TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

HIỂM HỌA TIN LÀNH ĐẠO RỐI


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Tieng Que Huong Radio.

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

  

 

 

HIỂM HỌA TIN LÀNH ĐẠO RỐI

 

Trần Chung Ngọc

 

 

Toàn tập:   1, 2, 3, 4  

LTS: Khái niệm bảo vệ môi sinh dường như mới được phát triển và ư thức trong vài thập niên gần đây. Người ta thường nói đến cụm từ "ô nhiễm môi sinh". Cả năm qua nhiều người Việt Nam tỏ ra bức xúc, và phản đối dữ dội khi nghe đến hiểm họa môi trường trong việc chính phủ cho khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên. Đó là vấn đề ô nhiễm thuần vật chất, vấn đề sinh thái.

Nhưng c̣n một môi sinh quan trọng hơn nữa, đó là môi sinh văn hóa, là bản sắc dân tộc, là sinh mệnh tinh thần của một dân tộc, há chẳng phải lớn hơn môi sinh vật chất hay sao? Hăy tưởng tượng nếu một mai đây, trên xứ Việt, những người sinh sống nơi đó vẫn mũi tẹt da vàng, nhưng tinh thần đă mất, v́ họ không c̣n được dạy về những cái tinh hoa của văn hóa họ nữa. Họ không c̣n ru con bằng ca dao, không c̣n những buổi cúng giỗ, không c̣n bàn thờ ông thiên, hay bàn thờ tổ tiên, cha mẹ,  không c̣n rước đèn Trung Thu, ăn bánh đón trăng, đám cưới không c̣n chú trọng đến việc lạy tạ cha mẹ, tất tất đều thay đổi, từ điệu hát, tiếng đàn, những dấu vết kiến trúc cũng từ từ bị xoi ṃn với ngọn băo lai căng. Những mái chùa khiêm nhường nằm ngang với những góc uốn cong dịu dàng sẽ bị thay thế bằng những nóc nhà thờ thẳng nhọn, cao chót vót, lấn lướt, và ngạo nghễ, ... H́nh thức đổi th́ tâm t́nh cũng đổi theo. Những tâm hồn hiếu ḥa, khiêm cung, sẽ biến thành những "tinh thần hiếu chiến", kiêu ngạo, khoe khoang. Từ nếp sống dựa trên triết lư nhân bản trở thành nếp sống dựa trên thần thánh và tin tưởng viễn vông. Tóm lại, từ tốt trở thành không tốt.

Nếu có một ngày mai như thế đó, th́ những người Việt Nam c̣n ǵ là bản sắc ? E rằng họ không c̣n là nguời Việt Nam của chân trời Đông Nam Á với tính cách đặc thù của nó như mấy trăm năm trước. Có lẽ là một dân tộc mất gốc! Nền văn hiến 4 ngàn măm trước, thay v́ được tiếp tục khai triển và mở mang, th́ nó lại bị ngả rẽ từ lúc nào, và tiếp tục bằng những bước đi hoang đường, học đ̣i trở lại đi bốn chân, đội lông làm thú ngây ngô, nhận tổ phụ của người làm của ḿnh, và được họ khen là "đẹp, sang, và văn minh quá!". Người Phi Luật Tân ngày nay cũng như dân ở Châu Mỹ La tinh, đă mất bản sắc dân tộc, cả ngôn ngữ, văn hóa đều không c̣n, chỉ có nhà thờ đạo Chúa th́ tràn ngập. Nếu ai hỏi những người trẻ ở Phi về bản sắc văn hóa của nước Phi ra làm sao, th́ những người đó chỉ có thể diễn tả từ tín ngưỡng đến tập quán tất cả đều giống Tây Ban Nha hay Âu Mỹ mà thôi. Nếu ngày mai của chúng ta như thế, với một nền văn minh lai căng, không c̣n bản sắc của ḿnh, làm sao con dân Việt của chúng ta dám tự hào về 4 ngàn năm văn hiến ?

Chuyện chẳng lành đó có thể xảy ra trong một ngày gần nếu ngay bây giờ ta không kịp thời ngăn chận và phản đối làn sóng ô nhiễm đó, làn sóng của những người mắc bệnh và đem con bệnh của ḿnh ra truyền cho công chúng. Buồn thay, những việc truyền nhiễm này lại được chủ nhân của họ gọi là "sứ mệnh truyền đạo", rất "cao cả." Mong rằng người dân Việt Nam thức thời nhất quyết không tiếp xúc với những người đă mắc bệnh truyền nhiễm mà c̣n thích đi "truyền bệnh." Đọc loạt bài "Hiểm Họa Tin Lành" của GS Trần Chung Ngọc sau đây, bạn đọc sẽ thấy rơ tại sao chúng ta nên bảo nhau dạy con trẻ nhận biết những nguồn ô nhiễm để né tránh và ngăn chận. (SH)

____________________

 

HIỂM HỌA 1

 

Tin Lành Lê Anh Huy

 

Tin Lành là một hiểm họa, một họa rất nguy hiểm cho nhân loại nói chung, cho Việt Nam nói riêng, nếu Việt Nam để cho Tin Lành tự do truyền đạo. Tại sao? V́ trong khi tín đồ Ca-tô hoàn toàn lệ thuộc Giáo hội Ca-tô Rô-ma, là nô lệ tâm linh của vị chủ chăn là Giáo hoàng ở tổng hành dinh Vatican, th́ các tín đồ Tin Lành là nô lệ của cuốn Kinh Thánh, tuyệt đối tin rằng cuốn Kinh Thánh là những lời mạc khải của Thiên Chúa nên không thể sai lầm. Trong lịch sử Ki-tô giáo, Giáo hội Ca-tô Rô-ma luôn luôn thay đổi, đă phải sửa sai nhiều lần, và đă phải chính thức xưng thú 7 núi tội ác của Giáo hội đối với nhân loại. Trong khi đó th́ Tin Lành bảo thủ vẫn tiếp tục chấp chặt vào cuốn Kinh Thánh, một cuốn sách chủ trương độc thần không khoan nhượng, và hơn 50% chứa những chuyện giết người hàng loạt tàn bạo, loạn luân, vô đạo đức v..v.., chỉ v́ trong đó có hứa hẹn một sự “cứu rỗi” của một người Do Thái đă chết và táng xác cách đây gần 2000 năm. Hiểm họa Tin Lành là ở chỗ này, v́ Kinh Thánh có rất nhiều điều sai lầm về thần học cũng như về khoa học, không hợp với thời đại, và có tính cách ngu dân. Một học giả, Neale Donald Walsch, đă nhận định trong cuốn The New Revelations, trang 51: “Những nhà bảo thủ Tin Lành tin rằng con đường tiến tới là con đường đi giật lùi, giật lùi về đúng những lời nguyên thủy của cuốn Kinh Thánh – một cuốn sách phải đọc nguyên văn, và áp dụng từng câu từng chữ.” (Fundamentalists believe that the way forward is the way backward, to the original and exact words of the Holy Scripture – to be read verbatim, and applied literally). Bài viết này không ngoài mục đích tŕnh bày những tai họa của Tin Lành trên đầu óc con người và do đó trên xă hội, qua sự phân tích một số sản phẩm “trí thức” của vài tân ṭng Tin Lành Việt Nam.

* * * *

Trên diễn đàn thông tin điện tử hải ngoại trong những năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện một số tân ṭng Tin Lành điển h́nh như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, Nguyễn Huệ Nhật, và Trần Long v..v… ở trong nước. Đặc tính chung của những tân ṭng này là bảo hoàng hơn vua, hung hăng nhất mực, đầu óc mê mẩn với một cái bánh vẽ trên trời. Nếu họ chỉ mù ḷa tin bướng tin càn th́ chẳng ai nói đến làm ǵ. Nhưng khổ thay, họ lại mang cái kiến thức rất hời hợt của họ về tôn giáo ra để mà truyền đạo, hi vọng có thể kéo con người trở lại thời đại man rợ trí thức của thời Trung cổ. Trên diễn đàn trí thức ngày nay mà họ vẫn c̣n đưa ra những luận điệu truyền đạo đă lỗi thời, sặc mùi mê tín, đượm tính ngu si vô trí [xin hiểu “ngu si vô trí” theo nghĩa trong thuật ngữ của Phật giáo: Không biết rơ sự thật, không chấp nhận sự thật trước những bằng chứng hiển nhiên, và tiếp tục nhận giả làm chân], cùng lúc mang mớ kiến thức hời hợt, sơ đẳng, để xuyên tạc bài bác Phật Giáo và truyền thống văn hóa Việt Nam. Tin Lành đă biến họ thành những kẻ không c̣n tinh thần quốc gia dân tộc, chối bỏ nguồn gốc, chỉ mê mẩn với sự “cứu rỗi” của một người Do Thái tiểu sử thuộc loại bất minh, đă chết và táng xác cách đây gần 2000 năm.

Xuyên qua một số bài viết của một số tân ṭng Tin Lành chúng ta có thể thấy rơ thực chất của đạo Tin Lành là như thế nào. Lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể lấy ư kiến của vài cá nhân để tổng quát hóa về đạo Tin Lành. Nhưng kỳ lạ thay, khi nghiên cứu về phái bảo thủ Tin Lành, chúng ta thấy rơ sự phù hợp giữa sách lược truyền đạo, niềm tin tuyệt đối vào những điều vụn vặt trong Kinh Thánh, và những luận cứ trong những bài viết của một số tân ṭng Tin Lành, ở ngoại quốc cũng như ở trong nước.

Khuôn mặt tân ṭng Tin Lành mê muội và khộng kém phần ngu dốt là Lê Anh Huy và Nguyễn Huệ Nhật ở hải ngoại, và Trần Long ở trong nước. Lê Anh Huy là một trí thức dỏm, ăn phải cái bả Tin Lành rồi bác bỏ nguồn gốc truyền thống của người dân Việt Nam, xuyên tạc Phật Giáo. Nguyễn Huệ Nhật th́ theo đạo Phật rồi v́ bị khủng khoảng cả tinh thần lẫn vật chất, như chính ông ta từng thú nhận: “khờ khạo, vụng về, mất thăng bằng, thất bại trong trường đời, bị tù, hai lần vợ bỏ v..v..” nên bỏ đạo Phật, quay sang Tin Lành, dựa vào sự an ủi của một cặp nạng thuộc loại ḿ ăn liền: thiên chúa. Trong hoàn cảnh khủng khoảng tinh thần và v́ căn trí bất cập, chuyện Nguyễn Huệ Nhật bỏ đạo Phật, đạo của trí tuệ, để theo Tin lành, đạo của đức tin, tin mà không cần biết không cần hiểu, một đức tin thuộc loại mù ḷa tin bướng tin càn, là chuyện dễ hiểu, có thể thông cảm. V́ đạo Tin Lành là để cho những người khờ khạo, vụng về, mất thăng bằng, và nhất là khi họ đang ở trong những hoàn cảnh khủng khoảng tinh thần hay vật chất như Nguyễn Huệ Nhật. Đây không phải là điều tôi nói không căn cứ. Tất cả đều dựa trên sự t́m hiểu của tôi về đạo Tin Lành. Những trích dẫn sau đây hi vọng sẽ cho chúng ta biết rơ hơn về bản chất của đạo Tin Lành.

Trong cuốn “Đạo Tin Lành Và Sự Đàn Áp” (Protestantism and Repression, Orbis Books, New York, 1985), Mục sư Tin Lành Rubem Alves, giáo sư đại học ở Campinas, Brazil, đă phân tích rất sâu sắc về mọi khía cạnh của đạo Tin Lành, đặc biệt là về tâm thức của những người tân ṭng trong Chương 2: Cải Đạo: Cái Khuôn Xúc Động T́nh Cảm Của Tin Lành (Conversion: The Emotional Matrix of Protestantism), dài 22 trang giấy, từ 22 đến 46. Đây là một cuốn sách, dày 215 trang, rất hữu ích cho những người nào muốn t́m hiểu về đạo Tin Lành, từ cấu trúc t́nh cảm, nhận thức thực tại, cho đến phương pháp tẩy năo, nhồi sọ những giáo điều mà Tin Lành chấp chặt bất kể đến những bằng chứng về lô-gic, về khoa học, về xă hội, những bằng chứng trái ngược với Kinh Thánh một cách rất hiển nhiên. Chúng ta hăy đọc một đoạn ngắn trong mục “Cải Đạo và Khổ” (Conversion and Suffering), trang 43-44, để thấy rơ Tin Lành đă lợi dụng những t́nh trạng khủng khoảng về vật chất và tinh thần của con người như thế nào để kéo họ vào trong ṿng mê tín của Tin Lành:

Sự phân tích vấn đề của chúng tôi đưa đến kết luận là, kinh nghiệm cải đạo là sự đáp ứng của một t́nh trạng khủng khoảng. Sự cải đạo giải quyết một ngơ bí t́nh cảm.

Đó là tại sao giáo hội phát triển nhanh hơn trong những địa phương ở đó những tiến tŕnh xă hội đă gây ra sự khổ, đặc biệt là từ hoàn cảnh ngoài lề xă hội và sự sụp đổ ư nghĩa của cuộc đời.. Những địa phương như vậy là ưu tiên số một của các nhà thờ ở địa phương, mà những nỗ lực để tạo nên đời sống trong giáo hội được chú trọng trong những địa phương này.

Tôi không nói điều ǵ mới lạ đối với những người Tin Lành. Không có sự cải đạo (vào Tin Lành) nếu không có sự khủng khoảng, không có sự cải đạo mà không có sự khổ. Cải đạo là một quá tŕnh mà con người hấp thụ sự khổ thành một ư nghĩa mới của cuộc đời và làm cho nó có ư nghĩa...

Có phải là khó hiểu không khi mà (vai tṛ của) Chúa Ki-Tô (Giê-su) không thể rao giảng được cho những người cảm thấy ḿnh an toàn, hạnh phúc, cho những người cảm thấy đời sống thật đáng sống, cho những người không đang ở trong cơn khủng khoảng? Có phải là kỳ cục không khi mà Chúa Ki-Tô chỉ có thể tŕnh bày và làm cho có ư nghĩa trong những t́nh trạng bệnh hoạn trong đó con người bị nhiễm bởi sự bất an, bởi những cảm xúc tội lỗi, và sợ hăi cái chết? Thật ra nhiệm vụ của những nhà truyền bá phúc âm là ǵ? Nhiệm vụ của họ là gán cho một cơn khủng khoảng những cái tên thần học trong khi nguồn gốc của nó chỉ là tâm lư xă hội. Nhà truyền bá phúc âm t́m cách khơi động một cơn khủng khoảng mà con người có thể không cảm thấy trước, rồi từ đó, và chỉ từ đó, họ mới có thể tuyên bố: “Chúa Ki-Tô là giải đáp”

Chúng tôi bắt buộc phải kết luận rằng thế giới chỉ mở chỗ cho Kờ-rít khi nó cảm thấy ốm đau, bệnh hoạn. Có một lư do thần học nào để giải thích là tại sao sự sợ hăi cái chết lại là những bí tích đặc quyền của sự cứu rỗi? Nói cách khác, kinh nghiệm cải đạo giả định là điểm gặp nhau giữa Thiên Chúa và thế giới là sự khổ và thống khổ. Có phải là có một cách nh́n thực tại một cách tự măn trong sự đau khổ (sadomasochistic vision of reality) tiềm ẩn ở đàng sau giả định như vậy? [Tác giả dùng từ sadomasochistic nghĩa là phối hợp của sadism (thỏa măn trong sự độc ác) và masochism (cảm thấy thích thú khi bị thống trị hay bị bạc đăi). Về điểm này, Tin Lành không khác ǵ Ca-tô Giáo Rô-ma. Trong cuộc hành hương vừa qua tại Lộ Đức (Lourdes), Giáo hoàng John Paul II đă phát biểu là ngài chia sẻ sự đau đớn vật chất của các tín đồ và bảo đảm với họ là những sự đau đớn bệnh hoạn của họ là nằm trong “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa. (Pope John Paul II joined thousands of other ailing pilgrims at Lourdes... telling them he shares in their physical suffering and assuring them that the burden is part of God’s “wondrous plan”.)]

Sự khổ được biến đổi thành một dạng ân sủng, v́ nó mang đến cho kẻ tội lỗi một cơ hội để gặp Chúa Ki-Tô. [Ở đây, chúng ta lại thấy Tin Lành và Ca-tô gặp nhau ở điểm này. Thật vậy, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đă sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát nhưng “cơ sở từ thiện” (sic) của bà Teresa, và đă viết trong cuốn “Mother Teresa: Beyond The Image” (Mẹ Teresa: Ngoài Cái H́nh Ảnh Đă Được Dựng Lên) là: “Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính ḷng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa Ki-Tô và để truyền đạo... Bà Teresa đă khẳng định rằng công việc từ thiện bà làm là để phục vụ Chúa Ki-Tô, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa Ki-Tô bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa Ki-Tô mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm việc thiện, chứng tỏ ḷng “từ bi” (sic) của bà.Sự khổ càng lớn th́ những cơ hội truyền đạo càng nhiều. Phải chăng điều này hàm ư là Giáo hội được đặt trong một vị thế khó hiểu là thường cầu nguyện cho nhân loại bị khổ nhiều hơn để cho con người có thể chấp nhận thông điệp của giáo hội? Đây là câu hỏi mà Dietrich Bonhoeffer [Một nhà thần học Ki-tô bị chết trong nhà tù của Đức Quốc Xă] đặt trước Giáo hội.]

Vậy những nhà biện hộ cho đức tin Ki-tô, những người mang những “tin lành” thực sự đă làm những ǵ?

Họ chứng tỏ cho những người đang ở trong t́nh trạng an toàn, hài ḷng, hạnh phúc, thực ra là chẳng sung sướng ǵ, tuyệt vọng, và không ư thức được rằng ḿnh đang ở trong t́nh trạng nghiêm trọng mà ḿnh không biết ǵ về nó, từ đó chỉ có họ (những nhà truyền bá phúc âm) mới có thể cứu được. Bất cứ ở nơi nào mà có sự khỏe mạnh, sức sống, sự an toàn, b́nh dị, họ ḍ xét để kiếm những trái cây ngọt ngào [những kẻ nhẹ dạ, cả tin] để gặm nhấm hoặc kiếm chỗ đặt những cái trứng độc hại của họ trong đó. Họ đặt mục tiêu số một vào cách đưa con người vào t́nh trạng tuyệt vọng nội tâm, và từ đó những người này sẽ hoàn toàn lệ thuộc họ. [Bonhoeffer].

Cải đạo (theo Tin Lành) là một giải đáp cho một vấn nạn đau đớn. Người ta bắt đầu đi từ cải đạo đến một quan niệm về thế giới có tác dụng ngăn ngừa sự tái xuất hiện của kinh nghiệm bất an tiên khởi. Mục đích [của cải đạo] là đuổi đi sự sợ hăi. Nếu sự cải đạo đă đủ để chứng minh có thể đuổi đi sự sợ hăi, tâm thức con người sẽ gắn chặt vào kinh nghiệm cải đạo và vào quan niệm mới về thế giới. Đó là tại sao mọi lư luận không có tác dụng ở tŕnh độ này. Chúng ta có thể đưa ra mọi thứ bằng chứng – lô-gic, khoa học, hay bất cứ bằng chứng nào khác – để kêu gọi người cải đạo suy tư về kinh nghiệm cải đạo của họ. Bằng chứng này bị bác bỏ ngay lập tức bởi người tân ṭng. [Bởi v́ người tân ṭng sợ phải đối diện lại với một tâm thức bất an như trước.] 1

Nơi trang 84-85, mục sư Rubem Alves c̣n cho chúng ta biết rơ những người tân ṭng đă cải đạo vào Tin Lành như thế nào và tâm thức của họ đă bị cộng đồng Tin Lành thay đổi như thế nào để họ có thể được chấp nhận trong “hội thánh” (sic) Tin Lành. Đọc xong đoạn sau đây chúng ta sẽ hiểu rơ hơn tại sao những tín đồ Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng hay Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long lại như những con vẹt, nhắc lại y chang những điều mà họ được truyền dạy trong những cộng đồng Tin Lành:

T́nh trạng của một kẻ tân ṭng giống như t́nh trạng của một đứa trẻ lần đầu tiên đi đến trường học. Họ không biết ǵ hết. Kiến thức sẽ được dàn xếp để truyền cho họ bởi một người [tự cho là] đă có kiến thức (về Tin Lành). Quá tŕnh học tập là một quá tŕnh tập sự. Sự tương giao xă hội giữa hai bên không phải là một sự tương giao b́nh đẳng. Ông thầy và kẻ tập sự, thầy dạy giáo lư và kẻ tân ṭng học hỏi, không ở cùng một tŕnh độ. Một người là thuộc cấp của người kia; do đó quyền lực nằm trong phương tŕnh này. Những người dạy giáo lư là những người có quyền năng áp đặt những định nghĩa về thực tại của ḿnh; những kẻ tân ṭng học hỏi là những người không có quyền giữ những định nghĩa về thực tại của ḿnh..

Ngay cả trước khi những kẻ tân ṭng học hỏi bất cứ điều ǵ về thế giới, họ được dạy để tự coi ḿnh như là không biết ǵ. Những kiến thức của họ được để trong dấu ngoặc và được dạy phải nghi ngờ. Họ không được phép viện ra những điều mà họ cho là họ biết để phê b́nh loại kiến thức mà “hội thánh” muốn chuyển đạt cho họ. Tại sao vậy? V́ kiến thức có trước của họ là tài sản từ các thời kỳ tăm tối và bị đầy đọa từ trước. Đầu óc của họ được đưa về t́nh trạng của những trang giấy trắng. Họ không có ǵ để nói; nhiệm vụ của họ là nghe. Là những kẻ tập sự và học hỏi, họ phải tuân phục định chế của giáo hội trong yên lặng. Nay họ biết rằng định chế đó có độc quyền về sự hiểu biết tuyệt đối, do đó có độc quyền để nói.

Như vậy, trong thế giới Tin Lành, quá tŕnh học hỏi bắt đầu bằng một bài học thuộc loại đặc biệt về mối giao hệ xă hội: những người dạy giáo lư nói, những kẻ học hỏi ngồi yên; những người dạy giáo lư giảng dạy, những kẻ học hỏi nhắc lại. Nếu những kẻ học hỏi không biết là ḿnh tin cái ǵ (như những người giảng dạy tự cho là ḿnh đă biết), họ không đủ tư cách để nói. Đúng là những kẻ tân ṭng được tự do tỏ lộ t́nh cảm của ḿnh. Nhưng họ không thể nói điều ǵ về sự hiểu biết của họ. Đó là tại sao loại ngôn từ thích hợp của những kẻ tân ṭng học hỏi là nhắc lại, như sách giáo lư (của Tin Lành) đă minh họa rơ ràng. Những sách giáo lư là sách đầu tiên để cho những kẻ tân ṭng tập sự và học hỏi. Chúng chứa những câu hỏi và những câu trả lời viết sẵn. Khi nào th́ những kẻ tân ṭng học hỏi hiểu sách giáo lư của Tin Lành? Khi họ có thể đọc thuộc ḷng những câu trả lời in sẵn trong đó. Sự học ḥi của cộng đống Tin Lành được định nghĩa theo loại kiến thức đó, và sự kiểm tra sự học hỏi của những kẻ tân ṭng là khả năng nhớ và nhắc lại những câu hỏi và câu trả lời trong sách giáo lư. Theo cách này tâm thức tập thể của cộng đồng Tin Lành được in vào đầu óc và tâm thức của thành viên. Thế c̣n vấn đề tự do t́m hiểu th́ sao? Thế c̣n vấn đề để cho những kẻ tân ṭng học hỏi tự mở mang trí tuệ? Không thể t́m thấy ở đâu trong đạo Tin Lành. 2

Ngoài ra, mục sư Rubem Alves c̣n cho chúng ta biết, trang 34, là Tin Lành cấy vào đầu tân ṭng mặc cảm tội lỗi, và để có thể vào trong cộng đồng Tin Lành, người tân ṭng phải tin rằng ḿnh sinh ra trong tội lỗi, và v́ cái bản chất tội lỗi đó con người không thể làm điều ǵ tốt (Believe that you were born in sin, and that by nature you are incapable of doing good.). Để thoát ra khỏi cái bản chất tội lỗi đó, con người chỉ có một cách: chấp nhận Dê-su Ki Tô là đấng cứu chuộc duy nhất và đầy đủ (Accepting Christ as the sole and sufficient savior). Cái công thức này không khuyến khích làm thiện mà chỉ cần đầu phục Dê-su Ki-Tô (The formula calls not for doing but for surrendering to Christ). Thật vậy, rất mực đạo đức c̣n thường được coi là một chướng ngại trong sự cải đạo (Indeed moral excellence is often considered an obstacle to conversion).

Với những hiểu biết như trên về sự cải đạo vào Tin Lành, rồi đọc một vài bài của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng, hay Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long v…v… chúng ta thấy Mục sư Rubem Alves viết không sai một mảy may, và chúng ta không thể không tội nghiệp cho những đầu óc đă bị điều kiện hóa qua những thủ đoạn truyền đạo của Tin Lành. Nhưng thật ra, chúng ta không thể quy trách hoàn toàn cho những người truyền đạo, bởi v́ đó là nghề nghiệp của họ, dùng bất cứ thủ đoạn nào để kéo những người đang ở trong cơn khủng khoảng tinh thần và vật chất vào mớ xiềng xích tâm linh của Tin Lành. Họ thành công v́ một phần khá nhiều thuộc căn trí thấp kém và yếu kém của những kẻ tân ṭng. Nếu căn trí của những kẻ tân ṭng không yếu kém, nếu ḷng tự tin, tự trọng của họ không mất đi, nếu đầu óc của họ có khả năng suy luận dù chỉ là tối thiểu, th́ làm sao họ có thể bị thuyết phục bởi những điều thuộc loại mê tín, hoang đường đă quá lỗi thời của Tin Lành?

Chẳng trách là Mục sư Tin Lành Ernie Bringas đă nhận định trong cuốn Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, trang b́a sau: “đầu óc của đa số tín đồ Ki Tô Giáo, đặc biệt là Tin Lành, có một khuyết tật, họ là nạn nhân của một khoảng cách kiến thức đặt họ vào tŕnh độ hiểu biết tôn giáo thích hợp nhiều hơn với thế kỷ 17”. [Christians are victims of a knowledge gap which places them at a level of religious understanding much more appropriate to the 17th century]. Để chứng minh, sau đây tôi sẽ luận về một vài điểm điển h́nh trong những bài tôi đă đọc của Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng và Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long. Tuy nhiên đây không phải là bài phê b́nh mấy người trên, mà chỉ là phân tích những vấn nạn chung của Ki Tô Giáo qua những niềm tin lạc hậu, vô căn cứ của họ. Trong phần I của đề tài Hiểm Họa Tin Lành, tôi chỉ phê b́nh một câu của Lê Anh Huy.

Năm 2001 tôi đă phê b́nh bài “T́m Hiểu Niết Bàn” của Lê Anh Huy [trên trang nhà Giao Điểm] và chứng minh là kiến thức của ông ta về đạo Phật và về chính tôn giáo của ông ta, Ki-tô giáo, thuộc loại ăn đong, rất hời hợt, bắt nguồn từ sự mù ḷa tin bướng tin càn vào những chuyện hoang đường về Dê-su Ki Tô (Jesus Christ).

Lê Anh Huy viết bậy rất nhiều, nhưng chúng ta hăy đọc một trí thức (sic) ăn phải cái bả Tin Lành rồi nguyền rủa dân tộc Việt Nam yêu quư của chúng ta như thế nào:

“Nhưng mặc khải của Chúa cho biết rằng Rồng là h́nh ảnh của ác quỉ . Do đó chúng tôi vẫn cầu nguyện cho dân tộc VN chối bỏ truyền thuyết "con rồng cháu tiên" . Đây là dấu chỉ của sự phục ṭng ác quỉ. Một dân tộc thờ lạy ác quỉ th́ lẽ đương nhiên thưộc quyền ác quỉ và đầy tớ của chúng.”

Tôi chưa thấy ai có thể viết vừa ngu xuẩn, vừa láo lếu [xin lỗi quư độc giả, tôi không thể t́m được danh từ nào thích hợp hơn] hơn Lê Anh Huy. Tai họa của Tin Lành thật là rơ rệt, có thể biến một người b́nh thường, và ngay cả một người tự coi ḿnh là trí thức, thành một kẻ vong bản, một kẻ mù quáng đến độ có thể nguyền rủa cả một dân tộc và tổ tiên của chính ḿnh. Cái thậm ngu, chí ngu của Lê Anh Huy là mang cái gọi là “mặc khải của Chúa” về con rồng, coi đó là một chân lư không thể sai lầm, để mà đả phá những quan niệm khác trên thế giới về con rồng, và nhất là niềm hănh diện “con rồng cháu tiên” của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, trong đó có tổ tiên và có thể là có ông bà, cha mẹ của Lê Anh Huy.

Một chân lư khoa học th́ có tính phổ quát, v́ có thể áp dụng khắp nơi. Một quan niệm địa phương của một người Do Thái về bất cứ cái ǵ cũng không thể coi như là chân lư, giống như một chân lư khoa học. Đây là điều sơ đẳng nhất mà chỉ có những kẻ hạ căn cuồng tín nhất mới dám mang ra dùng. Lê Anh Huy không biết rằng đối với nền văn hóa Á Đông, Rồng là một trong Tứ Quư: Long, Ly, Qui, Phượng. Ở đây không phải là chỗ bàn về nguồn gốc dân Việt. Tôi chỉ muốn nói rằng, mỗi nền văn hóa đều khác nhau. Văn hóa Á Đông coi Rồng như một biểu tượng của sự cao quư, biểu tượng của Vua Chúa, biểu tượng của trí tuệ. V́ chỉ là một biểu tượng cho nên Rồng chưa làm hại ai, nên không thể gọi là ác quỷ. Nhưng thực ra chính là Lê Anh Huy đang thờ lạy ác quỷ. Chứng minh?

James A. Haught đă đưa ra một nhận định bất khả phủ bác trong cuốn 2000 years of disbelief: famous people with the courage to doubt, trang 324, như sau, về Chúa Trời của Lê Anh Huy:

Qua luận lư, chúng ta có thể thấy quan niệm của giáo hội về một thiên chúa ở trên trời với ḷng thương yêu vô cùng không đứng vững. Nếu có một đấng thần linh sáng tạo ra muôn loài th́ ông ta đă làm ra ung thư vú cho phái nữ, bệnh hoại huyết cho trẻ con, bệnh cùi, bệnh AIDS, bệnh mất trí nhớ (alzheimer), và hội chứng down (khuyết tật tinh thần). Ông ta ra lệnh cho những con cáo cắn xé nát những con thỏ ra từng mảnh, những con báo giết những hươu nai. Không có một con người nào độc ác đến độ hoạch định những sự khủng khiếp như vậy. Nếu một đấng siêu nhiên làm như vậy, ông ta là một con ác quỷ, không phải là một người cha nhất mực nhân từ.

(Through logic, you can see that the church concept of an all-loving heavenly creator doesn't hold water. If a divine maker fashioned everything that exists, he designed breast cancer for women, childhood leukemia, leprosy, aids, alzheimer's disease, and down's syndrome. He madated foxes to rip rabbits apart and cheetahs to slaughter fawns. No human would be cruel enough to plan such horrors. If a supernatural being did so, he's a monster, not an all-merciful father.)

Ông Lê Anh Huy nghĩ sao? Con Rồng chưa làm hại ai, trong khi thiên chúa của ông đúng là một ác quỷ mà ông đang thờ lạy. Ông có dám phủ nhận điều này hay không? Có phải là một người thờ lạy ác quỉ th́ lẽ đương nhiên thưộc quyền ác quỉ và là đầy tớ của nóVậy thật ra, bản chất của Lê Anh Huy chỉ là một tôi tớ của một ác quỉ, không hơn, không kém. Bởi v́ chỉ có ác quỉ mới dạy tôi tớ chối bỏ nguồn gốc của ḿnh để đi theo ác quỉ. Không cứ phải là một bậc thánh thiện, mà bất cứ người thường nào cũng không làm như vậy.

Ông Lê Anh Huy tin vào lời mạc khải của Chúa về con Rồng. Vậy ông có tin vào những lời mạc khải của Chúa trong sách Khải Huyền ở cuối Tân ước hay không? Chắc chắn là có phải không? V́ đó là niềm hi vọng để ông được Chúa chọn (với xác suất bằng số không) cho lên thiên đường (mù) sống cuộc sống đời đời cùng Chúa. Nhưng ông có biết rằng Sách Khải Huyền đă được Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson phê b́nh một cách rất chính xác như sau: “Sách Khải Huyền là những lời nói dốt nát của một kẻ điên khùng [President Thomas Jefferson referred to the Book of Revelation as “the ravings of a maniac”, West County Times, California, USA, Editor Steven Morris, 14 August, 1995].

Kẻ điên khùng dốt nát này là ai? Kinh Thánh viết rơ tên sách Khải Huyền: “The Revelation of Jesus Christ”, có nghĩa là Lời mạc khải của Dê-su Ki-Tô”. Vậy tại sao ông lại tin vào những lời mạc khải của một tên dốt nát điên khùng để chối bỏ nguồn gốc con Rồng cháu Tiên của người dân Việt Nam mà hầu hết người dân Việt Nam chúng tôi đều trân quư, trừ những kẻ vong bản, mất gốc như ông? Đối với đa số học giả và những người trong giới hiểu biết th́ Kinh Thánh chẳng qua chỉ là một sản phẩm dẫn xuất từ những sự mê tín trong thời bán khai (a product derived from primitive superstitions).

Vậy giá trị sự mạc khải của thiên chúa trong Kinh Thánh th́ có giá trị ǵ đối với nhân loại. Nó chỉ có giá trị đối với những người như Lê Anh Huy, nhưng người bị bệnh tâm thần. Nghiên cứu Tân Ước, các học giả cũng đă thấy rơ rằng, Dê-su đă vấp phải nhiều sai lầm về lịch sử, về khoa học, và về thần học. Vậy làm sao ta có thể tin được những lời mà những người như Lê Anh Huy [LAH] xưng tụng như là những lời mạc khải của Thiên chúa, làm như những lời này phải có giá trị tuyệt đối mà ai cũng phải tin theo? Để giúp ông Lê Anh Huy thấy rơ vấn đề, sau đây tôi xin đưa ra vài tài liệu nghiên cứu về thực chất Chúa của ông ta mà uy tín của các tác giả khó có ai trong giới trí thức có thể phủ nhận.

1. Sau khi duyệt qua những công cuộc khảo cứu về nhân vật Dê-su trong 2 thế kỷ nay, học giả Russell Shorto đă viết trong cuốn Sự Thật Trong Phúc Âm (Gospel Truth) như sau:

... Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Dê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường.

(Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.)

2. Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong là một học giả Ki Tô nổi tiếng của Hoa Kỳ. Ông ta viết rất nhiều sách duyệt lại hệ thống tư tưởng Ki Tô Giáo dựa trên Thánh Kinh, và ông đă nhiều lần được mời lên TV để tŕnh bày quan điểm của ḿnh. Trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Về Chuyện Sinh Ra của Giê-su (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus) , Giám mục Spong viết như sau:

“Chẳng có ai biết cha ông ta (Dê-su) là ai. Rất có thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những thỏi chất nổ chưa kiếm ra và chưa nổ .”

(No one seemed to know his father. He might well have been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition)

3. Trong cuốn Hăy Cứu Thánh Kinh Khỏi Phái Bảo Thủ (Rescuing the Bible From Fundamentalism), Giám mục Spong viết:

- Có những đoạn trong bốn Phúc Âm mô tả Dê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. (There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical).

- Cuốn Kinh Thánh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. (A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship)

4. Và khi bàn về ơn cứu rỗi của Dê-su, trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Th́ Chết (Why Christianity Must Change Or Die), Giám mục John Shelby Spong đă dành riêng chương 6 để viết về đề tài Dê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một H́nh Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go) [Bài này đă được dịch và đăng trên trang nhà Giao Điểm]. Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau:

"Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái t́ vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngă, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục t́nh trạng tiền sa ngă của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời -Darwin và một sự vô nghĩa sau thời -Darwin."

(We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)

Chúng ta thấy ngay, từ vài kết quả nghiên cứu nêu trên trong số hàng trăm kết quả nghiên cứu khác về nhân vật Dê-su, tất cả những niềm tin của các tín đồ Tin Lành (những người tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Kinh Thánh), bất kể là khoa học cộng với hàng trăm tác phẩm nghiên cứu về Kinh Thánh đă bác bỏ tất cả những chuyện hoang đường do Ki Tô Giáo dựng lên quanh nhân vật Dê-su, ngày nay đă không c̣n chỗ đứng trong giới trí thức và những người hiểu biết. Như Russell Shorto đă nhận định, phần lớn các tín đồ Tin Lành vẫn c̣n sống trong bóng tối của sự ngu si. Và những nhận định của Giám Mục Spong ở trên đă chứng tỏ rằng những chuyện hoang đường như Dê-su sinh ra từ một trinh nữ, Dê-su là con Thượng đế, Dê su là đấng cứu thế, vai tṛ “cứu chuộc”, “cứu rỗi” của Dê-su v..v.. chỉ là những điều mê tín trước thời Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa.

(Xin đọc tiếp HIỂM HỌA: 2, 3, 4 )


1 Our analysis has led us to the conclusion that the experience of conversion is a response to a crisis situation. It resolves an emotional impasse.

That is why the Church grows more rapidly in areas where social processes are causing suffering, particularly from anomie and the collapse of meaning-structures...Such areas should be given top priority by the churches, that efforts to build up church life should be concentrated in them...

I am not saying anything that is news to Protestants. There is no conversion without crisis, no conversion without suffering. Conversion is a process whereby one assimilates suffering to a new meaning-structure and thus makes it meaningful...

Isn’t it curious that Christ cannot be prached to people who feel secure and happy, to people who feel that life is worth living, to people who are not going through a crisis? Isn’t it odd that Christ can only be proclaimed and made meaningful in morbid situations where people are infected with existential anxiety, guilt feelings, and terror of death? What really is the task of the evangelists? His or her task is to give theological names to a crisis that could well be psychosocial in origin. The evangelist seeks to activate a crisis which might not have been sensed befored, so that then, and only then, he or she can proclaim that “Christ is the answer.”

We are forced to conclude that the world makes room for Christ only when it feels ill, when it has come down with some sickness. Is there some theological reason why dread of death and guilt are the privileged sacraments of salvation? To put it another way, the experience of conversion presupposes that the meeting-point between God and the world is suffering and anguish – the world’s state of pain and sickness. When there is health and happiness, language about God loses its meaningfulness. Isn’t there a sadomasochistic vision of reality buried underneath such presupposition?

Suffering is transformed into a blessing, because it provides an opportunity for the sinner to encounter Christ. The greater the suffering, the greater the opportunities for evangelists! Doesn’t that suggest that the Church is being put in the curious position of praying for more human suffering so that human hearts will be more receptive to its message? That was a question which Dietich Bonhoeffer posed to the Church.

What do the apologists for the Christian faith, the bearers of the “good news” really do?

They demonstrate to secure, content, happy mankind that it is really unhappy and desperate, and merely willing to realize that it is in severe traits it knows nothing at all about, from which only they can rescue it. Wherever there is health, strength, security, simplicity, they spy luscious fruit to gnaw at or to lay their pernicious eggs in. They make it their object first of all to drive men to inward despair, and then it is all theirs (Bonhoeffer).

Conversion is a solution to a painful problem. One starts from conversion to structure a world whose function is to prevent the reappearance of anxiety. The aim is the exorcism of the terror. Now if the conversion has proved adequate in exorcising this terror, consciousness will be firmly glued to that conversion-experience and its attendant cognitive worldview. That is why arguments won’t work at this level. You may offer all sorts of evidence – logical, scientific, or whatever – to call to convert’s basic experience into question. It will immediately and flatly rejected by the convert.

2 The situation of the new converts is akin to that of children going to school for the first time. They know nothing. Knowledge will be mediated to them by a person who has knowledge. The learning process is a process of apprenticeship. The social interaction between two parties involved is not an interaction between equals. Master and apprentice, teacher and learner, are not the same level. One is subordinate to the other; hence power is involved in the equation. The teachers are those who have the power to impose their definition of reality; the learners are those who do not have the power to maintain their definition of reality..

Even before new converts learn anything about the world, they are taught to view themselves as people who know nothing. Their own knowledge is placed between parentheses and called into doubt. It is not permissible for them to appeal to what they think they know in order to criticize the knowledge that the church community wishes to transmit to them. Why? Because their knowledge is a heritage from their earlier period of darkness and damnation. Their minds are reduced to blank pages. They have nothing to say; their job is to listen. As apprentices and learners, they must submit silently to the church institution. They now know that the institution has the monopoly on absolute knowledge, hence a monopoly on the right to talk.

In the Protestant world, then, the learning process begins with a lesson in a particular kind of social relationship: the teachers speaks, the learners keep quiet; the teachers teach, the learners repeat. If the learners do not know what they believe, they are not qualified to speak. It is true that the converts are free to sing their emotions. But the discourse of knowledge is still impossible. This is why the proper mode of speech for the learners is repetition, as catechisms clearly illustrate. Catechisms are primers for apprentice-learners. They contain questions and ready-made answers. When do learners know their catechism? When they can recite by heart the printed answers in it. The learning of the church community is defined in terms of that knowledge, and the test of learning is the ability to memorize and repeat the catechism questions and answers. In this way the collective conscience of the community is imprinted as truth on the mind and conscience of the individual member. What about free inquiry? What about let the converts break their own ground? That is nowhere to be found.

 

Sachhiem.net, ngày 2/9/09

NDVN, ngày 11/10/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend