TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

CHUYỆN NĂM NGƯỜI ĐÀN BÀ DO THÁI TRONG KINH THÁNH


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

  

 

TẢN MẠN CHUNG QUANH

CHUYỆN NĂM NGƯỜI ĐÀN BÀ

 

Trần Chung Ngọc

 

 

Đây là chuyện về 5 người đàn bà trong gia phả của Chúa Giê-su.  Trong Tân ước, Phúc Âm đầu tiên là Phúc Âm Matthew.  Trong Matthew 1, Matthew viết về gia phả Chúa Giê-su, bắt đầu từ Abraham cho tới Giê-su, tất cả là 42 thế hệ.  Trong gia phả này chúng ta thấy có tên năm người đàn bà: Tamar [Judah begot Perez and Zerah by Tamar], Rahab [Salmon begot Boaz by Rahab], Ruth [Boaz begot Obed by Ruth], Bathsheba [David begot Solomon by her who had been the wife of Uriah (Bathsheba)], và Mary [Jacob begot Joseph the husband of Mary, of whom was born Jesus].  Đây là điều khá đặc biệt, v́ theo truyền thống Do Thái th́ người ta thường kể gia phả qua những người cha, thí dụ như Abraham sanh ra Isaac, Isaac sanh ra Jacob v..v…  Nhưng Matthew lại xen vào tên 5 người đàn bà như trên, chắc hẳn những người này phải là rất đặc biệt nên mới để trong gia phả của Chúa Giê-su, hay nói khác đi, Chúa Giê-su thuộc ḍng dơi những người đàn bà đặc biệt này. 

 

Tuy nhiên, hầu như chắc chắn là các tín đồ Ki Tô Giáo nói chung, Ca-tô Rô-maGiáo nói riêng không mấy ai biết đến 5 người đàn bà đặc biệt này, v́ họ thường không đọc Thánh Kinh, và v́ chuyện về 5 người đàn bà này không bao giờ được giảng trong nhà thờ, và không bao giờ được nói đến trong những lớp học Thánh Kinh cho người lớn cũng như trẻ con.  Vậy th́ để tăng thêm phần nào kiến thức về ḍng dơi Chúa Giê-su, chúng ta hăy t́m hiểu trong Thánh Kinh những người đàn bà này là ai.   

 

Sau đây tôi xin kể những chuyện về 5 người đàn bà đặc biệt trên như được viết trong Thánh Kinh, và xin kể hoàn toàn miễn phí. Ở đây tôi chỉ kể theo Thánh Kinh chứ không chép nguyên văn từ Thánh Kinh.  Cuốn Thánh Kinh bằng tiếng Việt mà tôi có, cuốn “Kinh Thánh: Cựu Ước Và Tân Ước”, xuất bản bởi American Bible Society, New York, 1998, không thể đọc được, v́ văn chương rất lủng củng, tối ṃ ṃ, và dịch sai nhiều chỗ so với cuốn của Vua James [King James Version], cuốn Kinh Thánh được dùng nhiều nhất trong thế giới Tây phương.

 

Tamar:  Chuyện về Tamar có trong Sáng Thế Kư 38.  Chúng ta có thể tóm tắt như sau:

 

Judah (chúng ta không cần biết Judah là ai, chỉ biết đó là một nhân vật trong gia phả của Giê-su) ở xứ Canaan có ba người con trai.  Con trưởng là Er, con thứ là Onan, và con út là Shela.  Judah cưới Tamar làm vợ cho trưởng nam Er.  Nhưng v́ Er là người xấu, đồi bại đối với Thiên Chúa nên Thiên Chúa vật chết anh ta (Thánh vật) [Genesis 38: 7: But Er, , Judah’s firstborn, was wicked in the sight of the Lord, and the Lord killed him ]  Thánh Kinh không viết rơ là Er đồi bại như thế nào để đến nỗi bị Thiên Chúa vật chết.  Nhưng chúng ta biết ở Trung Đông khi đó th́ Thiên Chúa của Ki Tô Giáo luôn luôn can thiệp vào chuyện thế gian, thí dụ như ông ta ra lệnh cho các binh sĩ ở trong trại khi đi cầu xong phải đào lỗ chôn phân v́ ông ta không muốn ngửi hay giẫm phải khi đi dạo trong trại quân [Deuteronomy 23: 13-14]. Ông ta vừa là công tố viên [prosecutor], vừa là hội thẩm đoàn [jury], vừa là quan ṭa [judge], cho nên chỉ cần ông ta phật ư vào một điều nào đó, dù nhỏ nhặt đến đâu, cũng đủ cho ông ta tự tay hoặc ra lệnh cho tôi tớ của ông ta giết chết nạn nhân.  Điều này chúng ta thấy ông ta thi hành trong khắp cuốn Thánh Kinh, và con số nạn nhân của ông ta mà người ta đếm được trong Thánh Kinh th́ rất nhỏ so với con số không đếm được như trong nạn hồng thủy, hay trong vụ hủy diệt thành Sodom v..v..., là trên 2 triệu người gồm từ trẻ sơ sinh đến ông già, bà cả. 

 

Trở lại chuyện Tamar. Chồng Tamar là Er bị Thiên Chúa vật chết, và ông bố Judah ra lệnh cho người con thứ là Onan:  “Hăy “đi vào” chị dâu ngươi và lấy nó, và hăy có con để nối ḍng dơi cho anh của ngươi” [xin lỗi độc giả, tôi dịch sát nghĩa trong Thánh Kinh của cụm từ “go in to” mà chúng ta thấy trong rất nhiều trường hợp tương tự trong Thánh Kinh, nhưng xin độc giả hiểu cho rằng chẳng ai có thể bằng hai chân đi vào một phụ nữ.  Có thể dịch thoát là “hiệp thông” nhưng sợ làm mất nghĩa của hiệp thông Tam Ṭa hoặc hiệp thông với Chúa. Tiếng Việt văn hoa lịch sự gọi “go in to” là “ngủ với” hay “làm t́nh”, tiếng Mỹ gọi đơn giản là “chử F” (“F” word), nhưng Thánh Kinh th́ viết rơ ràng là “go in to”]  (Nguyên văn King James Version: Genesis 38: 8 :  And Judah said to Onan: “Go in to your brother’s wife and marry her, and raise up an heir to your brother”).  Từ đây về sau tôi để nguyên cụm từ “go in to” trong suốt bài. 

 

Có lẽ chúng ta lấy làm lạ, không hiểu có phải ông Judah có đầu óc bất b́nh thường hay sao mà lại ra cái lệnh loạn luân này cho Onan, và con của Onan sinh ra lại là con của Er.  Không phải đâu là không phải đâu [Bao Bất Đồng].  V́ đó chính là luật của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, một trong vô vàn những luật lệ mà về sau Chúa Giê-su phán: “Ta xuống đây để thi hành những luật của Cha Ta.  Cho đến khi tận cùng của thế giới, một chấm một nét của những luật đó cũng không thể thay đổi”.  Luật này nằm ở đâu?  Xin thưa, ở trong “Phục Truyền Luật Lệ Kư 25: 5-6” (Deuteronomy 25:5-6): “Nếu các anh em ruột ở cùng với nhau mà một người chết mà không có con trai, th́ người góa phụ không được lấy người ngoài gia đ́nh; người anh hoặc em của chồng bà ta sẽ “go in to” bà ta, cưới bà ta làm vợ, và phải làm bổn phận của anh, em chồng đối với bà ta.  Và đứa con trai đầu ḷng sinh ra sẽ được coi là thừa kế của người chồng đă chết.”  [If brothers dwell together, and one of them dies and has no son, the widow of the dead man shall not be married to a stranger outside the family; her husband’s brother shall “go in to” her, take her as his wife, and perform the duty of a husband’s brother to her.  And it shall be that the firstborn son which she bears will succeed to the name of his dead brother.]   Luật này, cũng như các luật khác của Thiên Chúa, được Môi-se (Moses)  nói với người Israel như sau, Deuteronomy 4: 6“Cho nên các ngươi phải giữ và làm theo các luật lệnh này, v́ đó là trí tuệ và hiểu biết của các ngươi trước các dân tộc mà họ sẽ nghe biết tất cả những luật lệ này và nói rằng: “Đúng là quốc gia vĩ đại này là một dân tộc khôn ngoan và hiểu biết.” [Therefore be careful to observe them; for this is your wisdom and your understanding in the sight of the peoples who will hear all these statutes, and say, “Surely this great nation is a wise and understanding people”]  Hiển nhiên là cũng như Do Thái, các dân Chúa khắp nơi về sau đều có thể coi là khôn ngoan và hiểu biết khi tuân theo các luật của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. 

 

Onan tuân lệnh cha, “go in to” chị dâu Tamar, nhưng không muốn có con v́ biết rằng con đó lại không phải của ḿnh mà là của ông anh, cho nên xuất tinh ra ngoài và xịt xuống đất (emitted on the ground).  Mốt “go in to” này tiếng La-tinh là Coitus Interruptus, nhưng về chuyện của Onan ở trên, có học giả đặt là “Coitus Onanterruptus” và những lần Onan “go in to” chị dâu như vậy bị coi là “Mission unaccomplished” không hoàn thành như “Missision accomplished” của Ông Bush ở Iraq.  Thánh Kinh viết:   Thiên Chúa không hài ḷng với nhiệm vụ bất thành [mission unaccomplished] của Onan nên cũng giết tốt anh ta luôn. [Genesis 38: 10And the thing which he (Onan) did displeased the Lord; therefore He killed him also]   Chắc Thiên Chúa có mặt những lúc Onan xịt xuống đất v́ Thiên Chúa có mặt khắp nơi (omnipresent). Chúng ta cũng nên biết là Giáo hội Ca-tô đă lấy chuyện này trong Thánh Kinh và đặt ra từ “Onanism” để đe dọa h́nh phạt của Thiên Chúa đối với các tín đồ can tội thủ dâm, hay ngừa thai, một trọng tội trong Ca-tô giáo.  Tại sao lại phải đe dọa?  V́ Giáo hội cho rằng, “go in to”  là để sinh con đẻ cái chứ không phải là v́ thú vui xác thịt. [New Catholic Dictionary: And the Lord slew him [Onan], because he did a detestable thing.… Onanism is always a grave sin. It is a crime opposed to natural law, for it frustrates the primary purpose of matrimony, namely, the procreation of offspring.]  Thế là Tamar lại trở thành góa phụ.  Judah bèn bảo Tamar: “Thôi hăy về nhà Bố con mà ở, chờ khi nào Shela khôn lớn ta sẽ cho nó “go in to” con.”

 

Thời gian qua, vợ Judah đă chết, và Shela đă khôn lớn nhưng Tamar không thấy ông ta đả động ǵ đến chuyện cho Shela “go in to” ḿnh.  Rồi một hôm Tamar nghe biết rằng ông Bố chồng sắp đi đến Timnah cùng với vài người bạn để hớt lông chiên.  Nàng bèn cởi bỏ y phục của góa phụ, lấy mạng che mặt, rồi ngồi ngay trên đường đi Timnah.  Khi Judah đi qua, thấy nàng, tưởng nàng là một gái điếm, đến gần và nói: “Làm ơn làm phúc để cho ta “come in to” cô” [Please let me come in to you] v́ ông ta không biết đó là con dâu ông ta.  Tamar nói:  “Ông sẽ cho tôi cái ǵ để “go in to” tôi?”.  [Ngày nay th́ Tamar phải hỏi: “How much do you want to pay?”] Judah nói: “Ta sẽ cho nàng một con chiên nhỏ trong đàn chiên của ta”.  Tamar hỏi: “Ông cho tôi vật ǵ để làm tin trong khi chờ đợi ông mang chiên con đến cho tôi?” Judah hỏi: “Ta cho cô vật ǵ để làm tin bây giờ?”  Tamar trả lời: “Th́ con ấn và sợi giây, cùng cây gậy đang ở trong tay ông đó”  Và Judah cho Tamar các thứ đó, và “go in to” Tamar, và Tamar có mang.  Tamar bỏ đi, dẹp đi cái mạng che mặt, và mang lại quần áo của một góa phụ.  Rồi Judah nhờ một người bạn mang đến cho Tamar một con chiên nhỏ và lấy lại các tín vật mà ông ta đă đưa cho Tamar trước đó.  Nhưng người bạn này không t́m thấy Tamar, hỏi thăm người xung quanh về cô gái điếm ngồi bên vệ đường, th́ họ đều trả lời là chẳng có ai là gái điếm ở đây.

 

   Thế rồi vào khoảng ba tháng sau, có người nói với Judah là: “Tamar, con dâu của ông, đă làm gái điếm và nay đă có mang”. [Tamar your daughter-in-law has played the harlot; furthermore she is with child by harlotry]Judah bèn nói: “hăy đem nó ra đây để thiêu sống nó”.  Khi Tamar đến trước Judah và nói: “Đây là những tín vật của người mà tôi có con với ông ta.  Hăy xác định con ấn và giây và cây gậy này là của ai.”  Và Judah nhận ra đó chính là những vật của ḿnh.  Rồi Tamar sinh đôi ra hai đứa con: Perez và Zerah.  Chúng ta cần biết, Giê-su thuộc ḍng dơi của Vua David, và Vua David thuộc ḍng dơi của Perez, và Perez là con trưởng của Tamar.

 

Rahab:  Chuyện về Rahab ở trong Joshua 2Rahab là một cô gái điếm ở Jericho, Canaan.

 

Joshua ở Israel được Thiên Chúa hứa là sẽ được quyền sở hữu mọi đất đai chiếm được v́ Thiên Chúa luôn luôn ở cùng Joshua.  Trước khi xâm chiếm Jericho, Joshua sai hai người đến xứ Jericho do thám, ḍ xét t́nh h́nh.  Hai người này đến Jericho và trú ngụ tại nhà cô gái điếm Rahab.  Vua Jericho được báo là có người của Israel đến để ḍ xét t́nh h́nh.  Vua Jericho bèn sai người đến nói với Rahab là: “Hăy trao hai người đến trú ngụ ở nhà ngươi v́ chúng là người của Israel đến để ḍ xét t́nh h́nh nước ta.”  Nhưng Rahab đă đưa hai người này đi ẩn núp, rồi nói dối với người của Vua Jericho:  “Đúng là có hai người lạ đă đến đây, tôi chẳng biết họ từ đâu đến.  Song vào buổi tối khi cổng thành sắp đóng th́ họ đă đi ra.  Tôi không biết họ đi đâu, hăy đuổi theo họ mau, có thể các ông sẽ đuổi kịp họ.” [Nhưng trước đó Rahab đă dấu họ trên mái nhà trong những lớp dạ]  Những người của Vua Jericho đuổi theo trên con đường đi tới sông Jordan.  Và khi họ vừa ra khỏi cổng thành th́ cổng thành đóng lại.  Rahab leo lên mái nhà và nói với hai người đang trốn trên đó: “Tôi biết Chúa đă ban cho các ông xứ này, và sự khủng bố  của các ông đă giáng lên đầu chúng tôi, và mọi người dân trong thành đều hoảng sợ các ông.  Chúng tôi cũng nghe biết là Thiên Chúa đă làm khô Hồng Hải để cho các ông chạy ra khỏi Ai Cập, và các ông đă tận diệt hai vua dân Amorite là Sihon và Og ở bên kia bờ Jordan.  Khi nghe những chuyện trên, ḷng chúng tôi mềm ra, chẳng ai c̣n có can đảm để chống lại các ông, v́ Chúa của các ông là Chúa ở trên trời và dưới đất.  Vậy nay tôi đă giúp các ông, tôi xin các ông hăy thề trước Thiên Chúa của các ông là các ông sẽ để cho toàn thể gia đ́nh tôi, cha, mẹ, anh, chị, em tôi và những thân nhân của họ sống.”  Và những người của Joshua thề và hứa như vậy.

Tại sao Rahab là người xứ Jericho lại đi giúp cho những gián điệp của Joshua.  V́ Rahab đă nghe và tin những huyền thoại về Thiên Chúa của Israel.  Chuyện về Rahab cho chúng ta thấy, trong ḍng lịch sử, Ki Tô Giáo đi chinh phục nước nào đều cho là Thiên Chúa ban cho nước đó và chúng ta cũng biết vài sắc lệnh của mấy Giáo hoàng về sau cũng cho phép và khuyến khích tín đồ Ki Tô đi cướp đất của người ngoại đạo v́ người ngoại đạo không có quyền sở hữu đất đai của Thiên Chúa, vốn chỉ để cho dân Chúa.  Chủ nghĩa thực dân của Tây phương bắt nguồn từ đây.  Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ḥa Lan và cả Mỹ, đă đều đi xâm chiếm thuộc địa hay chiếm đất của dân da đỏ, cưỡng bách người dân bản địa vào Ki Tô Giáo.  C̣n một khía cạnh khác mà chúng ta có thể rút tỉa từ câu chuyện về cô gái điếm Rahab.  Đó là công dân của một nước nào mà tin vào Thiên Chúa của Do Thái th́ cũng thành kẻ phản bội quốc giaViệt Nam cũng không ra ngoại lệ.  Lịch sử cho thấy các tín đồ Ca-tô Việt Nam đă che dấu các thừa sai gián điệp khi họ bị săn lùng v́ chính sách bài Đạo của các Vua triều Nguyễn, và c̣n hơn nữa, các tín đồ Ca-tô Việt Nam đă góp phần không nhỏ để đưa nước nhà vào ṿng nô lệ thực dân Pháp.

 

   Chuyện về Rahab xảy ra trong thời của Joshua.  Và về Joshua trong Kinh Thánh th́ chúng ta không thể quên được chuyện sau đây trong Joshua 10, nói về trận chiến giữa Joshua và 5 vua xứ Amorite ở Gibeon.  V́ Thiên Chúa ở cùng Joshua nên Joshua thực hiện được cuộc tàn sát lớn (killed them with a great slaughter).  Khi đoàn quân địch thua chạy, và c̣n đang bị quân của Joshua đuổi theo, th́ Thiên Chúa c̣n giúp Joshua giáng xuống một trận mưa đá lớn.  Số người bị chết về mưa đá c̣n nhiều hơn là số người bị binh lính Israel giết bằng gươm giáo [There were more who died from the hailstones than those whom the children of Israel killed with the sword].  Giết chưa đă, nên Joshua cầu xin với Thiên Chúa hăy cho:

 

Mặt trời, hăy đứng lại trên vùng Gibeon.

Mặt trăng, hăy ngừng lại trên thung lũng Aijalon.

Và mặt trời đứng yên

Mặt trăng cũng vậy.

 

Cho đến khi Israel báo thù xong kẻ thù [nghĩa là giết hết kẻ thù]

 

Vậy mặt trời đă đứng yên giữa trời, không vội vă lặn trong suốt một ngày [So the sun stood still in the midst of heaven, and did not hasten to go down for about a whole day]

 

Thiên Chúa của Ki Tô Giáo được các Giáo hội Ki Tô và các tín đồ ca tụng là bậc toàn trí, nghĩa là cái ǵ cũng biết (omniscient).  Đọc trên Internet về trí tuệ của Thiên Chúa (The wisdom of God) chúng ta cũng biết “Thiên Chúa biết rằng những kế  hoạch của những người thông thái đều vô dụng"  [The Lord knows that the plans made by wise people are useless.]  Và chúng ta phải phân biệt trí tuệ và kiến thức trong Thiên Chúa và trong con người.  Kiến thức là dựa trên thông tin, dữ kiện, sự kiện về cái này cái nọ.  Thiên Chúa biết tất cả mọi thứ; thật ra là biết tất cả ngay từ đầu.” [We ought to distinguish wisdom from knowledge, both in God and in man.  Knowledge stands for information, data, facts about one thing and another.  God knows all things;  in fact, knowing all things from the beginning.]  Và 1 Corinthians 1:18-31 viết:  “V́ sự điên rồ của Thiên Chúa c̣n thông thái hơn sự khôn ngoan của con người, và sự yếu kém của Thiên Chúa c̣n mạnh hơn sức mạnh của con người.[For the foolishness of God is wiser than man's wisdom, and the weakness of God is stronger than man's strength.  (New International Version)]

 

Chỉ có điều, Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài nhưng lại không biết rằng trái đất h́nh cầu và quay xung quanh mặt trời, điều mà ngày nay các học sinh tiểu học đều biết.  Thật ra th́ đối với chúng ta trên trái đất, mặt trời là một định tinh và tương đối th́ đứng yên một chỗ, và trái đất quay xung quanh mặt trời cho nên có hiện tượng biểu kiến (apparent) là mặt trời mọc và mặt trời lặn. Mặt trời đứng yên giữa trời có nghĩa là trái đất, một khối nặng khoảng 6 triệu tỷ tỷ ki-lô [6 x 10 24 kg] đang di chuyển xung quanh mặt trời với vận tốc khoảng trên 100000 kmh (một trăm ngàn cây số một giờ) bỗng dưng … ngừng lại như Kinh “thánh” chép.  Chuyện ǵ sẽ xảy ra.  Xin để cho sự điên rồ (foolishness) của Thiên Chúa hay sự thông thái của các trí thức Ca-tô, Tin Lành trả lời.

 

 RuthChuyện về Ruth ở trong phẩm Ruth.

 

Judah (một miền của Do Thái) xảy ra nạn đói.  Một người ở Judah tên là Elimelech cùng vợ là Naomi và hai người con trai tên là Mahlon và Chilion, rời Judah đến định cư tại xứ Moab.  Rồi Elimelech, chồng Naomi, chết.  Naomi cưới vợ người xứ Moab cho hai con, một người tên là Orpah, người kia là Ruth.  Rồi cả Mahlon và Chilion đều chết.  Ba góa phụ sống cùng với nhau.  Naomi nghe rằng Thiên Chúa đă đoái thương Judah và ban phát lương thực cho dân Judah cho nên Naomi và hai người con dâu lên đường trở về Judah.  Naomi nói với hai người con dâu:  “Các con hăy trở về nhà mẹ của các con mà ở.  Thiên Chúa đă đối xử tốt với các con, cũng như các con đă đối xử tốt với chồng và với mẹ.  Thiên Chúa ban ơn cho các con rằng các con có thể sống b́nh yên trong nhà người chồng mới.”  Hai nàng dâu nói: “Chúng con sẽ cùng mẹ trở về Judah.”  Nhưng Naomi nói: “Hăy trở về nhà đi, các con, tại sao các con lại đi với mẹ, ta c̣n có thể sinh ra các con trai để chúng có thể làm chồng các con sao.” [Turn back, my daughters; why will you go with me? Are there still sons in my womb, that they may be your husbands]  “Hăy trở về nhà đi các con, v́ ta đă quá già để có thể có chồng.  Nếu mẹ nói là mẹ hi vọng là mẹ có chồng ngay tối nay và rồi sinh con, th́ các con sẽ chờ đến khi chúng khôn lớn hay sao?”  Orpah trở về nhà mẹ, nhưng Ruth quyết định đi theo mẹ chồng.

Và hai người trở về Bethlehem vào dịp đầu mùa gặt hái.  Ở đây, Naomi có người bà con bên chồng, tên là Boaz, rất giàu có.  Rồi Ruth nói với Naomi:  “Hăy để con đi ra ngoài đồng mót lúa, theo sau hắn (Boaz), nh́n thấy con hắn có thể ưu đăi con”.  Và quả nhiên Boaz đối xử đặc biệt với Ruth… Rồi một hôm bà mẹ chồng quư bảo cô con dâu quư:  “Đêm nay, Boaz phải đi sảy lúa mạch nơi sân đạp lúa.  Con hăy tắm rửa sạch sẽ, xức dầu thơm, mặc bộ quần áo đẹp nhất, đến sân đạp lúa, nhưng đừng để cho ai nh́n thấy cho đến khi Boaz ăn uống xong.  Sau đó hăy xem hắn nằm nơi đâu, đến đó mở mền dưới chân hắn, nằm xuống bên và hắn sẽ bảo con phải làm ǵ.”  Và Ruth đă làm theo đúng lời mẹ chồng dặn.  Boaz bảo Ruth phải làm ǵ th́ Thánh Kinh không viết rơ. Chỉ biết rằng sau đó Boaz lấy Ruth làm vợ, và khi Boaz “go in to” Ruth th́ Thiên Chúa làm cho Ruth có mang và sinh cho Boaz một đứa con đặt tên là Obed. [So Boaz took Ruth and she became his wife; and when he “went in to” her, the Lord gave her conception, and she bore a son…and they called him Obed].  Thánh Kinh viết, Ruth 4: 17-19: Obed là cha Jesse, Jesse là cha của David, ông Vua vĩ đại của Do Thái mà người Ca-tô Việt Nam hàng ngày cầu nguyện để được mau về quê thật hiệp làm một cùng ông ta.  Vậy David là ai?  Chúng ta sẽ biết rơ hơn về ông ta qua chuyện về người đàn bà thứ tư: Bathsheba.

 

Bathsheba: Chuyện về Bathsheba được kể lại trong 2 Samuel. 

 

Câu chuyện liên quan đến Vua David, một ông Vua Do Thái rất nổi tiếng đối với người Ca-tô Giáo Việt Nam, những người có một “đức tính” tuyệt vời là Không đọc Thánh Kinh !  Thật vậy, chúng ta có thể đọc những lời ca tụng Vua David như sau:

 

Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận, Chứng Nhân Hi Vọng, trg. 30: "Nơi Đavit, người nổi danh nhất trong các vua đă sinh ra đấng Messia.."

 

Đức Ông Trần Văn Khả, Trần Lục, trg. 269: “Chúa Giêsu là ḍng dơi Vua Đa-vít, mà Thánh Giuse  là một thành phần (Matthew 1:16). “

 

Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm, trg. 66: "Lạy ông Thánh Goakim là đấng rất sang trọng về ḍng dơi vua David." (Trích dẫn từ Kinh cầu ông Thánh Gioakim của Công Giáo); "Lạy bà Thánh Anna là mẹ Nữ Vương...Bà là đấng sang trọng bởi ḍng vua David." (Trích dẫn từ Kinh Cầu Bà Thánh Anna của Công Giáo); trg. 73: "Xin Chúa làm cho tôi khinh dễ sự đời là chốn muông chim cầm thú, xin làm cho tôi đặng về quê thật hiệp làm một cùng vua David." (Trích dẫn từ Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo).

 

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh:

 http://www.tiengnoigiaodan.net/lcht/lcht_027.html

 

Chống Cọng theo gương Đavít rất dễ: vừa rẻ vừa hiệu nghiệm, vừa không tốn thời gian, vừa không mệt nhọc. Ai ai cũng có thể làm được. Bất cứ lúc nào, giờ nào ngày nào, chúng ta đều có thể đọc kinh cầu nguyện: trong lúc đi xe, trong lúc làm việc, trong lúc nấu cơm, trên giường, trên vơng trên ghế, khi đi chơi …vân vân….

 

Bất cứ ai, mọi nơi, mọi lúc, mọi người, mọi nhà, từ già đến trẻ, từ em bé lên ba, đến cụ già chín mươi đều có thể bắn được những viên sỏi này. Chúng tôi tin chắc rằng, Thiên Chúa sẽ nhận lời cầu xin của chúng ta. [Cầu nguyện không có tác dụng như là viên sỏi mà cậu bé David dùng cái ná để bắn vào trán người khổng lồ]

 

Nhưng Thánh Kinh đă viết rơ:  David nguyên là một sĩ quan hầu cận của vua Saul, sau v́ Saul ghen ghét David v́ David lập được nhiều chiến công và định bắt David giết đi nên David phải trốn vào trong núi làm tướng cướp của một đám lâu la khoảng 600 người, chuyên nghề tống tiền các nhà giàu trong vùng [1 Samuel 25: 5-8].  Sau khi Vua Saul và vài người con trai chết trong trận chiến với dân Philistines, David trở về Israel và về bộ lạc Judah của ông khi trước.  Nơi đây ông xưng vua. Một người con của Saul, Ishbosheth, cũng xưng vua ở một vùng khác trong Israel.  Nội chiến xảy ra trong nhiều năm.  Sau cùng, Ishbosheth bị bội phản nên David lên làm vua cả 12 bộ lạc của Israel.  Chuyện về Bathsheba và vua David như sau:

 

Dinh của David ở Jerusalem.  Một hôm, vào buổi chiều, David đi ở trên sân thượng của Dinh.  Từ đó ông nh́n thấy một người đàn bà rất đẹp đang tắm.  David bèn cho người đi hỏi xem bà ta là ai?  Thuộc hạ về nói: "Đó là Bathsheba, con gái Eliam, vợ của Uriah.” (2 Samuel 11: 2,3).

 

David chẳng cần biết Bathsheba là vợ ai, ông cho người triệu Bathsheba vào cung và "go in to" bà ta. (2 Samuel 11: 4) và lẽ dĩ nhiên Bathsheba không phản đối.

 

Chồng Bathsheba là Uriah, một sĩ quan trong quân đội của David, và đang đánh nhau ở tiền tuyến.  Do đó, David tự do đi lại với Bathsheba mà chẳng c̣n phải e ngại ǵ.

 

Đến một hôm Bathsheba báo cho David biết là bà ta đă có mang.  Chồng đi vắng mà lại có mang.  Giải quyết làm sao đây.  Thiên Chúa ở cùng David nên David nghĩ ra một kế.  Hắn truyền lệnh cho Joab, tướng chỉ huy ở tiền tuyến, phái Uriah về để cho David hỏi hắn về t́nh h́nh chiến sự, quân sĩ ngoài tiền tuyến.  Hỏi xong rồi, David bảo Uriah hăy trở về nhà với vợ, và ban cho Uriah rượu và thức ăn. David tính rằng, xa vợ lâu ngày, thế nào Uriah chẳng “go in to” với vợ đêm đó.  Thế là mọi việc sẽ giải quyết xong, v́ cái bầu của Bathsheba bây giờ là do Uriah làm ra.  Nhưng Uriah lại là người yêu nước bậc nhất, có tinh thần trách nhiệm bậc nhất, có lương tâm bậc nhất, và cũng là kẻ khùng bậc nhất, không chịu về nhà ngủ với vợ đă xa lâu ngày, mà lại ngủ với đám cận vệ của David ngay ngoài cửa Dinh.  Biết chuyện này, David gọi Uriah vào hỏi: "Có phải là ngươi xa nhà đă lâu mới trở về, sao không trở về nhà?”  (2 Samuel 11: 10).  Uriah trả lời: "Tướng Joab của tôi và các quân sĩ đang ngủ trong lều, cắm ở ngoài đồng.  Làm sao tôi có thể về nhà ăn uống phả phê và ngủ với vợ.  Tôi chẳng bao giờ làm chuyện này."  David ra lệnh cho Uriah: "Hăy ở lại đây thêm ngày nay và ngày mai rồi hăy trở lại tiền tuyến".  Rồi David cho gọi Uriah vào, ăn uống cùng Uriah, và chuốc rượu cho Uriah say.  Nhưng đêm đó Uriah vẫn không trở về nhà với vợ. (2 Samuel 11: 13).

 

Sáng hôm sau, David ra lệnh cho Uriah trở về tiền tuyến, mang theo một mật hàm cho tướng chỉ huy ngoài đó là Joab.  Trong thư, David ra lệnh cho Joab: "Hăy phái Uriah đến chỗ mặt trận nặng nhất rồi rút lui, để ḿnh hắn đối phó và có thể bị chết" (2 Samuel 11: 15: Set Uriah in the forefront of the hottest battle, and retreat from him, and he may be struck down and die.)

 

David tính không sai, quả nhiên Uriah bị chết ngoài mặt trận, do sự phản bội của tướng Joab, theo lệnh của David. Và David công khai, danh chánh ngôn thuận, cướp vợ của Uriah.  Khi nghe tin Uriah chết, Bathsheba than khóc chồng.  Than khóc xong (Thánh Kinh tiếng Việt dịch "when her mourning was over là "hết cư tang") bà về làm vợ của David.  Cư tang bao lâu?  Không ai biết.  Nhưng chắc chắn là không lâu, v́ Thánh Kinh viết là "Bathsheba về làm vợ David (khi đă mang bầu. TCN) và sinh một đứa con" (2 Samuel 11: 27).  Đứa con này là Vua Solomon.

 

Chắc phần lớn chúng ta sẽ lên án David là kẻ vô đạo đức, lạm dụng quyền thế, mưu mô giết Uriah để cướp Bathsheba.  Nhưng có thật là David cướp vợ của Uriah hay không?  Đọc kỹ Thánh Kinh, những điều uẩn hàm trong Thánh Kinh, chúng ta có thể thấy rằng Bathsheba cũng giữ một vai tṛ quan trọng, có khi c̣n là chủ chốt, trong cái chết của ông chồng Uriah.

 

Quư vị có bao giờ thấy một người đàn bà hàng xóm tắm truồng ở ngoài sân để cho quí vị nh́n thấy không?  Có thể quư vị may mắn hơn tôi chứ  riêng tôi, tôi chưa bao giờ thấy như vậy. Tại sao Bathsheba lại tắm truồng ở một nơi mà bà ta biết chắc là David có thể nh́n thấy từ sân thượng dinh của ông ta?  Nếu David nh́n thấy bà th́ tất nhiên Bà cũng phải nh́n thấy David.  Phải chăng bà đă nhiều lần nh́n thấy David ở trên sân thượng, thấy vóc dáng oai hùng của ông Vua mà khi xưa đă đánh bại người khổng lồ, vả lại cũng thừa biết tính nết của David, tính nết mà cả nước đều biết, nên đă lập kế hoạch để chiêu dụ David?

 

Xa chồng đă lâu, rồi lại thấy ông Vua hấp dẫn hơn một anh sĩ quan quèn trong quân đội, không biết sống chết ngày nào, nên rất có thể Bathsheba đă có kế hoạch đưa David vào bẫy.  Cả nước đă biết David là người hiếu sắc, có nhiều vợ và cung tần mỹ nữ, thêm một người có sao đâu.  Do đó, theo như tôi suy đoán th́ Bathsheba đă thành công trong mưu toan của ḿnh và do đó, phải đồng gánh trách nhiệm về cái chết của Uriah.

  

 Mary: Trong Tân Ước chỉ có hai Phúc Âm Matthew và Luke là nói về chuyện Mary sinh ra Giê-su, hai Phúc Âm này viết sau khi Giê-su chết từ 50 tới 70 năm

 

Ngày nay, người ta đă kiếm được một số tài liệu nói về Giê-su c̣n sót lại, không bị thiêu hủy bởi Ca-Tô Rô-maGiáo, v́ trong những tài liệu này có những chứng tích không phù hợp với nền thần học của Ca-Tô Rô-maGiáo.  Thí dụ như tài liệu mang tên Sepher Toldoth Jeshu, viết vào khoảng cuối thế kỷ đầu, mà cuối thế kỷ 19 mới được dịch ra tiếng Anh là The Jewish Life of Jesus, có nghĩa là Cuộc Đời Do Thái Của Giê-su.  Trong tài liệu này, Miriam (Mary) đă được hứa hôn với một người đàng hoàng tên là Jochanan (Joseph), nhưng rồi lăng nhăng với một tên ăn trộm du thủ du thực nhưng rất đẹp trai tên là Pandera (Pandera was a man of fine figure and rare beauty, but spent his time in robbery and licentiousness) và mang bầu.  Khi biết được, để tránh sự nhục nhă và xấu hổ, Joseph đă bỏ đi Babylon sinh sống (To avoid the shame and disgrace, Joseph ran away to Babylon and there took up his abode).  Đến kỳ sinh nở, Miriam sinh ra một đứa con trai và đặt tên nó là Jehoshua (Jesus) [In due time Miriam brought forth a son and named him Jehoshua]  Chúng ta thấy chuyện sinh ra của Giê-su trong Tân ước khá tương tự nhưng vai tṛ của các nhân vật trong tài liệu trên đă thay đổi:  Tên côn đồ đẹp trai Pandera làm cho Mary mang bầu trở thành “Thánh Linh”, và Joseph cảm thấy xấu hổ và bỏ đi Babylon đă biến thành Joseph không muốn làm cho to chuyện cho nên nghe lời thiên thần báo mộng, chấp nhận Mary làm vợ, rất hănh diện v́ vợ ḿnh được Thánh Linh chiếu cố, và v́ vậy mà sau này được Ca-Tô Rô-maGiáo phong thánh.

 

Trên đây chỉ là một tài liệu “không chính thống” v́ không phù hợp với những tài liệu mà giáo hội Ca-tô công nhận.  Vậy th́ chúng ta hăy trở về tài liệu chính là cuốn Tân Ước.  Muốn t́m hiểu về Mary, chúng ta không thể tách rời Mary ra khỏi vai tṛ của Giê-su trong Ki Tô Giáo, và không đâu rơ bằng chuyện Mary sinh ra Giê-su.  Phúc Âm Matthew (Mă-Thi-Ơ) kể như sau, Matthew 1: 18-24:

 

Sự sinh ra của Giê-su Ki Tô như sau: Sau khi mẹ Giê-su là Mary đính hôn với Joseph, trước khi họ giao hợp cùng nhau, người ta thấy bà có mang với Thánh Linh.

 

Chồng nàng, Joseph, là người tốt bụng, và không muốn nàng bị nhục trước công chúng, định kín đáo từ hôn.

 

Nhưng khi ông c̣n đang suy nghĩ về quyết định này, bỗng nhiên, một thiên sứ hiện ra trong một giấc mộng, nói rằng, “Joseph, con ḍng David, đừng có sợ, cứ lấy Mary làm vợ, v́ cái thai nàng mang trong bụng là của Thánh Linh.  Rồi nàng sẽ sinh ra một đứa con trai, ngươi hăy đặt tên cho nó là Giê-su, v́ nó sẽ cứu dân của nó khỏi tội lỗi”.

 

Việc xảy ra đúng như lời Thiên Chúa [của Ki Tô Giáo] tiên đoán qua nhà tiên tri:

 

“Này, một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ một con trai, và họ [they? Ai?] sẽ đặt tên cho hắn là Immanuel”,  có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng ta”.

 

Joseph tỉnh dậy, theo lệnh của thiên sứ, cưới Mary làm vợ, nhưng không giao hợp cùng vợ cho đến khi Mary sinh đứa con đầu ḷng, đặt tên là Giê su.

 

C̣n phúc âm Luke 1: 26- 33 th́ thuật lại chuyện sinh ra của Giê-su như sau:  

 

Qua tháng sáu, Thiên Chúa sai thiên sứ Gabriel vào thành Nazareth, xứ Galilee, đến một trinh nữ đă hứa hôn với một người tên là Joseph, thuộc ḍng dơi vua David. Tên người trinh nữ là Mary.

 

Thiên sứ nói: “Hăy hoan hỉ lên, hỡi người được đặc ân, Chúa ở cùng nàng, phúc cho người đàn bà như nàng.”

 

Nhưng khi Mary thấy thiên sứ, không hiểu thiên sứ nói ǵ, và những lời chúc tụng kia có nghĩa ǵ.

 

Rồi thiên sứ nói với nàng, “Đừng sợ, Mary, v́ Thiên Chúa đă ban đặc ân cho nàng.  Và này, cô sẽ mang thai, và sinh ra một con trai và đặt tên nó là Giê-su.  Đứa trẻ đó sẽ thành vĩ nhân, và sẽ được gọi là con của đấng tối cao; và Thần sẽ cho hắn ngôi vị của David.  Hắn sẽ cai trị dân Do Thái (hậu duệ của Jacob) măi  măi, và  nước hắn cai trị  sẽ bất diệt.

 

Thông điệp như trên của Thần Gia-vê qua thiên sứ thật ra chỉ do Luke bịa ra để khuyến dụ dân Do Thái tin theo Giê-su, v́ những điều thiên sứ nói về Giê-su hoàn toàn sai với sự thực.  Giê-su chẳng bao giờ cai trị dân Do Thái và dân Do Thái cũng chẳng bao giờ chấp nhận Giê-su là Vua của dân Do Thái giống như David khi trước. Không những thế, dân Do Thái thời Giê-su c̣n cho ông ta là kẻ phỉ báng Thần Gia-vê, tự xưng là con của Thần, là Vua của dân Do Thái, là vị cứu tinh của dân Do Thái v..v..  Và cho đến ngày nay, dân Do Thái, dân được Thần Gia-vê chọn lựa làm dân của Thần (chosen people), vẫn không chấp nhận Giê-su, v́ vậy mà suốt 2000 năm nay, giáo hội Ca-Tô mới thù hận và t́m mọi cách để bách hại dân Do Thái.  Vậy, nếu chúng ta đối chiếu lời của Thiên sứ, thay mặt Thần Gia Vê, trong đoạn loan báo cho Mary ở trên, với thực tế, th́ chúng ta phải kết luận là những lời “tiên tri” của Thần Gia-vê hoàn toàn sai, v́ không hề xảy ra. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những thuộc tính toàn năng, toàn trí của Thần Gia Vê mà giáo hội đă cấy vào đầu tín đồ hay không? Mặt khác, đọc kỹ Thánh Kinh chúng ta thấy rằng chuyện thiên sứ “báo mộng” cho Joseph xảy ra khi Maria đă có mang được 6 tháng, và Maria không hề nói cho Joseph biết cái thai trong bụng ḿnh từ đâu mà ra.  Tại sao Maria phải dấu chồng khi mà bà được ân sủng đặc biệt của Thánh Linh khiến bà mang thai

 

Tôi trích dẫn những đoạn trên trong phúc âm Matthew và Luke chỉ để chứng minh một sự mâu thuẫn cùng cực trong hai phúc âm trên, khi Matthew và Luke kể về ḍng dơi, gia hệ của Giê-su, cho rằng Giê-su thuộc ḍng dơi vua David, những chi tiết hoàn toàn bất phù hợp với chuyện Maria mang thai của Thánh Linh ở trên. 

 

Chúng ta hăy phân tích đoạn trên của Matthew trong Tân Ước.  Phân tích Kinh của Ki Tô Giáo với đầu óc tỉnh táo, không mê mẩn, và với một chút lô-gíc, là một nghệ thuật.  Thật vậy, chỉ bằng vào một đoạn ngắn như trên, chúng ta có thể khám phá ra nhiều điều kỳ thú để mà thưởng thức, nếu chúng ta có khả năng đọc giữa những gịng chữ để có thể thưởng thức những chuyện cấm đọc, cấm hiểu trong Ca-Tô Giáo.

 

Thứ nhất, chuyện Joseph tốt bụng, không muốn làm lớn trước công chúng chuyện bụng Maria càng ngày càng to, và định kín đáo từ hôn không thể thực hiện được trong thời đó, theo luật của Do Thái.  Randel Helms viết trong cuốn Những Chuyện Giả Tưởng Trong Phúc Âm (Gospel Fictions), trang 48:  “Có lẽ Matthew không biết là theo luật Do Thái, điều này (kín đáo từ hôn) không thể nào thực hiện được; việc từ hôn phải hợp pháp và công khai” (Matthew was perhaps unaware that this (the marriage contract set aside quietly) was not possible under Jewish law; the process had to be legal and public.)   Câu Joseph là người tốt bụng, không muốn nàng bị nhục trước công chúng ... cũng chứng tỏ là Joseph biết rơ là cái thai trong bụng Mary không phải là của ḿnh.

 

   Nghiên cứu cổ sử Do Thái, các học giả đă khám phá ra rằng, ngay từ đầu thế kỷ 2, nhiều tác giả Do Thái đă cho rằng khuôn mặt thần thánh của Giê-su thật ra chỉ là một đứa con hoang.  Họ dựa vào chính Tân Ước v́ Tân Ước viết rằng Joseph là chồng của Mary nhưng lại không phải là cha của Giê-su.  Và ngay trong thời đại này, có nhiều học giả nghiên cứu Tân Ước cũng nghĩ như vậy. 

 

  

 

Thí dụ, Jane Schaberg trong cuốn The Illegitimacy of Jesus, xuất bản năm 1987,  c̣n cho rằng “rất có thể Mary bị hiếp, và Matthew đă dựng lên một khung thần học tinh vi để biến đổi thực tế ô nhục trên thành một huyền thoại mà ông ta có thể xây dựng một truyền thống trên đó.” (Jane Schaberg, in her 1987 book The Illegitimacy of Jesus, argues that Mary was most likely raped, and that Matthew constructed an elaborate theological architecture to try to transform that nasty reality into a myth he could build a tradition).

 

Trong tuần báo Time, tờ báo có uy tín và phát hành vào bậc nhất trên thế giới, số ngày 6 tháng 12, 1999, có bài viết của Reynolds Price, một học giả chuyên gia về Thánh Kinh (biblical scholar), về Giê-su ở Nazareth: Xưa và Nay (Jesus of Nazareth: Then and Now).  Tác giả viện dẫn Phúc Âm James và viết như sau:

 

Chuyện người ta cho rằng Giê-su là đứa con hoang có lẽ uẩn hàm trong câu hỏi của dân làng trong Mark 6, “Đây có phải là con bà Mary không?”  Bị gọi là con của người mẹ, thay v́ con của người cha, thường hàm ư đó là đứa con hoang, hay ít nhất là một dấu chỉ không biết cha là ai, bất kể người cha này là thần thánh hay là người thường.  Nhiều người chống đối thuyết đồng trinh thời đó cũng cho rằng Mary có mang Giê-su với một người lính La Mă tên là Panthera.  Chuyện sinh ra đời của Giê-su thật là mù mờ bởi những nghi vấn về người cha là ai.

 

(Reynolds Price, Time, Dec. 6, 1999:  The suggestion that Jesus' childhood may have been dogged by the accusation of bastardy is perhaps implicit in his townspeople's question in Mark 6, "Isn't this Mary's son?"  To be called one's mother son, as opposed to one's father's, was often an implication of bastardy, or at least a sign that one's paternity was unknown, whether divine or not.  Early opponents likewise suggested that Mary had conceived Jesus with a Roman soldier, Panthera.  His childhood may well be clouded by questions about his paternity.)

 

Trong tài liệu Sepher Toldoth Jeshu kể trên cũng có đoạn Joseph than: “Than ôi! Thật là nhục nhă và xấu hổ cho tôi!  V́ Mary, người hứa hôn với tôi, đă mang thai, không phải con của tôi, mà là con của người khác.  Đó là con của con mụ Mary đó.“ [Alas! What a shame and disgrace has happened to me!  For Mariam my bethrothed is with child, not by me, but by someone else.  This is the son of that Mariam.]

 

Và Giám Mục Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Giê-su Sinh Ra Đời (Born of a Woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, 1992) đă đưa ra nhận xét, trang 41:

 

Ông ta (Giê-su) không là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có ǵ tốt đẹp có thể rút tỉa ra từ sự sinh ra đời này.  Chẳng có ai biết cha ông ta là ai.  Rất có thể ông ta là một đứa con hoang.  Rải rác trong miền đất truyền thống Ki Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như vậy, giống như những trái ḿn chưa kiếm ra và chưa nổ .

 

(John Shelby Spong, Born of a Woman: A Bishop Rethinks the Birth of Jesus, p. 41: He was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was thought to come.  No one seemmed to know his father.  He might well have been illegitimate.  Hints of that are scattered like undetected and unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the early Christian tradition.)

 

Như vậy, xưa cũng như nay, ngoài các tín đồ Ca Tô Giáo, không có mấy ai tin Thánh Linh là tác giả cái thai trong bụng Mary, kể cả hệ phái Ki Tô Tin Lành.  Tôi xin nhắc lại là phần phân tích khảo cứu này có mục đích t́m hiểu, mở mang kiến thức, chứ không phải là để phỉ báng bà Mary, đối tượng sùng tín của các tín đồ Ca-Tô Giáo.  Và những kết quả nghiên cứu phân tích đều là của các tác giả Tây phương trong các xă hội Ki Tô Giáo và trong chính Ki Tô Giáo chứ không phải là của tôi hay của … Cọng sản !

 

Một vấn đề được đặt ra là, tại sao lại có nhiều học giả ngày nay cũng nghĩ như những tác giả Do Thái khi xưa, cho rằng Giê-su chỉ là một đứa con hoang?  Vấn đề thực sự không lấy ǵ là khó hiểu.  Nếu chúng ta đọc kỹ đoạn trên trong Tân ước của Matthew (Mat.1: 18-24) th́ chúng ta có thể thấy rằng dư luận cho r ă ằ ng Giê-su là một đứa con hoang từ xưa cho tới ngày nay không phải là không có cơ sở.

 

Thật vậy, tại sao Matthew, một người tuy không phải là tông đồ của Giê-su nhưng rất tin Giê-su là một Messiah của Do Thái, lại viết ra chuyện “Joseph tốt bụng, không muốn làm lớn trước công chúng chuyện bụng Maria càng ngày càng to, và định kín đáo từ hôn..”  V́ ông ta không thể bịt đi dư luận Mary “không chồng mà chửa mới ngoan, có chồng mà chửa thế gian sự thường” đă đồn đăi rộng răi trong thời đó, và rồi ông ta giải thích bằng cách cho một thiên thần đến báo mộng cho Joseph biết là chính Thánh Linh đă làm cho bụng của Mary to, một chuyện mà ngày nay nếu người nào c̣n tin th́ gơ vào đầu họ sẽ nghe thấy một tiếng vang lớn.  Nhưng Matthew không phải là người có tŕnh độ nên đă để lộ ra nhiều sơ hở rất mâu thuẫn và vô lư trong đoạn trên.  Chứng minh?

 

·  Matthew viết:  “Sau khi mẹ Giê-su là Mary đính hôn với Joseph, trước khi họ giao hợp cùng nhau, người ta thấy bà có mang với Thánh Linh.” (King James Version, Mat.1: 18:  After His mother Mary was bethrothed  to Joseph, before they came together, she was found with child of the Holy Spirit).  “Người ta” ở đây là ai?  Tất nhiên phải là những người ở quanh vùng Mary sống.  Nhưng làm sao “người ta” lại có thể biết là Mary có mang với Thánh Linh, ngay cả trước khi thiên sứ báo mộng cho Joseph? V́ tuy Mary chẳng nói với ai, nhưng không thể che dấu được cái bụng càng ngày càng lớn.  

 

·   Rồi câu tiếp theo: “Chồng nàng, Joseph, là người tốt bụng, và không muốn nàng bị nhục trước công chúng, định kín đáo từ hôn.” (Joseph her husband, being a just man, and not wanting to make her a public example, was mind to put her away secretly).  Câu này cho thấy hiển nhiên là Joseph không biết là Mary có mang với Thánh Linh như “người ta”, cũng không biết là Mary có mang với ai, và tin rằng Mary đă lăng nhăng với người nào khác, nhưng không muốn làm to chuyện để tránh cái nhục cho cả ḿnh lẫn Mary.

 

·   Rồi đến câu tiếp theo: “Nhưng khi ông c̣n đang suy nghĩ về quyết định này, bỗng nhiên, một thiên sứ hiện ra trong một giấc mộng, nói rằng, “Joseph, con ḍng David, đừng có sợ, cứ lấy Mary làm vợ, v́ cái thai nàng mang trong bụng là của Thánh Linh.  Rồi nàng sẽ sinh ra một đứa con trai, ngươi hăy đặt tên cho nó là Giê-su, v́ nó sẽ cứu dân của nó khỏi tội lỗi.”  Chúng ta thấy đây rơ ràng là một khung thần học do Matthew dựng lên, đúng như nhận xét của Jane Schaberg trong cuốn The Illegitimacy of Jesus ở trên.  V́ chuyện thiên sứ hiện ra trong giấc mộng của Joseph th́ chỉ có ḿnh Joseph biết, và trong Tân ước không hề có chỗ nào viết là Joseph kể chuyện này cho ai.  Matthew viết phúc âm Matthew khoảng 60 năm sau khi Giê-su chết, có nghĩa là khoảng 90 năm sau khi Giê-su sinh ra đời.  Lúc này, cả Joseph lẫn Mary có thể đă chết cả rồi.  Matthew không thể là một nhân chứng trong giấc mộng của Joseph.  Mặt khác, Matthew không phải là một tông đồ của Giê-su.  Kết luận?  Đây chỉ là một chuyện Matthew “bày đặt” ra với mục đích thần thánh hóa người ḿnh sùng tín: Giê-su, theo niềm tin riêng của ḿnh.

 

·   Và câu của thiên sứ: Rồi nàng sẽ sinh ra một đứa con trai, ngươi hăy đặt tên cho nó là Giê-su, v́ nó sẽ cứu dân của nó khỏi tội lỗi cho thấy mục đích của Thánh linh làm cho Mary mang thai để sinh ra Giê-su là Giê-su chỉ có nhiệm vụ cứu dân của nó, nghĩa là dân Do Thái mà thôi.  Đây chính là sự mong ước của người dân Do Thái, hi vọng có một “cứu tinh”, cứu dân tộc ra khỏi ṿng nô lệ của La Mă thời đó.

 

Trên đây là vài điều chúng ta biết về Mary như được viết trong Tân Ước, qua sự phân tích của một số học giả chuyên gia về Ki Tô Giáo. C̣n các tín đồ Ki-tô Giáo muốn tin Mary như thế nào, đó không phải là chuyện đáng bàn căi. Chúng ta biết rằng, qua thời gian, Mary đă được Giáo hội Công Giáo, qua rất nhiều thủ đoạn, từ những sắc lệnh của Giáo Hoàng cho đến những văn kiện ngụy tạo v..v.., dựng lên từ một người đàn bà Do Thái b́nh thường thành một biểu tượng sùng bái vô tiền khoáng hậu cho các tín đồ vốn lười suy nghĩ hay không có đầu óc thuộc loại có thể suy nghĩ. Sự sùng bái Mary được đẩy mạnh qua rất nhiều thủ đoạn mánh mưu của Giáo hội Công Giáo với sự góp sức của giới chăn chiên để bảo vệ quyền lợi của Giáo hội và giới chăn chiên, và nhất là để vơ vét của cải. Một trong những thủ đoạn này là dựng lên những chuyện hiện thân của Mary, không phải là sự hiện thân của một người đàn bà Do Thái b́nh thường, sinh ra đứa con hoang Giê-su như chúng ta thấy trong phần phân tích ở trên, mà là dưới các danh hiệu do Giáo hội đặt ra như Mẹ Thiên Chúa (Mother of God), là “Nữ Vương Ḥa B́nh” (Queen of Peace), “Thiên Nữ Vương” (Queen of Heaven), “Thụ Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội” (Immaculate Conception), “C̣n trinh vĩnh viễn” (Perpetual Virginity), “Đồng Công Cứu chuộc” (Coredemptrix) v..v... Điều này thật là dễ hiểu. V́ Giáo hội Công Giáo đă nâng Giê-su lên từ một đứa con hoang, tầm thường, xấu tính lên làm Chúa th́ tất nhiên Mẹ của Chúa cũng phải có một vai vế đặc biệt để hấp dẫn tín đồ.

 

*  *  *

 

Nay chúng ta đă biết chuyện 5 người đàn bà đặc biệt trong gia phả của Chúa Giê-su.  Nhưng nền thần học Ca-tô đă giải thích thế nào về những người đàn bà đó.  Học thuật Công Giáo (Catholic scholarship) quả thật là tuyệt vời trong việc làm tê liệt đầu óc tín đồ.  Tamar được giải thích là một người đàn bà can đảm để duy tŕ nhân cách và tiếp nối ḍng dơi của chồng (bằng cách ngủ với bố chồng.  TCN);  Rahab tiêu biểu cho một người có đức tin lớn, một người đàn bà tin vào Thiên Chúa của Israel và giúp những gián điệp của Israel để chinh phục Canaan;  Ruth là khuôn mẫu của t́nh yêu và sự trung thành;  Bathsheba là nạn nhân ngây thơ của sự tham dục của David và là mẹ của một ông vua Solomon khôn ngoan bậc nhất;  Mary là mẫu mực của đức tin và sự trông ngóng hi vọng, đặc biệt được chọn là mẹ của Giê-su [Tamar … a woman of courage who took great risks in a time of crisis to preserve her dignity and continue her husband’s line… Rahab is held up as an example of great faith, a woman who believes in Israel’s God and aided the spies in the conquest of CanaanRuth is presented as a model of love and loyalty… Bathsheba is cast as the innocent victim of David’s lust and the mother of the supremely wise King Solomon… Mary is a paragon of faith and trust, specially chosen to be the mother of Jesus].

 

Những giải thích trên đều nhằm mục đích “thanh tẩy” và ngụy trang những sự thực về tội lỗi hay thiếu đạo đức của 5 người đàn bà trong phả hệ của Giêsu kể trên.  Điều này chúng ta cũng có thể thấy rơ trong một “tác phẩm” của Tổng Giám Mục Nguyễn văn Thuận, trước khi ông ta được phong chức Hồng Y.

 

Áp dụng thủ đoạn diễn giải Thánh Kinh điển h́nh trong giáo hội, trong cuốn Chứng Nhân Hy Vọng: Các Bài Giảng Tĩnh Tâm Cho Đức Thánh Cha Và Giáo Triều Roma của TGM Nguyễn Văn Thuận, Công Đoàn Đức Mẹ xuất bản năm 2000, tác giả mở đầu cuốn sách bằng Bài Suy Niệm Dẫn Nhập: Gia Phả Đức Giêsu Kitô Đứng Trước Mầu Nhiệm Thiên Chúa, trang 25-34. Tác giả Nguyễn Văn Thuận chỉ nhắc đến gia phả Giê-su trong Matthew mà thôi và đặc biệt là, để biện minh cho những sự kiện được viết trong Thánh Kinh là trong gia phả của Giê-su có nhiều người đàn bà vô đạo đức, phi luân, tác giả đă đưa ra một luận điệu thần học có tính cách ngụy biện để biện minh cho những sự kiện không mấy tốt đẹp này. Tác giả viết, trang 28:

 

Danh sách những người [đàn bà] tội lỗi mà Mathêu nêu rơ trong gia phả của Chúa Giêsu không được gây gương mù cho chúng ta. Trái lại, gia phả ấy tuyên dương mầu nhiệm Thiên Chúa.

 

Những người tội lỗi đó là ai? Toàn là những phụ nữ mà ông Thuận gọi là “bất hợp lệ” như Tamar, Rahab, Ruth, Bathsheba, và Mary thuộc ḍng dơi của Giê-su. Theo Tổng Giám Mục Thuận th́ tất cả những chuyện phi luân như trên đều là sự mầu nhiệm của Thiên Chúa cả. Mang cái b́nh phong “mầu nhiệm Thiên Chúa” ra để che đậy những điều có thể gây thắc mắc trong đầu óc tín đồ và ngăn chận tín đồ trong việc t́m hiểu thêm, TGM Thuận đă thể hiện sự bất lương trí thức của ḿnh, đặc sản của những cấp lănh đạo Ca-tô Giáo Việt Nam do Vatican đào tạo và phong chức. Phải chăng v́ không đếm xỉa ǵ đến sự lương thiện trí thức, dùng lư luận thần học ngụy biện để lừa dối đám tín đồ thấp kém qua những điều giải thích hoang đường, phi lư trí v..v.. mà Tổng Giám Mục đă được thăng lên chức Hồng Y trước khi chết ít lâu?

 

Thật vậy, đoạn văn trong Matthew ở trên chẳng có ǵ là “gương mù”, và cũng chẳng có ǵ là “mầu nhiệm Thiên Chúa” như ông Thuận đă nghĩ. V́ ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh đă hiểu tại sao Matthew lại nêu tên những người phụ nữ tội lỗi trong gia phả của Giê-su. Sau đây là vài trích dẫn từ cuốn Sự Thực Phúc Âm của Russell Shorto:

 

Từ đầu thế kỷ 2, nhiều tác giả Do Thái, khi quan sát sự phát triển nhanh chóng của Ki Tô Giáo, đă ghi nhận rằng khuôn mặt thần thánh trong trọng điểm của Ki Tô Giáo (nghĩa là Giê-su. TCN) thực ra chỉ là một đứa con hoang. ..Về phương diện kỹ thuật, ngay cả khi đọc Phúc Âm theo truyền thống, điều trên đúng là sự thực, v́ Joseph, chồng của Mary, không phải là cha thực của Giê-su. Đọc thật kỹ Matthew chúng ta có thể thấy điều trên rơ ràng...và Matthew đă đưa ra một kiến trúc thần học tinh vi để biến đổi một sự thật xấu xa thành một huyền thoại..

 

Một vấn đề trong gia phả của Giê-su đă làm bận tâm những nhà thần học không ít trong nhiều thế kỷ là tên của các phụ nữ trong gia phả của Giê-su. Tại sao chúng ta đọc thấy rằng: “Abraham là cha của Isaac, Isaac là cha của Jacob” v..v.. mà không thấy tên một phụ nữ nào xen vào, nhưng rồi chúng ta thấy “Judah là cha của Perez và Zerah, sinh ra bởi Tamar”, và “Salmon là cha của Boaz, sinh ra bởi Rahab,” và Boaz là cha của Obed, sinh ra bởi Ruth”, và David là cha của Solomon, sinh ra bởi “vợ của Uriah”?

 

Một nhóm học giả đă t́m hiểu trong 20 năm qua để t́m ra giải đáp cho điều thắc mắc này và họ đă khám phá ra rằng tất cả những phụ nữ được nêu tên trong gia phả của Giê-su đều là những người mang tai tiếng về vấn đề t́nh dục. Nói cách khác, Matthew đă cố ư làm nhẹ bớt vấn nạn Giê-su là đứa con hoang bằng cách vạch ra rằng trong nhiều đời tiền nhân của Giê-su, đây là điều cần thiết để tiếp nối ḍng dơi các vua Do Thái qua những nhân vật khác thường.. Là đứa con hoang, điều này có thể là một biểu hiện của sự danh giá (badge of honor).

 

(Shorto, Russell, Gospel Truth, Riverhead Books, N.Y., 1997, pp. 36-41: From the early second century, Jewish writers observing the rapidly spreading Christian religion noted with a sneer that the supposed divinely inspired figure at its center was in fact a bastard. Swirling around the gospel stories, according to some scholars, are whispered cries of “illegitimate”... Technically, even by the traditional reading, this charge is true, for according to the accepted interpretation, Joseph, Mary’s betrothed, is not the actual father of the child. But a careful reading of Matthew’s account may suggest a more mundane kind of illegitimacy..and that Matthew constructed an elaborate theological architecture to try to transform that nasty reality into a myth he could build a tradition on... One thing about the genealogy that has bothered theologians for centuries is the mention of several women among the men who, in the ancient view, carry the bloodline. Why we are told that “Abraham was the father of Isaac, and Isaac the father of Jacob”, and so on, with no mention of the women involved, but then learn that Judah was the father of Perez and Zerah “by Tamar”, and Salmon the father of Boaz ”by Rahab”, and Boaz the father of Obed “by Ruth”, and that David was the father of Solomon “by the wife od Uriah”..? A solution to the puzzle has been worked up over the two past decades by a group of scholars who realized that all of the women mentioned are associated with scandalous sexual behavior. In other word, Matthew is softening the blow of Jesus’ questionable legitimacy by indicating that in several previous instances it was necessary for the royal bloodline of Israel to be passed on via less-than-ordinary means. Bastardy, it may even be suggested, was a badge of honor...)

 

 Trần Chung Ngọc, ngày 16/11/09

NDVN, ngày 17/11/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend