TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

HỢP TÁC VỚI SOÁI PHỦ NAM KỲ (Ghương III) - HỌC THỨC GIỮ TÊN (Chương IV)


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED  

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

HỢP TÁC VỚI SOÁI PHỦ NAM KỲ

 

 

Ngày 18-5-1857, một năm trước khi hạm đội liên quân Pháp - Y do Rigault de Genouilly bắn phát súng đầu tiên vào cửa bể Đà Nẵng, mở màn cho các cuộc chinh phục Nam, Bắc kỳ, rồi bảo hộ Trung kỳ, tại bộ Ngoại vụ Pháp một phiên họp kín đă diễn ra sôi nổi, dưới sự chủ toạ của Brenier, các vấn đề sau đây đă được đúc kết trong biên bản :

 

VẤN ĐỀ QUYỀN LỢI TÔN GIÁO, CHÍNH TRỊ VÀ THƯƠNG MẠI

 

"Quyền lợi chính trị, sức mạnh của mọi việc, thúc đẩy các nước Tây phương hướng về cơi Viễn Đông. Riêng chúng ta đă có ǵ ở đấy, trong khi những người Anh, Hoà Lan, Y-pha-Nho, ngay cả người Nga nữa, đều đă thiết lập được những cơ sở ? Quyền lợi thương mại thật là hiển nhiên, người ta t́m thấy tại đất Nam kỳ [1] bông vải, lụa, đường, mía, gạo, gỗ làm nhà bỏ hoang phí, chưa kể tới cà phê trồng thành những vườn dài..”.

 

VẤN ĐỀ BANG GIAO VỚI ANH QUỐC

 

"Nước Anh không có một quyền hạn nào tại xứ Nam Kỳ : chúng ta đă có ở đấy một truyền thống. Người Anh đă tiến hành những dàn xếp của họ tại Trung Hoa ; chúng ta sẽ làm như thế tại Nam Kỳ. Chúng ta phải hành động riêng lẻ. Quyền lợi tôn giáo tại Nam Kỳ trở thành độc chiếm đồng hoá với nước Pháp. Chỉ chúng ta thôi khả dĩ chứng tỏ vơ lực tại đấy. Muốn thành công dễ dàng, cuộc chinh phục phải thi hành kín đáo. Nó phải được vin vào những tổn hại vừa mới xảy ra của chúng ta, nhất là trên những vụ ngược đăi tôn giáo.

 

KẾT LUẬN

 

Bằng tất cả mọi lư do, việc uỷ thác đi tới kết luận rằng, nếu không được toàn quyền, ít nữa cũng c̣n lại những ǵ chúng ta đă làm, coi như là sự thoả măn các yêu cầu trong quá khứ và các nỗi tổn hại hiện hữu, những điều kiện đặt xứ Nam Kỳ dưới sự thống thuộc của chúng ta ; quan hệ hơn cả là một nền bảo hộ hiện diện một cách êm xuôi dành cho mai sau... nó sẽ không tỏ ra nguy hiểm tức th́. Và không một ai có thể dị nghị cái quyền chúng ta đă xen vào một xứ gia dĩ chưa có một nước nào có sự liên hệ, xứ mà các thừa sai của chúng ta bảo là được chinh phục cho nước Pháp để gieo rắc đạo Thiên Chúa và uy danh của chúng ta, bằng giá máu, đau khổ và nhọc nhằn [...] Thảo án này quả là rất khả kính đối với chính sách của chúng ta, có ích về tôn giáo, thuận lợi cho thương mại cùng các quyền lợi chung của sứ xở..." [2]

 

Dường như sợ Pháp hoàng chưa đủ quyết tâm trước những hoạch định của phiên họp, một mặt vào ngày 30-8-1857, giám mục Pellerin gởi tiếp thư cho Nă-phá-Luân đệ III, khẳng định và hối thúc : "Tôi chẳng chủ quan để tŕnh bày lên Hoàng thượng những quyền lợi vật chất và chính trị sẽ đem lại cho nước Pháp về việc chiếm cứ những cảng của Nam Kỳ, trong đó nước Pháp có nhiều quyền hạn. Tôi tin rằng cuộc xâm chiếm này không phải chỉ cốt che chở những quyền lợi của tín đồ Thiên Chúa, nhưng tôi thỉnh cầu Hoàng thượng đừng bỏ rơi chúng tôi..." [3]; mặt khác, giám mục t́m đến Biarritz, nơi Pháp hoàng và hoàng hậu đang ngự du, nhờ hồng y Bonnechose giới thiệu để được yết kiến hoàng hậu Eugénie, kể khổ với bà này nhằm đốc thúc nhà vua. Tháng 8-1857, tại Biarritz, Eugénie tuyên bố ; "Chúng ta phải trả thù cho các thánh tử đạo của chúng ta [...] chính chúng ta là những người đầu tiên nghĩ đến Đông Dương. Và chính tôi đă có có ư định thôn tính xứ Nam Kỳ". [4]

 

Cuối cùng là tiếng nói của Bộ trường Hàng hải và Thuộc địa  Chasseloup Laubat, người có trách nhiệm trực tiếp trong lực lượng ṇng cốt của cuộc viễn chinh là hải quân, Laubat gào thét: Đó là một đế quóc thật sự mà chúng ta phải khai lập, một thứ bá chủ, một thứ quyền thống trị, với một nền thương mại tự do, ai t́m đến cũng được và cũng là một cơ nghiệp phi thường mà nền văn minh Thiên Chúa giáo của chúng ta đă toả chiếu". [5]

 

Phải dẫn dài ḍng như trên cốt để thấy rằng việc liên quân Pháp - Y do Rigault de Genouilly tổng tư lệnh - có giám mục Pellerin (Pháp) và cha Cả Gaentza (Y) dẫn lộ - bắn phá Đà Nẵng đốt ng̣i cho cuộc chinh phục Việt Nam vốn là hệ quả của một thứ chính sách thực dân bằng tôn giáo (colonisation par la religion) mà nhân vật của chúng ta - Trương Vĩnh Kư - quả là một con cờ mắc kẹt trong tay các cố đạo bản xứ và các giáo sĩ ngoại quốc. [6]

 

T́m hiểu như thế cũng để thấy rằng việc nuôi dạy Trương Vĩnh Kư của hội Truyền giáo hải ngoại chẳng phải là việc làm không có hậu ư, càng không phải là một thứ khai hoá của văn minh Thiên Chúa giáo. Quả thật, người thanh niên 21 tuổi Trương Vĩnh Kư đă quá ngây thơ khi hạ ḿnh xin với giám mục để được đi La Mă. Trương Vĩnh Kư sống và lớn lên trong các trường Ḍng, thế tất ông không thể thoát ra ngoài quỹ đạo của các giáo sĩ như chúng ta sẽ thấy tuần tự về sau này.

 

Sau lần bắn phá Đà Nẵng (1-9-1858), Genouilly kéo hạm đội vào Nam Kỳ hăm thành Gia Định (17-2-1859) [7]. Thành này bị chiếm, Genouilly bèn cử hải quân trung tá Jauréguiberry và 800 quân ở lại để lo thiết lập một thế đứng tạm thời, c̣n ông trở ra đánh Đà nẵng lần thứ hai. Buổi đầu chân ướt chân ráo mới đến Saigon, Jauréguiberry không có ai giúp việc thông ngôn ngoài linh mục Yvon Marie Croc, trong khi công việc bề bộn. Ông đem việc này than phiền với giám mục giáo khu Saigon và đức Cha Lefebvre đă chỉ định Trương Vĩnh Kư làm phụ tá cho cố Croc (1860).

 

Người thông ngôn 23 tuổi ấy đă hợp tác với quân xâm lược trong bước đầu chinh phục với tinh thần nào ? Theo Bouchot th́ ông đă đem cái mẫn tiệp sâu sắc (des gages de sa sagacité) và cả tính can đảm ra mà phục vụ ; và sau cùng ông đă xuất hiện như một người được chỉ định vào hàng thứ, sau Jauréguiberry, trong chiến dịch đặt chân, tổ chức và chiếm cứ vĩnh viễn đất Nam Kỳ. [8]

 

Ở cùng nhà với viên giám đốc Sở Thanh tra Saigon (c̣n gọi là Sở Tham biện) là Bari, một sĩ quan hải quân thuộc quân đội viễn chinh Pháp, Trương Vĩnh Kư vừa làm thông ngôn dưới tàu cho bộ tham mưu, vừa tháp tùng Bari trong những cuộc thanh tra và tuần thám trên các sông rạch. Tất cả thuyền bè từ miền Trung đến đều bị chận xét.  [9]

 

Trương Vĩnh Kư hiện diện tại những nơi đó như "một vị thần"  [10] trước con mắt của mọi người . Dưới con mắt của đồng bào ông, Trương Vĩnh Kư là một thứ quan lớn ngoại quốc. [11] Điều này đă khiến cho các quan lại Nam triều nghi kỵ và mấy lần toan ngăn Trương Vĩnh Kư. [12]

 

Các cuộc tiến chiếm Kỳ Hoà của đề đốc Charner, Biên Hoà của đô đốc Bonard chắc là phải có ông trong bộ tham mưu, bởi v́ người ông phụ tá là cố Croc đă có mặt trong các cuộc hành quân này. [13] Nhưng dù có mặt hay không, sự thiệt hại về phía các quan thủ thành Nam triều và nỗi thống khổ của dân chúng do các cuộc tấn kích của Pháp gây ra, tất cả những cảnh đó chắc hẳn phải in sâu vào trí óc, đập mạnh vào thị giác một con người Việt Nam là ông. Dù muốn dù không, làm thông ngôn và thông dịch cho các tướng tá Jauréguiberrry, Charner, Page, Bonard..., tất ông phải đọc hoặc ít ra phải nghe thấy tiếng nói chính thức của khâm sai đại thần Nguyễn Bá Nghi gởi cho Charner ngày 3-53-1861 :

 

"Từ ba năm nay, các ông gây chiến với chúng tôi, trong vương quốc này chẳng thể thoát khỏi cái tai ách mà các ông mang tới. Kho tàng bị cháy, thành luỹ bị chiếm và huỷ phá, tàu chiến bị đốt, nền thương mại bị phá sản; thuyền bè chở vải quí của chúng tôi bị đánh ch́m, binh lính phải hy sinh, nhà cửa th́ điêu tàn. Các ông đ̣i chúng tôi tiền, chúng tôi trở thành khốn khó. Đó phải chăng là cái cảnh tượng khả ái của Thượng Đế mà các ông gây ra cho chúng tôi hay sao ? Nay các ông lại ngăn cản gạo của chúng tôi; dân chúng tôi phải chết đói đi chăng ? Bới chưng đây là nguồn sống cuối cùng bậc chí tôn của chúng tôi đă để lại. Do vậy chúng tôi sẽ kiếm thêm khí giới và sẽ cùng với các ông sống mái không đội trời chung". [14]

 

Rồi là hịch của vua Tự Đức kêu gọi toàn dân Nam Kỳ nhất tề đứng lên kháng chiến : "Ta nghĩ rằng kẻ nào đă về với gia đ́nh, tốt lắm, nhưng phải đứng dậy kết thành một khối, tụ lại dưới lá cờ Ta ngay". [15]

 

Quả thật như lời kêu gọi, ngày 21-4-1859, quân nhà vua đă phản công vào đồn Hữu B́nh Gia Định, nơi Jauréguiberry đóng bộ tham mưu và cũng là nơi Trương Vĩnh Kư đang phục vụ, với 800 quân địch chống giữ. Cuộc phản công thắng lợi với 15 quân Pháp chết, trong có 3 sĩ quan, không kể số bị thương lên đến 30 người. [16] Tất cả những người tiếp tay cho quân xâm lược Pháp dưới mọi h́nh thức đều bị khu trừ theo tội lỗi nặng nhẹ của họ. Nhiều cuộc đốt phá, ám sát gia tăng làm cho một số người Việt theo Pháp đă bị thiệt mạng. [17]

 

H́nh như đă có một lúc người thông ngôn có học thức và trẻ trung Trương Vĩnh Kư tỏ ra không mấy vui [18]. hải chăng không muốn để mất một công cụ tốt mà hàng giáo phẩm Nam kỳ lúc bấy giờ đă nghĩ tới sự ổn định tinh thần và ràng buộc Trương Vĩnh Kư vào mối liên hệ t́nh cảm. Việc cố Đoan [19] đứng làm mai mối cho ông cưới con gái ông Hương Chủ làng Nhơn Giang ở Chợ Quán chắc chẳng phải là việc ngẫu nhiên. Phải hiểu rằng làng Nhơn Giang là địa điểm duy nhất c̣n đứng vững sau vụ liên quân Pháp - Y tàn phá luỹ Kỳ Hoà, nên rất bị quan quân Nam triều nghi kị. Phần đông nếu không nói là hầu hết dân cư ở đây là những người theo Pháp lâu ngày, hoặc bổn địa hoặc từ lục tỉnh tị nạn sát đạo chạy về, nên hết ḷng tiếp tay cho họ. [20] Làm Hương chủ làng Nhơn Giang vào thời buổi ấy, trong t́nh thế ấy, không nói ta cũng hiểu được uy thế của chức vụ đó như thế nào. Sự cưới con gái ông Hương chủ của Trương Vĩnh Kư quả là một tính toán chu đáo của cố Đoan (và biết đâu chẳng có bàn tay của Lefebvre) : ràng buộc gia thất  [21] và định cư an toàn, những điều kiện chủ yếu để níu kéo một công cụ.

 

Gia thất đă yên bề, lương bổng lại tăng nhanh [22] và đúng như lời Bouchot, một thứ năng lực kỳ diệu dễ đồng hoá (la prodigieuse faculté d'assimilation) đă đẩy đưa Trương Vĩnh Kư đến phụ tá cho linh mục Legrand De La Liraye [23] mà người Việt gọi là cố Trường, v́ cố Croc phải ra Bắc kỳ "hành đạo" (!).

 

Sự hợp tác của Trương Vĩnh Kư bao giờ cũng tỏ ra gắn bó. Những lời khuyên thận trọng cũng như những sáng ư báo trước của ông vô h́nh trung đă tạo thành một chính sách khôn khéo cho người Pháp. Từ địa vị thông ngôn, thông dịch, Trương Vĩnh Kư đă dần dần được người Pháp tin tưởng, giao cho những sứ mệnh tế nhị để rồi đi đến làm trung gian cho các cuộc thương thảo Pháp - Nam. [24]

 

Năm 1862, sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông, người Pháp nghĩ tới việc hưu chiến để tổ chức hoàn bị các cơ cấu tạm thời rồi nhân đấy làm bàn đạp thôn tính nốt ba tỉnh miền Tây.

 

Trong ư đồ hưu chiến đó, [25] Trương Vĩnh Kư được cử theo Trung tá Simon đáp tàu Forbin ra Huế với tính cách là thông ngôn hạng nhất, để "báo cho các quan lại Nam triều trong ba ngày phải tiến hành cuộc nghị hoà đồng thời buộc họ phải trả một khoản bồi thường chiến phí đầu tiên là 100.000 quan (ligatures) [26]. Trong cuộc đối đáp, Trương Vĩnh Kư rất nổi bật và rất được ḷng các sĩ quan Pháp ; về phía các quan Nam triều, Trương Vĩnh Kư cũng được Phan Thanh Giản đặc biệt lưu ư, không những ở tài ăn nói linh hoạt và thông suốt của ông mà c̣n v́ mối t́nh đồng hương (cùng quê Vĩnh Long và Phan Thanh Giản có biết Trương Chánh Thi, thân phụ Trương Vĩnh Kư).

 

Thế rồi hoà ước 1862 kư kết, nhưng vua Tự Đức và triều thần vẫn không yên ḷng về những đất đai đă bị lọt vào tay Pháp. Một phái bộ xin chuộc ba tỉnh được h́nh thành với số nhân sự đông đảo (tất cả 64 người), đáp tàu Européen sang Pháp ngày 4-7-1863.

 

Về phía người Pháp, phải hiểu rằng đây là dịp tốt để họ củng cố thế đứng tại ba tỉnh đă chiếm, chuẩn bị đánh ba tỉnh miền Tây c̣n lại : việc sứ bộ Phan Thanh Giản xin yết kiến Pháp hoàng bị diên tŕ măi từ 14 tháng 9 cho đến 5-11-1863 cho thấy hậu ư kéo dài thời gian đó của người Pháp.

 

Riêng đối với Trương Vĩnh Kư, đây hẳn là cơ hội để nhà cầm quyền Pháp thưởng công [27]. Bởi v́, với chức vụ thông ngôn hạng nhất, người ta đă chỉ thấy Trương Vĩnh Kư xuất hiện có mỗi lần thông dịch bài diễn văn của Phan Thanh Giản ra mắt Pháp hoàng tại điện Tuileries [28], tất cả thời gian c̣n lại ông dành để tiếp xúc với các nhà trí thức, học giả Pháp (dĩ nhiên là được dàn cảnh, sắp đặt để thu hút một tay học vấn nhược tiểu) cùng chu du khắp các tỉnh thành thuộc Pháp cũng như các nước Âu châu. Từ Rouen, Havre, Lorient, Lyon, Bordeaux, Provence, Tours  thuộc Pháp, ông đă đi các nước Bồ-đào-Nha, Y-pha-Nho, viếng Alicante, Barcelone, Madrid, Escurial ; tại Ư ông ghé Gênes, Florence và nơi mà ba, bốn năm trước hằng mong đi hành hương, nay ông cũng được đặt chân tới : La Mă. Ông được Giáo hoàng tiếp đón và chính tại đây ông đă "chịu ơn về những nghĩa cử mà các thừa sai, nhất là đức Giám mục Adran, đă đem đến cho xứ sở ông" (!) [29]

 

Ông lại viếng thăm các hầm mộ, nơi lưu giữ hài cốt của các giáo sĩ ngoại quốc và cố đạo bản xứ tử đạo. Đặc biệt tại Pháp, ông được giao du với các nhà thông thái chính quốc như Duruy, một sử gia danh tiếng, Victor Hugo nhà văn lớn, Littré, nhà làm tự điển và nhất là Paul Bert, một nhà bác học cũng là một chính khách tiếng tăm mà ông sẽ liên kết cộng tác khá chặt chẽ và khá quan trọng dưới triều Đồng Khánh...

 

Ông đă trở về Saigon ngày 18-3-1864, kết thúc một chuyến đi lư thú, đầy học hỏi, đặc biệt cũng là dịp để ông "tỏ ra xứng đáng với những mục đích của người Pháp hơn" [30]. Chính ông có lúc đă chẳng giấu giếm ḷng tri ân mẫu quốc của ḿnh :"Tôi không thể nào quên được ḷng biết ơn với chính phủ chẳng những đă chiếu cố đến đứa con dưỡng tử, mà lại đem đến nguồn hạnh phúc tràn trề, nhất là ḷng tin cẩn"  [31].

 

Chú thích:

 

1. Vào các thế kỷ trước, người Âu châu dùng chữ "Cochinchine" để chỉ đất miền Nam hà, và Basse - Cochinchine cho vùng phía Nam Cochinchine mà người Việt mới lấy được của Chân Lạp. Chữ Nam kỳ ở đây được dùng trong ư nghĩa chữ Nam hà (người viết chú).

2. Hồ sơ lưu trữ tại bộ Ngoại vụ Pháp. G. Taboulet dẫn trong La Geste francaise en Indochine, tome I, tr. 408-409.

3. Xem thêm : A. Delvaux, Monseigneur Pellerin, Nazareth HongKong

4. G. Taboulet, sđd, tr. 406, 411, 415.

5. Henri Blet, sđd, tr. 171.

6. "... Ông (Trương Vĩnh Kư) sống trong sự mua bán của các giáo sĩ liên kết với vị giám mục (... il y vécut dans le commerce des prêtres attachés à cet évêque (Bouchot, sđd, tr. 8)

7. Lúc chiến thuyền của Rigault de Genouilly tiến vào Nhà Bè, chính Lefebvre ẩn núp trên bờ trốn xuống tàu Pháp kể cho Genouilly về t́nh h́nh Gia Định và t́nh nguyện làm hướng đạo cho chiến thuyền Pháp - Y tiến lên Tân Thuận Đông vào sông Saigon để hăm thành (xem Thái Bạch, Trận Vũng Tàu tháng 2 năm 1859, tạp chí Phụng sự số 61 năm 1958, tr. 120 và Nguyễn Bảo Hoá, Nam bộ chiến sử, Lửa Sống xb. 1949, tr.71).

8. Bouchot, sđd, tr. 14

9. Bouchoit, sđd, 12. V́ lúc này triều đ́nh Huế đang nổ lực tải binh lương tiếp viện cho Nam Kỳ ; "những tin tức t́nh báo gởi về Saigon quả quyết rằng các quan chức từ Huế đến có mang theo  trong thuyền của họ nhiều quân khí, nhưng với số lượng hạn chế, do bởi sự xem xét của tai mắt của Pháp" (Octave Féré, Les régions inconnues, tr.298). Tính cách nghiêm ngặt của những cuộc tuần thám ấy cũng đă được chính Nguyễn Trường Tộ, một thông ngôn cũng phục vụ tại Bộ Tham mưu Pháp như trương Vĩnh Kư tiết lộ: "Bấy giờ, quân thứ Biên Hoà vận lương khó khăn, đă có lần thuyền Tây đi tuần, xét bắt được một bó công văn, mỗi tờ quan Tây đều dùng chữ số 1, 2, 3, 4 v.v... biên vào từng tờ, đệ về tàu chủ tướng giao cho tôi (Nguyễn Trường Tộ) phiên dịch..." (Nguyễn Trường Tộ, Trần T́nh Khải (Nông Sơn dịch), tạp chí Văn Hoá Á Châu số 2, tập III tháng 5-1960, tr.85).

10. (Bouchot, sđd, tr.12, chú thích (1). Có thể nói cả những quân nhân thuộc liên quân Pháp - Y cũng đă coi ông như thế, v́, ngoài cái tư thế tháp tùng viên giám đốc thanh tra Pháp, ông c̣n nói trôi chảy được tiếng Pháp, không như những thông ngôn khác, phần nhiều là những đạo trưởng bản xứ được huấn luyện ở Pinang nên chỉ sử dụng được tiếng La-tinh thay v́ phải nói tiếng Pháp với quân đội ngoại quốc. (xem G. Taboulet, sđd. Tome II, tr.590 và J. Chesneaux, sđd, tr. 115-116).

11. Bouchot nhấn mạnh, sđd, tr. 15.

12. Xem Khổng Xuân Thu, Trương Vĩnh Kư, Tân Việt xb, tr.30.

13. Bouchot, sđd, tr. 12, chú thích (1).

14. Léopold Pallu de la Barrière, Histoire de l'expédition de la Cochinchine en 1861, Paris, Berger - Levrault, 1888, tr. 211-212.

15. Pallu de la Barrière, sđd, tr. 212-213.

16. Cùng sự kiện, Revue Maritime et Coloniale, số Février 1862, tr. 210-211 có viết :"Một nhóm quân ta (Pháp) tạm chiếm đóng Saigon, bị quân An - Nam tấn công mỗi ngày dữ dội..." (trích dịch bởi Tuần Lư, Saigon xưa, Phổ thông tạp chí, giai phẩm B, tr.26).

17. Xem Phạm Cao Dương và Nguyễn Khắc Ngữ, Kỷ niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam kỳ, Tŕnh Bày xb. Tr.83, 166.

18. Bouchot, sđd, tr. 13.

19. Giúp việc dưới quyền giám mục giáo khu Saigon Lefebvre.

20. Louvet, La Cochinchine religieuse, tome II, tr.236 : "Pháp chiếm Saigon xong, tướng Tôn Thát Cáp đă ra lệnh rất ngặt không cho dân sự lui tới với quân viễn chinh Pháp, họ thiếu hẳn lương thực. Giám mục Lefebvre v́ bác ái và biết ơn(?!), huy động công giáo tiếp tế cho bộ đội Pháp" (trích dẫn theo Phan Phát Huồn, sđd, tr. 443 xem thêm : Tuần Lư, bđd, tr. 30-31; xem thêm : A. Delvaux, Mgr Pellerin, tr. 63).

21. Chiến dịch kêu gọi và răn đe của nghĩa quân Nam kỳ đối với những người theo Pháp đă làm cho một số người nao núng tinh thần và dằn vặt lương tâm. Ngay một nhân vật quan trọng như Nguyễn Trường Tộ, ông này cũng đă "phải nhảy qua tường mà tránh đi" dù bị người Pháp nài ép hợp tác (xem Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ, Huế 1941, tr.24). Thế nên việc ràng buộc gia thất cho Trương Vĩnh Kư quả là một tính toán cao kiến.

22. Bouchot, sđd, tr. 14

23. Chính cố Liraye đă viết những đoạn bút kư tŕnh cho hoàng đế Pháp nêu ra những lư lẽ để can thiệp bằng vơ lực vào Đông Dương (xem G. Taboulet, sđd, tome I, tr.412).  

24. Bouchot, sđd, tr.15.

25. Chiến hay hoà đều nằm trong chiến lược chiến thuật do người Pháp chủ động. Do đó việc Nguyễn Trường Tộ "xếp đặt cuộc hoà" giữa Charner và Nguyễn Bá Nghi chỉ là một hành động nằm trong chủ đích ... của người Pháp.  

26. Bouchot, tr. 16.

27. Công lao đó lại được chính thủ tướng Pháp Freycinet đặc biệt ân thưởng Bắc đẩu bội tinh vào năm 1886 [xem Bouchot, sđd, tr. 13, chú thích (3)].

28. Sứ bộ lên đường, vua Tự Đức dặn ḍ Phan Thanh Giản :"Quốc thư phải đưa cho đến nơi, đừng để các quan đương sự ngăn đón, đừng chuyên tin lời người thông ngôn..."(xem Phan Khoang, Việt Pháp Bang giao sử lược, tr.152-153.

29. Bouchot, sđd, tr. 18.

30. Bouchot, sđd, tr. 19

31. Thư gởi bác sĩ Chavanne ở Pháp (xem Khổng Xuân Thu, sđd, tr. 121)

 

 

HỌC THỨC GIỮ TÊN

 

Hay là sự đóng góp của Trương Vĩnh Kư vào công cuộc chinh phục tinh thần thuộc địa của thực dân Pháp

 

Sau cuộc du lịch vĩ đại (dĩ nhiên là do nhà cầm quyền Pháp đài thọ), Trương Vĩnh Kư lại tái đảm nhiệm trách vụ với soái phủ Nam Kỳ. Nhưng lần này, thay v́ thi hành những công tác có tính cách quân sự, chiến thuật bên cạnh các bộ chỉ huy lực lượng đồn trú và hành quân Pháp, người ta đă giao ông một việc làm thích hợp với khả năng và năng khiếu ông hơn : biên tập và dịch thuật.

 

Điều này cũng sẽ khiến chúng ta không lấy làm lạ. Cái chỗ sở dụng của ông cho công cuộc chinh phục bằng vơ lực, đặt chân buổi ban đầu đă đi qua. Nay là lúc cần tới những kiến thức chính xác và sâu xa về mọi cơ cấu truyền thống bản xứ ngơ hầu áp dụng một chính sách cai trị thích nghi, tránh mọi va chạm, đảo lộn đột ngột có thể dẫn tới suy sụp công tŕnh chiếm cứ của các nhà quân sự.

 

Trong phúc tŕnh gởi Bộ trưởng Hải quân Pháp, Bonard viết :

 

"Sự cai trị do người bản xứ dưới sự kiểm soát của chúng ta, theo ư tôi là phương sách độc nhất để giải quyết vấn đề. Nếu lo các chi tiết của hành chính an nam mít, ta đem tới đây một số sĩ quan đa số không am hiểu ngôn ngữ và phong tục bản xứ th́ ta sẽ tạo nên một t́nh trạng hỗn loạn". [1]

 

Chính trong chính sách đó mà cơ quan Bản xứ Sự vụ (Service des Affaires indigènes), Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) [2] và Văn pḥng Trung ương An nam (Bureau Central Annamite) được thành lập. [3]

 

Vừa dạy tại Trường Thông Ngôn, Trương Vĩnh Kư vừa giúp cố Liraye - người điều khiển Văn pḥng Trung ương An nam - phiên dịch và biên tập các tài liệu "cổ An-nam".

 

Nh́n lại toàn bộ sự nghiệp trứ thuật của Trương Vĩnh Kư từ 1864 cho đến 1894, [4] hẳn thấy nội dung những chính sách đó không đi ra ngoài chủ đích "nghiên cứu để cai trị" [5] của người Pháp.

 

Có thể phân loại chúng như sau :

 

a) Loại "cẩm nang giao dịch" giữa người Pháp và Việt Nam

 

Đây là một định lệ không thể tránh khỏi khi có một quân đội ngoại nhập muốn tiếp xúc với người bản xứ, hoặc ngược lại. Từ đó nảy sinh ra hạng "trí thức thông ngôn" và những người làm "văn hoá nô dịch" [6]

 

Trương Vĩnh Kư, trong hoàn cảnh va chạm giữa hai ngôn ngữ, với ưu thế mẫu tự la-tinh (chữ quốc ngữ) và phương tiện ấn loát trong tay, ông là người Việt Nam  duy nhất, vào thời đó, cho ra đời loại sách trên. Người ta thường đề cao ông như là nhà ngữ học đầu tiên tại Việt Nam viết có phương pháp, kết quả đó phải chăng bắt nguồn từ một yêu cầu cấp thiết : vai tṛ thông ngôn và thông dịch. [7] Và người ta sẽ không lấy làm lạ khi thấy những cuốn sách đầu tiên thuộc loại này của ông đều do Trường Thông ngôn và nhà in Nhà nước ấn hành :

 

- Abrégé de grammaire annamite, autographié par les soins de la direction du Collège des Interpètes, 1864. In lại do Imprimerie Impériale, Saigon, 1867, 131 trang.

 

- Cours pratique de langue annamite à l' usage du Collège des Interprètes, Saigon, impr. Impériale, 1868, 69 trang.

 

- Mẹo luật dạy học tiếng Pha-lang-sa, Saigon, Bản in Nhà nước 1869, 55 trang.

 

- Cours de langue annamite, autographié, 1875, 199 tờ.

 

- Alphabet Quốc ngữ, 1887, 22 trang.

 

- Collège des Interprètes. Cours d' Annamite (Section indigène) par M. Trương Vĩnh Kư, Saigon 1887, 302 trang.

 

- Exercices du Cours de P. Trương Vĩnh Kư, Collège des Interprètes, 1887, 265 trang.

 

- Guide de la conversation annamite, Sách tập nói chuyện tiếng An-nam và tiếng Lang-sa, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1882, 116 trang.

 

- Thầy tṛ về luật mẹo léo lắt tiếng Lang-sa, Maitre et élève sur la Grammaire de la langue francaise, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1883, 23 trang.

 

- Grammaire de la langue annamite, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1883, 304 trang.

 

- Petit dictionnaire Francais - Annamite, Saigon, imprimerie de la Mission à Tân Định, 1884, 1192 trang.

 

-Vocabulaire Annnamite-Francais, Mots usuels, mots techniques, et termes administratifs, Saigon, Rey et Curiol, 1887, 191 trang.

 

- Vocabulaire du cours annamite, 1890.

 

- Cours d' Annamite (parler vulgaire), 1894, 349 trang.

 

- Cours de la langue mandarine ou des caractères chinois, Saigon. Collège des stagiaires.

 

b) Loại nghiên cứu truyền thống bản xứ

 

1. Công cuộc này trước hết do hai cơ quan Bản xứ sự vụ và Văn pḥng Trung ương An-Nam đảm nhiệm. Cứ tám ngày, các Nha Bản xứ sự vụ lại đúc kết một bản phúc tŕnh về các công cuộc khảo cứu sâu rộng từ phong tục tập quán cho tới các cơ cấu tổ chức của dân bản xứ, gởi về Tổng tư lệnh.

 

Quân viễn chinh Pháp, bước đầu đặt chân tới đây, tất cả cơ hồ xa lạ đối với họ. Để t́m hiểu, họ phải vận dụng, moi móc tất cả những hiểu biết của các nhà truyền giáo ghi chép về mảnh đất này. Cái lư do đặt giáo sĩ Legrand de la Liraye điều khiển "Văn pḥng Trung ương An Nam" và "Thanh tra Bản xứ sự vụ" không ngoài chủ đích tận dụng kiến thức căn bản của nhà truyền giáo này. Ông là một trong những sứ đồ sáng chói của Giáo hội tại Bắc kỳ khoảng 1844-1855. Những "Trang sử ghi về nước An Nam" [8] (Notes historiques sur la nation annamite) của ông đă giúp các nhà cai trị Pháp đạt tới những bước dẫn nhập vào mảnh đất đang dần dần trở thành thuộc địa này. Nhưng quả thật, đối với một xứ sở có những ngàn năm lập quốc, những tài liệu của Liraye đă trở nên hời hợt, sơ đẳng, v́ dù sao, ông chỉ là một người ngoại quốc và đo đó chỉ có thể tŕnh bày một cách ngoại diện ; nói đúng hơn những tài liệu của Liraye chỉ là một công tŕnh chuyển ngữ những ǵ vốn có của bản xứ thiếu hẳn phương pháp biên chép và tinh thần phê phán. [9]

 

Là phụ tá đắc lực cho cố Liraye, Trương Vĩnh Kư là người Việt đầu tiên có đủ tư thế để lấp đầy những thiếu sót kia. Từ những công tŕnh phiên dịch các bản văn "cổ An Nam" đến công cuộc nghiên cứu cơ cấu xă hội Việt nam, dưới ng̣i bút của ông chúng được tập hợp một cách có phương pháp và hệ thống, đặc biệt rất quan trọng (plus signalés), rất chính xác cũng như rất khích lệ cho những yêu cầu đúng lúc (la plus précise et la plus heureuse aux besoins du moment) đối với các nhà cai trị Pháp đương thời.

 

Trong lời Tựa Cours d' histoire annamite, ông viết :

 

"Tôi muốn quí vị, bằng thứ tiếng Pháp hay ho và phong phú này sẽ làm quen với lịch sử của nước chúng tôi. Tôi hy vọng thiên thuật sự này được hiểu bằng một thứ ngôn ngữ mà quí vị đang theo học, sẽ giúp quí vị đi sâu vào tất cả những tinh tế của nó [10] đồng thời cho phép quí vị chọn lọc một cách thuận lợi cái đặc sắc trong đó". [11]

 

Thật vậy, đối với lịch sử Việt Nam từ trước ngày, qua ng̣i bút của các nhà truyền giáo, người ta chỉ t́m thấy những điều sơ đẳng và manh mún của một nền văn minh đóng khung, những dấu vết của một quá khứ chỉ được thể hiện một cách không cần thiết nơi bề ngoài của các đền đài đủ loại, lôi cuốn kẻ phàm tục [12] th́, với những đóng góp dồi dào qua toàn bộ sự nghiệp trứ thuật, Trương Vĩnh Kư đă thoả măn được những hiếu kỳ chính đáng (légitimes curiosités) đồng thời lấp đầy cái khoảng trống trầm trọng mà người Pháp quả thật đă lúng túng khá nhiều khi mới đặt chân tới đất Nam kỳ cũng như muốn đào xới cái quá khứ của một thuộc địa.

 

Dưới quyền điều khiển của Legrand de la Liraye và các sĩ quan Pháp kế tiếp, trong cái cơ quan gọi là "Sở t́nh báo về phong tục và các chế định của xứ An Nam (Bureau de Renseignements sur les Coutumes et les Institutions annamites). [13] Chỉ riêng loại "Nghiên cứu truyền thống bản xứ", Trương Vĩnh Kư đă viết :

 

- Cours d'histoire annamite. Saigon, imprimerie du Gouvernement.

+Vol.1, 1875, 184 trang, từ thời đại thứ Nhất cho đến Hậu Lê (2784 trước Công nguyên đến 1428 sau Tây lịch).

 

+Vol.2, 1877, 278 trang, từ nhà Lê đến nhà Nguyễn (1428 - 1875).

 

- Saigon d'autrefois, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1882, 16 trang.

 

- Saigon d'aujourd'hui, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1882, 11 trang.

 

- Phép lịch sự An Nam, Les convenances et les civilités annamites, Saigon, Guilland et Martinon, 1883, 55 trang.

 

- Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, imprimerie Coloniale. 1885, 30 trang.

 

- Cours d' annamite aux élèves européens, Explication du Lục Vân Tiên, 1886.

 

- Théâtres, Comédies, Chansons annamite, 1886.

 

- Ước lược truyện tích nước Nam, Résumé sommaire de la chronologie de l'histoire et des productions de l'Annam avec ses tableaux synoptiques, Saigon, Rey et Curiol, 1887, 31 trang.

 

- Morale et Actions, Phong hoá diêu hành Imprimerie de la Mission 1881, 90 trang.

 

- Annam politique et social.

 

- Étude sans titre sur le mariage en Annam.

 

- Cours de littérature annamite, 1891.

 

*******************

 

2. Đó là những loại sách chỉ đ̣i hỏi một kiến thức tổng quát rộng răi kèm theo một ít thông minh là có thể thực hiện được. Nhưng đối với Trương Vĩnh Kư, ông c̣n hăm hở đi xa hơn nữa, mon men vào các lănh vực chuyên môn như địa lư, canh nông, thực vật học v.v... Sức làm việc của ông quả là phi thường, song tiếc thay cái "chủ đích đầu tiên" khi viết những sách đó, ông không nhằm đáp ứng nhu cầu văn học, học thuật của dân tộc mà, thật ra, chỉ nhằm thoả măn những yêu cầu khéo léo và kín đáo của người Pháp đang trên đường đào xới thuộc địa để chinh phục, cai trị và khai thác. Điều người ta đă đưa ông lên hàng bác học với những công tŕnh khảo cứu về chim muông, thảo mộc, sâu bọ cũng như về kỹ thuật canh nông bản xứ, thật ra chỉ là sự đóng góp cho những yêu cầu đầy sự khích lệ của cái gọi là "Uỷ ban nghiên cứu phát triển canh nông và kỹ nghệ Nam kỳ" (Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine) [14] mà chủ đích sâu xa của nó không ǵ khác hơn là đưa đường chỉ lối cho thực dân khai thác lâu dài mảnh đất mới chiếm cứ này.

 

Gia dĩ, người ta được biết thêm rằng các công tŕnh biên thuật về sử kư, địa lư bản xứ của Trương Vĩnh Kư do đó có lời yêu cầu của "Hội Địa lư Ba-lê" [15] . Và hầu hết những công tŕnh đó đều  được nhà in Nhà nước (imprimerie du Gouvernement local) và cơ sở ấn loát của Nhà Ḍng Tân Định chăm lo ấn hành. Một vài cuốn sách của Trương Vĩnh Kư đă trở thành tài liệu bảo mật và sở hữu riêng của Nhà nước và nhà Ḍng như tập Dư đồ thuyết lược chẳng hạn. Người viết những loại sách này, dù yếu kém về kiến thức chuyên môn, nhưng bằng sự hăng say của tuổi trẻ và sự hiếu kỳ tài tử (d' une curiosité de dilettante), ít ra cũng đă "tóm lược được cho những người ngoại quốc mới đến những cống hiến cơ bản liên quan đến mảnh đất này gia dĩ đă trải ra một cách cực nhọc trước mắt họ, những cống hiến, cho đến lúc đó, muốn nghiên cứu phải nhờ vào những bản đồ do Dayot, Brun dựng lên ở thế kỷ XVIII và của giám mục Taberd, đầu thế kỷ XIX" [16].

 

Với loại này, Trương Vĩnh Kư đă có :

 

- Petit cours de géographie de la Basse-Cochichine, Saigon, impremerie du Gouvernement, 1875, 51 trang.

 

- Dư đồ thuyết lược, Précis de géographie, Saigon, impr. de la Mission à Tân định, 1887, bản quyền của nhà Ḍng, 116 trang và 8 bản đồ.

 

- Đại nam tam thập nhất tỉnh thành đồ, 1888.

- Cours de géographie générale de l'Indochine avec cartes générales et particulières en 6 parties :

1. La Cochichine francaise

2. L'Annam central

3. Le Tonkin

4. Le Cambodge

5. Le Siam

6. La Birmanie...

 

c) Loại phổ biến chữ quốc ngữ

 

Trước Trương Vĩnh Kư, chữ quốc ngữ là một phương tiện truyền đạo của các thừa sai nhằm thuận tiện hoá ngôn ngữ và văn tự trong sự tiếp xúc và rao giảng thánh kinh cho người bản xứ. Trong buổi sơ thời ấy, bằng khối óc sâu sắc của người cán bộ (cán bộ chính trị hay tôn giáo cũng thế), chữ quốc ngữ được sử dụng như là cách thế tốt nhất để triệt tiêu dần dần tư tưởng Tam giáo vốn đă ăn sâu mọc rễ trong các kinh điển, cổ thư   được gói ghém qua tự dạng chữ Nho và chữ Nôm. Người thầy giảng cũng như con chiên bản xứ bắt buộc phải làm quen với thứ chữ mới là mẫu tự la-tinh và loại bỏ cái h́nh thái văn tự "ngoằn ngoèo" từ các ngoại điển của "ngoại đạo", v́ nếu không, họ sẽ quay trở lại ư thức truyền thống "An Nam xưa" [17].

 

Măi cho tới thời Trương Vĩnh Kư, chữ quốc ngữ chỉ được lưu hành thu hẹp trong phạm vi các giáo đoàn và được dùng để biên chép những tín lư, thánh kinh, hoặc đi xa hơn chút nữa, các sứ đồ của Chúa dùng nó để viết thư tín, hồi kư hay báo cáo liên quan đến công cuộc rao giảng và gieo rắc ánh sáng Thiên Chúa thôi.

 

Thế nhưng, từ 1862 trở đi, nghĩa là sau khi hoà ước Nhâm tuất được kư kết và người Pháp bắt đầu đặt nền móng cai trị tại ba tỉnh miền đông Nam kỳ, chữ quốc ngữ trở thành công cụ cho chính sách thực dân bằng sách vở (Politique de la colonisation par les livres) của xâm lược Pháp, và hơn thế, nó c̣n được coi như văn tự chính thức cho các giấy tờ hành chánh, tư pháp và thương mại của nhà cầm quyền thuộc địa.

 

Trong thư văn đề ngày 15-1-1866 gởi cho quan bố Saigon, [18] giám đốc nội vụ Paulin Vial có viết :"Từ những ngày đầu người ta (Pháp) đă hiểu rằng chữ Hán c̣n là một ngăn trở giữa chúng ta và người bản xứ ; sự giáo dục bằng thứ chữ tượng h́nh khó hiểu làm chúng ta rơi tuột hoàn toàn ; lối viết này chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết có liên quan tới khung cảnh của nền cai trị mới cũng như cho việc thương mại... Chúng ta bắt buộc phải theo truyền thống nền giáo dục riêng của chúng ta ; đó là cách duy nhất khiến chúng ta có thể gần gũi người An Nam thuộc địa hơn, ghi vào tâm năo họ những manh mối của nền văn minh Âu châu đồng thời cô lập họ khỏi ảnh hưởng đối nghịch của các lân quốc của chúng ta [19].

 

Thế là, từ nơi thâm nghiêm cẩn mật của các giáo đoàn, chữ quốc ngữ đă vượt ngưỡng cửa Nhà Chung để len lỏi rộng răi vào các tầng lớp dân gian Việt Nam, dưới sự phối trí và chỉ đạo của các giáo sĩ và các nhà cai trị thông thái Pháp [20]. Trong sự trù tính của họ, việc cho áp dụng và phổ biến chữ quốc ngữ không ngoài hai chủ đích :

 

- Thui chột sự dùng chữ Nho và chữ Nôm là phương tiện chuyên chở và nuôi dưỡng tinh thần quốc gia thấm nhuần từ các hệ tư tưởng truyền thống lâu đời [21];

 

Định lại một văn thể hành chánh, tư pháp và thương mại trong đó chữ quốc ngữ được coi là văn tự chính thức (écriture officielle).

 

Mà muốn áp dụng và phổ biến chữ quốc ngữ vào dân gian, không ǵ hơn là chuyển ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu b́nh dân, tức là những áng văn vần cùng là chuyện tích rất được ưa thích đối với họ [22]; gia dĩ nhằm đạt tới cứu cánh (phổ biến chữ quốc ngữ), những sách căn bản đạo lư gia đ́nh Việt Nam (cũng là đạo lư Trung Hoa) cũng đă được đem ra phiên dịch bằng thể văn vần chữ quốc ngữ. Luro, một thanh tra bản xứ sự vụ, trong phúc tŕnh đề ngày 6-1-1873, đă cho thấy mục tiêu này :

 

"Từ lâu, tôi thỉnh cầu một cách vô hiệu rằng người ta phải phiên dịch, dưới sự chăm sóc của một hội đồng có đủ quyền hành, lịch sử nước An Nam và những sách cao quí triết lư của Trung Hoa. Người dân ít nghe tiếng Quan thoại, vào tŕnh độ họ sẽ rất sung sướng có được những cuốn sách dịch bằng ngôn ngữ thường ngày của họ một cách thanh nhă. Họ sẽ mua, sẽ đọc những cuốn sách đó. Trong số các thừa sai và viên chức của chúng ta, chúng ta có nhiều người có đủ khả năng để hoàn thành những sách dịch thanh nhă từ tiếng Quan thoại ra tiếng nói hàng ngày" [23].

 

Trong mưu tính đó, Trương Vĩnh Kư với sở đắc quốc ngữ từ nơi cụ Tám, cố Hoà, cố Đoan qua các giáo sĩ khác, cộng thêm cái vốn thông dịch hiếm hoi buổi sơ thời, ông đă được nhà cầm quyền thuộc địa yêu cầu đảm nhiệm công cuộc phiên dịch [24]. "Tất cả những bản văn ông chuyển từ chữ Hán sang quốc ngữ chẳng có mục đích nào khác hơn làm cho dân chúng An Nam áp dụng lấy mẫu tự la-tinh và đồng thời thui chột sự dùng quá nhiều chữ Hán ngay cả trong văn chương bằng quốc ngữ ; những bản văn ấy đă đáp ứng được sự mong mỏi, kể từ có cuộc chinh phục, được tiên định bởi các nhà đô đốc cai trị và do giám đốc Nội vụ - Paulin Vial - đă đo lường những trở ngại mà sự biểu ư bằng văn tự sẽ phải manh nha giữa dân tộc Việt Nam và người Pháp" [25].

 

Kết quả công tŕnh phổ biến chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Kư thật sự qui mô và công khai khi đô đốc Ohier kư nghị định ngày 16-9-1869 trao toàn quyền tờ Gia Định Báo, tờ báo đầu tiên trên đất Việt, cho ông quản nhiệm với chủ đích đẩy mạnh chính sách thực dân bằng sách vở ; và nó đă thật sự chín mùi khi Trương Vĩnh Kư bước chân vào cái gọi là "Hội đồng Học chính cao cấp" (Commission supérieure de l' Instruction publique) bằng một nghị định của chính quyền thuộc địa ngày 17-11-1874.

 

Những sách nhằm mục đích phổ biến chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Kư :

 

- Sách vần quốc ngữ, vol. I, Imprimerie du Gouvernement.

- Chuyện đời xưa lựa. Nhón lấy những chuyện hay và có ích, Saigon, Bản in Nhà nước, 1866, 74 trang.

- Kim Vân Kiều, 1875 (lần đầu tiên được chuyển sang quốc ngữ), Saigon, Mission Catholique, 179 trang.

- Đại Nam sử kư diễn ca 1875.

- Sơ học vấn tân quốc ngữ diễn ca 1877.

- Ta Hio, (Đại học), Grande Etude, 1877, 71 trang.

- Trung Dung, Juste et invariable Milieu, Saigon, 1889, 137 tr.

- Trương Lương tùng Xích ṭng tử du phú, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1881, 7 trang.

- Bất cượng, chớ cượng làm chi, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1882, 8 trang.

- Huấn nữ ca, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1882, 36 tr.

- Thơ dạy làm dâu, Saigon C.Guilland et Martinon, 1882, 13 tr.

- Chuyện khôi hài, Saigon, C. Guilland et Martinon, 1882, 16 tr.

- Trương Lưu Hầu phú, Saigon, C.Guilland et Martinon,1882, 17 tr.

- Thơ mẹ dạy con, Saigon, C.Guilland et Martinon, 1882, 12 tr.

- Nữ tắc, Saigon, C.Guilland et Martinon, 1882, 27 trang.

- Gia huấn ca, Saigon, C.Guilland et Martinon, 1883, 44 tr.

- Học tṛ khó phú (Hàn nho phong vị phú), Saigon, C.Guilland et Martinon, 1883, 6 trang.

- Thạnh suy bĩ thời phú, Saigon, C.Guilland et Martinon, 1883, 7 trang.

- Huấn mông khúc ca, Saigon, Impr. de la Mission, 1884, 47 tr.

- Tam Tự Kinh quốc ngữ diễn ca, Saigon, C.Guilland et Martinon, 1884, 47 trang.

- Ngư tiều trường điệu, Saigon, Impr. de la Mission, 1884, 8 tr.

- Phú bần truyện diễn ca, Saigon, C.Guilland et Martinon, 1885, 24 trang.

- Lục súc tranh công, Saigon, Impr. de la Mission, 1884, 43 tr.

- Tam thiên tự giải âm, Rey et Curiol, 1887, 71 trang.

- Lục Vân Tiên truyện, Saigon, impr. A. Bock, 1889, 79 tr. [26]

- Trung Dung, Rey et Curiol, 1889, 137 trang.

- Minh Tâm bửu giám, Rey et Curiol, vol.1, 1891, 135 trang, vol.2, 1893, 143 trang.

- Phan Trần truyện, Saigon, impr. A. Bock. 1889, 45 trang.

 

************

 

Người làm văn học cũng như người viết văn học sử, dù đứng trên quan điểm nào đi nữa, cũng không thể xa rời căn bản dân tộc. Một công tŕnh văn học giá trị phải là một tập hợp những chất liệu bắt nguồn từ thực tại sinh hoạt vật chất và tinh thần đích thực của dân tộc.

Đối với Trương Vĩnh Kư, nh́n lại toàn bộ sự nghiệp trứ thuật của ông, ta không khỏi tiếc rẻ khi nhận ra rằng tài năng "đứa con đất Nam kỳ" đă đi hoang theo tiếng gọi của người thầy mẫu quốc. Không kể tới loại sách "cẩm nang giao dịch" vốn là một nhu cầu cấp thời, giai đoạn, các công tŕnh biên tập và khảo cứu của ông đều được viết ra theo lệnh hoặc do sự khuyến khích chỉ dẫn của quan thầy. Nếu bảo đó là công tŕnh "đào xới thuộc địa" của những Aubaret, Luro, Vial, Silvestre, Philastre, Schreiner, Liraye v.v... cũng không sai mấy ; duy có điều khác biệt là, thay v́ dùng nhăn quan của người ngoại quốc trí thức thực dân, Trương Vĩnh Kư đă cấu tạo các tác phẩm của ông bằng nhận định và cảm nghĩ xác thực của một người bản xứ. Chính đó là sự thiếu sót trầm trọng, nếu không nói là bất lực đối với những ng̣i bút ngoại quốc khi đi sâu vào truyền thống bản xứ.

 

Tuy nhiên, nhờ sự chuyển biến đưa đẩy của lịch sử và văn học, các ng̣i bút nói trên đă gặt chung một kết quả, đối với những thế hệ cầm bút về sau. Những công tŕnh của lớp trí thức thực dân ngoại quốc và trí thức tay sai bản xứ (dĩ nhiên trong đó có Trương Vĩnh Kư) vô h́nh trung đă trở thành những tài liệu nghiên cứu lịch sử và văn học tối cần cho kẻ hậu học muốn t́m lại vang bóng của một thời. Và như thế, cái chủ dích đầu tiên "nghiên cứu để cai trị" hoá ra là kết quả tốt cho việc học và nghiên cứu của một số người làm văn hoá. Điều ấy không có ǵ lạ. Trong t́nh trạng nền học cũ bị thực dân đẩy vào bóng tối [27] và chữ quốc ngữ dần dần chiếm ưu thế với chương tŕnh giáo dục do thực dân áp đặt và duy tŕ suốt thời đô hộ, con đường văn hoá dân tộc ít nhiều cũng bị lái theo một hướng khác. Thật Nguyễn Đ́nh Chiểu đă có cái lư của ông khi lên tiếng công kích việc học và phổ biến chữ quốc ngữ buổi đương thời [28].

 

Hiểu như vậy để thấy rằng, trong khi Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Văn Trị cùng các chiến sĩ văn hoá khác viết nên những thi văn rực cháy ḷng yêu nước từ bên kia lũy tre kháng chiến th́ tại Saigon, Trương Vĩnh Kư hoàn toàn quay lưng lại với thực tại đất nước để kể Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, hơn thế, giống như Tôn Thọ Tường "khuyên đàn con trẻ chớ thày lay", ông bảo những người yêu nước Việt Nam bất cượng, chớ cượng làm chi và mỉa mai biết bao khi ông giảng Tứ Thơ, Đại học, Trung Dung, Luận ngữ, Minh tâm, Sơ  học vấn tân…[29] Có khi nào ông đă hỏi lại chính ḷng ḿnh những điều sơ học ấy của Khổng Mạnh ? Có lư nào một nhà trí thức vừa đề cao tư tưởng giữ nước yên nhà, lại vừa theo ngoại xâm để vinh thân và ph́ gia [30].

 

Sẽ không khỏi có người đặt câu hỏi : nhưng dù sao Trương Vĩnh Kư cũng là người có công lớn trong văn học, nhất là văn học chữ quốc ngữ ? Điều này chúng ta cần minh thị : Trương Vĩnh Kư chỉ có công trong công cuộc phổ biến chữ quốc ngữ, tức là cái h́nh thức của nền văn học chữ quốc ngữ, c̣n cái nội dung của nền văn học đó không nằm trong tay ông mà chính ở lớp sĩ phu Văn Thân, Cần Vương bị đánh bại bằng vơ lực để rồi lại cất lên tiếng nói, lời giảng trong Phong trào duy tân, Đông Kinh Nghĩa Thục…

 

Đó mới chính là cái truyền thống học thuật:

 

Khổng Mạnh cương thường nên tạc dạ

  Tây Âu khoa học phải ghi ḷng” [31] vậy.

 

Chú thích:

 

1. Trích dẫn bởi Nguyễn Thế Anh, Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Lửa Thiêng xuất bản, tr. 131.

2. Do đô đốc Charner sáng lập ngày 8-5-1862, lúc đầu mang tên là Trường Adran. Hiệu trưởng đầu tiên là cố Croc. Mỗi khoá học là 9 tháng. Trương Vĩnh Kư thay thế điều khiển trường này kể từ 1866 đến 1898.

3. Để chuẩn bị cho một nền hành chánh bản xứ đó, từ tháng 6-1863, trung tá hải quân Aubaret đă dịch Gia Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Bộ Luật Gia Long, Code Annamite là hai tài liệu căn bản dẫn nhập cho nền hành chánh phôi thai Pháp ở Nam kỳ.

4. Kể năm cuốn sách ấn hành đầu tiên là Abrégé de grammaire annamite (1864) cho đến những cuốn sách được công bố sau cùng vào năm 1894.

5. Chính sách này do Bonard đề xường và áp dụng trước hết. Khác hơn hai người đi trước là Genouilly và Charner, Bonard rút kinh nghiệm ở thuộc địa Algérie, chủ trương giữ nguyên mọi cơ cấu tổ chức xă hội Việt Nam, dùng người bản xứ để cai trị người bản xứ. Điển h́nh nhất là cơ cấu làng xă Việt Nam. Chính Paulin Vial, một viên quan cai trị sớm nhất, đă chẳng giấu giếm chủ trương này : "Đó là phương pháp duy nhất thích hợp với sự an toàn của chúng ta. V́ nó chia rẽ dân bản xứ bằng cách thừa nhận họ sự tự trị các làng xă, một điều họ rất quan tâm đến. Phương pháp đó đă được đem ra thí nghiệm rồi. Đó là phương pháp có kết quả tốt. Nó vừa thoả măn nguyện vọng người An-nam vừa mang lại an ninh cho nhà cầm quyền Pháp, không cho nhân dân có thể liên kết với nhau trong một hành động chung chống lại chúng ta" (Paulin Vial, L'Annam et le Tonkin, trích dẫn bởi Vũ Quốc Thông, Pháp chế Sử Việt Nam.

6. L. Cadière nhận xét về Trương Vĩnh Kư với thư loại "Cẩm nang giao dịch" của ông : "Một tác giả đă có công rất lớn đối với những người Pháp đầu tiên học tiếng An nam" (tạp chí Indochine, số 216 ngày 19 Octobre 1944).

7. Bouchot, tr. 25.

8. Loạt bài này được đăng tải trên Courrier de Saigon kể từ ngày 5-9-1865.

9. Xem Bouchot, sđd, tr. 27.

10. Người viết nhấn mạnh.

11. Trích dẫn theo Bouchot, sđd, tr. 27.

12. Xem Bouchot, sđd, tr. 26.

13. Xem André Masson, Histoire du VietNam, PUF, 1967, tr. 76.

14. Do đô đốc Rose cho phép thành lập ngày 16-6-1865 và bức thư phúc tŕnh công cuộc nghiên cứu đầu tiên của Trương Vĩnh Kư về các loại kiến được đăng tải trên kỷ yếu của Hội  tập I, số IV năm 1886.

Xem : - Bouchot, sđ d, tr. 20-23.

          - Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đông Phố xb, 1973, tr. 158.

 

15. Bouchot, sđd, tr. 26, chú thích (4).

16. Bouchot, sđd, tr. 26.

17. Lanessan viết trong Les Missions et leur protectorat, tr.52 ; "Tôi c̣n giữ trong tay một thư của giám mục Puginier trong đó ngài tŕnh bày mục đích việc phiên âm La Mă một cách thật rơ rệt. Ngài nói khi thay thế chữ Nho bằng chữ quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm cô lập các giáo hữu. Những người này sẽ không c̣n có thể đọc được những tác phẩm dễ đọc nhất của Trung Hoa và cũng không thể thư từ ǵ được với bất cứ sĩ phu Tàu hay Ta nào. Được giáo dục như thế, các thầy giảng người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần tuư tôn giáo" (trích dẫn theo Nguyễn Văn Trung. Chủ đích Nam Phong, tr.189).

18. Do Soái phủ Nam Kỳ bổ nhiệm.

19. Trích dịch theo Bouchot, sđd, tr. 36-37, chú thích (2).

20. Phần đông các sĩ quan Pháp trong lực lượng viễn chinh là những nhà trí thức thông thái và chuyên môn các ngành. Như trường hợp một Frey, một nhà tướng mà đă viết những quyển ngữ học như l'Annamite, mère des langues, Annamites et Extrême - Occidentaux (recherches sur l'origine des langues).

21. Thật vậy, ngày mà Bonard, v́ đường lối cai trị gián tiếp khéo léo đă cho tái lập toàn bộ cơ cấu tổ chức xă hội và học thuật cũ "An Nam" th́ lập tức người phát ngôn của Hội Thừa sai là A. Launay lên tiếng công kích :"Bonard cho tổ chức dạy lại chữ Nho và cho lập lại những bằng tước cũ của tiến sĩ và cử nhân mà không tự hỏi rằng tốt hơn là phải tách xa người An Nam những ǵ có thể củng cố họ trong những tư tưởng quốc gia và do đó dẫn tới sự bài Pháp".

22. J. Chesneaux, sđd, tr.115, Vũ Ngọc Phan đă nhận định rất đúng khi viết "Hồi đó, ông (Trương Vĩnh Ky) cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc ngữ được lan rộng trong nhân gian..." (Nhà văn hiện đại, q.I, tr. 27, Vĩnh Thịnh xb.)

23. Taboulet, sđd, tome II, tr.594.

24. Bouchot, sđd, tr.32.

25. Bouchot, sđd, tr.36.

26. Về ấn bản "Lục Vân Tiên" bằng quốc ngữ này của Trương Vĩnh Kư, theo Gs. Hồ Hữu Tường trong "Năm mươi năm (1923-1973) theo dơi đường lối dân tộc" (báo Điện Tín tháng 10-1973, bài số 6 và 7) th́ giữa bà Sương Nguyệt Anh (con gái Đồ Chiểu), cử nhân Phan Văn Trị và Trương Vĩnh Kư đă xảy ra một cuộc tranh biện, theo đó "Trương Vĩnh Kư đọc chữ Nôm của cụ Đồ Chiểu không đúng hoặc những chỗ Trương Vĩnh Kư không thấu triệt đạo Nho mà cắt xén lắm câu thâm trầm của Lục Vân Tiên". Nhưng đáng kể nhất là "việc Trương Vĩnh Kư cắt bỏ đoạn vua Sở nhường ngôi lại cho Lục Vân Tiên". Quan điểm sĩ phu đương thời cho rằng nhân vật Vân Tiên của Đồ Chiểu chính là h́nh ảnh một anh hùng dân tộc từ trong dân chúng bước ra, như trường hợp một Trương Định, Nguyễn Trung Trực chẳng hạn. Cho nên sự cắt bỏ đoạn này của Trương Vĩnh Kư rơ là một hành động có hậu ư.

27. Giáo sư Thanh Lăng thật đă có lư của ông (?!) khi viết rằng : "Ông (Trương Vĩnh Kư) là một trong những tay kiện tướng làm sụp đổ tại Nam Việt, chế độ khoa cử thoái trào và, qua đó, nền thống trị của cựu học" (Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Tŕnh Bày xb, tr.32).

28. Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận sự tiện lợi của chữ quốc ngữ mà ở đây, nó được nh́n như một lợi khí truyền đạo và đồng hoá văn tự của các giáo sĩ và thực dân xâm lược buổi đầu.

29. Những hàng chữ in nghiêng là nhan đề những sách do Trương Vĩnh Kư viết ra.

30. “Người có ḷng với nước chẳng khi nào bắt cá hai tay được cả công lẫn lợi, và cả danh tiếng nữa, nếu thế th́ là quân giả dối cả”. (Phan Châu Trinh).

31. Hai câu đối trước cổng trường Pétrus Kư Saigon :

Khổng – Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm.

 

ĐDTB, ngày 29/8/09

  



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend