TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Về Cái Gọi Là “Học Thuật” Của Ban Mai Trong Nghiên Cứu Trịnh Công Sơn


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Tieng Que Huong Radio.

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

 

VỀ CÁI GỌI LÀ “Học Thuật” CỦA BAN MAI

Trong Nghiên Cứu Trịnh Công Sơn

 

NGUYỄN HOÀN

 

Sau bài viết của tôi nhan đề Những sai lệch, thiếu sót trong cuốn sách “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng” đăng trên báo chí và mạng internet, tác giả cuốn sách này là Ban Mai đă im lặng (sách do NXB Lao Động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008). Nghĩ rằng Ban Mai chắc đă nhận ra sai lầm của ḿnh, tôi chưa viết thêm nhiều điều lẽ ra c̣n phải viết về bài “Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam” của Ban Mai in trong cuốn sách này và đăng trên một số trang Web trong nước và hải ngoại. Gần đây, Ban Mai đă “đánh tiếng”, dĩ nhiên không phải bằng tranh luận trực tiếp mà bằng lối trả lời phỏng vấn trên mạng, qua bài “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng-Tạp chí Da Màu phỏng vấn Ban Mai” do Lê Đ́nh Nhất Lang đặt câu hỏi, đăng trên Web: http://damau.org. Tôi không lạ ǵ chuyện “vẽ đường cho hươu chạy” đă xưa như trái đất này. Nhưng mới đây, một số trang mạng, một vài tác giả đă t́m cách vào hùa với Ban Mai, cố “bảo vệ” cho Ban Mai, tôi thấy cần viết tiếp để làm rơ chuyện Ban Mai đă nhân danh “học thuật” nhằm lợi dụng, xuyên tạc vấn đề “Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam” như thế nào.

Về  ư kiến cho rằng Ban Mai “sao chép”  văn người khác  

Trong bài  “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng-Tạp chí Da Màu phỏng vấn Ban Mai”, cả Lê Đ́nh Nhất Lang và Ban Mai đều vội vàng, nhầm lẫn khi cho rằng tôi đă đưa ra trên các báo một thông tin “nhạy cảm”: “Năm 2006, tác giả Ban Mai (tức thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Thúy, Trường Đại học Quy Nhơn) công bố trên một tạp chí của người Việt ở nước ngoài bài viết có nhan đề Thân phận con người và t́nh yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn. Về bài viết này, có tác giả từng chỉ rơ Ban Mai “đă sao chép nguyên văn (hoặc gần như nguyên văn, chỉ sửa đổi một vài từ) nhiều đoạn văn dài” của người khác, Sau đó Ban Mai biện hộ rằng “đă ghi chú sai sót trong quá tŕnh làm việc””. Thực tế, thông tin này nằm trong phần lời dẫn của các báo khi đăng bài viết của tôi. Giờ đây, tôi không muốn nhắc đến thông tin có tính scandal này của Ban Mai nữa, v́ chính Ban Mai đă từng tự bạch trên mạng hồi tháng 8-2006 rằng, Ban Mai cảm thấy “đau xót vô cùng”, “càng thấy xót xa và buồn bă đến tận cùng” khi có người phê b́nh Ban Mai “sao chép” văn người khác. Nhưng Lê Đ́nh Nhất Lang và Ban Mai đă quy kết cho tôi, Ban Mai c̣n cho rằng, tôi đă giới thiệu những sai sót của Ban Mai như một “phát hiện” của tôi, tôi xin nói ngay với bạn đọc rằng, đấy chính là phát hiện của ông Vũ Đông Ngọc chứ không phải của tôi. Tôi không hề làm cái việc đáng chê trách là “sao chép” văn hay cướp công ông Vũ Đông Ngọc bao giờ.

Ban Mai đă nhắc lại chuyện cũ th́ xin hăy nhắc cho minh bạch, tỏ tường. Sau khi đọc bài viết “Thân phận con người và t́nh yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn” của Ban Mai đăng trên báo Văn Học, số 232, tháng 7 và 8-2006 tại Mỹ (theo Ban Mai, bài viết này tổng hợp từ luận văn thạc sĩ có cùng tựa đề của Ban Mai và luận văn này đă được chuyển lên thành sách “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng”), ông Vũ Đông Ngọc đă viết bài phê b́nh đăng trên mạng nhan đề “Nghiên cứu về Trịnh Công Sơn-Một luận văn tốt nghiệp thạc sĩ tại Việt Nam với số điểm tối đa có vấn đề” (xem bài đăng lại trên các trang: http://lethieunhon.com/read.php/2257.htm, http://tranquanghai.info/index.php?p=213). Qua bài này, một bài viết mà ông Vũ Đông Ngọc bộc bạch là đă được ông viết với cảm giác “buồn bă và xót xa”, ông Ngọc khẳng định luận văn Ban Mai đă sao chép văn người khác, nhân đó, ông đề cập đến vấn đề đạo đức và kỹ thuật trong thao tác khoa học của người làm nghiên cứu. Sau khi đọc bài của ông Vũ Đông Ngọc, Ban Mai đă tiếp thu và thừa nhận: “Cám ơn ông rất nhiều khi có những lời lẽ đúng mực khi phê b́nh, và đem tôi làm minh chứng cho trường hợp về đạo đức trong nghiên cứu khoa học”, “Những điều ông Vũ Đông Ngọc chỉ ra phần nào là chính xác và đúng như vậy, tôi đă ghi chú sai sót trong quá tŕnh làm việc. Trong quá tŕnh sắp xếp ư tưởng của ḿnh để kết nối với các nguồn dẫn liệu theo một bố cục nhất định, có lúc tôi đă sơ suất chưa ghi hiệu đính”. Ban Mai cũng đă nhận lỗi thay cho thầy hướng dẫn: “Riêng phần sai sót khi hiệu đính tư liệu tham khảo tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm không liên quan đến người hướng dẫn”.

Trên  đây, tôi đă nêu lại phát hiện của ông Vũ  Đông Ngọc về luận văn của Ban Mai để Ban Mai rơ  đấy không phải là “phát hiện” của tôi. C̣n đây mới là “phát hiện” (chữ Ban Mai đă dùng) của tôi mà không thấy Ban Mai nhắc đến.

Trong bài viết “Những sai lệch, thiếu sót trong cuốn sách “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng””, tôi đă nêu ra một đoạn văn trong cuốn sách của Ban Mai sao chép văn Vơ Phiến. Trong cuốn sách “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng” (TCSVCDT), ở trang 56, có một đoạn, Ban Mai trích dẫn Vơ Phiến và có chú thích, nhưng với một đoạn văn khác ở cùng trang, Ban Mai đă sao chép văn Vơ Phiến trong “Tổng quan Văn học Miền Nam” đăng trên: http://www.tienve.org, v́ sao chép nên “khỏi phải chú thích”: ““Những đứa xăm ḿnh”, những con người ấy cũng một ḍng máu như ta thôi. Trong lúc người lính Cộng ḥa đă nhận ra cuộc chiến này “cũng chỉ một tṛ chơi” th́...phần đông “Kẻ thù ta ơi” đều “điên say chiến đấu”, đều tin chắc vào chính nghĩa của cuộc chiến, đều hô hào cổ vơ một cách trịnh trọng”. 

01Cần nói thêm rằng, trong cuốn sách TCSVCDT của Ban Mai, có nhiều đoạn trích dẫn từ nhiều nguồn nhưng không thấy ghi dấu mở ngoặc kép và đóng kép, khiến người đọc không phân biệt được chỗ nào là văn Ban Mai, chỗ nào là văn trích dẫn. Cả Ban Mai khi hiệu đính, ông Đoàn Tử Huyến (người biên tập cuốn sách của Ban Mai) khi biên tập đă bỏ qua khâu sơ đẳng này. Vậy mà các ông Đoàn Tử Huyến, Vũ Ngọc Tiến vẫn cố mượn uy các giáo sư đă chấm luận văn của Ban Mai để “bảo vệ” cho lối “làm khoa học” kiểu Ban Mai. Đoàn Tử Huyến cho rằng: “Luận văn của chị đă được bảo vệ trước cả một hội đồng chuyên ngành, gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ có uy tín chuyên môn, vững vàng chính trị” (xem bài Đoàn Tử Huyến trả lời phỏng vấn của Vietnamnet, nhan đề “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng: cần đúng luật” đăng trên Vietnamnet ngày 18-8-2009). Vũ Ngọc Tiến qua bài “Bàn về cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng” của Ban Mai” đăng trên: http://www.vanchuongviet.org cũng viết tương tự rằng luận văn của Ban Mai đă “được Hội đồng các GS, PGS thẩm định kỹ càng”. Các ông Đoàn Tử Huyến, Vũ Ngọc Tiến cần ǵ phải “đánh bóng” cho những cái sai của Ban Mai mà chính Ban Mai đă nhận lỗi trước ông Vũ Đông Ngọc và bạn đọc từ lâu.

Đă vậy, ông Vũ Ngọc Tiến lại c̣n “đi xa hơn” khi quả quyết về một “phát hiện” của Ban Mai trong cuốn sách TCSVCDT: “Trước Ban Mai, chưa ai tổng hợp ca từ Trịnh Công Sơn theo các thể loại thơ: 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát và thơ tự do, ca dao, tục ngữ (trang 107- 110)”. Xin mời ông Vũ Ngọc Tiến đọc bài “Có một nhà thơ tên là Trịnh Công Sơn” của Nguyễn Trọng Tạo (in trong cuốn “Một cơi Trịnh Công Sơn”, NXB Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002) viết vào dịp giỗ đầu Trịnh Công Sơn năm 2002, để thấy trước Ban Mai rất lâu, Nguyễn Trọng Tạo đă khẳng định Trịnh Công Sơn là một nhà thơ đích thực, sử dụng nhuần nhuyễn nhiều thể thơ truyền thống và thơ tự do, đặc biệt là sử dụng tài t́nh nhiều thể thơ trong một bài thơ.

Về  cái gọi là “học thuật” và về sự xuyên tạc lịch sử 

Trong bài trả lời phỏng vấn của Lê Đ́nh Nhất Lang trên Da Màu, Ban Mai đă nhân danh cái gọi là “học thuật” để biện hộ cho những cái sai của ḿnh.

Nói về  cách hiểu tác phẩm, Ban Mai nhắc lại điều đă quá quen thuộc của lư thuyết tiếp nhận văn học: “Trong cùng một tác phẩm nghệ thuật sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo tŕnh độ tiếp nhận tác phẩm của người đọc”. Nhưng hiểu theo cách ǵ đi nữa cũng phải trên cơ sở bám vào văn bản tác phẩm, không được xuyên tạc hoặc gán ghép cho tác phẩm những nội dung xa lạ mà nó không có. Chẳng hạn, không thể chỉ chuyên chú vào có mỗi từ “nội chiến” trong ca khúc “Gia tài của mẹ” của Trịnh Công Sơn để vội cho rằng người nhạc sĩ này coi cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975 là “nội chiến” như cách của Ban Mai đă làm. Từ “nội chiến” này được Trịnh Công Sơn viết ra bằng “ngôn ngữ hợp pháp” lúc đó, ngoài nghĩa hiển ngôn mà ai cũng hiểu nhưng dễ bị xuyên tạc, điều quan trọng là c̣n có nghĩa ẩn ngôn của nó nhằm đánh thức, lay động t́nh tự dân tộc, lương tri dân tộc trong ḷng những người cầm súng cho ngoại bang xâm lược. Nhạc ngữ phản chiến của Trịnh Công Sơn được viết ra một cách công khai, “hợp pháp” nên phải dùng nhiều ẩn ngôn, “mật ngữ” mà không dễ ǵ được hiểu đúng nếu không đặt chúng trong hệ thống liên văn bản của tất cả các ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn.

Với  phương pháp nghiên cứu liên văn bản, nếu đặt từ “nội chiến” bên cạnh những từ ngữ khác như: “nô lệ da vàng”, “người cúi xin”, “lưu vong”, “tôi đ̣i”, “lao tù”…sẽ thấy Trịnh Công Sơn đă bóc gỡ lớp vỏ ngôn từ “nội chiến” nhờ vào những từ ngữ khác đầy bi phẫn để nhấn mạnh yếu tố ngoại bang xâm lược trong chiến tranh Việt Nam. Vượt qua ư niệm “nội chiến”, nhạc Trịnh đă thể hiện đầy thống thiết khát vọng hàn gắn vết thương chia cắt đất nước ở sông Bến Hải, Quảng Trị, băng bó thịt xương của hai miền đất nước bị tàn sát bởi đạn bom của ngoại bang xâm lược:

      “Người nô lệ da vàng

      Bước đi đi về biển xanh

      Đi khâu vá con sông

      Việt Nam hai mươi năm liền

      Thịt xương phơi trên đôi miền” 

      (Đi t́m quê hương)

Vượt qua ư niệm “nội chiến”, nhạc Trịnh đă hát lên niềm tin, khát vọng vượt thoát thảm cảnh “nô lệ” ngoại bang xâm lược của những người dân Việt bằng quyết tâm “chống cướp đất”, “quyết ḷng giữ nước”, “chờ diệt mối thù chung”:  

      “Dù trăm năm dài ngày đêm dân ta cứ quyết chiến đấu măi

      Đánh trăm quân thù

      Mặt  đất âm u đang dọn ngày về  trong câu thề máu xương

      …Ta nối nối tay cất tiếng cười thách đố ai cướp đất này”

        (Chưa ṃn giấc mơ)  

      “Dân ta thề quyết ḷng giữ nước”

      (Đừng mong ai, đừng nghi ngại)

      “Bắc Nam hai miền những đứa con ngang tàng

      Sao không chờ diệt mối thù  chung”

      (Tuổi trẻ Việt Nam)  

Do không bám chắc vào toàn bộ ca từ nhạc Trịnh, do chỉ xuất phát và tập trung khai thác xoay quanh ca từ “nội chiến”, thiếu đi một cái nh́n liên văn bản, Ban Mai đă phân tích phiến diện, sai lệch ư nghĩa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, không thấy hết giá trị đóng góp của ḍng nhạc này cho khát vọng ḥa b́nh, thống nhất của dân tộc.

Đă không bám chắc vào văn bản, Ban Mai lại đi “cảnh tỉnh” về nguy cơ “thoát ly văn bản” trong nghiên cứu: “Ngôn ngữ nghệ thuật chỉ có ư nghĩa khi nằm trong văn bản, phải xét trong ngữ cảnh cụ thể, bước ra ngoài văn bản ngôn ngữ nghệ thuật sẽ có ư nghĩa nội dung khác”. Khi nêu lên điều này, Ban Mai đă tự mâu thuẫn với chính ḿnh. Trong nghiên cứu văn bản nghệ thuật, dĩ nhiên là phải bám chắc vào văn bản nhưng không được “cô lập” văn bản như mẫu vật trong pḥng thí nghiệm mà phải đặt văn bản trong bối cảnh nó ra đời chẳng hạn để “soi tỏ” toàn vẹn những giá trị của nó. Cách làm này, Ban Mai đă học được ở nhà nghiên cứu Bùi Vĩnh Phúc, ngay trong “Lời mở đầu” của cuốn sách TCSVCDT, Ban Mai đă dẫn: “Mặc dù coi những ca từ của Trịnh Công Sơn là những văn bản chính để khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi c̣n muốn dựa vào một thứ “siêu văn bản” khác. Đó là hoàn cảnh xă hội, không khí thời đại, bầu khí quyển triết học, chính trị trong đó những ca từ của ông ra đời, và sự giáo dục cá nhân của chính con người nghệ sĩ. Tất cả những điều ấy cũng là những loại “văn bản khác”, qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần vào việc giúp nh́n rơ hơn chân dung tác giả, cũng như phát hiện phần ch́m của tảng băng trong ngôn ngữ Trịnh Công Sơn” (1). Sao điều hay ho này, Ban Mai đă học được ở người khác mà vội “quên” nhanh vậy?

Cuối cùng, để né tránh hiện thực lịch sử, né tránh sự thật về chiến tranh Việt Nam mà Ban Mai đă t́m cách xuyên tạc, Ban Mai “phát kiến” ra thứ “học thuật” tách lịch sử, tách chiến tranh ra khỏi đề tài của văn học nghệ thuật. Đưa ra những lập luận kỳ quặc sau đây, Ban Mai cho đó là những “kiến thức cơ bản về lư luận văn học” cần lưu ư: “Đối tượng của chính trị là lịch sử, đối tượng của văn chương là tác phẩm”, “Trong lănh vực văn học nghệ thuật, chiến tranh chỉ là một thi pháp (poetics). Là thi pháp, tức là nghệ thuật. Một sự thể hiện, chứ không phải là hiện thực. Một cuộc chiến tranh có thể mang tính chính nghĩa hay phi nghĩa; nhưng một tác phẩm viết về chiến tranh th́ chỉ có vấn đề hay hoặc dở mà thôi. Trong các tác phẩm xuất sắc viết về chiến tranh, chúng ta dễ dàng nhận thấy tác phẩm Chiến tranh và Ḥa b́nh của Leo Tolstoy không phải là tác phẩm thể hiện hiện thực lịch sử đúng nhất mà là tác phẩm viết hay nhất về cuộc chiến tranh Nga-Pháp”.  

Thực ra, lịch sử đâu phải chỉ là đối tượng của chính trị, lịch sử và hiện thực cuộc sống nói chung c̣n là đối tượng của văn học nghệ thuật. Tách hiện thực chiến tranh ra khỏi đối tượng phản ánh, khám phá của văn học nghệ thuật, để từ đó cho rằng, trong văn học nghệ thuật, “chiến tranh chỉ là một thi pháp” là một sự nhầm lẫn ghê gớm về học thuật. Theo các nhà nghiên cứu, thi pháp là tổ hợp những đặc tính thẩm mỹ nghệ thuật, phong cách của một hiện tượng văn học, các thành tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng. Hiểu theo nghĩa rộng, thi pháp bao gồm cả những vấn đề loại h́nh, thể tài, những nguyên tắc, phương pháp phản ánh thực tại và các phạm trù không gian, thời gian nghệ thuật, h́nh tượng tác giả, điểm nh́n nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người…“Chiến tranh” là một trong những đề tài của văn học nghệ thuật, c̣n “thi pháp” là cách viết. Viết về chiến tranh bằng cách nào, bằng phương thức thể hiện nào, đấy mới chính là thi pháp. Ở đây, Ban Mai đă lẫn lộn hoặc đánh tráo khái niệm “chiến tranh” với “thi pháp”, “đề tài” với “cách viết”, nhằm “chạy trốn” việc luận bàn về đề tài chiến tranh trong văn học nghệ thuật, với những vấn đề đặt ra như chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, sự thể hiện hiện thực lịch sử trong tác phẩm có đúng không…do Ban Mai đă “lỡ” viết sai về đề tài chiến tranh trong nhạc Trịnh chăng? 

 

02

Máy bay Mỹ răi chất độc Da Cam 

03 

Máy bay Mỹ thả bom Napalm

 04

Lính Mỹ tra tấn một bà già

 05

Bên xác chồng ở đồi cát Quảng Trị

 

Một tác phẩm hay viết về lịch sử, về chiến tranh, đặc biệt là hay vào cỡ kiệt tác như tiểu thuyết trường thiên “Chiến tranh và ḥa b́nh” của đại văn hào Nga Lép Tônxtôi, trước tiên phải là tác phẩm “thể hiện hiện thực lịch sử đúng nhất” đă, bởi trong văn học nghệ thuật, không hề có cái Mỹ mà xa rời cái Chân, cái Thiện. Để miêu tả đúng lịch sử, Tônxtôi đă sử dụng rất nhiều tài liệu, đă đi thăm chiến trường Bôrôđinô và vẽ nên bản đồ ghi lại việc bố trí quân đội Nga và Pháp trước và trong khi giao chiến. Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, Tônxtôi đă dùng nghệ thuật để khám phá sự thật lịch sử: “Tôi cố gắng viết lịch sử của nhân dân” (2). Nếu Tônxtôi viết về chiến tranh, ở đây là cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân Nga chống lại đội quân Napôlêông xâm lược mà không cần quan tâm đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa, Tônxtôi có thể đă mắc bệnh sùng bái mù quáng Napôlêông như thói thường thanh niên châu Âu thế kỷ XIX đă mắc phải (xin lỗi đại văn hào) chứ sao Tônxtôi lại đă miêu tả Napôlêông như con người “nhỏ bé, vô nghĩa”, “tên đao phủ của các dân tộc” được? Vậy ở đây, nên hiểu những điều mà Ban Mai nêu trên là “kiến thức cơ bản về lư luận văn học” hay phải gọi đích xác đấy chính là “những lỗ hổng tai hại về lư luận văn học”?  

Nhân danh “học thuật thuần túy”, Ban Mai cho rằng: “Nghiên cứu dưới góc nh́n chính trị lấy lịch sử ra chứng minh là việc làm trái với học thuật”. Biện hộ cho Ban Mai, ông Đoàn Tử Huyến (bài đă dẫn) cũng nói: “Trao đổi về học thuật th́ phải dùng học thuật để nói chuyện chứ không nên qui chụp chính trị”. Sự thật, Ban Mai đâu có làm “học thuật thuần túy”. Lợi dụng việc nghiên cứu về Trịnh Công Sơn, Ban Mai đă t́m cách xuyên tạc lịch sử và phủ nhận ư nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 1954-1975. Điều này thể hiện rất rơ qua bài viết “Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam” của Ban Mai đăng trên Web của Hội Văn hóa Trịnh Công Sơn ở Pháp: http://www.tcs-home.org, nhất là với những đoạn đă được lược đi khi làm sách TCSVCDT.  

Trong bài này, Ban Mai viết bừa rằng cả một thế hệ thanh niên nhận lănh sứ mệnh yêu nước là bi kịch, trong đó kể cả nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm với cuốn “Nhật kư Đặng Thùy Trâm” được phát hiện, xuất bản ở trong nước và nước ngoài những năm qua gây “chấn động” mạnh mẽ trong ḷng đông đảo bạn đọc: ““Kẻ thù ta ơi” là một thế hệ tươi sáng, họ là những học sinh, sinh viên đầy nhiệt huyết, được đào tạo từ nhỏ về ḷng yêu nước, yêu nước ở đây đồng nghĩa với ư thức của chủ nghĩa cộng sản về nhiệm vụ và sứ mệnh. Yêu nước ở đây đă gắn liền với một thể chế. Đây lại là một bi kịch khác. “Nhiệm vụ của ta là phải đấu tranh cho lẽ phải. Mà đă đấu tranh th́ phải bỏ sức lực, phải suy nghĩ và phải hy sinh những quyền lợi cá nhân, có khi là cả cuộc đời ḿnh, cho lẽ phải chiến thắng (Nhật kư Đặng Thùy Trâm)”. Ban Mai c̣n “cao giọng” phủ nhận sạch trơn ư nghĩa của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, coi đó là “binh đao điên loạn”: “Tại sao từ một cuộc kháng chiến chống Pháp ban đầu, v́ lư tưởng chung của dân tộc - đánh đuổi ngoại xâm - lại đưa đất nước vào con đường chia cắt, đẩy thành một cuộc chiến tranh ư thức hệ cốt nhục tương tàn. Liệu có thứ triết thuyết hay chủ nghĩa cao cả nào có thể biện minh cho những quyết định lịch sử - đẩy anh em cùng giống Lạc Hồng lao vào cơn binh đao điên loạn này chăng? V́ lư tưởng hay v́ cuồng vọng lợi quyền? Lịch sử mai sau rồi sẽ phán xét”. 

06

B-52 của Mỹ trải thảm bom  

07 

Nhặt xác "thù"

 

08
Thảm sát tại thôn Mỹ Lai, Quảng Ngăi (1968) 

 

Viết  đến đây, tôi không thể không nhớ đến sự việc vừa qua, ngày 21-8-2009, trung uư William L. Calley, người đă tham gia trực tiếp và chỉ huy lính Mỹ gây ra vụ thảm sát kinh hoàng Mỹ Lai (làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngăi) hơn 40 năm trước, vụ thảm sát giết hại hơn 504 dân thường làm chấn động lương tri nước Mỹ và nhân loại, nay Calley sau nhiều năm im lặng đă phải nói lời “tự phán xét” muộn màng về tội ác của ḿnh trước công chúng: “Đó không phải là một ngày để dễ cho qua đi. Không ngày nào tôi không ăn năn hối hận với những ǵ đă xảy ra ở Mỹ Lai. Tôi hối hận với những người Việt Nam đă bị giết hại, với gia đ́nh họ và với những binh lính Mỹ đă dính líu tới vụ việc. Tôi rất xin lỗi" (3). Đấy, Ban Mai chẳng cần ǵ phải đợi đến “lịch sử mai sau” đâu, trung uư William L. Calley đă “mở mắt” cho Ban Mai “tự phán xét”.

Vĩ  thanh: Hăy nghe chính Trịnh Công Sơn nói về nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn 

Trở  lại với vấn đề học thuật, trong nghiên cứu về Trịnh Công Sơn, ngoài việc khảo sát ca từ nhạc Trịnh ra, cần phải dựa vào những loại “văn bản khác” nhằm “góp phần giúp ta nh́n rơ hơn chân dung, diện mạo của Trịnh Công Sơn” (4) như cách của Bùi Vĩnh Phúc đă làm mà Ban Mai đă “học” nhưng “học” không thấu đáo. Xin dẫn ra đây một loại “văn bản khác” mà nếu dựa vào đó, người ta không dễ ǵ lợi dụng đề tài Trịnh Công Sơn để xuyên tạc Trịnh Công Sơn và xa hơn là xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật chiến tranh Việt Nam.  

Loại  “văn bản khác” đó là những lời của chính Trịnh Công Sơn nói về nhạc phản chiến của ḿnh. Trong bài “Xin nối một ṿng tay” của Lưu Trọng Văn viết dưới h́nh thức một cuộc tṛ chuyện tâm t́nh với Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn đă bộc bạch mục đích làm nhạc phản chiến của ḿnh là để chống chiến tranh phi nghĩa: “Khi người ta ư thức được về chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc th́ không thể có tiếng nói chống lại” (5). Khi Lưu Trọng Văn chia sẻ: “Phản chiến…nhưng đă có lúc ông bị hiểu lầm”, Trịnh Công Sơn trả lời: “Nhưng tôi luôn tự hào rằng rất nhiều lính của Thiệu đă bỏ ngũ v́ nghe bản nhạc “Người con gái da vàng” của tôi”, “Nói cho cùng th́…Trương Lương thổi sáo đâu phải cho quân ḿnh buông kiếm. Đâu phải tự dưng chính quyền Sài G̣n ra lệnh cấm, tịch thu các bài hát của tôi. Ông xem cái lệnh cấm số 33 ngày 8-2-1969 này…” (6).  

09Trong bài phỏng vấn Trịnh Công Sơn của Ngô Ngọc Ngũ Long, nhan đề “Một cơi riêng thuần khiết cùng cuộc đời”, Trịnh Công Sơn đă hào hứng kể lại những năm tháng “xuống đường” tham gia phong trào đô thị tranh đấu đ̣i ḥa b́nh và chính phong trào này đă nuôi nguồn cảm hứng cho những ca khúc Da Vàng của nhạc sĩ: “Bắt đầu từ những năm 70, tôi bị cuốn hút vào phong trào tranh đấu của sinh viên - học sinh, đó là những tháng ngày tôi sống hết ḿnh và say sưa nhất, tôi viết trong niềm phấn khích mănh liệt của những đêm không ngủ và chứa chan niềm hy vọng. “Ta phải thấy mặt trời” được hát tại giảng đường Đại học Huế, hát trong những ngày đấu tranh sôi bỏng nhất. Bạn bè tôi lúc ấy tôi biết rất rơ chí hướng của họ, và kính phục họ” (7). Phong trào tranh đấu đ̣i ḥa b́nh này đă góp phần cùng dân tộc đi tới ngày thống nhất đất nước, như Trịnh Công Sơn đă nhấn mạnh trong ca khúc “Trong mỗi đời riêng” viết năm 1980:

      “Qua chiếc cầu xưa nhớ anh Trỗi ngày nào

      Qua những đường xưa nhớ tiếng hát tự  hào

      Dậy mà đi dậy mà đi

      Xưa trong phố này từng quặn  đau bao nỗi đời

      Dậy mà đi ta cùng dậy mà đi

      Có  những ngày ấy mới có  phút giây này” 

      Đúng, “có những ngày ấy mới có phút giây này”, nhạc Trịnh trước và sau năm 1975 là một sự liền mạch, tiếp nối thủy chung sau trước, một sự liền mạch chỉ có được do người nhạc sĩ tài hoa này luôn “Về trong suối nguồn” (tên một ca khúc Trịnh Công Sơn) của một dân tộc yêu chuộng ḥa b́nh, khát khao độc lập, thống nhất. Trước sức sống bất tận của mạch nguồn này, bao nhiêu thứ váng bọt “lợi dụng nhạc Trịnh”, “xuyên tạc Trịnh Công Sơn”, “xuyên tạc lịch sử” đều tiêu tan.  

Nguyễn Hoàn



(1) Ban Mai, Trịnh Công Sơn vết chân dă tràng, NXB Lao Động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2008, tr. 12.

(2) Dẫn theo Nguyễn Hải Hà, Thi pháp tiểu thuyết L.Tônxtôi, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 71.

(3) Theo Báo  điện tử Vietnamnet, ngày 22-8-2009.

(4) Bùi Vĩnh Phúc, Trịnh Công Sơn ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, NXB Văn hóa Sài G̣n, 2008, tr. 28.

(5), (6) Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người, Lê Minh Quốc sưu tầm và tuyển chọn, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2005, tr. 92, 93.

(7) Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người, Sđd, tr. 79, 80.

 

ĐDTB, ngày 14/9/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend