

- Địa phận Huế gồm Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên do giám mục Pellerin cai quản (1850). [10]

 

- Địa   phận Qui Nhơn  gồm các tỉnh c̣n lại của Trung kỳ do giám mục Cuénot cai trị (1884 ). [11]

 

- Địa phận Saigon gồm lục  tỉnh Nam - Kỳ do giám mục Lefebvre  chăn dắt   (1844) [12].

 

- Và ngày 27-3 1864 , chia địa phận tây-bắc  Bắc kỳ  ra làm hai : Hà Nội do giám mục  Retord, và Vinh gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Bố Chánh do giám mục Gauthier cai quản .

 

Như vậy, ta thấy rằng, từ hạ bán thế kỷ XIX, toàn cơi Việt Nam vô h́nh trung đă rơi vào trong chính sách "hạt tiêu và các linh hồn" của các Hội Truyền giáo và thực dân Âu châu. Nhưng điều kiện để đi tới việc sử dụng vơ lực đ̣i hỏi một số nhân sự cần thiết, trong đó người cán bộ hay tay sai bản xứ  trở nên tối cần cho bước đầu đặt chân và chiếm cứ quân sự của lực lượng ngoại nhập.

 

Một cách tổng quan, đối với hai ḍng tu du nhập hai miền Việt nam, một từ Trung Hoa mà Ma Cao là chủng viện chính, một từ Malacca mà Pinang là chủng viện chính vào thế kỷ XVIII, XIX - bằng cái nh́n chiến lược chính trị thời nay - người ta không thể hiểu khác hơn là hai nguyên cứ (noyaux) đào tạo và xuất phát cán bộ bản xứ của giáo đoàn Đa-minh Y-pha-nho và giáo đoàn Ḍng Tên Pháp [13] cho ư đồ xâm lược của thực dân vào hai xứ "Tunquin" và "Cochinchine".

 

- Một Tạ Văn Phụng, người xưng là Lê Duy Minh ḍng dơi nhà Lê, một thời khuấy động và toan chiếm toàn cơi Bắc kỳ, từng chịu hành xác tại các tu viện ở Trung Hoa và được các giáo sĩ Y-pha-Nho đề cử lên đế vị trong kế hoạch cướp lại dải đất cũ của vua Lê từ tay nhà Nguyễn.

 

- Một Trương Vĩnh Kư trong ṿng tay các thừa sai Pháp, được đào tạo từ Pinha-lu đến Pinang, để rồi khi trở về nước nhà lại bị bắt buộc hợp tác với đoàn quân xâm lược ngay chính đất nước của ông, sự kiện ấy đă được chứng minh một cách hùng hồn ở đây vậy.

 

 

Chú thích:

 

1. Xem Le Général FREY, Annamites et Extrême - Occidentaux, Paris 1894, tr. 45-46.

 

2. Herbert H. Gowen, Histoire du Japon, Payot. Paris 1933, tr. 229 trích dẫn bởi Nguyễn Khắc Ngữ, Nhật Bản duy tân dưới đời Minh Trị Thiên Hoàng, Tŕnh Bày xb, tr.32.

 

3. Xem Paul Christophe, L'Église dans l'histoire des hommes, Droguet - Ardant 1933, tome II, tr.197.

 

4. Trích dẫn theo Nguyễn Xuân Thọ, Le Traité de Saigon 1862, (do Nguyễn Huy dịch) tập san  SỬ ĐỊA số 12, tr.118.

 

5. Các nhà hàng hải Tây Âu, từ mấy thế kỷ trước, đă nh́n hải cảng Đà Nẵng như là một Gibraltar của Đông Nam Á.

 

6. Xem Paulin Vial, Nos prenières années au Tonkin, tr. 32-42.

 

7. Thương nhân Jean Dupuis chính là hội viên của tổ chức này. Trước và sau khi thám hiểm sông Hồng Hà ngược lên Vân Nam năm 1872, Dupuis đều có tường tŕnh kư ức cho "Société académique indochinoise de Paris" (xem Albert de Pouvourville, Francis Garnier, Paris, tr. 146-147).

 

8. Nguyễn Xuân Thọ, sđd, tr.117

 

9. Xem : - Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo sử, phần Thời đại III, các chương 6, 7, 8, 10.

 

               - Thanh Lăng, Một áng văn chưa hề được công bố, tạp chí Nghiên cứu văn học số 2 (12-1967), tr. 9-17.

 

10. Xem : A. Delvaux, Monseigneur Pellerin, Nazareth HongKong, 1937 tr.19

 

 

11.Với chủng viện Pinang, từ 1848 đă có 122 người miền Nam Hà và 6 người miền Bắc Hà do các giám mục Cuénot, Lefebvre và Pellerin gởi sang đào tạo. "Nhiều người, than ôi chẳng nên ghi tên họ vào cuốn sổ vàng này làm ǵ. Cậy ḿnh có học thức hơn người đồng chủng, họ thoáng trông thấy một tương lai sáng lạn trên thương trường hoặc trong quan trường như vai tṛ các thông ngôn chẳng hạn; Ôi đó là sự nguyền rủa thiên chức đào tạo trí thức" (Xem P. Destombes, Le Collège général de la Société des Missions Étrangères de Paris 1665-1632, Nazareth HongKong 1934, tr.116-117 và 134).

 

12. Trước, từng được các thừa sai Pháp xây dựng tại Đại chủng viện Giáo hoàng Pinang ; sau bỏ các thừa sai Pháp theo các giáo sĩ  Đa-Minh Y-pha-Nho và chịu hành xác tại các tu viện Trung Hoa để được đề cử lên đế vị trong kế hoạch nổi loạn ở Bắc Kỳ hầu chiếm lại ngôi vị nhà Lê từ tay họ Nguyễn.

 

   Năm 1858, được dẫn dụ bởi các cha Y-pha-Nho, Tạ Văn Phụng theo làm thông ngôn cho hạm đội Rigault de Genouilly đánh phá Đà Nẵng. Sự thuyết phục của Cha Cả Y-pha-Nho Gaentza để Genouilly đưa hạm đội ra Bắc không thành, Tạ Văn Phụng trở về Bắc kỳ tổ chức đồ đảng và khởi loạn năm 1861, chiếm các tỉnh phía Đông Bắc kỳ.

   Năm 1862, mật sứ của Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Pháp là Charles Duval tới Hồng Kông và Macao, thuyết dụ tài trợ cho Phụng để đẩy mạnh cuộc khuấy rối miền Bắc làm cho triều đ́nh Huế phải rút bớt lực lượng tại Nam kỳ ra Bắc pḥng ngự, từ đó Pháp sẽ áp lực Nam triều kư và thi hành nghiêm chỉnh (dĩ nhiên là có lợi cho Pháp) hoà ước 1862. Duval mua hai chiếc tàu và nhiều vũ khí quân trang cung cấp  cho Phụng. Duval c̣n lập mô h́nh thế trận luỹ thành Quảng Yên dài 1.500m để Phụng thực tập chiến đấu.

 

   Do cuộc manh động ấy, triều đ́nh Huế bắt buộc phải hoà hoăn với Pháp tại Nam kỳ để dồn lực lượng b́nh định Bắc kỳ. Người Pháp thấy mục đích đă đạt được bèn bỏ rơi Tạ Văn Phụng, v́ sợ Phụng nhân cơ hội tiến hành ư đồ riêng của người Y-pha-Nho tại Bắc Kỳ. Cuối cùng Phụng bị bắt và giải về Huế hành h́nh năm 1865.

 

13. Xem : - G. Taboulet, sđd, tome II, tr. 473, 474, 491, 492.

 

- Jean Chesneaux, Contribution à l'histoire de la nation vietnamienne, tr. 111.

 

- Henri Blet, Histoire de la colonisation francaise, tr. 222.

 

- Nguyễn Xuân Thọ, bài và tạp chí đă dẫn, tr. 116, 119.

 

- A. Delvaux, Monseigneur Pellerin, Nazareth, HongKong 1937, tr. 56.

 

- Báo Le Monde ngày 5 Aout 1863.

 

- E. Louvet, La Cochinchine religieuse, tr. 520-522.

 

Người ta cũng nói rằng chính các giáo sĩ Y-pha-Nho đă ám trợ cho Hồng Bảo cướp ngôi Tự Đức (xem J. Chesneaux, sđd. tr. 92).



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend