TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

AI GIẾT HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH NGƯỜI NẶNG L̉NG VỚI NƯỚC?


Flag of CambodiaFlag of Vietnam.svgFlag

  

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt....

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I & LÊ DUẨN II: Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”. Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

*  Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

 

 

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Tướng Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng Cao Văn Viên viết: “Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”

 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

 * SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?   Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: TƯỞNG NIỆM VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN BỊ XÂM LƯỢC MỸ TREO CỔ 27/12/06  

 

* TERRORIST BUSH CON CHA ĐẺ CHIẾN TRANH KHỦNG BỐ: Tiến Hành Vụ Tấn Công 11/9 :5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

* TRÙM KHỦNG BỐ BUSH CON CHA ĐẺ CHIẾN TRANH KHỦNG BỐ: Qua Vụ 9/11 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

 

 

 

 

  

   

hinh-22

 

Cụ Nguyễn Văn Bồng (kỹ sư, cựu cố vấn văn hoá Hội Chấn hưng Quốc gia Việt Nam dưới chế độ cũ) KHÔNG PHẢI LÀ VIỆT MINH GIẾT CỤ PHẠM QUỲNH

 

Tháng 7-1993, con trai Phạm Quỳnh đến Đà Lạt, có ghé thăm cụ Nguyễn Văn Bồng là người thời trẻ từng nhiều năm giúp việc Phạm Quỳnh, suốt đời coi Phạm Quỳnh là “ông thầy”, là “ân nhân” của ḿnh. Trong ngôi nhà số 2 đường Nguyễn Công Trứ, ấp Hà Đông, cụ Bồng đă chín mươi tuổi sôi nổi khẳng định: “Không phải là Việt Minh giết Cụ Phạm Quỳnh, mà chính con cháu cụ Nguyễn Hữu Bài đă t́m được cơ hội khử Phạm Quỳnh để trả thù cho cha, ông về vụ “Năm cụ khi không rớt cái ́nh, / Đất bằng sấm dậy giữa Thần Kinh / Bài không đeo nữa xin dâng lại…” Nguyễn Hữu Bài cùng bốn thượng thư bị băi chức sau khi Cụ nhà vào Triều nên họ cho là Cụ bợ tây về cưỡi cổ triều đ́nh, đuổi mấy thượng thư già về như đuổi lợn. Sau con cháu cụ Bài tham gia Việt Minh, nhân có cơ hội, khử Cụ luôn.

 

Tôi biết là do nhà tôi có ơn với cụ Bài. Ông nội tôi là em ruột Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Trọng Hợp, đă lấy Nguyễn Hữu Bài từ kư lục toà khâm về làm thông ngôn cho vua Thành Thái, từ đấy vào triều đ́nh. Cho nên gia đ́nh cụ Bài coi tôi như con cháu trong nhà. V́ thế, sau Cách mạng tháng 8, tôi từ Đà Lạt về Huế, gặp nhau, nhân nói chuyện về Cụ nhà, tôi mới nghe được con cháu cụ Bài khoe với nhau là chính họ đă nhân cơ hội lập kế giết chết Cụ nhà. Cụ Bồng chính là người đă đưa dân Bắc vào Đà Lạt trồng rau, lập nên ấp Hà Đông, là một nhân vật nổi tiếng ở Đà Lạt. Cụ từng tốt nghiệp ban canh nông đại học Paris và là cố vấn văn hoá Hội Chấn hưng Quốc gia Việt Nam hồi chế độ cũ

 

 

hinh-5_nha

 

AI GIẾT HỌC GIẢ PHẠM QUỲNH

NGƯỜI NẶNG L̉NG VỚI NƯỚC?

 

Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy ḍng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện : “C̣n như về dư luận, th́ cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đă bị bắn. V́ rằng: nếu là người lương thiện th́ sao lại bị bắn kia chứ![1]

 

Hơn 60 năm qua, người ta đă viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông v́ bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…

 

Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đă chân t́nh, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

 

“Tôi nh́n thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này th́ sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, th́ dân được hưởng nhiều chế độ rộng răi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai tṛ bảo hộ, c̣n công việc trong nước th́ vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải v́ danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải v́ lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đ̣i Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ư muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực ḷng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền, tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đă phải v́ giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm tṛ cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

 

Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vă bác bỏ ngay điều ḿnh vừa khẳng định, bằng cách viết: “Có lạ ǵ tŕnh độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn th́ tôi đă hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”

 

Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn c̣n dè dặt viết: “Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử h́nh.

 

“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”

 

Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”

 

Hơn 60 năm đă trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu ǵ với nhân dân, chắc chắn đă có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố t́m cách biện minh cho cái kết cục là đă bị tử h́nh của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”

 

Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đă có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đă mất rồi, c̣n đâu mà tôi bán.”

 

C̣n tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” th́ ta hăy xem chính thực dân Pháp nói ǵ về “tay sai đắc lực” của ḿnh.

 

Đến hôm nay, th́ ngay cả trong nước ta, nhiều người đă biết đến Bản phúc tŕnh (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đă công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:

 

“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.

 

“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đă hứa. Tôi đă lưu ư Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đ̣i nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cơi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đ̣i hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lănh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh c̣n hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.

 

“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc h́nh thành một quốc gia Việt Nam.

 

“Tôi xin lưu ư quư ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhă nhặn, hoà hoăn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm ǵ với ḷng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đă dành cho ông một chức vị tối danh dự đă có.

 

“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.

 

“Tôi xin chờ chỉ thị của quư ngài…[2]

 

Tưởng chẳng c̣n ǵ phải b́nh luận thêm về tấm ḷng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng ḷng với nước.

 

Qua nửa năm làm Thương thư kiêm Ngự tiền văn pḥng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đă bộc bạch: “Tôi đă lỡ lầm mà ra làm quan, v́ trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng.” [3]. Và trong bài viết Lăo Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách ḿnh: “khờ dại đem ḿnh ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xă hội xu thời mị chúng này, ai c̣n thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhă mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào.” [4]. FÔng lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…

 

Thấy t́nh h́nh trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn b́nh tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (c̣n có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ư là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, v́ nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Th́ Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để c̣n có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đă viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học tṛ, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng c̣n dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đă lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều c̣n, tiếng ta c̣n, tiếng ta c̣n, nước ta c̣n, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người ḿnh có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman c̣n chặn ngang trên trang giấy, gia đ́nh vô t́nh t́m thấy trên bàn viết sau khi ông được chính quyền Cách mạng “mời đi họp”.

 

Thành ra nhà văn hoá lăo thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đă có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải c̣n có nhiều cái mà học không?” Và rơ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.

 

Vậy ai đă xét xử, kết án, và thi hành án tử h́nh Phạm Quỳnh?

 

Chúng ta hăy bắt đầu từ khi ông được chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế “mời đi họp” trưa 23/8/1945.

 

Một học sinh trường Thanh niên Tiền tuyến (Huế) được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời” Phạm Quỳnh “đi họp.[5]. Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, th́ ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về” [6]  Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lăng.

 

Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn pḥng Bộ Nội vụ t́m gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi, [7] bấy giờ là Thứ trưởng và Chánh văn pḥng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, v́ nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đ́nh ra th́ để ông “” vào trong ấy. (Sau đó, gia đ́nh đă được đưa ra Hà Nội an toàn.) [8] C̣n nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông th́ cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rơ là: “V́ nay bọn Pháp đang t́m cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em c̣n ngỏ ư xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, tŕnh bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân t́nh của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên ḷng, tin tưởng ở cách mạng.

 

Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một pḥng rộng, ḷng hồi hộp, lo lắng và sợ hăi nữa. Một lát sau th́ Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đ́nh Huỳnh theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm th́ hai chị em tŕnh bày việc cha bị bắt và tŕnh lên Cụ một phong thư kể rơ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi c̣n đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang) [9]. Cụ c̣n hỏi thăm gia đ́nh được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đ́nh Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ th́ Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đă lâu, mà đến năm 1988, đă 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá c̣n nhớ rơ từng chi tiết như vậy. Ḷng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đă khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quư mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau ḷng xảy ra sau đó {10]

 

Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng ḥa dân chủ Đức), ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đă cố t́m gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đă nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không biết ǵ hết, chỉ biết khi chuyện đă xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.

 

Trong hồi kí của ḿnh Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đă nêu rơ: chính ông đă đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đă nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đă tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông c̣n thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”

 

Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạnh Thừa Thiên-Huế đều không biết ǵ về việc “xử tử h́nh Phạm Quỳnh”, nói ǵ đến xét xử, kết án…

 

Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đă có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuư, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đă đ̣i được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:

 

“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đă bị xử mất rồi.”, th́ Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy th́ nhân dân được ǵ? Cách mạng được lợi ích ǵ?…Tôi đă từng gặp cụ Phạm ở Pháp…Đó không phải là người xấu[11]

 

Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đă từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tay. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” C̣n trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành tŕnh nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn ḿnh đến chơi không khỏi có trinh tử ḍ thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, ḿnh cứ việc ḿnh, có hề chi! Đă lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói…Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.

 

“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đă đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, ḷng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm ǵ. [12] FKhông phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà c̣n có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này, Lê Thanh Cảnh đă thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là v́ xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc th́ không thể nào ngả tay xin ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đă nói là phải dùng búa ŕu. Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đă thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài băo: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ th́ phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nh́n hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đă văn minh tột mức và dân chủ c̣n hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng c̣n quyền hành ǵ trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ư dân tự tạo cho ḿnh…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba ḱ th́ phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng v́ họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lănh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng tŕnh bày chủ trương của ḿnh. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một ḷng v́ nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.

 

Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta c̣n biết đó (có lần đă chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đă có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử h́nh mà Phạm Quỳnh đă phải chịu.

 

hinh-7_nuoc

 

 

Nhà thơ lăo thành Huy Cận, nhân hai lần t́nh cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đă kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để rủ rỉ kể lại một chuyện xưa.

 

Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những ḍng chữ cụ viết mới càng thấy rơ hơn tấm ḷng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân t́nh kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng x́ xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị xử tử h́nh. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, th́ Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đă lỡ mất rồi [13]. Trong bài Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đă thuật lại với ông câu “Đă lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch [14]

 

Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về t́nh h́nh giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ư rất tiếc về những ǵ đă xảy ra và nói đại ư: Nếu c̣n sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà. [15]

 

Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử h́nh Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đă diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?

 

Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, con gái thứ năm của Phạm Quỳnh may mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đă nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xă Đức Trường, huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lănh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rơ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, th́ sự việc bi thảm đă xảy ra như sau:

 

“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đăi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đăi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.

 

“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đ́nh Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lăng nữa. Sau khi được tin là t́nh h́nh không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lăng, nhưng v́ ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đ́nh Khôi và ông thôi. Để ông Lăng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp cho nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đ́nh Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đăi, hành hạ”

 

Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, v́ sự công minh của lịch sử, đă kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của học sinh trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết: “Tối đó (23-8-1945 – PT ghi chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đ́nh Khôi (có Ngô Đ́nh Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay…Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ…bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đ́nh Khôi. Dân quân địa phương không biết ǵ đă đành, báo cáo về Huế, mấy vị lănh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ư ǵ v́ đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

 

“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, v́ nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có…một hàng rào!

 

“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đă “hốt” thực sự…Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào…Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện…Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rơ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…

 

“Bọn Pháp sợ v́ lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lănh đạo, ngoài ra không biết ǵ (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)

 

“V́ vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, c̣n đám hai cụ th́ giao cho dân quân địa phương xử lư, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) [16]

 

Cụ Tấn c̣n kể tiếp:

 

“Lúc đó, ta muốn hoà hoăn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.

 

“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xă.”

 

Tháng 2 năm 1956, nhân gia đ́nh Ngô Đ́nh Diệm cho người đi t́m và cải táng cha con Ngô Đ́nh Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đă biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng c̣n sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để t́m kiếm hài cốt, chính quyền Sài G̣n phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đ̣. Người chèo đ̣ kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng th́ táp vào bờ, đến gần hai bụi tre th́ giết ba người. Người chèo đ̣ không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đ́nh Khôi và Ngô Đ́nh Huân đều nói đặc giọng Huế). Rơ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đă hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng ḷng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

 

Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đ́nh Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đ́nh Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu [17]. Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận v́ dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận” [18]

Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại th́ sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.

 

Di hài Phạm Quỳnh được gia đ́nh cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi. Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ ǵn nguyên vẹn. Lại c̣n có người khắc trên đá hàng chữ Quốc ngữ Tiếng ta c̣n, nước ta c̣n, câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh.

 

Đến đây, tưởng đă có thể hiểu đựơc v́ sao lại có sự trớ trêu: các cấp lănh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do t́nh h́nh cấp bách, nhưng như cụ Tấn đă nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đă xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đă vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử h́nh”?

 

Sự thật lịch sử đă chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử h́nh” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đă đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau ḷng mọi người Việt Nam có lương tri và c̣n bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ v́ tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện th́ sao lại bị bắn kia chứ”.

 

Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xă hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đă đến lúc cần có một cách nh́n khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đă từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đă được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời ḿnh vẫn nặng ḷng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những ǵ ḿnh có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lư tưởng phục vụ đất nước của ḿnh.

 

Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đă ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trăi. Ông đă gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đă cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông c̣n gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông [19]

 

Chương I mở đầu bằng hai câu:

 

Chúng ta phải thừa nhận

Chúng ta đă đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

 

Chương VII lại mở đầu bằng câu:

 

Chúng ta đă đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh

 

C̣n trong chương VI, có những câu:

 

Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…

rằng Phạm Quỳnh đă không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết

….Những đêm dài đọc sách,

không thể biến Phạm Quỳnh

thành một cận thần thân Pháp hơn,

mà có thể thành người giúp chúng ta

trong quá tŕnh thời đại

Và thực ra th́ ông ta có phần đúng [20]

 

Tháng 9-2001 – 26-3-2006

 

* Bài đă đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8-2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng ḷng với nước

 

* C̣n đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9-2006

 

  

TƯ LIỆU THAM KHẢO

 

Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000

 

(*)Băng ghi lời cụ Nguyễn Văn Bồng,tháng 7/1993

 

Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971

 

Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998

 

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993

 

Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học

 

Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chí Thế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ

 

Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.

 

1 Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính

 

2 Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ

 

3 Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đă gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952

 

4 Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992

 

5 Theo Thái Vũ, Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong chủ nhật số 51, 18/12/2005

 

6 Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris

 

7 Hoàng Tŕnh: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài G̣n Giải Phóng, ngày 11/2/2001

 

8 Những người trong gia đ́nh Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quư (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông c̣n khó khăn, t́nh h́nh xă hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đă thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.

 

9 Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy, báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000

 

10 Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988

 

11 Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994

 

12 Phạm Quỳnh: Hành tŕnh nhật kư, nhà xuất bản Ư Việt, Paris, 1997

 

13 Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001

 

14 Giáo sư Văn Tạo: Phạm Quỳnh – Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005

 

15 Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Th́n, 2000

 

16 Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005

 

17 Việc Phạm Quỳnh bị xử đầu tiênchỉ có Phạm Quỳnh bị đánh trước khi bắn cho thấy đây là một vụ trả thù, không phải là “xử lư do t́nh h́nh cấp bách” như với hai cha con Ngô Đ́nh Khôi.

 

Trong bài Phạm Quỳnh-Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và ứng dụng, số 2, 2005, Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam có ghi chú như sau: “Có người cho rằng, trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đ́nh Thượng thư Nguyễn Hữu Bài – người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh, nên đă lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán”.

 

“Chính con cháu cụ Nguyễn Hữu Bài đă t́m được cơ hội khử Phạm Quỳnh để trả thù cho cha, ông về vụ Năm cụ khi không rớt cái ́nh / Đất bằng sấm dậy giữa Thần Kinh / Bài không đeo nữa, xin dâng lại….” Đó là lời khẳng định của cụ Nguyễn Văn Bồng, một người thân thiết như con cháu trong nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và là một nhân vật nổi tiếng của Đà Lạt, từng là cố vấn văn hoá Hội Chấn Hưng Quốc Gia Việt Nam dưới chế độ Sài G̣n, nói với con trai Phạm Quỳnh tháng 7/1993, tại ấp Hà Đông, Đà Lạt, Lâm Đồng. (*)

 

18 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bang Minesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

 

19 Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005

 

20 Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam (trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

 

Pham Ton’s Blog (phamquynh.wordpress.com/.../ ), ngày 22/9/2008

NDVN, ngày 26/8/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend