TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

HỢP TÁC VỚI PAUL BERT VÀ ĐỒNG KHÁNH (Chương VII) - THAY LỜI KẾT (Chương VIII)


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED  

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

HỢP TÁC VỚI PAUL BERT VÀ ĐỒNG KHÁNH

 

Trương Vĩnh Kư quen biết Paul Bert từ khi ông theo sứ bộ Phan Thanh Giản  sang Pháp (1863). Paul Bert là nhà thông thái đồng thời là một chính khách tiếng tăm. Từ ngày c̣n trẻ tại Algérie, Paul Bert đă nổi danh là một giáo đồ xác tín của chính sách thuộc địa ; bên cạnh những đồng liêu Gambetta, Jules Ferry, Félix Faure, Eugène Étienne..., ông là một trong số các chính khách góp phần đem nước Pháp vào con đường bành trướng ra hải ngoại.

 

Nước Pháp, từ sau cuộc chiến tranh Pháp - Đức 1870, khoản chiến phí đài thọ cho Đông Dương trở thành một gánh nặng cho chính quốc. Đặc biệt là sau cái chết của Garnier rồi Rivière tại Bắc kỳ, Hạ nghị viện Pháp rất đỗi bất b́nh, đ̣i rút quân về. Trong số 33 uỷ viên đặc trách bàn thảo vụ Bắc kỳ, chỉ có 6, 7 ông khăng khăng đ̣i duy tŕ sự chiếm cứ. Paul Bert có mặt trong thiểu số đó [1].

 

Ông hô hào trên báo chí, trong nghị trường Pháp : "Danh dự và quyền lợi về thương mại buộc nước Pháp ở lại đất này ; lại c̣n quyền lợi về chính trị nữa [...] , bỏ Bắc kỳ ấy làm cho Nam kỳ, Cao Miên khởi loạn, Trung kỳ nổi dậy..." [2] và ông chủ trương một đường lối mềm dẻo thay cho biện pháp cứng rắn của thống tướng De Courcy đối với triều đ́nh Huế nói riêng và Bắc, Trung kỳ nói chung. Kết quả sự hô hào đó là, sau khi lên thay thủ tướng Brisson, ông Freycinet đă cử Paul Bert sang làm toàn quyền tại Việt Nam.

 

Đặt chân đến Saigon khoảng tháng 2 năm 1886, Paul Bert liền móc nối ngay Trương Vĩnh Kư, có ư dùng Trương như một người phát ngôn khả dĩ vừa làm cho người Pháp tin được, vừa có đủ thẩm quyền hàng phục những kẻ khác (về phía Nam triều), bởi v́ dưới con mắt của Paul Bert, Trương Vĩnh Kư rơ là người luôn luôn trung thành với nước Pháp [3].

Công tác đầu tiên mà Paul Bert đặt ngay với Trương Vĩnh Kư tại Saigon là việc giới thiệu nhân sự để thi hành chính sách của nhà cai trị dân sự trí thức này. Trong lá thư đề ngày 22-3-1886 tại Saigon, Paul Bert viết :

 

"Tôi cần có ở ông danh sách những người An Nam trong khắp nước có thể làm những thông ngôn tốt bên cạnh các trú sứ của chúng tôi, v́ hơn ai hết, ông (Trương Vĩnh Kư) là người thích hợp nhất để đảm nhận việc chỉ điểm này.

 

"Thứ đến, nhân tiện ông có thể theo bạn Pène đến Huế để [...] chọn lựa những người bạn có kiến thức và bảo đảm ngơ hầu (sau này) đặt họ vào - dưới quyền điều khiển của ông - những uỷ nhiệm hữu ích mà chúng ta đă bàn thảo với nhau trong cuộc hội kiến đầu tiên".

 

Bằng lá thư đề ngày 27 tháng 3 viết tại Chợ Quán, Trương Vĩnh Kư trả lời Paul Bert rằng ông :"sẵn sàng danh sách những người làm thông ngôn", đă phiên dịch bản hiệu triệu của Paul Bert và trù tính một công thức thành lập Hội đồng Tư vấn, nhất là "nhờ sự kết hợp với ông Pène Siefert và các bạn", Trương Vĩnh Kư tin rằng ông "có thể dọn đường cho Paul Bert những khó khăn gây trở ngại cho giải pháp quyết định mà An Nam đang chờ đợi" [4].

 

Giải pháp quyết định mà An Nam đang chờ đợi đó là giải pháp nào ? Ấy là việc Paul Bert đặt Trương Vĩnh Kư vào Cơ mật viện [5] Nam triều, nằm bên cạnh Đồng Khánh để đốc thúc:

 

1. Băi bỏ bản Phụ ước của Thống tướng De Courcy ;

2. Thi hành hoà ước Patenôtre (1884)

3. Thêm một điều khoản phụ cho nước Pháp quyền kiểm soát và điều khiển nền hành chánh xứ Bắc kỳ, không có sự can thiệp của nhà cầm quyền An Nam. [6]

 

Băi bỏ bản Phụ ước vào hoà ước 1884 của tướng De Courcy có nghĩa là chấm dứt một đường lối quân sự cứng rắn nhưng đầy lầm lẫn của một tướng lănh thuần tuư về quân sự nhưng hoàn toàn dốt nát về chính trị (plus soldat que diplomate) [7] khiến cho vua Hàm Nghi phải đào nạn, kinh thành Huế bỏ ngỏ, triều chính không ai coi ngó và do đó đối tượng để thi hành hoà ước 1884 cùng các văn kiện ngoại giao khác cũng bị biến tiêu.

 

Thi hành hoà ước Patenôtre (1884) có nghĩa là phế tiêu chủ quyền Việt Nam về tay Pháp một cách gián tiếp, ngoại trừ cái ngôi vị "Hoàng Đế An Nam" bù nh́n để làm cảnh ngoại giao [8].

 

Và thêm một điều khoản phụ cho nước Pháp quyền kiểm soát và điều khiển nền hành chánh xứ Bắc kỳ, không có sự can thiệp của nhà cầm quyền An Nam, ấy là cho phép người Pháp làm vua tại đất Bắc như họ đă từng làm vua tại Nam kỳ.

 

Lănh sứ mạng trên của Paul Bert, đầu tháng 4 năm 1886, Trương Vĩnh Kư đáp tàu cùng Paul Bert ra Huế, sung vào Cơ mật viện và Hội đồng Nội các, c̣n Paul Bert thẳng ra Bắc và đến Hà nội ngày 8-4-1886.

 

Ngày 17-7-1886, Trương Vĩnh Kư viết thư cho Paul Bert, tường tŕnh công việc sau khi tới Huế :

 

"Tôi khởi sự nghiên cứu người và việc để lâm thời khi nhà vua trở về chúng ta có thể bước vào giai đoạn cho sự tổ chức và những thay đổi cần thiết, với một thành phần nhân sự có tinh thần trách nhiệm cao.

 

"Tôi sẽ trấn áp những hănh thần [9] và sẽ bao vây lấy nhà vua, tôi cũng sẽ gom góp  những người thật sự có khả năng cho viện Cơ mật [...] Tôi vừa thuyết phục xong cho các nho sĩ hiểu rằng nước Nam không thể không cần đến nước Pháp, lại càng không thể chống lại nó được, mà phải cùng nhau tay trong tay bước đi, không một hậu ư...

"Tôi đang khởi sự một công tác mào đầu cho một kỷ nguyên mớ " [10]

 

Cái kỷ nguyên mới đó chính là chủ thuyết "Hợp tác - Khai hoá" mà Trương Vĩnh Kư - đứng sau lưng Đồng Khánh và dĩ nhiên có sự đồng t́nh của Paul Bert - cố thực thi  như một công tŕnh giúp vua dựng nước của ông. Khoảng cuối đời ông, ta thấy ông thường biện bạch và đề cao sứ mệnh đó của ḿnh "Tôi chỉ được dùng như một trung gian giữa hai dân tộc vừa gặp nhau tại Nam kỳ. Tôi chỉ giúp họ hiểu nhau và thương nhau (sic)" [11].

Nhưng có quả thật như thế không ? Điều ta nên nhớ rằng, sau ngày vua Hàm Nghi ra khỏi kinh thành và ban hịch Cần Vương, Đồng Khánh được người Pháp đưa lên như một "sản phẩm Pháp" (une créature francaise) không hơn kém. [12] Và các lực lượng kháng chiến Việt Nam từ Khánh - Thuận ra đến Thanh - Nghệ - Tĩnh đă nhất tề nổi dậy lập chính quyền riêng cho mỗi địa phương, phủ nhận hoàn toàn cái quyền hành bù nh́n của Đồng Khánh tại Huế. [13]

 

Trước t́nh thế ấy, muốn tiến tới thực thi hoà ước Patenôtre (1884) và chính sách thuế khoá của Paul Bert, điều kiện tiên quyết là phải bắt cho được vua Hàm Nghi và dập tắt lực lượng Cần Vương là cái chính nghĩa toàn dân đang hướng về.

 

Trong bức thư đề ngày 10-5-1886 tại Huế gởi cho Paul Bert, Trương Vĩnh Kư bày tỏ sự tán đồng của ông đối với chương tŕnh triệt hạ quân Cần Vương do linh mục Pène Siefert đưa ra :

 

"Tôi hết ḷng tán đồng dự án hoàn mỹ của Ông Pène về công cuộc b́nh định (thi hành) bởi những yếu nhân bản xứ".[14]

 

Những yếu nhân bản xứ đó là ai nếu không phải là Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Lê Hoan, Hoàng Cao Khải ...? Nhưng sâu sắc và nguy hiểm hơn các tay hành động ấy, Trương Vĩnh Kư là đầu năo nghiên cứu đẻ ra chiến lược cho người Pháp triệt hạ các lực lượng yêu nước Việt Nam. Ông điều nghiên từ tư tưởng của những người "An Nam phiến loạn" (Annamites rebelles) [15] đến thực lực của nghĩa quân Cần Vương :

 

"Những kẻ phiến loạn, như tôi từng nhiều dịp tŕnh với ngài, họ có đối tượng của chủ nghĩa ái quốc của họ: 1. Sự hận thù đối với các con chiên mà họ xem là những hàng ngũ bên cạnh người Pháp, được dùng như những kẻ hướng đạo và đưa đường chỉ lối. 2. Sự nghi ngờ đối với người Pháp nh́n chung mà họ cho là rất lật lừa và họ mô tả như là những quan thầy của xứ An Nam, trong các thành tŕ đâu đâu cũng thấy bóng người Pháp chiếm giữ, các quan lại bị hất ra khỏi những nơi trú ngụ thường ngày của họ và lúc ấy không có một quyền lực luân lư nào để không cho phép họ trả thù bằng cách khơi động cuộc dấy loạn trái phép...

 

"Nhưng bọn phiến loạn không đáng sợ ; họ chỉ có những binh khí cổ lỗ của chính quyền An Nam và vài vơ khí mới mua được của bọn buôn lậu Trung Hoa. Chứng cớ phơi bày ở Quảng Trị và Quảng B́nh là họ đă không thể cắt được, dù chỉ một lần, đường dây điện thoại". [16]

 

Thật không quá đáng khi nhiều người tại kinh thành Huế lúc bấy giờ cho Pène Siefert là một thứ thuốc độc mạnh (le plus violent poison) và Trương Vĩnh Kư là con người phản phúc (un traitre). [17]

 

Thật vậy, không những chỉ điều nghiên nội t́nh nghĩa quân Cần Vương, Trương Vĩnh Kư c̣n đi xa hơn, hoàn bị hoá chiến lược bằng chiến thuật thích ứng và hữu hiệu. Ông đề nghị và hối thúc Paul Bert tổ chức những đoàn lạp binh [18] với đầy đủ vơ khí để săn đuổi nghĩa quân, nhất là các lănh tụ Cần Vương :

 

"Hăy nhanh chóng thành lập những đoàn lạp binh và vơ trang cho họ ; Ngài không có điều ǵ phải quan ngại, dù các nhà quân sự đă nói về việc đó, v́ súng ống và quân nhu do ngài cung cấp, dù cho mượn hay bán cũng vậy, sẽ thuộc trách nhiệm trực tiếp của nhà vua (Đồng Khánh) và chính phủ Nam triều gia dĩ, sau vụ bạo hành ngày 5 tháng 7, [19] ngày nay chỉ c̣n cách là thần phục nước Pháp" [20]

 

Tổ chức binh đội tinh nhuệ, dù là đánh thuê, cũng chưa đủ tất thắng nếu không vạch ra được địa bàn chiến đấu và những con đường chiến lược. Hơn thế, như tướng thực dân Lyautey từng bảo : "Một con đường, nhiên hậu, không phải chỉ là con đường hành quân, con đường xâm lăng, mà c̣n là con đường để thâm nhập buôn bán ở ngày mai" [21]

Trong bức thư đề ngày 27-9-1886 gởi lên Đồng Khánh, [22] Trương Vĩnh Kư sau khi bàn tính và hợp ư với Paul Bert tại cửa Thuận An, đă đốc thúc ông vua bù nh́n nhiều việc quan trọng, trong đó có hai công tác chiến lược :

 

1. Đào nhanh chóng cái kinh nhỏ biệt sở Mang Cá ngăn đôi Trấn b́nh đài và Hoàng Thành để quân Pháp dễ khống chế hoạt  động đề kháng của cung đ́nh , tránh một vụ Tôn Thất Thuyết thứ hai ;

2. Bắt xâu cho nhiều và làm cho mau đường về Quảng Nam.

Đào kinh biệt sở Mang Cá, cái dụng ư ấy rơ như ban ngày. Nhưng c̣n việc mở đường về Quảng Nam ?

 

Chúng ta hẳn nhớ rằng quân Cần Vương lúc bấy giờ mạnh nhất là ở ba tỉnh B́nh định, Quảng Nam và Quảng B́nh. Tại B́nh Định, người Pháp dùng Trần Bá Lộc [23] áp dụng chiến thuật đốt sạch, phá sạch, giết sạch dẹp lực lượng của Mai Xuân Thưởng, Bùi điền và Nguyễn Đức Nhận, bắt sống các ông này đem chém giữa chợ. Về mạn Bắc, tỉnh Quảng B́nh là nơi vua Hàm Nghi đang đào ẩn kêu gọi đề kháng, người Pháp đă dùng "hồi chánh viên" Hoàng Kế Viêm hợp cùng các tướng tá Pháp mở những cuộc hành quân qui mô, kết quả là Nguyễn Phạm Tuân, hai con trai Tôn Thất Thuyết đều lần lượt đền nợ nước và cuối cùng vua Hàm Nghi bị bắt [24] ; chỉ c̣n lại Lê Trực cũng bỏ súng trở về đời sống nông dân bảo toàn khí tiết.

 

Riêng tại Quảng Nam, Nguyễn Duy Hiệu đă lợi dụng căn cứ địa hiểm yếu Quế Sơn, tổ chức tân tỉnh, dùng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến cầm cự với quân Pháp và binh Triều (ngụy quân) trong ba năm trời. Dù đă dựng lên tại đây những ba mươi sáu đồn binh, [25] người Pháp và Đồng Khánh vẫn hao tốn nhân mạng khá nhiều trước thuật du kích chiến của vị thủ lănh Cần Vương Quảng Nam. Cụ thể là viên đại uư công binh Besson và tất cả các hạ sĩ quan công binh tháp tùng ông ta đều bị nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu phục kích giết sạch - trừ một tên trốn thoát chạy về Huế cấp báo - khi bọn họ chỉ huy làm đường Huế - Quảng Nam. [26]

 

Xem thế, đúng như Lyautey đă vạch, việc Trương Vĩnh Kư thúc đẩy Đồng Khánh cấp bách mở đường về Quảng Nam, quả thật đó là một âm mưu sâu sắc nhằm đánh bại toàn lực của Nguyễn Duy Hiệu và, mặt khác, để nối con đường buôn bán từ mảnh đất nhượng địa Đà Nẵng mà Đồng Khánh đă bị ai đó giật dây kư quyền sở hữu cho Pháp.

 

o0o

 

Nhân nhắc đến "hồi chánh viên" Hoàng Kế Viêm ở một đoạn trên, tưởng nên mở một dấu ngoặc để nói về một bài Dụ "chiêu hồi" của Đồng Khánh. Hoàng Kế Viêm nguyên là Pḥ mă, một thời nức tiếng yêu nước cực đoan trên khắp các chiến trường Bắc kỳ. Ấy thế mà khi Paul Bert đáo nhậm, trước t́nh h́nh nhân tâm xao xuyến, quan lại đi theo cần Vương, Viêm đă được gọi về kinh khôi phục nguyên hàm rồi sung "Hữu kỳ an phủ kinh lư đại sứ" ra mạn Quảng B́nh là nơi vua Hàm Nghi và các quan lại đang đào ẩn. [27] Ư người Pháp muốn treo một cái gương "hồi chánh" cho những người kháng chiến Cần Vương trở về...

Vậy ai đă chủ trương và bàn tay nào đă xếp đặt công cuộc "chiêu hồi" ấy cho ông vua khùng và nhu nhược Đồng Khánh ? [28] Và không những chỉ có thế, ngày lănh mệnh ra Quảng B́nh, Hoàng Kế Viêm c̣n được Đồng Khánh ban cho một bài Dụ [29] để yết cho thân hào  được rơ. Người thảo ra bài Dụ không biết là ai, nhưng sử gia Nguyễn Thiệu Lâu lại đặt nghi vấn rằng :"Một vị hoàng gia, một đại thần trong Triều hay một tên Việt nào làm với Pháp thảo ra, rồi giao cho Nam triều đi niêm yết ?" [30]

 

Người viết, ở đây, chưa dám quyết [31] tác giả bài dụ đó là Trương Vĩnh Kư, nhưng căn cứ vào nội dung cùng văn khí của bản văn, cũng như qui nạp các dữ kiện,người ta khó thể bác bỏ luận cứ theo đó Trương Vĩnh Kư có thể là tác giả ẩn danh của bài Dụ kia. Mà không ẩn danh sao được khi ông chỉ là một thứ cố vấn bí mật hay một thứ nhị trùng điệp cho Paul Bert và Đồng Khánh ?

 

Xét nội dung bài Dụ có hai điểm quan trọng nổi bật :

 

1. Chính sách chỉ đạo công cuộc phủ dụ (chiêu hồi) ;

2. Toàn quyền bảo hộ Pháp là Paul Bert đă được thông qua trước chính sách nhiên hậu mới đem thi hành.

 

Nói về chính sách chỉ đạo công cuộc phủ dụ, bài Dụ có đoạn: "Hay là bảo rằng nước ḿnh không thể bảo toàn được chăng ? Sao không nghĩ bây giờ đại cuộc thiên hạ đă định, cách chánh trị đổi mới, hoà với Đại Pháp đều giữ như cũ, chánh lệnh thi hành đều là quyền ḿnh tự chủ, nào có ai trở ngại ?".

 

Người viết ngờ rằng không phải một vị hoàng gia, cũng không phải một vị đại thần trong triều, mà chỉ có thể là một người Việt làm cho Pháp, vai tṛ khá quan trọng mới thấu triệt được cách chánh trị đổi mới (Chính sách Paul Bert), hoà với Đại Pháp đều giữ như cũ (tức thực thi hoà ước 1884) và chánh lệnh thi hành đều là quyền ḿnh tự chủ...

 

Được biết, trong một thư gởi Paul Bert, Trương Vĩnh Kư có bày tỏ (hay mớm ư?) quan điểm của ông về chính sách chỉ đạo công cuộc phủ dụ như sau :

 

"Những kẻ phiến loạn rất dễ bị tiêu ṃn và trở lại ngoan ngoăn nếu người ta có thể làm cho họ cảm thấy rằng tại Huế quyền hành thật sự đều do người An Nam cả. Hăy xem ngay cả Hoàng Kế Viêm ; không bao giờ ông ta chịu cựa quậy nếu ông ta chưa hiểu rằng chính vua Đồng Khánh đă đích thân cầm đầu cuộc tuần thú, khởi đi từ Quảng Trị [...] Duy đó chính sách chân chính và tốt, tuy rằng nó không phải là món thích hợp cho nhà quân sự".

 

Một sự trùng hợp tư tưởng mà nếu không phải xuất phát từ một chủ năo, khó có thể ăn khớp được. Rơ ràng cái chính sách chỉ đạo công cuộc phủ dụ đă được mớm trước cho Paul Bert và nội dung đoạn văn bài Dụ chính là hệ quả của nhân ư kia. Gia dĩ, nếu người ta hiểu rằng trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1886 là thời điểm "chiêu hồi" Hoàng Kế Viêm để ông này mang bài Dụ ra Quảng B́nh kêu gọi vua Hàm Nghi cùng những kẻ ṭng vong, Trương Vĩnh Kư là nhân vật đặc biệt có ảnh hưởng rất nặng đối với chính sách của Đồng Khánh, đêm ngày chầu chực bên ngôi, giảng dạy bàn luận đại thế thiên hạ, những sự kiện ấy đă được chính Đồng Khánh xác nhận và ban ơn, [32] th́ người ta sẽ không lấy làm lạ để liên tưởng mà qui kết rằng kẻ thảo Dụ chẳng ai khác hơn là ông "Trương Sĩ Tải tiếng tăm chữ nghĩa trong Nam thổ". [33]

 

Phương chi, trong Dụ có nói : "Khi trước quan toàn quyền Công Pha (Paul Bert) tới Kinh vào yết, Ta (Đồng Khánh) đă thương miệng ông ấy cũng đă bằng ḷng...", vậy ai là người thông ngôn để cho Đồng Khánh thương miệng với Paul Bert nếu không phải là Trương Vĩnh Kư ? Vả chăng, xét thời gian bức thư (đề ngày 27-9-1886) Trương Vĩnh Kư gởi cho Đồng Khánh cũng lại có một sự trùng hợp đáng kể : Trong tháng 9 năm ấy (1886), nhằm vào tháng 8 năm Bính tuất theo sử biên, Paul Bert có vào Huế đề nghị phong vua Hàm Nghi làm tổng trấn Thanh, Nghệ, Tĩnh, th́ thư họ Trương cho biết là Paul Bert và Trương Vĩnh Kư có gặp nhau riêng tại cửa Thuận để "bàn tính các việc quan trọng, hai bên hợp ư nhau" và cuối cùng Trương Vĩnh Kư "lănh ư". Kế hoạch sắp đặt xong xuôi, Trương Vĩnh Kư về Nam và không quên giải thích chuyến hồi hương của ḿnh cho Đồng Khánh rơ : "Nay v́ đến lúc phải ẩn mặt một hồi cho được việc cho nước nhà, cho Hoàng Thượng. Bây giờ có khi Hoàng Thượng chưa thấy rơ là cần phải như vậy, rồi sau mới biết là mưu"...

Tóm lại, với nghi vấn của sử gia Nguyễn Thiệu Lâu, chúng ta chưa dám quyết người thảo bài Dụ là Trương Vĩnh Kư nhưng giả thiết chính họ Trương là tác giả của bản văn đồng thời cũng chưa bị loại ra khỏi những suy luận có tài liệu xác chứng. V́ với Đồng Khánh, ít ra một lần người ta được biết chính Trương Vĩnh Kư đă là tác giả của "Thái B́nh Dụ sách" bày t́nh "Pháp Việt nhứt gia".

 

Người viết xin đóng dấu ngoặc ở đây để trở lại vấn đề.

 

o0o

 

Trong bức thư gởi lên Đồng Khánh, ngoài hai công tác quan trọng là đào kinh biệt sở Mang Cá và mở đường về Quảng Nam, Trương Vĩnh Kư c̣n bảo Đồng Khánh "làm ra năm, mười khoản ước" cho rơ quyền hạn của Nam triều và Bảo hộ để ông đưa Paul Bert "nghị lại mà tính với nhau".

 

Về những khoản ước này, được biết trong tháng 5 năm 1886 Paul Bert có hứa với Nam triều nhưng không rơ nội dung gồm những khoản nào. Thế nhưng với bản thảo ước của Paul Bert gởi Trương Vĩnh Kư nhờ ông này dịch ra chữ Hán tŕnh lên Đồng Khánh và triều thần, ta thấy vị "tân giám quốc" đă cố gắng đi tới một thoả hiệp giữa ông và Đồng Khánh trong đó quyền cai trị Bắc kỳ coi như phế tiêu về tay người Pháp, và Trung kỳ ít ra là trên những đầu tỉnh và kinh đô Huế, quyền giám sát của Bảo hộ được thi hành như cũ (nghĩa là theo hoà ước 1884) nhưng thêm vào đó có các địa điểm thuế quan, tất cả được bao phủ, trau chuốt bởi những danh từ đẹp đẽ khả dĩ xoa dịu được tự ái của người Việt hơn. Trọng tâm chính sách của Paul Bert là thiết lập cho kỳ được các sở thuế quan bên cạnh các Trú sứ Pháp để tận thâu nền tài chánh nước Nam hầu cung ứng cho phí tổn của thuộc địa, mặt khác bù đắp vào nền tài chánh chính quốc bị thâm thủng kể từ sau chiến tranh Pháp - Đức. Đó là tất cả dụng ư của Paul Bert khi trao nhiệm vụ cho Trương Vĩnh Kư len lỏi vào viện Cơ mật Nam triều và nằm bên cạnh Đồng Khánh.

 

Tán trợ chủ trương tách Bắc kỳ ra khỏi Nam triều và Bảo hộ Trung kỳ đó, qua lá thư đề ngày 5-10-1886, Trương Vĩnh Kư nối đuôi Paul Bert :

 

"Nước An Nam (Trung kỳ) mà ngài sắp ban cho nền tự trị, sẽ bắt buộc ở dưới sự giám hộ của người Bảo hộ nó và với hai thế đứng của nước Pháp tại Nam và Bắc kỳ, những cử chỉ vị nghĩa sẽ được củng cố và công hiệu hơn. Tôi hiểu những t́nh ư thật sự của người An Nam mà tôi dám khẳng định với ngài rằng chính sách ấy là cách tốt hơn cả, bởi v́, một mặt ngài sẽ có lợi và đem lại cho nước Pháp sự mến mộ và ḷng tin tưởng nó đă đánh mất từ những năm vừa qua, đồng thời mặt khác ngài sẽ t́m thấy những nguồn lợi không kém phần thực tế cho các đồng bang của ngài trong cái xứ Bắc kỳ giàu có nhưng nền an ninh của nó lại đă quấy rầy đến sự b́nh trị của Trung kỳ cũng như ở biên thuỳ phía Bắc". [34]

Đóng vai tṛ một thứ cố vấn bí mật (hay nhị trùng điệp?) cho chính quyền thuộc địa và nguỵ quyền, Trương Vĩnh Kư thường tỏ ra am hiểu, hơn ai hết, những vấn đề bản xứ. Các quan lại Việt Nam khép ông là con người nguy hiểm, v́ ông thường đem cái sở học vọng ngoại trấn áp, đàn hặc các khuynh hướng yêu nước âm ỉ trong hàng các quan tại triều. Đến nỗi một người thiết thân với Paul Bert, J.Chailley trong sách Paul Bert au Tonkin, cho ông là một người biện luận quá khích và tư tưởng th́ cực đoan (les opinions vont à l'extrême).

Cho nên, dù lo cho quyền lợi của các đồng bang của Paul Bert là thế, Trương Vĩnh Kư đă không được cảm t́nh của nhiều người Pháp thuộc địa. Việc chịu lệnh Paul Bert biệt phái Trương Vĩnh Kư ra Huế, dưới mắt nhà cầm quyền phủ Thống đốc Nam kỳ rơ là một hành động qua mặt mà các đương chức Pháp không thể bỏ qua được. Quyết định của giám đốc Nội vụ Villard cho Trương Vĩnh Kư nghỉ giả hạn ba tháng không lương để đi Huế là một sự trừng trị đứa con dưỡng tử có nhiều hănh tiến. Sự kiện này đă khiến cho Trương Vĩnh Kư mất công phân bua, kêu gào đến Paul Bert [35] và ông cũng từng lên tiếng thống trách mẫu quốc: "Là người giúp việc kỳ cựu của chính phủ, tôi có quyền chờ đợi một sự tăng tiến chớ không phải một sự giảm thiểu lương bổng của tôi. Tôi không cần phải thêm rằng, trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đă bị lên án nặng nề". [36]

 

Nhưng đáng kể nhất là thái độ đố kỵ trầm trọng của Paulin Vial, người được coi là quan trọng vào hàng thứ tại phủ Thống đốc Nam kỳ trước kia và phủ Thống sứ Bắc kỳ sau này. Nguyên Vial có mối ganh tị với Trương Vĩnh Kư từ ngày ông này được đô đốc De la Grandière tín nhiệm giao cho nhiều công tác quan trọng tại Saigon. Ḷng ganh tị đó vẫn kéo dài cho đến khi Trương Vĩnh Kư được biệt phái ra Huế giữ vai tṛ bí mật cho Paul Bert, và Paulin Vial th́ theo Paul Bert ra Bắc giữ Trú sứ Hà Nội bên cạnh Kinh lược Bắc kỳ. Vial thường chống đối các đề nghị của Trương Vĩnh Kư, đến nỗi khi Paul Bert vừa nằm xuống, Vial lên xử lư quyền Tổng Trú sứ, lập tức Trương Vĩnh Kư bị hất ra khỏi vai tṛ bí mật kia. [37]

 

Mặc dù, theo lời Trương Vĩnh Kư, ông đă có công xây dựng "vị vua trẻ (Đồng Khánh) sẽ hoàn toàn bị chinh phục bởi nước Pháp mà tôi đă dạy cho nhà vua biết và yêu thích tiếng Pháp. Cần phải lợi dụng những bản chất tuyệt hảo và trung thành của nhà vua", [38] nhưng những hiềm khích từ hai phía Pháp - Nam đă làm cho Trương Vĩnh Kư bất măn và chán nản ; ông trở về Saigon nói là để dưỡng bệnh nhưng kỳ thật để "xa lánh sao Mộc tinh cùng các v́ sao lân cận". [39]

 

Ngày 11-11-1886, Paul Bert v́ công vụ nặng quá sức người đă trút hơi thở cuối cùng tại Bắc kỳ, mang theo những chương tŕnh cai trị bỏ dở của ông, trong đó có cộng sự viên bí mật Trương Vĩnh Kư.

 

Trương Vĩnh Kư đă thật sự mất người đỡ đầu. Cuộc đời chính trị của ông tới đây coi như đi xuống, nhưng ảnh hưởng của ông đối với chính phủ Pháp vẫn chưa tắt hẳn.

 

Ngày 15-1-1887, giám đốc Nội vụ Noel Pardon có gởi cho Trương Vĩnh Kư một thư yêu cầu cung cấp t́nh h́nh liên quan đến hai nhà cầm quyền Pháp - Nam để lâm thời tŕnh cho Bihourd, người kế vị Paul Bert, v́ hơn ai hết Trương Vĩnh Kư đă "đóng góp một phần tích cực vào sự bành trướng nền thống trị của Pháp". [40]

 

Bằng lá thư đề ngày 19-1-1887, ông đă trả lời Noel Pardon và người ta coi những ḍng chữ cuối cùng này đă chấm dứt sự nghiệp chính trị của Trương Vĩnh Kư. Kể từ đây, ông hoàn toàn rút lui vào cuộc sống ẩn dật v́ ông cho rằng "về danh vọng bây giờ nó không c̣n cám dỗ con sư tử đă già dặn và mất hết sức mạnh". [41]

 

Tính ra, hơn ba mươi năm hợp tác với người Pháp, ông đă được :

 

- Chính phủ Pháp tặng Bắc đẩu bội tinh ;

- Chính phủ Y-pha-Nho ban Hàn lâm bội tinh ;

- Đồng Khánh phong cho Hàn lâm viện thị giảng học sĩ v.v...

Nhưng c̣n đối với đất nước và nhân dân Việt Nam trong hơn ba mươi năm điêu đứng đó...???!!!

 

Chú thích:

 

1.Và đúng như Lanessan đă nhận định : "Chính sách của thừa sai là chính sách được áp dụng từ trước đến nay..." v́ cùng với Paul Bert, giám mục Freppel đă chống lại chủ trương rút quân khỏi Bắc kỳ, ông cho rằng không thể bỏ rơi bốn, năm trăm ngàn tín đồ Thiên Chúa giáo ở đất Bắc (xem G. Taboulet, sđd, tome II, tr.865).

2.Trích dẫn theo Phan Khoang, VN Pháp thuộc sử, tr. 367.

3.Chính Trương Vĩnh Kư cũng đă không giấu giếm ḷng trung thành với mẫu quốc đó của ḿnh khi ông tự xưng là "người giúp việc kỳ cựu của nhà nước" (ancien serviteur du Gouvernement) và là "người giúp việc tận tuỵ" (Votre très dévoué serviteur) ở cuối mỗi thư gởi cho Paul Bert.

   Và chính Chailley, trong cuốn Paul Bert au Tonkin, cũng cho  rằng Paul Bert dùng Trương Vĩnh Kư không phải ở tài năng của ông này, cũng không phải v́ ông là người Thiên Chúa giáo mà chỉ v́ những công tác đă thể hiện và nhất là sự trung thành kiên định của Trương đối với nước Pháp.

4.Bouchot, sđd, tr. 41,42,43

5.Lubanski cho rằng vai tṛ của cơ mật đại thần trong lúc này chẳng khác nào những người con bị buộc chặt vào ngón tay giám sát của vị Khâm sứ tại Huế.

6.Trích thư Trương Vĩnh Kư gởi giám đốc nội vụ Noel Pardon đề ngày 19-1-1887 (Bouchot, sđd, tr.70).

7.Chữ dùng của Delvaux, Quelques Précisions sur une période troublèe de l'histoire d'Annam, tr.62.

8.Điều này đă khiến Tôn Thất Thuyết phải đau xót mà tỏ thái độ cương quyết khi Tam cung và triều thần đ̣i trở về Huế và khuyên Thuyết chịu theo hoà ước Patenôtre 1884:"Về Huế là tự ḿnh đưa chân vào cái ngục thất mà người cầm ch́a khoá là quân đội Pháp. Thừa nhận hiệp ước 1884 là dâng nước Việt Nam cho kẻ địch, đành rằng hoà b́nh là quư nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đă bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và c̣n có tội với hậu thế". (Phạm Văn Sơn, sđd, tr.44).

9.Tức là những quan lại có lập trường yêu nước kiên định mà Trương Vĩnh Kư không thể hàng phục được (người viết chú).

10.Bouchot nhấn mạnh, tr. 47-48.

11.Bouchot nhấn mạnh, tr. 72.

12.Việc tấn phong Đồng Khánh thay cho vua Hàm Nghi của De Courcy, Lanessan cho đó là "một chính sách vụng về và ám muội của nhà cầm quyền mẫu quốc" (dẫn bởi Delvaux, sđd, tr. 62)

13.Một lời nói lịch sử của vua Hàm nghi khi bị bắt đưa về Thừa Nông minh chứng hùng hồn sự chối bỏ cái "nguỵ quyền" của Đồng Khánh, rằng "Nhà vua không quen biết một người nào tại Huế cả" khi được hỏi cần nhắn nhủ điều ǵ với những người thân, (xem Delvaux, sđd, tr. 91).

14.(Bouchot, sđd, tr.44)

15.Chữ dùng của Trương Vĩnh Kư.

16.Bouchot, sđd, tr. 57-58.

17.Muốn thấy rơ thái độ của sĩ phu kinh thành đối với Trương Vĩnh Kư ra sao, tưởng nên đọc lại giai thoại dưới đây được đăng tải trên báo SÔNG HƯƠNG số 28 ra ngày 20-2-1937 ;

 

"Ở ẩn giữa kinh thành":

 

           "Hồi triều Đồng Khánh, cuộc Bảo hộ mới lập xong, chánh phủ Pháp ở đây đương cần những người An Nam biết chữ Tây giúp việc. Nhưng hạng người ấy bấy giờ c̣n hiếm lắm, phải lấy trong những người có đạo ra mới có. Ông Trương Vĩnh Kư và ông Nguyễn Văn Tạo đều là tín đồ Thiên Chúa giáo ở Nam kỳ, nhờ đó được cử làm thông ngôn Toà Khâm Sứ theo ngạch người Pháp.

 

           "Sĩ phu thuở đó c̣n có một cái tâm lư chung : cho sự giúp việc người Pháp là đáng bỉ. Mà nhất là sĩ phu Nam kỳ, đất có tiếng là trung nghĩa, cái tâm lư ấy lại càng hăng hơn.

 

           "Bởi vậy hai ông Kư và Tạo tuy làm việc ở Toà Khâm nhưng đối với ai cũng cứ tỏ ra cái thái độ bất đắc dĩ, như muốn phân bua cho thiên hạ biết ḿnh làm như vậy là v́ thời thế bắt buộc chứ không thiết ǵ. Ở giữa chốn đô thành, hằng ngày đi làm làm việc bên Toà Khâm thế mà hai ông đều xưng ḿnh là "ẩn sĩ".

 

           "Đương thời có người làm hai câu thơ bằng chữ Hán để chế nhạo :

 

Gia Hội kiều đầu song ẩn sĩ,

Đông Ba quách ngoại kỷ thanh lâu.

 

           Rồi có kẻ lại diễn ra nôm :

 

Đầu cầu Gia Hội đôi tṛ núp,

Ngoài cửa Đông Ba mấy mụ trùm.

 

           "Tṛ núp" là dịch nghĩa đen hai chữ "ẩn sĩ" nhưng c̣n có nghĩa khác nữa càng làm cho kẻ bị chế nhạo tức ḿnh thêm : Thuở xưa, về việc đi tiêu ở thành phố Huế c̣n bậy bạ lắm. Sáng sớm nào người ta cũng thấy những kẻ núp dưới cầu Gia Hội mà phóng uế. Chữ "núp" cũng chỉ vào việc ấy ; và hai ông Kư và Tạo có nhà ở gần nhau tại chỗ bên kia cầu, đỗi nhà ông thượng Hoè bây giờ".

 

ĐỘC TẠI LÂU CHỦ NHÂN

(Mục : Những chuyện oái oăm)

 

18.Lạp binh là những toán lính được lập ra để săn đuổi những bộ tham mưu của nghĩa quân Cần Vương. Phần đông là người có đạo rất đối lập với Cần Vương, nên họ rất hăng hái và tận tâm trong công cuộc truy tầm  và tiêu diệt các ổ kháng chiến Văn Thân, Cần Vương...

19.Tức ngày thất thủ kinh thành Huế năm Ất dậu tháng 5.

20.Bouchot, sđd, tr. 56.

21.Lyautey, Lettres du Tonkin et de Madagascar, tr. 637.

22.Toàn văn bức thư đề ngày 27-9-1886 Trương Vĩnh Kư gởi Đồng Khánh:

           "Tâu Hoàng Thượng,

           " Chuyến này tôi ra chầu Hoàng Thượng đă hơn bốn tháng rồi. Vợ con cũng xin ra theo hơn một tháng rưỡi nay. Nay v́ đến lúc phải ẩn mặt một hồi cho  (xem tiếp trang sau) được việc cho nước nhà, cho Hoàng Thượng. Bây giờ có khi Hoàng Thượng chưa thấy rơ là cần phải như vậy, rồi sau mới biết là mưu. Bước chân ra đi, vợ lịu địu, nước mắt không ráo tṛng, tám phần luyến Chúa, hai phần tư gia, dùng dằng biếng bước muốn dừng, mà cơ quan khiến như thế biết sao. Lại thấy ḷng Hoàng Thượng cao minh quảng đại ban đồ trân bửu, ngự bút thơ, vân vân, lại càng hổ trong ḷng, v́ thời thế chưa cho làm cái ǵ cho đáng cơ mưu cho Hoàng Thượng nhờ mà Hoàng Thượng hậu đăi thế ấy th́ đêm ngày ngồi đứng chẳng quên đặng, những trông cơ trời xoay lại cho mau, cho âu vàng vững đặt, cho ngôi báu bền yên, nước an, nhà lợi, biển lặng, sông trong, thời mới thoả chút tấm trung trinh.

                     "Xuống cửa Thuận An, mắc trời động, xuống tàu không được, cũng là cuộc hay, v́ quan toàn quyền xuống t́m mà bàn tính các việc quan trọng cho nước nhà ta, thời hai bên hợp ư nhau để tính cho nên việc. Lănh ư rồi hoặc tôi ra Bắc bàn việc cho rơ ràng sự t́nh, tới đó có sẵn tàu mà về Nam cho luôn trót thể, cũng là thiên chi đại chung.

                     "Việc gấp có mấy điều kể sau này :

“Làm ra năm, mười khoản ước cho rơ nước ḿnh với nước Đại Pháp bảo hộ (tôi xin quan Toàn quyền cũng làm bổn đặng nhà nước ta nghị ra một bổn) để sau nghị lại mà tính với nhau.

“Hễ đó ra mà đào cái kinh nhỏ biệt sở Mang Cá ra, th́ xin cho dân đào cho đông mà làm cho mau, đặng cho mau thong thả cho Hoàng Thượng cùng triều đ́nh.

“Hễ ra công làm đường về Quảng Nam, xin bắt xâu cho nhiều mà làm cho mau, cho tiện đường ra vô chở chuyên trong mùa khô này.

"Xin nhắc lại Hoàng Thượng học tiếng, học chữ Đại Pháp cho. Xin chúc Hoàng thượng muôn năm..., cùng trông ít lâu nữa tôi lại được thừa thiên nhan, v́ có chia rồi mới hiệp. Xin nhớ việc về ông Ẩn sĩ, lại cho một ít cấp bằng Hàn lâm viện cho một ít người Ẩn sĩ xin bên Tây để cho đông vây cánh ḿnh". (Chép theo Khổng Xuân Thu, sđd, tr. 45-46)

23.Người nổi tiếng tàn bạo, hơn cả Nguyễn Thân, bắt cả đàn bà con nít miệng c̣n hơi sữa mà tra tấn. Lộc từng là hung thần ở Nam kỳ, co công đánh dẹp các lực lượng Trương Định, Nguyễn Trung Trực v.v...

24.Phần lớn do sự chỉ điểm, đem tin của cố Tortuyaux, cố Sáu cho Giám mục Puginier và giám mục đă thông báo cho tướng De Courcy ở Huế. Mặt khác cũng chính linh mục Paulus Nguyễn Hoàng đă vẽ bản đồ vùng trú ẩn của vua Hàm Nghi cho thiếu tướng Prudhomeme mở các cuộc hành quân truy lùng (xem Delvaux, sđd, tr. 63, 80).

25.Con số do chính Nguyễn Thân công bố.

26.Xem H. Cosserat, Le drame de Nam Chơn, B.A.V.H. No 2 , 1925, tr. 70-85.

27.Xem Léon Sogny, Une page d'histoire : Hoàng Kế Viêm, B.A.V.H. No 4 Octobre - Novembre 1943, tr. 343.

28.Nhiều người nói rằng Đồng Khánh thường có cơn điên và hay cầu đảo bên Huệ Nam điện (Ḥn Chén). Hạnh Thục Ca của bà Nguyễn Nhược Thị chép về Đồng Khánh nói là : "Đế vương dương trợ âm pḥ, Bách linh tướng hựu,...(trăm thần linh giúp rập)" ví chắc không sai.

29.V́ tính cách lịch sử của bài Dụ, người viết xin chép lại toàn bản văn để độc giả tiện bề kiểm chứng :

"Hào kiệt biết thời mới phải, quân tử đổi lỗi là hơn. Năm ngoái kinh thành có việc vua Hàm Nghi ra đi. Trong các thân hào người tức v́ việc nước, khởi lên giúp vua, người trót cỡi cọp, bước xuống cũng gay nên phải trốn trong rừng núi thường thường mượn tiếng pḥ vua Hàm Nghi. Đă mấy phen xuống Dụ rước vua Hàm Nghi về, phong cho tước Công hoặc phong làm Tổng trấn Bắc kỳ ; c̣n thân hào ai ra thú, đều được tha tội. Mới đây ta lại ngự ra Đổng Nhung tới Quảng Trị trước, hào mục ra thu,ân trong hạt cũng gần yên. Khi ra tới Quảng B́nh, thân hào phần nhiều cứ c̣n tụ hội, vả chăng, trong triều có lời chiếu khoan dung mà ngoài dân không chút ḷng thành ứng, bụng nghĩ làm sao ? Hay là bảo rằng : nước ḿnh không thể bảo toàn được chăng ? Sao không nghĩ bây giờ đại cuộc thiên hạ đă định, cách chánh trị đổi mới, hoà với Đại Pháp đều giữ như cũ, chánh lệnh thi hành đều là quyền ḿnh tự chủ nào có ai trở ngại ? Sao c̣n lấy điều ấy làm ngờ mà thập tḥ như chuột ? Hay là chúng mày bảo rằng nếu bây giờ vua Hàm Nghi trở về, e không quyền lộc, chúng mày cũng không được nhờ ǵ chăng ? Chúng mày phải biết rằng người lớn ở với em, thân thời muốn cho sang, yêu thời muốn cho giàu, Hàm Nghi là em ta, ta nay suy rộng ḷng nhơn, nếu Hàm nghi về, Ta sẽ phong làm tổng trấn ba tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, cấp cho bổng lộc rất hậu, đồ thường dùng cũng như vua, chớ có biếm truất ǵ đâu ? Nay ta cho tôi cũ là Hoàng Tá Viêm khai phục hàm Đông các đại học sĩ, sung làm Hữu trực kỳ Yên phủ kinh lư đại sứ ; thế là ḷng ta muốn xếp cho yên, không phải muốn đánh cho được. Từ nay trở đi thân hào chúng mày nên mau tỉnh ngộ đuổi hết quân lính bó thân về với triều đ́nh hoặc tới tỉnh, hoặc tới các sở quân thứ đầu thú. Trừ ra tên Lê Thuyết (tức Tôn Thất Thuyết) triều đ́nh không thể dùng lại được, nhưng nếu nó biết trở về, thời cho nó lui về ngạch nhờn tản ; c̣n mấy tên cừ mục khác, tên nào có chức quan cũ như Nguyễn Trực, Trương Văn Bản, Nguyễn Chư, Lê Mô Khởi, (Xem tiếp trang sau) Nguyên Thành, Phan Trọng Mưu, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doăn Nhă, Ngô Xuân Quỳnh, sẽ cho nguyên hàm bổ làm quan từ Quảng B́nh, Quảng Trị trở vào mấy tỉnh phía Nam, để lo báo bổ về sau. C̣n mấy tên trước chưa có chỉ tha như Trần Xuân Soạn,Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đ́nh Phùng, nếu biết về thú, có thiệt trạng, xét như thiệt sẵn ḷng đổi lỗi thời cũng khoan giảm tội cũ, sẽ thưởng phẩm hàm, để yên cho người phản trắc. C̣n mấy tên khác, khi nào về thú, xét quả thiệt ḷng, rồi sẽ nghĩ. Những mấy khoản nói trên quan toàn quyền Công Pha (Paul Bert) tới kinh vào yết, Ta thương miệng, ông ấy cũng đă bằng ḷng ; chắc là không nói sai đâu. Chúng mày phải tỉnh ngộ cho mau ; nếu ta đă hiểu hết lời, mà chúng mày c̣n dùng dằng không quyết, ngu dại không biết lo trước, đến khi đại binh kéo tới, ngọc đá đều phải ra tro. Ta tuy sẵn ḷng thương cũng không biết nghĩ sao cho chúng mày nhờ được!".

(Chép theoQuốc Triều chánh biên, Nhóm nghiên cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản, tr.423-424)

30.Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc Sử tạp lục, Khai Trí xb, tr. 263.

31.Chưa dám quyết không có nghĩa là không dám quyết. Cái lẽ thật của một bản văn không nhất thiết ở trên những ḍng chữ mà c̣n ẩn tàng ở trong hoặc đàng sau những ḍng chữ của bản văn đó. Nếu chỉ đi t́m chân lư lịch sử bằng những chứng tích th́ người ta phải trả lời ra sao khi được biết rằng bức chân dung của Tôn Thất Thuyết thật ra chỉ có mỗi cái mặt là thật c̣n bộ đại trào, mũ cánh chuồn đă do Léon Sogny vẽ thêm và cho đăng lên B.A.V.H. (xem Quốc sử tạp lục của Nguyễn Thiệu Lâu, tr. 644).

32.Xem thư Đồng Khánh gởi cho Trương Vĩnh Kư do Trương Vĩnh Tống diễn ra lục bát in trong Trương Vĩnh Kư của Khổng Xuân Thu

33.Tiếng Đồng Khánh xưng tụng Trương Vĩnh Kư.

ho đăng lên B.A.V.H. (xem Quốc sử tạp lục của Nguyễn Thiệu Lâu, tr. 644).

34.Bouchot, sđd, tr. 56

35.Xem toàn văn ở phần tài liệu.

36.Bouchot, sđd, tr. 66.

37.Xem toàn văn ở phần tài liệu.

38.Thư gửi bác sĩ Chavanne (Pháp) (dẫn bởi Bouchot, sđd, tr.66).

39.Trích thư Trương Vĩnh Kư gởi bác sĩ Chavanne (xem Khổng Xuân Thu, sđd, tr.128)

40.Trich thư Noel Pardon gởi Trương Vĩnh Kư (xem Bouchot, tr. 68).

41.Thư gửi bác sĩ Chavanne đề ngày 8-4-1887 (Khổng Xuân Thu, sđd, tr. 115).

 

THAY LỜI KẾT

 

Cuốn sổ b́nh sanh công với tội

 

Suốt một đời, Trương Vĩnh Kư thường đem câu cách ngôn la-tinh "Ở với họ mà không theo họ" (Sic vos non vobis) để biện bạch cho sự hợp tác với Pháp của ḿnh. Lời nói đó có đi đôi với những hành động của ông hay không, tưởng cũng không phải bàn đến nữa.

Duy có điều muốn nói ở đây, khi viết lại Cuốn sổ b́nh sanh của Trương Vĩnh Kư, là cái luận điệu ấy vẫn được bọn trí thức xu thời nhắc đi nhắc lại như một câu thần chú hộ

mệnh.

 

Tôn Thọ Tường đă dứt khoát "về Hán trau tria mảnh má hồng" mà mồm mép vẫn chống chế "chẳng đặng khôn Lưu đành dại Nguỵ". Những Lê Hoan, Hoàng Cao Khải... bán nước có văn tự vẫn cầm bút viết "Gương sử Nam" một cách ngon lành. Gần chúng ta hơn, Phạm Quỳnh đă dùng những kiến thức cao kỳ để đánh lận con đen. Họ Phạm hô hào:

 

Đừng nên nhắc lại quá khứ nữa. Những yêu cầu của hiện tại và những hy vọng của tương lai thừa đủ để lấp đầy trí óc và kích động sinh hoạt của chúng ta. Sự chiếm cứ của người Pháp là một việc đă rồi, chúng ta không thể làm ǵ khác hơn được. Hăy chấp nhận nó, cùng với những hậu quả, và t́m cách rút tỉa phần tốt đẹp khả dĩ [...] Cách hay nhất để thực hiện cái tương lai thiết thân kia không phải bằng những phản kháng vô bổ của chúng ta, những mưu toan ám muội, đầu óc ngờ vực và hờn dỗi, mà trái lại chúng ta xích gần lại người Pháp một cách tin tưởng hoà hợp chân thành  và dệt nên, giữa họ và chúng ta, những mối liên hệ mỗi ngày một chặt chẽ, không chỉ v́ lợi mà c̣n v́ sự ưu ái và t́nh bằng hữu". [1]

 

Những lời phát biểu của một nhân vật trí thức vào hạng nhất nh́ Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đó biết đâu chẳng là lời bào chữa cho những Phạm Quỳnh đời nay.

Không, lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử mất nước, phải cần được ôn lại kỹ lưỡng, người dân Việt Nam cần phải mổ xẻ lại cái quá khứ đau buồn của dân tộc để làm bài học cho bước đường tương lai, bởi v́ tất cả các sự kiện lịch sử đă lại tái diễn và c̣n tiếp tục tái diễn trên đất nước nhỏ bé này.

 

Học sử không có nghĩa là lật lại những trang sử chết qua các triều đại, đi t́m những xác khô của tiền nhân mà chính là khai quật nơi đấy những kinh nghiệm vinh quang cũng như khổ nhục của người xưa trong công cuộc giữ nước và dựng nước.

 

Sự mất nước của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX không chỉ v́ vơ khí thô sơ mà chính v́ tội ác của lớp tay sai bản xứ cam tâm bán rẻ linh hồn để làm công cụ cho giặc cướp nước.

Có những người hoặc lờ mờ chính nghĩa, hoặc nôn nả bước công danh, một sớm quay lưng lại quê hương đi theo chủ mới đă chiếm cứ đất nước ḿnh, ôm hai chữ "thức thời" đi khoe với thiên hạ. Những rồi một Phan Hiễn Đạo đă kịp thức tỉnh ,lấy cái chết để nói lên sự lỗi lầm của ḿnh ; một Nguyễn Trường Tộ "trèo qua tường mà tránh đi" để bảo toàn chút liêm sỉ của con nhà nho ; một Tôn Thọ Tường suốt đời ray rứt lương tâm . . .

 

Nhưng với Trương vĩnh Kư, h́nh như không mấy khi ông bận tâm lên tiếng trần t́nh  về những hành động của bản thân. Bắt đầu làm thông ngôn cho Pháp năm 23 tuổi cho đến năm 50 tuổi, v́ sự đùa cợt quá quắc của danh lợi và cũng v́ mất người đỡ đầu là Paul Bert, ông mới chịu xả hơi tuyên bố :"Về danh vọng bây giờ nó không c̣n cám dỗ con sư tử đă già dặn và mất hết sức mạnh". Trong tận cùng ư thức của ông, và có thể là của những kẻ đồng hội đồng thuyền như ông, h́nh như bao giờ họ cũng nghĩ họ đă có những công nào đó đối với nước nhà :

 

"Cuốn sổ b́nh sanh công với tội" (Trương Vĩnh Kư)

"Ví dầu vật ấy c̣n noi dấu..." (Tôn Thọ Tường)

 

Cứ cho là Trương Vĩnh Kư và những người đồng xu hướng với ông có thật ḷng v́ nước v́ nhà mà đứng ra hợp tác với kẻ thù để đỡ vớt thống khổ cho đồng bào đi, nhưng thử hỏi liệu thực dân có chịu trả lương bổng cao, quan chức hậu để các ông hành động theo ư muốn riêng tư không ? Chắc chắn vạn lần không. Vậy "ở với họ mà không theo họ" nếu không là lời mồm mép làm hại tâm thuật th́ cũng là lời tự dối. [2]

 

Ngay trong lănh vực chữ nghĩa văn chương, cái vị trí mà từ xưa nay Trương Vĩnh Kư rất được ngưỡng mộ, xưng tụng, xét cho cùng trong ư niệm đầu tiên và chủ đích tiên khởi, nó lại chỉ là kết quả của một đường lối đă vạch của thực dân : cuộc chinh phục tinh thần tiếp theo sau cuộc chinh phuc bằng vơ lực.

 

Đó là điểm chủ yếu mà nhà làm văn học sử cần lưu ư. Chỗ đứng của Trương Vĩnh Kư, vẻ vang và đồ sộ không phải trên văn đàn dân tộc Việt Nam mà chính ở trong nền văn chương thuộc địa (une littérature coloniale) của người chính quốc và những ng̣i bút phục vụ quyền lợi thuộc địa. Định lại vị trí của Trương Vĩnh Kư, ấy là trả lại sự công bằng cho lịch sử đồng thời cũng là sự công bằng của tổ quốc.

 

Gia dĩ, trong khi viết lại Cuốn sổ b́nh sanh của Trương Vĩnh Kư cùng với cái bối cảnh lịch sử của một nhân vật, nếu có những nhắc nhở và nhấn mạnh về tôn giáo, xin coi đó là sự chẳng đừng được. Vả chăng, như Alfred Schreiner và Hélène Tournaire đă bảo, người Việt quả có một tinh thần rất khoan dung về tín ngưỡng, [3] nếu trong một lúc nào đó họ tỏ ra khắc nghiệt với một thành phần tín hữu của một tôn giáo nào - như trường hợp cấm và giết đạo Thiên Chúa - th́ đúng như lời linh mục Louvet : "Sự bách hại người Công giáo mang tính chất một cuộc trả thù của ḷng yêu nước chống lại việc thiết lập chế độ Bảo hộ" [4] hơn là sự kỳ thị tín ngưỡng.

 

Đó cũng lại là sự công bằng của lịch sử và tổ quốc vậy.

 

Chú thích:

 

1. Francisque Vial, Le Problème humain de l'Indochine, 1939, tr. 44-45 - xem thêm : Phạm Quỳnh, Essais Franco Annamites, Huế 1937, tr. 359-367.

2. Tương tự như việc Phan Hiễn Đạo nêu hai chữ khí tiết khi ra hợp tác với tân trào. Một hôm Phan Hiễn Đạo vào yết kiến kinh lược Phan Thanh Giản, đưa thiệp vào, cụ Phan phê : "Thất thân chi nữ hà dĩ vi trinh ?" (Con gái đă bị chúng lấy, c̣n ǵ mà gọi là trinh). Hiễn Đạo mặt xanh chàm đổ, buồn đau không cùng rồi tự vẫn mà chết.

3. Alfred Schreiner, Lés Institutions annamites, tome II Saigon Claude et Cie, Chap. VII, p.143 - Hélène Tournaire, Livre jaune du Việt Nam, Paris 1966, p.29.

4. Dẫn theo Nguyễn Văn Trung, sđd, tr. 116 - Cùng một ư trên của Louvet, đô đốc Bonard cũng đă viết : "Dù thế nào chăng nữa, các vua chúa, quan lại và dân tộc Việt Nam biểu lộ ḷng thù nghịch không đối lư tưởng tôn giáo mà là nhắm vào tinh thần phiến loạn và áp chế của những kẻ phục vụ Giáo hội. Ḷng thù nghịch này được biện minh bởi sự suy sụp chậm chạp quyền hành nhà nước, cuộc xâm lăng liên tục Việt Nam mà ta đang tham dự và việc Pháp đô hộ hoàn toàn xứ này. Truyền giáo và thực dân đi đôi với nhau" (Nguyễn Xuân Thọ, Le Traité de Saigon de 1862 (Nguyễn Huy dịch) Sử Địa số 12, tr. 118).

 

 

ĐDTB, ngày 29/8/09 

 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend