TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THÔNG NGÔN CHO SỨ THẦN Y PHA-NHO-CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT HỢI (1876)(Chương V-VI)


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED  

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

THÔNG NGÔN CHO SỨ THẦN Y-PHA-NHO

 

Như đă tŕnh bày ở chương hai, cũng như các giáo sĩ thuộc quốc tịch Pháp, giáo đoàn Đa-minh Y-pha-Nho đă đến miền Bắc Việt Nam từ các thế kỷ trước để thi hành chính sách “hạt tiêu và các linh hồn” của chính phủ họ giao phó.

Sự cùng khổ do chủ trương bài đạo của chính quyền bản xứ đem lại cũng như sự cùng vui qua ư đồ “hạt tiêu” của các giáo đoàn thuộc hai quốc tịch đă khiến cho hai nước Pháp và Y-pha-Nho liên kết với nhau trong một hành động : chinh phục Việt Nam bằng vơ lực mà hai xứ “Cochinchine” và “Tunquin” là hai vùng ảnh hưởng mạnh của các giáo đoàn Pháp – Y.

Thế nhưng, từ khi các tỉnh Nam kỳ bị liên quân Pháp – Y chiếm cứ, nghĩa là sự liên kết của họ đă cụ thể hoá bằng một quyền lợi sơ khởi, th́ mối tranh chấp cũng thật sự bắt đầu nổ ra giữa hai nước này trên vấn đề quyền lợi thuộc địa.

Sự tranh chấp đó kéo măi về sau, đôi lúc trở nên thật là gay gắt. Ngày mà đại tá Palanca (Y-pha-Nho) lên tiếng phản đối Bonard về việc chia cắt các tỉnh Nam kỳ, Bonard đă không ngần ngại nói huỵch toẹt ra rằng : “Nếu Y-pha-Nho muốn bồi thường th́ họ phải chiếm Bắc kỳ”. Lời nói thách thức ấy phải chăng là nguyên động lực dẫn tới cuộc dấy loạn qui mô của Tạ Văn Phụng tại Bắc kỳ từ 1861-1865 [1]. Lực lượng Pháp quân tại Nam kỳ đă khước từ yểm trợ cho “con gà” của các cha Đa-minh Y-pha-Nho. Để trả thù  sự lật lừa của Pháp, năm 1873, khi Francis Garnier cầm thư giới thiệu của thống soái Dupré ra Bắc nhờ sự ám trợ nội công của các giáo quyền Thiên Chúa tại đây, trong kế hoạch gây hấn và đánh chiếm Bắc kỳ, Garnier đă bị giám mục Y-pha-Nho Colomer khước từ một cách phũ phàng bằng cách không thèm tiếp kiến viên đại uư Pháp này ; hơn thế, các nhà thờ  Đa-minh Y-pha-Nho c̣n sẵn sàng che giấu các quan lại Việt Nam khi họ thất thủ t́m nơi đào ẩn [2]. Thật là một sự trớ trêu của lịch sử !

Có thể nói từ hoà ước 1862 kư kết giữa ba nước Pháp-Việt–Y trở đi, ngoài mặt Pháp – Y vẫn coi nhau như là đồng minh, nhưng thật sự bên trong mỗi nước ngầm tính đường đi nước bước riêng của họ.

Năm 1870, đánh hơi cuộc chiến tranh sắp bùng nổ giữa Pháp – Đức khiến cho nhà cầm quyền Pháp tại Nam kỳ co gối im tiếng, Y-pha-Nho chụp lấy cơ hội gởi một phái đoàn đến Huế đề nghị một thoả hiệp thương mại và giao hảo. Trước khi tới Huế, sứ thần Patocot [3] ghé Saigon, ngỏ lời xin với soái Cornulier-Lucinière mượn Trương Vĩnh Kư theo làm thông ngôn.

Nguyên chuyến Pháp du theo sứ bộ Phan Thanh Giản năm 1863, Trương Vĩnh Kư có qua Y-pha-Nho, viếng Madrid, Escurial…, đă để lại một sự chú ư nơi các nhân vật trong triều đ́nh Nữ hoàng nước này. Từ ngày ấy, Y-pha-Nho có ư định dùng TrươngVĩnh Kư thông ngôn cho các cuộc thương thảo Việt Nam – Y-pha-Nho. Năm 1868, Y-pha-Nho tặng ông bội tinh Isabelle-la-Catholique.

Nay, trước sự yêu cầu của một bạn đồng minh (!) giữa một hiện t́nh gay go cho chính quốc cũng như cho thuộc địa, đô đốc Lucinière không thể từ chối, buộc ḷng phải chấp thuận cho Trương Vĩnh Kư một hạn nghỉ phép để đi Huế với phái bộ Y-pha-Nho (1-4-1870). Đây là lần thứ hai, ông giáp mặt vua Tự Đức, dùng ba tấc lưỡi khéo léo để thoả măn ư định của một nước ngoài [4].

Nhưng ư định đó có thỏa măn được không ? Theo Quốc Triều Chánh Biên [5] th́ “nước ta nghĩ thư ấy (quốc thư của Y-pha-Nho) nói không chắc chắn việc ǵ nên không trả lời”. Tuy vậy hai ông Nguyễn Tri Phương và Trần Tiễn Thành đă hỏi ḍ ư kiến sứ thần xem nước Ư đại Lợi [6] có thể giúp ta thu phục Nam kỳ không và  được trả lời là không thể trông cậy ǵ [7]. 

Từ một đồng minh của Pháp trong cuộc chinh phục Nam kỳ, nay Y-pha-Nho lại được triều đ́nh Huế hỏi ư kiến nhờ ngoại viện để đánh Pháp lấy lại Nam kỳ, lịch sử quả thật đă có những trớ trêu [8].

Ngày 5-8-1870 tin chiến tranh Pháp Đức bùng nổ bay tới Saigon. Đô đốc Lucinière vội cho tổ chức pḥng thủ sông Saigon, đề pḥng một sự lật ngược t́nh thế của Nam triều.

Giữa lúc đó, Trương Vĩnh Kư theo sứ bộ Y-pha-Nho chu du và công cán Hương Cảng, Ma Cao, Quảng Châu, Sán Đầu và Ao-Môn ; ông viếng thăm Quảng Tây cho đến giáp giới Quí Châu. Không biết có phải đây là dịp để ông xa lánh t́nh h́nh bấp bênh ở Saigon hay chăng, điều chắc chắn đây là sự đền công của Y-pha-Nho đối với người thông ngôn có một kiến thức vững vàng về những vấn đề bản xứ. Nhưng dưới mắt của các đương chức Nam kỳ, chuyến “công xuất” ấy quả là bước đầu của một cử chỉ “bội t́nh” nên Trương Vĩnh Kư bị cho nghỉ việc. 

Tuy nhiên sau đó, v́ không muốn để mất một công cụ tốt vào tay kẻ khác mà ḿnh đă dày công đào tạo, nhà cầm quyền Pháp trở lại đặc biệt ưu đăi Trương Vĩnh Kư. Ông được chỉ định điều khiển Trường Sư phạm, phong Huyện hạng Nhất (1-1-1872), rồi thư kư Hội đồng châu thành Chợ Lớn (1-6-1872). Rồi nào là hội viên Hội Khoa học nhân bản miền Tây - Nam Pháp quốc (Société humanitaire et scientifique du Sud - Est de la France) uỷ viên thông tin trường Đông phương ngữ (membre correspondant de l’école des Langues orientales) cùng rất nhiều chân trong các hội thông thái khác. Vận tốt đă đến với ông. Chỉ mới 35 tuổi, thay v́ đạt tới cái vinh dự trong ḷng dân tộc, đất mẹ, Trương Vĩnh Kư lại thênh thang bước công danh của ông trên những con đường do mẫu quốc đă vạch định.

Ngày 20-2-1873, do quyết định của đô đốc Pothuau, Trường Cai trị (Collège des Stagiaires) được mở ra tại Saigon và Trương Vĩnh Kư được giao phó – sau Eliacin Luro – đào tạo lớp cán bộ cai trị người Pháp và tay sai bản xứ. Lương của ông lúc đó lên đến 9.000 đồng quan mỗi năm.

Ngày 17-11-1874, Trương Vĩnh Kư lại là hội viên của cái gọi là “Hội đồng học chính cao cấp” để lo liệu, lèo lái nền học mới mà từ những năm đầu đặt chân tới Nam kỳ, người Pháp đă sớm tiên liệu và sắp đặt những tiến hành cuộc chinh phục tinh thần tiếp theo sau cuộc chinh phục bằng vơ lực.

Chú thích:

1. Quốc Triều Chánh biên chép :”Tháng 5 năm Tân Dậu (1861), nước Y-pha-Nho phái một chiếc tàu tới nhờ quan quân thứ Biên Hoà đệ tờ thư cầu hoà. Thư dâng lên, nội dung nói xin ở núi Đồ Sơn, lập sở Tuần ty tại huyện Nghiêu Phong tỉnh Quảng Yên trong mười năm sẽ trả lại, nếu không cho, thời gây việc tới Bắc Kỳ.

2. Đưa đạo Công giáo Việt Nam vào màu sắc chiến tranh, giám mục Adran đă dựng lên một mẫu người đóng một vai tṛ liên tục : đó là ông quan giám mục (capitaine-évèque) (Hélène Tournaire, Livre Jaune du Việt Nam, Paris 1966, p.37.

3. Quốc Triều Chánh Biên chép là A-đôn-pho-bắc-xu. Ở đây người viết theo Khổng Xuân Thu, Trương Vĩnh Kư, Tân Việt xb, tr. IX, ghi là Patocot. Vậy A-đôn-pho-bắc-xú là một tên nào khác chăng ? Nhưng xét trong năm Canh Ngọ 1870, chỉ có mỗi sứ bộ Y-pha-Nho đến Huế một lần duy nhất.

4. Bouchot, sđd, tr. 24.

5. Ấn bản của Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam, 1972, tr.359.

6. V́ Ư đại Lợi đă từng có chiến tranh với Pháp từ những năm trước. Triều đ́nh Huế hỏi nhờ Ư đại Lợi v́ lúc ấy Pháp Đức chưa đánh nhau. Đến ngày 19-7-1870, cuộc chiến tranh Pháp Đức mới bùng nổ và măi tới ngày 5-8-1870 tin ấy mới tới Saigon.

7. Xem Phan Khoang Việt Pháp bang giao sử lược, Huế 1950, tr.164.

8. Nguyễn Trường Tộ trong bản điều trần ngày 26 tháng 9 Tự Đức XIX c̣n khuyên triều đ́nh Huế nên liên kết với Y-pha-Nho chống Pháp (xem Nguyễn Lân, sđd, tr.130).

 

CHUYẾN ĐI BẮC KỲ NĂM ẤT HỢI (1876)

 

Đối với chính sách thuộc địa Pháp, vai tṛ của Trương vĩnh Kư một đôi khi thật là bí mật. Nhiều sứ mạng giao phó cho ông, chỉ giữa ông và người Pháp có thẩm quyền cao cấp nhất tại Việt Nam thấu triệt mà thôi. Ngay như Paulin Vial, người đứng vào hàng thứ sau thống đốc Nam kỳ trước kia và Thống sứ Bắc kỳ sau này, cũng đă tỏ ra hoàn toàn mù tịt về một hai công tác mà Trương Vĩnh Kư lănh thi hành. Điều này khiến cho viên Giám đốc Nội vụ đôi lần nổi doá, ra mặt ḱnh chống với họ Trương [1].

Chuyến đi Bắc kỳ năm AᴠHợi (1876) của Trương Vĩnh Kư, thông thường, được nh́n như một chuyến du lịch ghi chép danh lam thắng cảnh những nơi ông đă đi qua. Lịch sử và văn học đều cho biết như vậy, không hơn kém. Ngay cả các con ông, khi được Bouchot hỏi về chuyến đi, cũng cho rằng đó là một chuyến du lịch thuần tuư đầy hứng thú của một nhân vật Nam kỳ tại đất Bắc, mặc dù Bouchot từng đặt nhiều nghi vấn trong chuyến đi, giữa một t́nh thế cực kỳ căng thẳng của Bắc kỳ [2]. Phải chăng các con ông thiếu am tường về những hoạt động của thân phụ hoặc có thể không muốn công bố một hành tung chính trị của người thân vốn đă có một ảnh hưởng khá tốt đẹp trong sử sách cũng như ngoài cuộc đời ?

Muốn thấy rơ tính cách quan trong chuyến đi của Trương Vĩnh Kư, tưởng nên t́m hiểu qua cái nội t́nh rối ren của Bắc kỳ lúc bấy giờ.

Người Pháp, khi đặt chân tới Nam kỳ, tham vọng của họ không chỉ giới hạn trong dải đất chữ S mà c̣n lăm le đến cả thị trường to lớn miền Nam Trung Hoa. Đông Dương đối với họ như một bàn tay mà năm ngón là năm con sông lớn người Pháp cần phải làm chủ để giao thương. Đó là sông Mékong, Ménam, Saluen, Iraouaddy và Hồng Hà [3]. Ngay sau khi củng cố thế đứng tại Nam kỳ, nhà cầm quyền thuộc địa phái đoàn thám hiểm Lagrée - Garnier ngược sông Mékong để t́m đường lên miền Nam Trung Hoa. Kết quả cho thấy ngả ấy có nhiều bất tiện. Nhưng nhờ chuyến đi này, Garnier đă gặp được Jean Dupuis, thương nhân hội viên Học hội nghiên cứu Đông Dương, tại Hán Khẩu ngày 2-6-1868 và họ đă bàn tính dùng ngả vịnh Bắc kỳ theo sông Hồng Hà ngược lên Vân Nam. Do đó mà năm năm sau, đă có sự xâm nhập ngang tàng của tên lái buôn Dupuis vào Bắc kỳ năm 1872, rồi tiếp theo là sự can thiệp hỗn láo của Francis Garnier năm 1873.

Với việc bành trướng thế lực ra Bắc của người Pháp, cục diện Bắc kỳ đă bày ra những biến cố như sau :

- Do thư giới thiệu của thống đốc Nam kỳ Dupré, giám mục Puginier đă tích cực cho lệnh giáo dân ám trợ Garnier và Dupuis trong kế hoạch gây hấn và đánh chiếm các thành tŕ Bắc kỳ để cuối cùng buộc ta kư ḥa ước (hay thương ước) Giáp Tuất 1874 [4].

- Để phản ứng tự vệ và cũng để vẹn ḷng trung quân ái quốc, non ba ngàn sĩ phu đất Bắc nhất tề đứng dậy, cầm đầu là hai ông tú tài Trần Tấn và Đặng Như Mai, dựng cờ B́nh Tây Sát Tả, hịch rằng :"Triều đ́nh dẫu ḥa với Tây mặc ḷng, sĩ phu nước Nam vẫn không chịu, vậy trước hết xin hết giáo dân, rồi sau đánh đuổi Tây cho hết, để giữ lấy cái văn hoá của ta đă hơn một ngàn năm nay" [5].

- Về phía lực lượng Nam triều, một mặt các quan lại lẩn tránh trong các nhà nguyện ḍng Đa-minh Y-pha-Nho, một mặt khác họ liên kết với đảng Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, chống trả Pháp bằng những trận phục kích và kết quả đă chặt đầu được Francis Garnier tại Ô Cầu Giấy. Nhưng đáng kể nhất là việc vua Tự Đức phái sứ bộ Bùi Ân Niên, Lưu Hoành, Lê Cát sang triều cống Thanh triều t́m thế dựa để chống trả lại bạo lực của Pháp muốn thôn tính Bắc kỳ.

- Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Triệt bắt được mật thư của Dupuis gởi cho giám mục Ngô Gia Hậu (Gauthier) nói "hiệp vốn mở sự buôn từ Bắc kỳ lên Vân Nam" [6], bèn ủng hộ Văn Thân phản ứng, hậu quả là cuộc tàn sát dữ dội giữa Lương Giáo xảy ra, trong đó mười bốn xă có đạo Thiên Chúa bị đốt phá và rất nhiều nhà cửa dân Lương bị thiêu huỷ cùng thiệt hại sinh mạng, trong đó có cả gia đ́nh quan chủ tỉnh Nam Định Tôn Thất Triệt.

Tất cả các biến cố trên dệt thành một tấm thảm đen tối trải ra trên toàn cơi Bắc kỳ và đó là khung cảnh chung, nổi bật nhất trước khi Trương Vĩnh Kỳ đặt chân tới đất Bắc.

Căn cứ vào báo cáo của Trương Vĩnh Kư đồng thời kiểm soát thẻ lương của đương sự vào năm ấy (1876), người ta được biết rằng, do lệnh của đô đốc Duperré,Trương Vĩnh Kư được ứng trước ba tháng lương, bí mật ra Bắc t́m hiểu t́nh h́nh.

Rời Saigon ngày 15-1-1876 trên chiếc tuần dương hạm Duchapaud, Trương Vĩnh Kư ghé Đà Nẵng để cho lên bờ tại đây hai viên chức cai trị người bản xứ, rồi cập bến Hải Pḥng vài ngày sau. Từ địa điểm này, ông đă dùng cáng có đoàn hộ tống đi Hà Nội, Nam Định, Phát Diệm, Thanh Hoá, Ninh B́nh... Ông đă tiếp xúc hầu hết các nhân vật hữu trách miền Bắc, quan lại Nam triều như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tăng Doăn ; hàng giáo phẩm Thiên Chúa giáo như giám mục Puginier, Cố Sáu (linh mục Trần Lục) v.v... Trong ba tháng, ông đă t́m hiểu cặn kẽ t́nh h́nh, từ sự xung đột trầm trọng giữa giáo dân và dân lương, trong đó "cố Sáu đă đi quá xa thiên chức một tu sĩ" [7] cho đến nỗi thống khổ của dân lành đang "rên siết trong sự nghèo đói cùng cực v́ giặc giă loạn lạc" [8]. Nhưng những điều cần biết nhất cho Soái phủ Nam kỳ lúc bấy giờ chính là thâm ư của quan lại Nam triều đối với âm mưu xâm chiếm Bắc kỳ của Pháp.

Trong báo cáo đề ngày 28-4-1876 gởi cho đô đốc Duperré - qua trung gian tham mưu trưởng Regnault de Premesnil - Trương Vĩnh Kư đă viết :

"Các quan lại (Nam triều) thường nói với tôi rằng nước Pháp cố ư xâm chiếm xứ này. Tôi trả lời là không (sic) và tôi căn cứ vào hiệp ước hoà b́nh và thương mại cùng những mối lợi đảm bảo cho nước Nam. Thực tế, sự hiện diện của các lănh sự quán và những đồn binh Pháp tại Bắc kỳ là một đảm bảo giá trị cho sự yên tĩnh của chính quyền An Nam và sự nghỉ ngơi của dân chúng các miền lân cận [...] Trong những vùng ngoại vi của các lănh sự quán và những đồn binh Pháp, sự buôn bán và sinh hoạt thường ngày đă trở lại.

"Làm thế nào cư xử đối với người Pháp để khả dĩ thu hoạch thắng lợi hoàn toàn ? Người ta lại hỏi tôi như vậy.

"Thưa quí vị, tôi (Trương Vĩnh Kư) đáp, tất cả quư vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ư muốn xâm chiếm xứ này, họ đă có thể làm việc ấy từ lâu, một cách dễ dàng không cần bàn căi ǵ cả. Quư vị phải hiểu rằng quư vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, chi bằng quư vị chỉ nên tin tưởng vào những bạn đồng minh tiếng tăm của quư vị và phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, không hậu ư, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ, chứ không phải một cái ch́a ra c̣n bàn kia th́ giữ lại. Bằng ngược lại, mệt trí v́ những do dự của quư vị, những điều nói nữa lời đầy âm mưu của quư vị, nước Pháp buộc ḷng phải ngưng che chở và bỏ mặc quư vị với số phận.

"Nói rơ hơn, đây là h́nh ảnh tương tự tôi dùng để ví : nếu một bàn tay tựa vào cánh tay của một người, c̣n bàn tay kia quư vị dùng để cù họ, tất nhiên cánh tay của người đó tự nó phải tuột ra ; quư vị sẽ phải đón nhận một sức phản động nào đó, quư vị sẽ rơi xuống rất thấp và hầu như măi măi không có cơ gượng dậy được nữa..." [9].

Luôn luôn và đâu đâu, có dịp là Trương Vĩnh Kư đề cập đến sự nước Nam cần phải được nước Pháp bảo hộ. Ông cho rằng chỉ có "ảnh hưởng của chính quyền Pháp là khả dĩ trở thành tất cả ưu thế và là một sức nặng đáng kể trong việc thi hành những cải cách khẩn thiết về chính trị, kinh tế, hành chánh, tài chánh, pháp luật v.v... tại xứ này [10].

Trong khi Philastre - một viên quan cai trị cao cấp Pháp - cho rằng :"Nước Nam không cần ta (Pháp) giúp, nếu muốn bóp nghẹt một nền văn minh cũ kỹ và đáng kính trọng, như thế là phạm một tội đại nghịch nhân loại" [11] th́, "trong niềm tin tưởng sâu kín", Trương Vĩnh Kư nghĩ rằng "nhà cầm quyền Huế, nếu không được giúp đỡ, đành bất lực trước công tác (cải cách) vĩ đại kia và chỉ duy có nước Pháp là đủ khả năng để dựng cái quốc gia tàn tạ này dậy, nếu chính quyền sở tại thành thật đếm xỉa tới sự bảo hộ của nó" [12].

 

Tuyên truyền cho chính sách xâm lược của Pháp như thế chưa đủ, Trương Vĩnh Kư c̣n mách lẻo tài nguyên của đất Bắc : "Tôi chưa kể đến những tài nguyên khoáng sản phong phú, mênh mông [...] người ta quả quyết rằng những núi này (Tam Điệp) có chứa mỏ kẽm trong vùng lân cận tôi đă đi ngang qua"...[13]

Với chuyến đi bí mật ra Bắc ấy, nhà cầm quyền thuộc địa đặc biệt tỏ ra tin tưởng Trương Vĩnh Kư hơn lên. V́, sau khi trở về Saigon, ông được đô đốc Duperré chọn làm uỷ viên Hội đồng cai trị thành phố Saigon. Theo nguyên tắc, trong số mười uỷ viên người chính quốc, th́ chức vụ Đốc lư, phụ tá và bốn uỷ viên khác phải do nhà cầm quyền thuộc địa đề cử ; Duperré đă kư quyết định ngày  28-7-1877 cử Trương Vĩnh Kư vào toà nhà cai trị. Ông là người Việt duy nhất trong Hội đồng và h́nh như đối với chính quyền thuộc địa thời ấy, ông đă chiếm một địa vị hàng đầu [14].

                                                                       o0o

"Người Pháp không cố ư xâm chiếm Bắc kỳ". Lời nói ấy của Trương Vĩnh Kư vẫn c̣n văng vẳng bên tai các quan chức tại Bắc kỳ nhưng họ vẫn đặc biệt xây thành đắp luỹ đề pḥng v́ "mười năm thương ước, ḷng đối phương không thể dễ tin!" [15].

Quả thật, sáu năm sau ngày Trương Vĩnh Kư phát ra lời nói ấy tại đất Bắc, đại tá Henri Rivière đă trả lời bằng trận hăm thành Hà Nội (25-4-1882) và kết quả là quan Tổng đốc Hoàng

Diệu đă treo cổ tự ải trước Vơ miếu [16].

Cái chết của người văn nhân họ Hoàng ấy có gieo một ba động nào trong phần sâu thẳm tâm hồn của nhà học thức họ Trương ?

Có điều chắc chắn là từ năm đó trở đi, Trương Vĩnh Kư tỏ ra im hơi lặng tiếng. Đời chính trị của ông bị gián đoạn bởi những năm im lặng mặc dù thỉnh thoảng, người Pháp vẫn lôi ông ra để ban cho hàm này, tặng cho huy chương kia.

Năm 1881, lần đầu tiên vận số đến gơ cửa cái gia đ́nh sum họp của Trương Vĩnh Kư : đứa con thứ bảy của ông, Félix Trương Vĩnh Kư, chết năm mới lên ba tuổi ; năm sau, 1882, đứa con thứ tám, Trương Vĩnh Tiên, cũng ĺa đời. Trương Vĩnh Kư rơi vào nỗi sầu mênh mông. Ông t́m sự khuây khoả trong thú giao thư, trao đổi kiến thức với các nhà thông thái chính quốc.

Năm 1883, ông được tin vua Tự Đức thăng hà.

Năm 1884, giữa khi tiếng súng của quân Pháp chiếm thành Sơn Tây, rồi Bắc Ninh (12-3-1884), ông cho chào đời người con thứ chín : Nicolas Trương Vĩnh Tống.

Những cuộc trao đổi thư từ giữa Trương Vĩnh Kư với Ernest Renan, Littré, Paul Bert... vẫn được tiếp tục, nhưng đặc biệt với Paul Bert, Trương Vĩnh Kư đă giữ nhiều liên lạc chặt chẽ nhất đối trước t́nh h́nh hai nước Pháp - Nam.

Chú thích:

1.Xem thư Paulin Vial gởi Trương Vĩnh Kư ngay sau khi Paul Bert chết, và việc quyền Giám đốc Nội vụ Villard kư lệnh cho Trương Vĩnh Kư nghỉ ba tháng không lương (Bouchot, sđd, tr. 52 và 62).

2.Bouchot, sđd, tr.30.

3.Xem Albert de Pouvourville, Francis Garnier, tr. 53.

4.Xem J. Chesneaux, sđd, tr. 123-125

5. Paulin Vial, sđd, tr. 54.

6.Xem Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Tân Việt xb, tr. 521.

7.Quốc Triều Chánh biên, sđd, tr.368.

8.Bouchot, sđd, phần phụ lục, tr. 83-85.

9.Bouchot, sđd, tr. 86-87.

9.Bouchot, sđd, tr. 87.

11.Trích dẫn theo Phan Khoang, VN Pháp thuộc sử, tr. 255.

12.Bouchot, sđd, tr.87.

13.Bouchot, sđd, tr. 81,85.

14.Bouchot, sđd, tr. 32.

15.Trích lời di biểu của Hoàng Diệu.

16 và Paulin Vial, sđd, tr. 54..tráng thay cái chết của sĩ phu tiết tháo họ Hoàng! Nằm trong ḷng đất mẹ rồi mà vẫn bị tên thông ngôn (lại cũng là thông ngôn), trước từng được lệnh chủ Pháp là Rivière phái vào thành thương thuyết với quan Tổng đốc, y cậy thế tỏ ra phách lối bị Hoàng Diệu cho lính nọc đánh và đuổi ra khỏi thành, nên khi Rivière sai y đi t́m sự thật về cái chết của vị tổng đốc, tên thông ngôn đă cho đào ngay chỗ chôn lên để nhận diện : chiếc khăn nhiễu xanh vẫn c̣n quàng nơi cổ của vị tổng đốc ! (xem Paulin Vial, sđd, tr.99).

ĐDTB, ngày 29/8/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend