TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM: Linh mục TRẦN TAM TỈNH


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

   

 

Linh mục TRẦN TAM TỈNH

 

 

 

 

 

 

 

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM

 

 

 

 

 

 

 

 

 01

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - 1978

 

 

 

 

 

 

 

 

     Lời nói đầu

 

     Giữa thế kỷ XIX, nhà Nguyễn phong kiến đă buộc ḷng phải kiên quyết đối phó với một bộ phận dân chúng theo đạo Thiên Chúa. Do phương phức truyền đạo cứng rắn, do sự gắn bó khắng khít giữa những người truyền đạo và thực dân Pháp xâm lược, đă để lại những trang sử cay đắng cho giáo hội Thiên Chúa và cho cả dân tộc.

 

     Ṭa thánh Vatican đă quyết định phong Thánh cho 117 vị Chân phước Tử đạo tại Việt Nam từ năm 1745 đến 1862. Quyết định này đă được tiếp nhận với nhiều phản ứng khác nhau trong giáo hội. Đây là vấn đề tế nhị và phức tạp có liên quan đến khối Đoàn kết dân tộc đă được chăm chút vun bón trong cả quá tŕnh lịch sử đấu tranh cách mạng.

 

     Xuất bản tập “Thập giá và lưỡi gươm” Nhà xuất bản Trẻ chỉ mong cung cấp cho bạn đọc một số dữ kiện, một số tư liệu lịch sử do linh mục Trần Tam Tỉnh, Viện sĩ viện hàn lâm Hoàng Gia Canada, Giáo sư Đại học Laval tỉnh Quebec (Canada) một người hết ḷng trung thành với giáo hội Công giáo Việt Nam viết. Từ cơ sở thực tiễn đó chúng ta có điều kiện để nhận thức rơ vấn đề.

 

     “Thập giá và lưỡi gươm” phản ánh những vấn đề của giáo hội Công giáo từ thế kỷ 18 đến nay, nói rơ thái độ của vua chúa Việt Nam trong việc cấm đạo và giết đạo, truyền thống sống phúc âm trong ḷng dân tộc của người Việt Nam Công giáo phản ánh cả cái ánh sáng và bóng tối của giáo hội trong các thế kỷ qua. Chúng tôi tin rằng tập sách này sẽ đáp ứng phần nào yêu cầu của thanh niên lương cũng như giáo cùng nhau xây dựng khối đoàn kết dân tộc.

 

                                                                NHÀ XUẤT BẢN TRẺ 

 

 

 

 

 

     DẪN NHẬP

 

     Ngày 30 tháng 4 năm 1975 lúc gần trưa, tiếng sung đă im, lần đầu tiên từ ba mươi năm nay, trên toàn cơi đất nước Việt Nam. Từ bốn phía, lực lượng Cách mạng tiến về hướng trung tâm Sài G̣n trước những cặp mắt kinh hoàng của người này, hay giữa những tràng pháo tay hoan hô của những người khác. Chuông của một số chùa trang trọng ngân vang, ḥa tiếng với những lời reo vui của một bộ phận dân chúng.

 

     Nhưng chuông các nhà thờ th́ im lặng. Từ bốn tháng nay, phần đông người công giáo miền Nam sống trong lo âu sợ hăi. Bước tiến như vũ băo của quân đội Cách mạng càng tăng thêm những lời đồn đoán về một “cuộc tắm máu”, lời đồn đoán được nuôi dưỡng ngày này qua ngày khác bởi các luận điệu tuyên truyền rùm beng, ở quốc nội cũng giống như ở nước ngoài.

 

    Ngày 7 tháng giêng năm 1975, Mặt trận Giải phóng đă giải phóng tỉnh Phước Long. Hăng thông tấn Fides của Vatican đưa tin về vụ đó như sau: “Trong cuộc tấn công Phước Long, một số đông dân chúng, đă t́m chỗ núp trong Nhà thờ xứ. Nhưng nhà thờ xứ trở thành mục tiêu chủ yếu của các trọng pháo Cộng sản nă đạn vào và nhiều người đă chết, kể cả 4 linh mục là các Cha Cảnh, Toàn, Lâm, Nhă. Cha Đại đă bị Cộng sản bắt”. Cách đưa tin thời sự kiểu đó ngầm hiểu rằng lực lượng cộng sản lo đánh phá tôn giáo hơn là giải phóng đất nước.

 

     Báo L’Observatore Romano và Đài tiếng nói Vatican loan tin rằng có nhiều linh mục đă bị giết và có cả những Giám mục, như Đức Cha Nguyễn Huy Mai, giám mục Buôn Mê Thuột và Đức Cha Nguyễn Văn Ḥa giám mục chỉ định địa phận Nha Trang, có lẽ đă bị bắt hoặc đă bị cộng sản giết chết. Và để nhấn mạnh nguy cơ cộng sản, giáo sư Alesandrini, phát ngôn nhân của Ṭa thánh, đă viết trong tờ L’Observatore Della Domenica rằng “ chế độ Hà Nội là xấu xa nhất thế giới”. Đức Phalo VI, trong cuộc tiếp kiến ngày 26 tháng 3 năm 1975, nói đến “cơn hấp hối kéo dài không thể tả xiết, trong nước mắt và máu” của nhân dân Viêt Nam, và ngày 2 tháng 4 ngài cầu xin cho dân công giáo nước này được “ḷng can đảm của các tông đồ đầu tiên, để làm chứng cho đức tin của họ và cho ḷng bác ái của họ trong những điều kiện khó khăn”.

 

     Nhưng kiểu nh́n theo con mắt tận thế đó, cũng như các mưu đồ của Washington đều chẳng thể nào cứu được chế độ Sài G̣n. Trước cảnh tan ră của quân đội Thiệu, lực lượng Cách mạng đă giải phóng một cách nhanh chóng và ít tổn thất, các vùng cao nguyên, các tỉnh vùng ven biển, đồng bằng song Cửu Long, và sau cùng, qua 55 ngày chiến dịch giải phóng Sài G̣n thủ đô ngụy.

 

     Chiến thắng của Mặt trận Giải phóng và công cuộc giải phóng miền Nam Việt Nam khỏi sự thống trị của Mỹ, phải chăng đánh dấu sự chấm dứt tự do tôn giáo đối với cách suy nghĩ của phần đông người công giáo.

 

     Đoán biết trước sự thất bại hầu như chắc chắng của quân đội Nam Việt, những người đă làm giàu nhờ chiến tranh đều bỏ chạy mang theo hàng triệu đôla chiếm được nhờ tham nhũng và những phương thế bất chính. Bị lôi cuốn vào làn song di tản đó, nhiều người công giáo đă lên những chiếc thuyền mỏng manh, hy vọng khi ra khơi th́ tàu gặp được tàu của Mỹ vớt họ và chở họ tới các nước có đạo, để họ bảo vệ được đức tin. Cơn hoảng hốt đó là hậu quả của những tiếng đồn “ cộng sản sẽ giết hết người công giáo gốc di cư 1954” hoặc “ trong các vùng giải phóng, nhiều linh mục đă bị tàn sát, các nữ tu bị hăm hiếp, các nhà thờ bị triệt hạ”.

 

     Song khác với 1954, hàng giáo phẩm lần này đă không tổ chức cho di tản. Các giám mục đều nhất quyết ở lại, dầu có phải dọn ḿnh chịu chết v́ đạo như họ vẫn nghĩ. Gần ngày giải phóng cố đô Huế, Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền đă viết cho Giám mục Mercier là bạn thân rằng, Đức Cha thấy bổn phận ḿnh là phải tiếp tục tại vị, để Giáo hội có mặt và Tin mừng vẫn được loan báo, nếu có v́ thế mà “phải vào tù, chịu đau khổ bắt bớ không phải bằng lời giảng mà nhiều người rất thèm khát”. Phần riêng ḿnh, Đức Tổng giám mục Sài G̣n Nguyễn Văn B́nh nhắc nhở giáo dân rằng “ không bao giờ Giáo hội ủng hộ việc di tản người công giáo ra nước ngoài”. Tiếp đến, Đức Cha khuyên các linh mục và tu sĩ đừng để bị lôi cuốn vào hoang mang, nhưng phải chứng tỏ sự can đảm và tinh thần hy sinh cho tới cả trường hợp phải tử v́ đạo: “Chúng ta phải sẵn sàng trong một tinh thần hoàn toàn tin cậy vào Chúa. Chúng ta hăy nhớ lại lời Chúa: “ Kẻ chăn tốt dâng mạng sống ḿnh v́ đàn chiên (Yn 10, 11) và gương lành của Người: “Đức Kitô đă ban sự sống của Người cho chúng ta, chúng ta phải dâng mạng sống ḿnh v́ anh em” (Yn 3,1).

 

     Khi đọc những ḍng trên, người ta có thể hiểu được bầu không khí sợ hăi và lo âu trong đồng bào công giáo. Dầu có những lời kêu gọi kể trên, hơn 100 Linh mục và 250 tu sĩ nam nữ người Việt đă ra đi.

 

     Trong bầu không khí như thế, những người công giáo từng gắn bó với nguồn hy vọng của nhân dân – linh mục có, giáo dân có – họ đă phải chiến đấu với hai lần khó khăn. Một đàng họ t́m mọi cách nhằm thuyết phục đồng bào và đồng đạo đang bị lôi kéo hàng ngàn đi di tản rằng phải từ bỏ cuộc chạy trốn điên dại, ngơ cụt không lối thoát đó, và hăy trở về nhà ḿnh đang ở. Trong các xóm nghèo của Sài G̣n, họ đă thành công ngăn chặn được sự bỏ chạy và cơn hốt hoảng, nhờ các hoạt động trấn an hiệu quả của họ.

 

     Đồng thời, họ phải lên tiếng tố cáo thái độ của một vài chức sắc Giáo hội đang liều ḿnh liên lụy đến độ “mất cả sự tự do cần thiết cho sứ mạng Ngôn sứ của ḿnh”. Giữa những bối cảnh bất an của Sài G̣n tháng 4, họ muốn giúp cho Giáo hội đi vào một cuộc đổi thay, không phải theo họ nghĩ tàn mạt, mà là hữu ích. Thái độ của họ trong qúa khứ đă chuẩn bị họ làm công tác này: trong những tháng cuối thời chế độ Thiệu, mặc dầu có những cuộc đàn áp dă man hơn, họ vẫn tiếp tục cố gắng nhiều hơn trong cuộc chiến đấu chống sự có mặt của Mỹ, chống độc tài và ủng hộ việc ḥa giải và độc lập hoàn toàn của đất nước. Làm như thế, họ đă góp phần vào việc giải phóng Sài G̣n không có đổ máu.

 

    Tại thành phố từ nay được gọi bằng tên cụ Hồ Chí Minh, cũng như trên khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam được giải phóng, thái độ cởi mở và ḥa giải của Mặt trận Giải phóng đều được thừa nhận bởi cả những kẻ thù địch triệt để nhất. Cuộc tắm máu đă không hề xảy ra. Không có đàn áp; không có xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng.

 

     Bây giờ người ta mới tự hỏi: Giáo hội ở miền Nam có chấp nhận cách phân tích t́nh h́nh như thế và thay đổi thái độ với chế độ mới chăng? Giáo hội có thể sang trang được không?

 

     Đă có một số câu trả lời cho những thắc mắc đó.

 

     Sáu ngày sau khi Huế được giải phóng, trong một bức thư đề ngày 1 tháng 4 năm 1975 Đức Cha Nguyễn Kim Đền, Tổng giám mục Huế gởi cho giáo dân của Ngài như sau: “Giữa quang cảnh vui mừng hoan hỉ này, đă đến lúc chúng ta phải sẵn sàng cộng tác với hết thảy mọi người thiện chí để xây dựng lại quê hương đă từng chịu đau thương tang tóc biết bao rồi, và việc này ở dưới sự lănh đạo của Mặt trận Giải phóng, hầu đem lại cho đồng bào sự tự do, sự phồn vinh và hạnh phúc. Hơn bao giờ hết, bây giờ là lúc phải củng cố sự đoàn kết dân tộc, t́nh yêu thương nhau và phục vụ đồng bào, giúp đỡ và cứu trợ, chia sẻ với đồng bào cơm ăn và áo mặc”.

 

     Ngày 9 tháng 4, Đức Tổng giám mục lại công bố: “ Trên trần gian này, chẳng có sự sống con người, và đối với loài người th́ không có ǵ qúi giá hơn độc lập và tự do.. Sống trong độc lập là một điều có thật tại đây, cố đô Huế. C̣n về tự do, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đă long trọng đảm bảo với toàn thể đồng bào, sự tự do trong đó có sự tự do lương tâm của các tôn giáo. Chính v́ vậy mà người công giáo Việt Nam háo hức đóng góp phần tích cực của ḿnh. Và cùng nhau, cùng toàn dân, dưới sự lănh đạo của Mặt trận Giải phóng, chúng ta sẽ xây dựng một xă hội đầy yêu thương, một xă hội tự do, dân chủ, thịnh vượng; ở đó chúng ta được an tâm chu toàn bổn phận ḿnh đối với Tổ quốc và đối với Thiên Chúa”.

 

     Ít hôm sau ngày giải phóng Sài G̣n, Tổng Gám Mục thành phố này cũng đă kêu gọi toàn thể người công giáo miền Nam hăy “chu toàn mọi nhiệm vụ công dân của ḿnh một cách nghiêm túc, dưới sự lănh đạo của chính phủ Cách mạng lâm thời. Đây là sự vui mừng của toàn thể nhân dân ta và theo niềm tin Kitô giáo, đây cũng là ân huệ của Chúa. Với toàn thể đồng bào, chúng ta vui mừng chào đón ḥa b́nh và độc lập”.

 

     Bên ngoài, tại Vatican cũng như ở các miền công giáo, người ta không nói cùng một giọng như thế. Ngày 11 tháng 5, trong báo L’Observatore della Domenica, giáo sư Alesandrini đă viết về chính sách ḥa giải của Mặt trận giải phóng như sau: “ Sự ḥa giải chân thành, đích thực và thành khẩn là thời điểm duy nhất để có thể có ḥa b́nh; sự ḥa giải thật không tự nó đến ngay từ sự im ĺm bi thảm của các sự vật, từ sự vắng chiến tranh hay là t́nh thế bắt buộc, nhưng nó phải được xây dựng và xây dựng lại trong các cơi ḷng đă từng tan nát, bị chà đạp”.

 

     Tại sao có thái độ đó từ phía tờ L’Observatore della Domenica? Tại sao có những lập trường bề ngoài xem ra mâu thuẩn nhau đối với một nước Việt Nam đă được giải phóng?

 

     Giáo hội công giáo sẽ ra thế nào trong một nước Việt Nam độc lập và thống nhất? Muốn hiểu bối cảnh hiện nay của Giáo hội công giáo Việt Nam, cần đọc lại lịch sử giáo hội này từ ngày bắt đầu truyền bá Tin mừng vào thế kỷ 16. Cần hiểu biết tất cả quá khứ của Giáo hội, phải khám phá tất cả những ǵ nó liên lụy với di sản thuộc địa. Phải lấy trí và ḷng rất thanh thản mà xem lại sự chuyển biến của Giáo hội, xuyên qua ḍng lịch sử của đất nước Việt Nam.

 

     Tập sách này, được viết ra do một trong những người con trung thành của Giáo hội Việt Nam không có một tham vọng nào khác ngoài việc tŕnh bày sự thật lịch sử.

 

 

                                                                     Linh Mục TRẦN TAM TỈNH 

                                                            Roma, ngày 19-5-1975.

 

 

 

 

Chương I

 

HƯƠNG LIỆU VÀ LINH HỒN

 

 

 

     1. HƯƠNG LIỆU VÀ ĐẠI BÁC

 

     Năm 1492, Kristôp Côlông (Christophe Colom) khám phá ra những vùng đất mới mà ông nghĩ là Ấn Độ. Một nữa thế kỷ trước đó, thương thuyền Bồ Đào Nha cũng đă chạy dọc theo bờ biển phía Tây Châu Phi. Ít năm sau, năm 1497, Vaxcô đơ Gama người Bồ Đào Nha đă phát hiện đúng con đường sang Ấn Độ.

Ngày 4 tháng 5 – 1493, qua sắc chỉ “Inter caetera”(“Giữa những điều khá”), Giáo hoàng Alech-xăng thứ 6 giao quyền chinh phục các vùng đất kể trên mà các dân phương Tây chưa từng biết, cho các triều đ́nh nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha có quyền đi chiếm tất cả các đất đai gặp được ở một trăm dặm kể từ quần đảo Axo (Axores), c̣n Bồ Đào Nha, tất cả các nước nằm ở mạn Đông đường ranh đó (quần đảo Axo nằm ở mạn giữa cắt đôi Đại Tây Dương).

 

     Tuy nhiên, quyền lợi của Bồ Đào Nha đă được phân định rơ ràng trong sắc chỉ “Giáo hoàng Rôma” (Romanus Pontifex) do Đức Nicôla V ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền của Ṭa thánh, Đức Giáo hoàng ban cho triều đ́nh Lisbông (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Xarađanh (Sarrasins tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lănh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của ch́m của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn”.

 

     Khi ban quyền cho người Bồ Đào Nha được chiếm đoạt mọi thứ lợi lộc kể trên, Giáo hoàng đồng thời muốn mở mang nước Chúa sang các miền xa xôi. Và để nhà vua Bồ Đào Nha yên tâm hơn, Giáo hoàng ra lệnh cấm không một ai khác được phép đặt chân đến các vùng đất ấy nếu không có phép nhà vua, dành cho nhà vua độc quyền buôn bán và ra vạ tuyệt thông tức khắc cho bất kỳ ai dám hành động ngược lại.

 

     Nước Tây Ban Nha, sau khi được Giáo hoàng chúc lành, đă tung ra một đoàn chiến thuyền hùng hậu và đạo quân kỵ binh hung tợn, lên đường đánh chiếm châu Mỹ, và chỉ sau một thời gian ngắn đă lập nên một đế quốc bao la. Về phía ḿnh, người Bồ Đào Nha cũng thâu được những kết quả lừng danh ngay bước đầu. Ngày 17 tháng 2 năm 1511, Anphông Danbuyket (Alphonse ở Albuquerque) chiếm thành Goa, một đô thị thuộc loại quan trọng nhất của Ấn Độ, nổi tiếng là nơi bọn lái buôn hương liệu và ngựa Thổ Nhĩ Kỳ hay đổ tới, và thiết lập thành kinh đô của tất cả cơ sở Bồ Đào Nha tại miền Ấn Độ dương. Năm sau đó, Ông chiếm Malắcca, thị trấn của tất cả các hải đảo vùng Nam cực, thị trường lớn buôn bán ma túy, hương liệu, và các sản phẩm ngoại lai. Nữa thế kỷ sau, cờ nước Bồ Đào Nha bay phất phới trên Ma cao, ngay bên hông Trung quốc cho phép họ buôn bán với các hải khẩu Trung quốc và Nhật Bản.

 

     Thời ấy, người ta tin rằng có sự phù trợ của Chúa che chở nhóm Kitô hữu tí hon đó trong cuộc mạo hiểm chinh phục thế giới. Chính từ Goa và Macao, những nhà truyền giáo đầu tiên đă t́m tới Việt Nam. Lúc đầu chỉ là các tuyên uư của các thuyền buôn, lợi dụng thời gian bốc hàng, họ lên bộ, t́m cách đưa một vài người nghèo theo đạo, nhờ bọn thông dịch làm trung gian, chẳng hạn hỏi họ “có muốn vào trong ḷng người Bồ Đào Nha chăng” hoặc sau này là “ trong ḷng người Bồ Đào Nha” chăng (1).

 

     Những người đồng ư đều được rửa tội cách giản đơn, nhưng lúc nào cũng được các “ Thầy phương Tây” ban tặng ít qùa. Sau những kết qủa sơ khởi đó, nhiều linh mục ḍng Tên đă đến và trú ngụ tại Việt Nam.

 

     Hồi thế kỷ XVI và XVII, Việt Nam là một nước, triều đại nhà Lê. Nhà vua đang ngự trên ngai nhưng không có thực quyền cai trị. Mọi quyền hành nằm trong tay các chúa, chúa Trịnh ngoài Bắc, chúa Nguyễn trong Nam, cả hai cai trị dân nhân danh nhà vua. Việc các chúa tranh hùng tranh bá là có lợi cho hoạt động của các nhà truyền giáo. Cả hai chúa Trịnh và Nguyễn đều cần vũ khí hiện đại, súng đại bác và đạn pháo do các tàu buôn Bồ Đào Nha chở tới. Họ cho các nhà truyền giáo được phép trồng cả cây thập giá lên trước các hải cảng, bởi v́, theo người Kitô giáo, thập giá “ từ xưa là một thứ cờ mà người Bồ Đào Nha cung kính, nên ở cảng nào thấy cờ thập giá là họ sẵn sàng chở tới các loại hàng tốt nhất”. Nhưng do t́nh h́nh sự việc như vậy mà việc truyền giáo cũng chịu cảnh thăng trầm theo nhịp độ tàu bè lui tới. Hễ đại bác tới th́ các thừa sai được tự do giảng đạo và các giáo hữu được tự do hành đạo; nhưng nếu v́ lư do ǵ mà các tàu thuyền Bồ Đào Nha không cập bến đúng hẹn, th́ nhà cầm quyền dọa trục xuất các thừa sai và cấm dân theo đạo “ Tây dương”.

 

     Đừng kể trường hợp ngoại lệ, các thừa sai hồi đó thường ra sức làm cho các giáo hữu sống theo kiểu Bồ Đào Nha. Tại Ấn Độ, giáo dân buộc phải bỏ y phục xứ ḿnh mà ăn mặc như người Bồ Đào Nha; tại Trung quốc, những ai trở lại đạo đều phải cắt tóc ngắn, bởi tóc dài bị coi là không hợp với đạo mới; khắp nơi tại Ấn Độ cũng như tại Việt Nam, những người chịu rửa tội phải bỏ tên “ ngoại đạo” của ḿnh để nhận tên “ có đạo”. Dầu các thừa sai tỏ ra b́nh dân và nhiều khi đáng kể là người uyên bác, đạo mới cũng chỉ kiếm thêm dăm người theo từ đám dân chúng nghèo khổ và phụ nữ. Theo các nhà truyền giáo ghi nhận trong các “ tâm thư” hoặc các bản báo cáo chính thức, th́ số người chịu phép rửa rất cao. Chẳng hạn giáo sĩ Alexăng đờ Rốt (Alexandre De Rhodes) cả quyết rằng năm 1642 một ḿnh ông đă rửa tội được 6,000 người lương theo đạo; nên năm 1646, nhân dịp linh mục Cabơran (Cabral), ḍng Tên sang thăm, có 24,000 người lương chịu rửa tội. Năm 1658 Cha Riva (Rivas) đi thăm tỉnh Quảng B́nh, đă rửa tội 700 người lớn. Năm 1665, Cha Hanh-cơ (Hainques) một ḿnh cũng rửa tội 4,440 tân ṭng.

 

     Đứng trước sự phát triển tín đồ như thế, Giáo sĩ Alexăng Đờ Rốt đă tŕnh về Rôma năm 1650 một báo cáo dài về sự tiến triển của việc truyền giáo tại Việt Nam và đề xuất một phương án tách việc truyền giáo tại Việt Nam ra khỏi quyền hành Bồ Đào Nha. V́ từ trước tới thời điểm này, các nhà truyền giáo thuộc bất kỳ quốc tịch nào, đều phải đi qua Lixbôn học tiếng Bồ Đào Nha và tuyên thệ phục quyền vua Bồ, Rôma đă can thiệp đúng lúc.

 

     Lực lượng Bồ Đào Nha bắt đầu suy giảm. Từ đầu thế kỷ XVII, người Ḥa Lan, theo Tin Lành, chẳng quan tâm tới việc Giáo hoàng phạt vạ tuyệt thông, đă lên đường mạo hiểm sang Ấn độ dương và vùng biển Trung quốc chẳng mấy chốc đă bắt đầu cướp của vương quốc vạn an đó. Năm 1619 họ lên đảo Java, lập thành Batavin vượt xa Goa về sự giàu có thịnh vượng. Ngày 12 tháng Giêng năm 1641, họ chiếm Malắcca, phá vỡ thế độc quyền buôn bán hương liệu mà Lixbôn từng nắm giữ suốt một thế kỷ qua.

 

     Rôma quay nh́n sang nước Pháp.

 

     Năm 1659, hai giám mục Pháp được phái sang coi sóc địa phận truyền giáo tại Việt Nam. Đó là giám mục Pan-luy (Pallu) và giám mục Lame đờ la Mốt (Lambert de la Motte). Những điều Rôma căn dặn họ thật là khôn ngoan và đúng với Tin mừng: các giám mục khi coi sóc tín hữu phải căn cứ vào 4 điểm nền tảng sau: a) Đào tạo linh mục và giám mục người bản xứ; b) Tuân lệnh của Rôma; c) Không nhúng vào lănh vực chính trị; d) Tôn trọng các nền văn minh và phong tục địa phương. “Các Ngài cẩn thận giữ ḿnh, đừng ra sức bảo các dân tộc ấy từ bỏ nghi lễ, tập tục, phong cách của họ, miễn là điều đó không ngang nhiên ngược với đạo thánh và phong hóa tốt. Bởi v́ có ǵ vô lư hơn là việc đưa nước Pháp, Tây Ban Nha, hay nước Ư, hay một phần đất nào của châu Âu vào nhà người dân Trung quốc? Đó không phải là cái các Ngài phải đem vào, hăy đem đức tin vào, mà đức tin th́ không phủ nhận và cũng không gây tổn thương đến các nghi lễ và phong tục địa phương, miễn là nó không phải chuyện ǵ xấu xa, trái lại đức tin muốn các nghi lễ và phong tục đó được bảo tồn”. Cùng lúc, Rôma chỉ thị cho giám mục truyền giáo chỉ lo việc các linh hồn thôi và hăy quên đi những lợi ích riêng tư của chính nước họ.

 

     2 – NHỮNG VIỆC CHÚA LÀM QUA BÀN TAY CỦA NGƯỜI PHÁP.

 

     Tiếc thay những lời khuyên nhủ đầy tinh thần Tin mừng và trong sáng như thế đă bị bỏ lơ quá sớm. Giám mục Pa-luy đă nhanh nhẹn quan hệ với công ty Ấn Độ mà nước Pháp mới thiết lập, nhằm cạnh tranh với công ty Đông Ấn với Ḥa Lan. Ông trở thành nhà cố vấn và báo cáo viên của nó. Trong bản báo cáo gởi ngày 14 tháng 3 năm 1667 cho ban giám đốc công ty, ông đề xuất việc sử dụng biện pháp quân sự chống lại đối thủ: “ Tôi chắc rằng sắp tới đây phải rành rơi với bọn họ (người Ḥa Lan), nhất là nếu ta muốn được nếm quế Xrilanka, hoặc đinh hương của Amboadơ (Amboise) hay đậu khấu của đảo Banđa”. Ông khuyến khích Công ty của nhà vua tiến hành thực hiện “ phương án vinh quang đưa dân mọi rợ trở lại đạo thánh và qua đó mà thánh hóa việc thương mại của ḿnh, để vừa mở mang giáo hội vừa làm giàu cho nước Pháp”.

 

     Nước Pháp cần mở một thương điểm tại Việt Nam, bởi v́ có thể dựa vào các cố thừa sai: “Ngài có thể tin chắc rằng tại Ấn Độ Ngài sẽ gặp được nhiều người nhiệt t́nh cho công cuộc phát triển và mở mang của công ty cũng bằng con số các giám mục, giáo sĩ và tu sĩ, không những của nước Pháp mà cả các nước khác đang hoạt động cho sự phát triển đức tin.

 

     Đứng trước sự ỳ ạch của Công ty, ngày 2 tháng Giêng năm 1672, Giám mục Pan-luy đă viết thư cho Côn-be (Colbert) Thanh tra tài chánh của Luy XIV rằng: “ Đức Cha Lămbe đơ la Mốt đă khéo sắp xếp các việc ở đây, nên Ngài đă được nhà vua ban phép qua trung gian hai vị giáo sĩ giả dạng lái buôn, để ở lại và cho xây cất một ngôi nhà… với hy vọng là Công ty sẽ có thể đến tiếp nhận một cơ sở, Ngài đă viết về việc ấy, đưa tin cho các ông tổng giám đốc, và đă gởi cho họ các bản lược tŕnh và khả năng buôn bán tại đó”. Ngài năn nỉ ông Cônbe ḷng đạo đức, “Công việc này chỉ có thể đem lại lợi ích rất lớn cho Công ty”. Đức Cha Pan-luy c̣n tính cả việc mở mang thương mại của Pháp sang tới biên thùy Trung quốc (thư viết cho Cônbe ngày 26-3-1681).

 

     Không nên xét đoán cách cư xử như thế của các giám mục đầu tiên qua Việt Nam, bởi v́ thời bấy giờ ở Pari cũng như tại Lixbon, lợi ích các linh hồn đều gắn liền với lợi lộc thương mại với Viễn Đông. V́ t́m cách hất cẳng Bồ Đào Nha và cạnh tranh với Ḥa Lan, nước Pháp mau mắn cung cấp viện trợ cho Hội Thừa Sai Pari (MEP). Không kể những đóng góp của Hội Thánh Thể, của Hội Giáo Sĩ và của một số các bề đạo đức, “ Nhà Vua với mỗi vị giám mục một khoản bổng măn đời 1000 đồng quan, sau này nâng lên tới 3000”. Công ty Ấn Độ (điều XIII ngày 16 tháng 2 năm 1669) bảo đảm tiếp nhận các giám mục “ cùng các vị thừa sai, đầy tớ và đoàn tùy tùng mà không đ̣i khoản tiền nào cho việc chở hành lư đem thoe, việc ăn uống dọc đường và sẵn sàng cho họ đổ bộ lên tại một hay nhiều điểm ở Bắc kỳ, Nam kỳ hay Trung quốc tùy ư họ”.

 

     Dầu muốn dầu không, Giáo hội Việt Nam, ngay từ những bước sơ khai đă dính líu vào những chuyện trần thế này rồi, mà chẳng bao lâu đă ảnh hưởng tới việc truyền giáo. Bởi v́ sắp sửa có những giám mục được cử làm sứ thần Vua nước Pháp bên cạnh các Hoàng đế châu Á. Tài năng được làm tông đồ Đức Kitô nơi họ coi như được đội triều thiên vinh hiển, nhất là tại triều đ́nh Phanarai, vua nước Xiêm. Công việc sắp xếp về lễ tân phải mất hơn 3 tháng mới xong cho cuộc tiếp rước hai vị giám mục năm 1673. Vị thủ tướng nhấn mạnh các giám mục theo đúng nghi lễ triều đ́nh, cởi dép đi chân không và sụp lạy sát đất. Các giám mục không chịu, bởi v́ “ họ không được chấp nhận, họ được quyền miễn trừ khỏi những ǵ có thể phương hại đến danh dự tôn giáo, của nhân vị ḿnh, cũng như vinh quang của nước Pháp mà hoàng đế lúc đó mới dành được những chiến thắng lẫy lừng vang dội đến tận cùng trái đất”.

 

     Tại Việt Nam, mặc dầu có vụ tranh chấp công khai giữa ḍng Tên Bồ Đào Nha, tay chân của Lixbon, và các giáo sĩ người Pháp, dầu có sự cạnh tranh giữa các thừa sai Pari và tu sĩ các hội ḍng khác, việc truyền giáo đă thâu đạt được những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên sự bành trướng của Kitô giáo lúc đó vấp phải nhiều điều khó khăn.

 

     Thứ nhất, đạo Kitô giáo chống lại việc thờ cúng tổ tiên vốn là nền tảng của tín ngưởng dân gian. Người Việt Nam không có cùng một quan niệm về đạo như các dân tộc thuộc văn hóa Do thái – Kitô giáo. Ở đây không có quốc giáo, cũng chẳng có thứ tôn giáo với những điều tin lư minh bạch rơ ràng. Khổng giáo th́ không phải là một tôn giáo chính danh. Trong học thuyết của Khổng tử được truyền đạt và giải thích bởi môn sinh của Ngài tại Trung quốc cũng như tại Việt Nam, đạo hay đường là một từ dị nghĩa: lúc th́ chân lư tối cao lúc lại có nghĩa là qui luật điều khiển cả vũ trụ lúc lại biểu là đạo lư hướng dẫn cuộc sống con người ta. «Đạo không ở ngoài con người, Khổng tử viết; kẻ nào đặt ra một con đường ở bên ngoài con người, th́ không thể làm nên một con người đích thực. Người lương thiện chỉ lo biến đổi con người, chỉ có thế thôi». Người ta dể hiểu tại sao đạo Khổng không có kinh, không có bí tích, không kêu cầu Thiên Chúa. Khái niệm Ông Trời rất mông lung. Nó không chỉ quyền uy tối cao hay là một vị thần đích thân. Thế nhưng dẫu chẳng người Việt Nam nào đi theo «tôn giáo» «Khổng tử», thiên hạ ai cũng là của đức Khổng, chẳng những người văn nho quen ngẩm nghĩ các văn bản cổ điển, hoặc học thuộc long để mong được làm quan, mà cả người nông dân cùng Sống theo luân thường của đức Khổng. Cả nhân dân đều thấm nhiểm nền nhân bản đó, trên cơ sở sự bao dung đối với tha nhân, ḷng trung tín, biết cách luôn luôn giữ thái độ trung dung, sự can đảm chu toàn phận sự và chỉnh tề đúng với lễ nghi.

 

     Mỗi người dân Việt cũng là phật tử cũng như họ thờ đức Khổng. Ở đây người phương tây bị mất hướng khi đứng trước sự phức tạp của t́nh h́nh đạo phật ở Việt Nam. Đạo phật được đưa vào từ phía Ấn độ, và một phần lớn qua ngả Trung quốc, đạo phật một đàng có phần phụng tự, với những chùa chiền, tượng đài, nghi lễ, sư săi, đàng khác là khía cạnh tinh thần (như thiền) thiên văn học và niết bàn. Với bản chất mềm mỏng, đạo phật vừa không bất dung vừa không độc tôn. Trong bối cảnh Việt Nam, nó thừa nhận giá trị của các hệ tôn giáo khác, lúc đầu vốn chẳng liên quan ǵ tới nó, như việc tôn thờ nhà vua, thờ cúng tổ tiên, kinh cầu siêu cho vong linh. Vào thế kỷ XVII và XVII, Phật giáo xét về mặt chính trị, không c̣n mạnh như hồi thế kỷ X và XIV, các vị sư không c̣n đóng vai tṛ lănh tu như họ đă làm dưới các triều đại Lư và Trần. Tuy nhiên, mỗi người Việt Nam có thể tự coi là phật tử, cho dầu không đi Chùa (hơn nữa việc đi chùa, việc tham dự nghi thức phụng tự không bắt buộc).

 

     Người Việt Nam, vừa là phật tử vừa theo đạo Khổng như thế, vẫn có thể chấp nhận Lăo giáo, một học thuyết triết lư đối nghịch với Khổng giáo, nhưng lại cũng bổ sung cho nó. Các thầy pháp của Lăo giáo, chủ vốn là phù thủy, chiêm tinh, bối toán. Có thể nói rằng đạo Lăo đă mất đi tính chất của nó và trở nên một dạng mê tín dị đoan trong dân gian.

 

     Nhưng mặc dầu có sự pha trộn tôn giáo, nghi lễ về tín ngưỡng khác nhau như thế, người Việt Nam rất tôn trọng sự thờ cúng tổ tiên, họ coi như là đặc tính riêng của đời sống tôn giáo. Việc thờ cúng này sát nhập một cách tài t́nh nhuần nhuyễn vào cả ba tôn giáo đă du nhập từ ngoài. Nó lan rộng thành một thứ đạo lư không ghi thành sách, nhưng rất phổ biến khiến toàn dân chấp nhận nó một cách tự nhiên. Cơ sở uyên thâm của đạo lư này nằm trong hệ thống xă hội và kinh tế truyền thống, trong đó gia đ́nh không những là sợi dây t́nh cảm mà c̣n là hạt nhân của đời sống, là thành lũy tạo sức mạnh cho mỗi cá nhân, là sợi chỉ linh thiên nối kết mỗi người thế giới bên kia không một ai am tường.

 

     Người Việt Nam có thể đón nhận dễ dàng đạo Ki-tô như họ đă chấp nhận 3 tôn giáo ngoại lai kia. Nhưng cái khó không thể vượt qua đối với nhiều người là sự lên án việc thờ cúng ông bà. Hồi đầu, các linh mục ḍng Tên có cho phép tín hữu phục lạy trước bàn thờ tổ tiên, nhưng các cố thừa sai Pari, các tu sĩ ḍng Đa-minh lại chống đối và cấm đoán điều đó. Cuối cùng, năm 1715 đức Clêmen (Clément) XI đă kể việc thờ cúng đó là hoàn toàn dối trá và ngược với Kitô giáo.

 

     Từ đó, có thề hiểu tại sai người Việt Nam tỏ ra đối nghịch với cái đạo “bất lương” dám từ chối ḷng hiếu thảo đối với ông bà và như thế cũng muốn xóa bỏ tất cả những mối quan hệ của một dân tộc với một quá khứ của ḿnh. Người Kitô hữu bị coi là những kẻ phản bội gia tộc, đồng thời là những kẻ phản bội quê hương. Bời v́ Quê hương người Việt Nam cũng đặt nền tảng nơi đạo hiếu vốn làm cho toàn thể công dân như cùng một gia tộc. Chúng ta không nên quên rằng theo tục truyền, dân tộc Việt Nam thuở sơ khai đă từ một bọc trứng nở thành một trăm con.

 

   Cái khó khăn thứ hai thuộc phương diện xă hội học. Trong lịch sử nước này, tuy lúc này lúc khác đă có nhà truyền giáo phật tử người Ấn hoặc Trung quốc, song các sư phật giáo cũng như thầy pháp đạo Lăo xưa nay vốn chỉ là người Việt Nam thôi. V́ thế, dân chúng vẫn cảm giác rằng hai tôn giáo đó đă phát xuất ngay tại Việt Nam. Đối với công giáo th́ trái lại. Cho tới năm 1668, tất cả các linh mục đều là người châu Âu. Sau thời điểm ấy, nhà thờ có áp lực của Rôma, các vị thừa sai đă đào tạo linh mục Việt Nam, nhưng cứ coi họ thuộc loại cấp dưới, trợ tá thôi. Người Tây cho họ là ngu dốt quá và bắt linh mục người Việt phải sống theo kiểu Âu Tây. Mặc dầu Rôma đă cho phép các miền truyền giáo được làm lễ bằng tiếng bản xứ, người thanh niên Việt Nam cứ phải học xong môn tiến latinh mới được nhận chức linh muc. Tại chủng viện của Hội Thừa sai, thiết lập ở Thái Lan, trường duy nhất dành cho linh mục Việt Nam học ở thế kỷ XVII, tiếng latinh là ngôn ngữ bắt buộc phải tập nói mỗi tuần 5 ngày. Một nhà truyền giáo thời đó kể lại các tự hào về đời sống tại chủng viện rằng: “ở đây người ta nói tiếng latinh như tiếng mẹ đẻ: một vài tháng sau khi đến, người ta thấy một cậu bé chơi tṛ đánh ô với bạn cùng tuổi và nói tiếng latinh trôi chảy tự nhiên như tiếng mẹ đẻ, nhất là khi chúng tức nhau”

 

     Giáo sĩ được đào tạo kiểu đó hóa ra con người bị bóp méo. Tây hóa nữa vời, người ấy xuất hiện giữa đồng bào ḿnh như kẻ lai căng. Đàng khác, dương sự lại mang mặc cảm tự ti đối với bạn học người Tây. Thành thử từ thế kỷ XVIII, có hai loại giáo sĩ: giáo sĩ hạng bề trên, gồm các linh mục thừa sai và giáo sĩ hạng bề dưới, gồm các linh mục bản xứ.

 

     T́nh h́nh thực tế đó bị người lương Việt Nam coi là dấu hiệu vong thân của người Kitô hữu không thể dung thứ trong thời b́nh, mà lại nguy hiểm khi hạm đội nước ngoài đến đe dọa xứ sở.

 

     3. NHỮNG VIỄN ẢNH

 

     Sự sống của Giáo Hội v́ thế đă bị xáo trộn bởi các cuộc “bách hại” là những hiện tượng không ăn khớp với bản tính hết sức bao dung của người dân Việt xét về mặt tôn giáo. Cha Marini cho đó chỉ là  “những cuộc bách hại nhỏ nhoi, những con ruồi quấy rầy, những con muỗi chọc tức”  thôi. Quả thật đúng thế, đă có những cuộc bách hại, nguyên do là vua chúa hồi đó phải chờ quá lâu các chuyến tàu đại bác, hoặc do những lời cáo buộc rằng Kitô hữu phạm tội bất hiếu v́ không chịu thờ cúng ông bà, hơn nữa có sự ngờ vực đối với một thứ đạo do người nước ngoài điều khiển, mang vào những tập tục ngoại lai và biểu lộ một thái độ bất dung không thể nào hiểu nổi.

 

     Sự ngờ vực này nhất định có phần cơ sở thực tế. Thái độ của hai vị giám mục đầu tiên tới Việt Nam, Giám mục Pan-luy và giám mục Lămbe đơ la Mốt, cũng như các mưu toan sau này của một số lớn các vị thừa sai, tạo cơ sở cho một ông quan tên Cương ghi lại trong Cuốn Tâm thư (XI,97), mô tả người phương Tây như «những kẻ rất lanh lợi hăng hái, chỉ nghĩ tới chuyện mỗi ngày chinh phục thêm những vùng đất mới. Tất nhiên điều đó sẽ làm cho nhà vua (chúa Nguyễn) tin chắc rằng các nhà truyền giáo phương Tây có mưu đồ nổi loạn cướp ngôi». Đó là nguyên do cuộc đàn áp năm 1750. Trước đó đă có nhiều vụ đàn áp khác, như năm 1686, 1704, 1712, 1715 trong Nam, c̣n dưới quyền chúa Trịnh ở hà bắc lại có các cuộc đàn áp xảy ra những năm 1721. 1723, 1737, 1745 và 1773.

 

     Trong mỗi cuộc cấm đạo, nhà vua ra lệnh trục xuất các thừa sai nước ngoài và trừng phạt khi nặng lúc nhẹ các giáo dân “đă v́ lầm lạc hoặc nhẹ dạ bị các thầy Tây lôi kéo lừa bịp”.

 

     Có một cuộc “cấm đạo” đẫm máu hơn xảy ra dưới thời Tây Sơn.

 

     Vào nửa sau thế kỷ XVIII, chế độ thối nát của các vua chúa ở phía Bắc cũng như Nam đă gây cảnh đói kém khiến các tần lớp dân nghèo ta thán. Cuộc nổi loạn h́nh thành cụ thể dưới sự lănh đạo của một nông dân đất Tây Sơn tên Nguyễn Huệ, cùng với hai anh đứng lên lật đổ chính quyền các chúa rồi thống nhất đất nước thành một cơi. Tại phía Bắc, vua Lê Chiêu Thống đi cầu viện nơi người Trung Hoa, c̣n ở miền Nam th́ một người con ḍng chúa Nguyển là Nguyễn Ánh, lại nhờ quân Thái Lan giúp giành lại vương quyền.

 

     Nhờ áp dụng một chiến thuật chớp nhoáng, Nguyễn Huệ chỉ mất không đầy một tuần đă đập ta 20 vạn quân Thanh. Tháng giêng năm 1789, sau khi đă đánh bại 20.000 viện quân Thái Lan, Nhà Tây sơn tiến hành nhiều cuộc cải cách xă hội và chính trị và họ đă không nương tay đối với các cố thừa sai. Nhất là từ năm 1777, khi giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) giám mục thành Adran cai quản địa phận Đàng Trong, đứng vào hàng ngũ ông chúa đă bị lật đổ. Nguyễn Ánh v́ muốn lấy ḷng người Tây hầu giúp ḿnh đánh lui kẻ thù, nên công khai tỏ thiện cảm với các cố thừa sai mà ai cũng cho là bạn thân của chúa. Điều này khiến anh em Tây Sơn nổi giận và căm tức, chẳng những đối với các thừa sai nước ngoài, mà cả đối với tất cả tín hữu Kitô, bị coi như hoàn toàn làm tay sai cho ngoại bang và cho chúa Nguyễn.

 

     4. GIÁM MỤC BÁ ĐA LỘC.

 

     Nguyễn Ánh không lính, không tàu, quay nh́n sang các cường quốc phương Tây. Ông bắt đầu liên hệ với quân Bồ Đào nha tại Macao, với quân Ḥa Lan tại Batavia và với quân Anh ở Ấn độ đang sẵng ḷng tiếp tay giúp đỡ. Giám mục Bá Đa Lộc không để mất cơ hội này để vừa giúp đỡ chúa Nguyễn và làm lợi cho nước Pháp đang trên đà cạnh tranh quốc tế. Nguyễn Ánh phó thác đứa con đầu mới 5 tuổi, với cả ngọc ấn để chính thức nhờ ông đi cầu viện với nước Pháp. Tại triều dinh Vécxây (Versailies), giám mục tŕnh bày với bá tước Mông-mô-ranh (Montmorin) một bản thảo lược, làm cả đám người chính trị lẫn sĩ quan chính qui, đều lấy làm tâm đắc. Ông nêu ra các lợi ích trong việc nước Pháp can thiệp vào Việt Nam:

 

     Lợi ích thứ nhất: Giả thiết rằng phương pháp chắc ăn nhất nhằm đánh bại quân Anh tại Ấn Độ là phá hoại hoặc làm suy yếu ngành thương mại của chúng. Vào thời b́nh, người Pháp sẽ làm suy giảm nhiều mức lợi mà quân Anh có thể thu được nơi việc buôn bán với Trung Quốc, nếu ḿnh tổ chức buôn bán mà nhẹ phí tổn hơn và dành cho nhiều sự dễ dàng hơn.

 

     Lợi ích thứ hai: Trong thời chiến, sẽ dễ dàng cấm việc buôn bán đó đối với bất kỳ nước thù địch nào. Bởi v́ khi ḿnh tuần tiểu ngay đầu cửa vịnh, hoặc chắc hơn nữa ngay đầu cửa vịnh. C̣n hở là lối vào cảng Quảng đông th́ sẽ chận được việc ra vào cảng bất cứ tàu của ai ḿnh muốn chận.

 

     Lợi ích thứ ba: Ḿnh sẽ sẽ gặp được tại Nam Kỳ các phương tiện dễ dàng và ít tốn kém cho việc sửa chữa, sơn lại tàu bè, hoặc đóng thêm tàu mới.

 

     Lợi ích thứ tư: Ḿnh sẽ gặp được tại? đây tất cả những ǵ cần thiết để tiếp tế cho hạm đội, hoặc cung cấp cho thuộc địa khác các thứ nhu yếu phần.

 

     Lợi ích thứ năm: Khi cần thiết, có thể chiêu mộ tại chỗ phu phen, lính bộ, lính thủy v.v...

Lợi ích thứ sáu: Ḿnh có thể dễ dàng chận đứng quân Anh khi chúng nó muốn tính chuyện bành tướng sang bờ biển phương Đông.

 

     Các mối lợi ích khác có thể c̣n quang trọng hơn tuy c̣n xa xôi... đ̣i phải có những cách nh́n rộng lớn hơn, có lẽ lúc này Chính phủ chưa dễ dàng như thế?, thiết tưởng cứ dựa vào những lợi điểm hiển nhiên trước mắt đă và tạm gác chưa nói tới cái mối lợi về lâu về dài mới nghĩ tới được.

 

     Nhằm thuyết phục kỹ hơn người Pháp, vị giám mục nhấn mạnh trong tập Nhật kư về Nam kỳ rằng, biện pháp quân sự là điều thực hiện đươc dễ dàng: «Dân xứ này hiền lành, rất kỷ cương, khá dũng cảm. Nhưng bất kỳ ư kiến ǵ của Tây cũng làm họ sợ. Họ thừa nhận chúng tôi vượt xa họ về sức mạnh và họ rất sợ chúng ta... Tôi đă thấy (tại Ấn Độ) trong cuộc chiến vừa rồi, quân lính người Ấn rất sợ quân người da trắng và chúng không thể chịu nổi khi thấy lính da trắng tiến gần. Phương chi cái cảm giác khiếp sợ đó và sự thâm tín về sự yếu kém của họ và sự vượt trỗi của ta càng to lớn hơn biết bao, nơi một nước lần đầu tiên bị quân đội phương Tây đánh bại:

 

     “Bọn lính ngụy (Tây Sơn) có được trang bị súng trường, gươm, lao, tầm vông vắt nhọn v.v... nhưng chỉ năm tên mới mới có một tên cầm súng; và lại họ không thành thạo ǵ trong việc bắn súng và súng thường là rất dở. Họ chẳng được luyện tập ǵ và rất rời rạc, không tập trung. Sau hết, họ chỉ có đại bác trên chiến thuyền, c̣n trên bộ chẳng bao giờ họ dùng đại bác. Như thế th́ dễ thấy ngay rằng, chẳng cần ǵ lực lượng lớn lao mới đánh chiếm được cả nước này, nhưng vị trí của người Pháp trong lúc tới sẽ rất khác. Nhà vua hợp pháp (Nguyễn Ánh) cũng c̣n nhiều người pḥ theo. (...)

 

     “Tóm lại, có quân Pháp tại Nam kỳ sẽ chắn chắn cho phép thay đổi được cán cân ảnh hưởng lớn lao của nước Anh... cho ta nắm được tất cả các mặt biển vùng Trung Hoa và các quần đảo; có thể làm chủ t́nh h́nh cả ngành thương mại trong vùng thế này này”.

 

     Nhờ Giám mục Bá Đa Lộc, một hiệp ước đă được kư kết ngày 28-11-1787 theo đó vua nước Pháp hứa viện trợ quân sự cho Nguyễn Ánh và ông này đáp lễ lại bằng việc nhượng lại cho nước Pháp Côn Đảo và cửa Hội An (Quảng Nam Đà Nẵng).

 

     Từ lâu, người phương Tây, Anh, Ḥa Lan, đă từng coi Côn Đảo là mội địa điểm thuận lợi để thiết lập một thương điểm và một căn cứ quân sự, v́ từ ḥn đảo này, có thể kiểm soát việc tàu bè qua lại từ Xiêm sang Trung Quốc.

 

     Các khó khăn chính trị nội bộ đă không cho phép nước Pháp gửi lực lượng quân sự qua, như đă hứa trong hiệp hước Vécxây. Nhưng Bá Đa Lộc không nản ḷng. Với tài chính của Hội Truyền giáo Pari, với sự ủng hộ tiền bạn của bạn bè và với các phương tiện của bản thân, giám mục đă mua tàu, trang bị khí giới và thuê một số sĩ quan người Pháp. Như vậy ông tính giúp được Nguyễn Ánh đè bẹp Tây Sơn sau một ít năm chinh chiến.

 

     Được tin giám mục trở lại, có sĩ quan Pháp tháp tùng, anh em Tây Sơn rất tức giận. Người ta đọc được lời thổ lộ sau đây của một nhà viết sử truyền giáo: “Các quan Tây Sơn càng tỏ ra gay gắt với Kitô giáo từ khi giám mục thành Ađran trở lại, làm cho họ ngờ vực người Kitô giáo và nhất lá các vị thừa sai, cả hai đều ra sức hổ trợ cho nhà vua hợp pháp (Nguyễn Ánh mà các nhà thừa sai công nhận là vua hợp pháp, c̣n Tây Sơn thí bị gán cho tội phản loạn) được trở lại ngai vàng vua cha. Sự bách hại, vốn chưa hề dứt từ 30 năm qua, đă tái phát dữ dội hơn năm 1798”

 

     Thực ra đây chẳng chỉ có vấn đề ngờ vực, mà là một điều chắc chắn. Vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn đă có lần chận bắt một bức thư Nguyễn Ánh gửi cho giám mục Labarlette, xin đức cha tổ chức một đạo quân gồm người tín đồ Kitô giáo tại chỗ, hầu hỗ trợ cho lực lượng quân Pháp chỉ huy đánh tứ ngoài vào.

 

     Sau hết, Nguyễn Ánh đă lên ngôi năm 1802, lấy tên Gia Long, lập nên nhà Nguyễn, Huế được chọn làm kinh đô. Các nhà thừa sai đang chờ đợi được Gia Long ban cho đặc ân. Nhưng triều đ́nh Huế vẫn tảng lờ các yêu cầu của cái giám mục Pháp.

 

     Một mặt, Gia Long và vua kế tiếp không chấp nhận cho người Việt lai đi theo một tôn giáo vốn cấm việc thờ cúng tổ tiên, song truyền bá những chuyện dị đoan ngoại lai và do những người phương Tây cai quản.

 

     Theo số thống kê năm 1800, th́ hồi ấy con số người công giáo đă lên tớn 320 ngàn, với 119 linh mục Việt Nam chịu sự cai quản của 115 thừa sai và 3 giám mục, trong đó 2 người Pháp và một Tây Ban Nha.

 

     Đàng khác, các vua nhà Nguyễn, đă mang sẵn nỗi âu lo về chủ nghĩa đế quốc phương Tây, đang ngày càng de dọa nghiêm trọng hơn. Nước Anh củng cố quyền thống trị trên Ấn Độ, bằng cách thôn tính châu Úc và Tân Tây Lan và sắp sửa áp đặt ư muốn của họ trên Trung Quốc sau trận chiến thuốc phiện. Nước Pháp đă chiếm Angiêri và đang đi t́m căn cứ trên bờ biển Trung Quốc. Dĩ nhiên các nỗi lo âu ấy không phải là cớ chính đáng cho các cuộc bách hại thời Minh Mạng (1833 và 1838). Theo các sắp chỉ nhà vua, “đạo của bọn Ḥa Lan” là một tà đạo, một đạo bất nhân, cấm đoán việc thờ cúng tổ tiên, một thứ đạo gieo hỗn loạn vào phong tục và trật tự của nước nhà. Nhà vua ra lệnh cấm không cho thừa sai xâm nhập cà xử tử những ai ngoan cố tiếp tục truyền bá Kitô giáo.

 

     Có thể tránh được các vụ đổ máu này, nếu Kitô giáo đến Việt Nam, biết tỏ ra bao dung hơn, cởi mở hơn, biết bám rể sâu hơn và văn hóa xứ sở và khôn khéo hơn. Trong các cơn băo táp này, các cố Tây đă không khôn ngoan, đi cầu cứu với Pháp, vốn là một đế quốc đang chực sẵn cơ hội tốt ḥng xâm chiếm Việt Nam, vịn cớ là để bảo vệ sự tự do tôn giáo.

 

     Ngày 25 tháng 2 năm 1843, thiếu tá Phavanh Lơvéc (Favan-Leveque) chỉ huy chiến hạm Hêrôn được thư cố thừa sai Samedông (Chamaison) đưa tin rằng, chính quyền Việt Nam đang giam 5 thừa sai Pháp tại nhà ngục Huế, bèn đưa chiến hạm tới đ̣i phải thả họ ra. Hai năm sau, tư lệnh hải quân Phocniê Đaypoơla (Forniel-Dupla) thừa lệnh Đô Đốc Xêxin (Cécile) đến Turan (Tourane, tức Đà Nẵng) đ̣i triều đ́nh phải thả giám mục Lơphevơrơ (Lefévre) đang bị giam với bản án tử h́nh. Năm 1847 thiếu tá chỉ huy tàu Lapierơ (Lapierre) lại can thiệp đ̣i thả giám mục Lơphevơrơ, đă bị bắt lại và bị kết án tử h́nh lần thứ hai. Song trong khi các cuộc thương lượng nói trên đang được tiếng hành, th́ hai chiến hạm Pháp đă đánh ch́m 5 tàu chiến Việt Nam. Theo thông tấn Pháp, th́ tàu Việt Nam đă tấn công chiến hạm Pháp trước, nhưng điều đó khó má xảy ra, bởi vỉ tàu Việt Nam lúc đó chỉ là những chiếc ghe được trang bị bằng súng nhỏ thôi.

 

     Vua Thiệu Thị tức giận, ra 4 sắc chỉ cấm đạo trong những tháng sau đó. Các tín hữu Việt Nam lại một lần nữa làm nạn nhân của thái độ người Pháp, mệnh danh là đem đến cho họ quyền tự do thờ cúng!

 

     Tiếc thay, các cố Tây không rút ra được bài học từ kinh nghiệm bi thương đó. Lúc này, trong hạm đội Pháp rải khắp vùng biển Trung Quốc, quá vị thừa sai Pháp ngày càng tin chắc rằng họ phục vụ lợi ích của đất nước họ, và cũng làm lợi cho đạo, khi họ yêu cầu nước Pháp can thiệp quân sự vào Việt Nam. Quả thực, làm sao nước Pháp có thể bỏ rơi việc này? Năm mươi năm trước đó, trong những giờ đen tối của Giáo Hội Pháp, khi các tu sĩ Pháp bị trục xuất, giản tán, khi má các hội Ḍng đều bị cấm đoán tại Pháp, họ hặp được những kẻ bênh vực cho công lao của họ một cách danh chính ngôn thuận. Chỉ cần đọc bản báo cáo của Poctalix (Portalia) ngày 6-11-1802 th́ đủ rơ tâm t́nh của nước Pháp, bài giáo sĩ, tỏ ra thế nào với các cố thừa sai như sau:

 

     “Những sự dễ dàng mà các vị thừa sai đă có được để thiết lập các thương trấn tại những miển đất xa xôi nhất, đă mở rộng cửa cho họ khuếch trương ngành thương mại của nước ta, mở ra những tuyến giao lưu mới và chuẩn bị khơi nguồn cho nhiều tài sản mới. Họ là những bị thừa sai đă mang tới mút cùng trái đất, cái tên vinh quang của nước Pháp, đă phát triển ảnh hưởng của Pháp và cho nước Pháp có được những quan hệ mới với các dân tộc mà bấy lâu thiên hạ chưa hề biết tới. Chính các vị thừa sai này đă đem lại cho chúng ta, mỗi lần họ về thăm gia đ́nh, những hiểu biết về nghệ thuật và khoa học: Chính các vị thừa sai đă nâng lên số lượng các phương tiện sinh sống của chúng ta, bằng cách thích ứng tại nước ḿnh các sản phẩm vốn là hoa quả của miền đất khác, thuộc khí hậu khác... Chính các nhà thừa sai Pháp, từ năm 1660 đă giúp cho nước Pháp biết được những mối lợi quan trọng có thể thu được, từ các quan hệ với các dân tộc châu Á và năm 1669 đă tạo cơ sở hầu thiết lập nên Công tu Ấn Độ đầu tiên của Pháp. Họ đă xin được vua Xiêm chấp thuận cho tàu bè Pháp khỏi đóng thuế cập bến bỏ neo và cũng chính các vị ấy đă thuyết phục nhà vua cho một cửa khẩu và một hồn đảo gần Mécghi (Merguy) trong vịnh Bănggan (Bangale) để tàu thuyền qua mùa đông, hoặc sửa chửa. V́ thế, chính sách nhà nước chớ coi thường các tổ chức (tôn giáo) có khả năng đóng góp hữu hiệu đến thế cho sự phồn vinh của quốc gia” .

 

     Bài ca ngợi đó đă được đọc lên do một nhân vật rơ ràng không thể bị ngờ vực là bợ đợ cha cố hoặc có ḷng đạo đức ǵ lắm. Nó tỏ ra cho thấy rơ các thực tế lịch sử và những lợi lộc về kinh tế cũng như chính trị, nhờ hoặt động của các cố thừa sai.

 

     Nhưng giữa thế kỷ XIX, nghề buôn bán đă bị vượt xa bởi nhu cầu bành tướng thuộc địa. Châu Âu kỹ nghệ hóa cần có thị trường tiêu thụ và nguyên liệu. Lợi dụng vụ tàn sát một vài vị thừa sai Pháp ở Việt Nam, cành hữu tư sản công giáo, Pháp đă làm áp lực để chính quyền đệ nhị cộng ḥa khai thác các điều vụng về của nhà vua Việt Nam, hầu đánh chiếm nước này. Ơ-gen Vơi-do (Eugene Veullot) đă viết: “Quyền lợi con người mà châu Âu kitô phải bắt buộc các dân mọi rợ tôn trọng và việc quan tâm bảo vệ danh dự của chúng ta, đ̣i chúng ta phải trả thù cho các vụ xâm phạm đến đồng bào chúng ta tại đất Annam.

 

     5. THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GƯƠM

 

     Hai nhân vật quan trọng trong việc cổ vũ việc Pháp xâm lăng Việt Nam là giám mục Pelơranh (Pellerin) cai quản địa phận Huế và linh mục Huc, cựu thừa sai truyền giáo. Giám mục Pelơranh đă khẳng định trước mặt triều đ́nh Napôlêông III rằng: “Nếu quân Pháp đánh chiếm nước này, th́ giáo dân bản xứ sẽ tiếp đón họ như những kẻ cứu tinh”. Linh mục Huc cũng viết thư cho vua rằng: “Chiếm lấy Nam kỳ là việc dễ dàng nhất trần gian, nó sẽ đem lại những kết quả vô cùng to lớn. Nước Pháp hiện có tại biển Trung Quốc những lực lượng dư sức để tiến hành công việc đó. Dân bản xứ th́ hiền lành, siêng năng, rất dễ đón nhận đức tin Kitô giáo và đang rên siết dưới ách tàn bạo ghê tởm. Họ sẽ tiếp đón chúng ta như những người giải phóng, những vị ân nhân. Chỉ cần ít lâu thôi là đem họ theo đạo được hết và làm cho họ nhiệt t́nh yêu mến nước Pháp”.

 

     Chưa từng có luận điệu tuyên truyền tài t́nh tinh vi mức ấy! Bọn tư bản gặp được nơi những lời khẳng định lặp đi lặp lại đó, những công cụ hầu đánh lừa nhân dân Pháp. Đám quân sự hoan hỉ lao vào những cuộc viễn chinh dễ dàng như thế.

 

     Năm 1856, thiếu tá M.đơ Môntinhi chỉ huy chiến hạm Lacaprixơdơ (La Capricieuse) tới Đà Nẵng, với mục đích đ̣i vua Tự Đức nhường hải khẩu đó cho Pháp, để cho người Pháp được hoàn toàn tự do buôn bán trên khắp cả nước và tự do giảng đạo công giáo. Viên thuyền trưởng tiếp giám mục Pelơranh cai quản địa phận Huế tại chiến hạm của ông. Giám mục lên tàu cung cấp cho ông các tin tức t́nh báo và nhân danh toàn thể các thừa sai t́m hiểu xem mục đích thật chiến hạm tới đây làm ǵ. Tự Đức không muốn nhượng bộ, c̣n Đơ Môngtinhi lại không có đủ số quân để chiếm cả nước, hoặc trừng phạt kẻ thù theo lời thỉnh cầu của các thừa sai. Chiến hạm Lacaprixơdơ rời Việt Nam mang theo giám mục Pelơranh, người có vũ chủ chốt việc Pháp xâm chiếm Việt Nam.

 

     Cử chỉ của Đơ Môngtinhi gây phản đối khắp nơi từ phía các cố thừa sai. Các ông này gửi về Pháp những bức thư tỏ thái độ tức giận. Giám mục Roto (Retoro) viết trong thư đề ngày 24-6-1857: “Chưa bao giờ gặp phải một thất vọng ê chề như thế: Phần chúng tôi phải nói rơ thôi, chúng tôi đă se cả tấm ḷng ḿnh lại, khi trông thấy cả ṭa nhà huy vọng ḿnh ôm ấp trân trọng đă sụp đổ nhanh như thế, rồi nghe lặn đi lặp lại bên tai người Pháp chúng tôi những lời hết sức khó chịu, chẳng hạn: Bọn họ kéo tới mà ḿnh có mời đâu, rồi họ bỏ đi sau khi làm hại chúng ḿnh... Hậu quả của tất cả việc đó là ǵ? Là đem chúng tôi ném vào răng cọp, sau khi đă chọc tức nó mà hại chúng tôi». Và chính giám mục kể trên lại kêu lên trong một bức thư khác: «Chúng tôi đă hy vọng biết bao khi mới nghe tin cuộc hành quân sắp tới nơi, để đ̣i cho chúng tôi cách này hay cách khác một sự b́nh an và sự tự do hoàn toàn, để báo thù cho danh dự nước Pháp đă bị xúc phạm quá lâu nay rồi... Thất vọng biết chừng nào thật ê chề khi biết chắc chắn rằng lính Pháp đă chẳng chịu làm ǵ hết trơn”.

 

     Và linh mục thừa sai Têôphan Vêna (Théophane Vénard), rồi đây được phong Á thánh như một vị thừa sai lừng danh nhất của Hội thừa sai Pari và của Việt Nam, đă viết cho thân phụ hồi tháng 6 năm 1857 như sau: “Dân chúng cả nước, lương cũng như giáo, đều vổ tay và tỏ ḷng hoan hỉ, nhưng nghĩ rằng ông vua tàn bạo của họ sắp bị truất phế. Nhưng thấy quân đội Pháp chúng ta chỉ tạo ra nguyên chuyện lạ thôi, rốt cùng họ bị dân chúng chế diễu, c̣n chúng con th́ chỉ lănh đủ sự ô nhục, những người thừa sai nghè hen, những đứa con của nước Pháp, một vương quốc cao sang.

 

     Các cuộc viễn chinh hèn nhát kiểu đó chẳng xứng đáng chút nào với nước Pháp, vốn mang một quả tim quảng đại đến thế. Nếu nước Pháp chịu làm việc ǵ trước thế giới, th́ phải làm một cách vĩ đại mới hợp với bản chất vĩ đại của nó”.

 

     Quả đúng, qua cuộc hành quân kể trên, quân Pháp đă làm Tự Đức nổi giận lôi đ́nh. Một sắc chỉ cấm đạo ngặt hơn, tàn ngặt hơn, tàn bạo hơn, đă được đưa ra đàn áp, nhằm mục đích phá hủy toàn bộ hạ tầng cơ sở của cái tôn giáo cấu kết quá chặt chẽ như thế với quân Pháp. Vua đă sai lầm khi đánh giá t́nh h́nh ngoài mặt, không nghĩ tới nguy cơ sắp đổ xuống trên đất nước ḿnh. Phần vua Nepôlêông III, chịu sự áp lực của giám mục Pelơranh từng hứa rằng tất cà tín hữu người Việt sẽ hợp tác tới toàn diện với quân Pháp, vua cũng nghi vị giám mục đó và vị thừa sai khác giải thích cho hiễu rơ t́nh h́nh lực lượng quân sự và các điểm chiến lược của Việt Nam, nên đă ủy nhiệm cho phó đề đốc Rigê đơ Giơnuiy (Rigault de Genouilly) đánh chiếm Việt Nam. Ông này đă nhận được lời mời giám mục Rơto căn dặn như sau: “Nếu Ngài đô đốc muốn thực hiện công việc một cách vững chắc, bền bỉ, vừa đem lại vinh dự cho nước Pháp, vừa làm lợi ích cho nước Pháp, hoặc là đặt một ông vua có đạo dưới quyền bảo hộ của nước Pháp để ta chiếm giữ hải cảng và các hồn đảo vịnh Turan (Đà Nẵng) một cách vĩnh viển”.

 

02

     Trên chiến hạm Nêmêdix (Némésis), Rigô đơ Giohuiy có giám mục Pelơranh bên cạnh, đảm bảo việc giao liên với các thừa sai và tín đồ kitô, vốn được chỉ thị cung cấp cho đô đốc các tin t́nh báo về vị trí các đội quân Việt Nam và các vụ chuyển quân. Được vị giám mục đảm bảo rằng hễ trông thấy hạm đội hùng mạnh của Pháp và Tây Ban Nha tới (bởi v́ quân Tây Ban Nha ở Manila đă phái một trung tá để tham dự cuộc hành quân “trừng phạt” với Pháp) th́ tất cả dân chúng giáo lương sẽ nổi loạn chống nhà vua và việc đánh chiếm nước này chỉ là việc làm và ba hôm là đô đốc Rigơ đơ Giơhuiy bèn triển khai đội h́nh 14 chiến hạm ngay trước vịnh Turan. Nhưng đă xảy ra bất đồng về chiến lược giữa giám mục và phó đô đốc. Do thiếu kết hợp các tin t́nh báo và chiến thuật, quan Pháp đă bắc phá cản Turan ngày 31-8-1858 nhưng rồi do dự không muốn về thủ đô Huế đang được bảo vệ bởi những tướng lănh giỏi nhất của Việt Nam.

 

     Bỏ lại Turan một đơn vị đóng chốt, Đơ Giơhuiy xuống đánh chiếm Sài G̣n và các tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Sài G̣n thất thủ, nhưng cuộc kháng chiến được tổ chức tiếp tục xung quanh các vùng đât bị chiếm đóng, tạo ṿng vây phong tỏa tiếp viện. Binh lính Pháp có thể chết đói tại đây, nếu giám mục Lơfevơrơ đă không kịp thời vận động giáo dân tiếp viện.

 

     Năm 1860, cuộc hành quân Pháp-Anh đánh Bắc kinh bắc buộc quân Pháp phải tạm hoăn công việc chinh phục Việt Nam. Vua Tự Đức lợi dụng thời hạn đó để tổ chức tự vệ. Vua nói: “Cần phải diệt tận gốc cái đạo tàn ác kia đi, bởi nếu không có bọn tín đồ, th́ lũ quân man rợ phương Tây sẽ không có ai phù giúp không nhận được tiếp tế ǵ hết. Thiếu tiếp viện th́ chúng phải rời khỏi nước ta thôi”.

 

     Nhưng, sau sự thất bại ở Bắc kinh, quân Pháp quay lại mạnh mẽ thêm và quyết tâm dánh chiếm toàn bộ nước Việt Nam. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, nhà vui đă phải kư ḥa ước ngày 5 tháng 6 năm 1862, nhượng cho nước Pháp 3 tỉnh, bồi thường chiến tranh 20 triệu tiền Pháp và ban bố tự do thờ cúng cho người công giáo.

 

     Trong việc tổ chức cai trị các vùng đất chiếm được bọn quân Pháp chiêu mộ người hợp tác, nhưng theo lời đô đốc Riơniê (Rieunier), chúng chỉ gặp được «tín đồ kitô hoặc những tên vô lại». Bốn ngàn giáo dân đến quây quần xung quanh bọn xâm lược. Thật dễ đoán biết sự tức giận phẫn nộ không những của triều đ́nh Huế mà cả trong dân chúng người “lương” nổi lên cao độ chừng nào. Các sắc chỉ cấm đạo công bố giữa năm 1859 và 1861 là gay gắt và nghiêm khắc nhất từ trước tới nay.

 

     Sắc chỉ 17-1-1860 truyền phải phân tán người công giáo tới sống xen ở giữa các làng người lương, đễ mỗi tín đồ phải có 5 đồng bào lương kiểm soát. Tất cả các làng và nơi thờ tự của công giáo phải triệt hạ; tài sản của người công phải bị tịch thu và sau hết phải khắc chữ TÀ ĐẠO lên má các tín đồ.

 

     Sau ḥa ước 1862, Tự Đức công bố ân xóa khắp cả nước. Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của vua, vua ra lệnh tha cho tất cả các tín hữu kitô đang bị tù, cho những người bị phân sáp trước đó được trở về làng cũ, được nhận lại tài sản của họ, nhà cửa, ruộng đất, và c̣n được miễn thuế và được sống yên thân.

 

     Tại Nam kỳ, trừ tín hữu kitô và những tên xu thời, nhân dân dân các vùng bị chiếm đóng đều tổ chức kháng chiến chống Pháp, dưới sự lănh đạo của những nhà chí sĩ yêu nước xuất thân từ quần chúng. Đây là loại chiến tranh du kích, được tiến hành vừa táo bạo vừa rất tài t́nh. Trong cuốn sử viễn chinh Nam kỳ, Panluy đơ la Berierơ (Pallu de la Barriere) mô tả theo điều tai nghe mắt thấy như sau: “Thực tế là đâu đâu cũng có các ổ kháng chiến, nó chia nhỏ li ti ra, có thể hầu như nói được rằng mỗi người An Nam là một ổ kháng chiến. Đúng hơn, phải kể mỗi người nông dân đang bó lúa là một điểm du kích! Và chiến thuật này khiến quân lính Pháp chẳng c̣n biết đâu mà ṃ: Thật không có màng kịch nào buồn tẻ hơn, đơn điệu hơn, mệt mỏi hơn cái thảm cảnh quân lính Pháp ở trên đất cũng như nơi mặt biển. Một tên địch ḿnh trông thấy hoài, nhưng một tên khác lại ngụy trang dấu mặt. Cứ thấy kẻ thù luôn luôn thoát khỏi tầm tay, khiến có cảm tưởng như chúng ta chỉ bắn vào không khí”

 

03

    Trước cuộc nổi dậy khắp nơi như thế, quân Pháp bèn tổ chức tiến công và chiếm đóng toàn bộ Nam kỳ vào năm 1867. Song dầu thấy quân địch thu được những chiến thắng cách chớp nhoáng và quan trọng như thế, du kích quân người Việt vẫn không bỏ cuộc kháng chiến. Và bởi xác tin rằng người công giáo đồng lơa vớn bọn xâm lược, họ cũng coi luôn tín đồ là kẻ thù của ḿnh. Theo ông Nguyễn đ́nh Chiểu, một nhà thơ Việt Nam yêu nước, th́ «dân chúng bị tiêm nhiểm phải cái đạo tà nên kẻ thù xâm chiếm nước nhà mà chẳng ai chống cự lại». Và nhà thơ này cũng liên tưởng đến các chiến công của kháng chiến vốn chỉ được trang bị thô sơ, đă viết trong bài thơ phúng điếu các chiến sĩ Cần Giuộc như sau: «Hỏa pháo chỉ dùng ngọn đuốc rơm, đă đủ thiêu rụi một chủng viện. Dùng cây dao làm kiếm, cũng chặt được đầu tên thiếu úy».

 

     Ở đây, nên ghi nhận cái ư tinh vi của vần thơ Việt Nam, đặt chủng viện thừa sai song song với thiếu úy thực dân. Thời gian này, tại Sài G̣n đă bị chiếm các hội thừa sai tổ chức xây dựng trường học, tu viện, nhà thương theo kiểu phương Tây.

 

     6. GIÁM MỤC PUY-GI-NIÊ.

 

     Sau khi đă chiếm xong toàn bộ Nam kỳ, quân Pháp vội vàng đi thăm ḍng sông Mêkong, mục đích là t́m một đường giao thương với Trung Quốc. Họ thấy ngay, không thể ngược ḍng sông này lên tới Trung Quốc. Họ bàn quyết định cho tàu đi ngược ḍng sông Hồng ở Bắc kỳ.

 

     Năm 1873, Giăng Đuypui (Jean Dupuis), một tay mạo hiểm Pháp, vịn cớ phải ngược ḍng sông Hồng để bán vũ khí cho người Hoa, đă chống lại lệnh cấm của nhà cầm quyền Việt Nam. Thiên hạ biết rằng y đă nhận được tiếp viện hùng mạnh của đô đốc Đuyporé (Dupre) thống sứ Nam kỳ, thuộc địa Pháp kể từ 1868. Trong một thư gửi giám mục Xôhiê (Sohier) địa phận Huế ngày 6.10.1873, y thổ lộ: “Hẳn đây là vấn đề đặt cơ sở cho ảnh hưởng Pháp dọc bờ sông Hồng và chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ cả Bắc kỳ luôn”. Quả là một thách thức đối với chính quyền Việt Nam.

 04 

     Theo tin t́nh báo nhận được từ các thừa sai tại Bắc kỳ, quân Pháp nắm được t́nh h́nh chính trị của miền Bắc Việt Nam, Lê Bảo Phụng, từng bí mật quan hệ nhiều với quân Pháp, đă tổ chức một cuộc bạo loạn gây bất ổn cho xứ sở. Đàng khác, các toán quân Cờ Trắng, Cờ Vàng, Cờ Đen người Hoa cướp phá khuấy nhiễu nhiều vùng tại đất Bắc. Những bọn này trước kia ở trong quân đội của Tai Pinh, nhưng rồi đă bị quân chính qui Trung quốc săn đuổi. Nắm vững t́nh h́nh đó nhờ các cố thừa sai, quân Pháp t́m cách để nhảy vào. Cớ đây rồi: Đuypui bị các nhà cầm quyền Hà nội bắt giữ. Đuypơrơ phái Phrăngxít Gacníe (Francis Garnier) dẫn một hạm đội tiến ra. Tới Hà nội, Phrăngxít Gác-niê đơn phương ra lệnh thả Giăng Đuypuy, phải mở sông Hồng cho tự do giao thông và băi bỏ quan thuế ở đây. Đứng trước khước từ của nhà cầm quyền Việt Nam, Gacniê đánh chiếm Hà nội ngày 19.11.1873. Ông bắt liên lạc ngay với giám mục Puyginiê: “Thưa đức cha, không ai am tường Bắc kỳ bằng Đức cha và đức cha lại có ḷng yêu mến nước Pháp. Đức cha có vui ḷng giúp tôi cũng cố những ǵ chúng ta đă chiếm được bằng cách chỉ cho tôi những người bản xứ có khả năng cai trị dưới quyền tôi không?” “Dĩ nhiên sự hợp tác của giám mục Hà nội là điều đă ăn chắc từ trước rồi”. Khi ngọn cờ Pháp xuất hiện ở Bắc kỳ, giám mục mừng vui sung sướng, Ngài ra sức giúp quân lính chúng ta tất cả những việc ǵ có thể thích hợp với vị trí một giám mục thừa sai tại Bắc kỳ “sử gia đă ghi rơ như thế trong cuốn sử về cuộc đời giám mục. Giám mục đă đóan chắc binh lính rằng ông có thể nhập ngũ dưới ngọn cờ của kẻ chiến thắng, bởi v́ ngọn cờ này là cờ nước Pháp. Nhờ người công giáo, Phrăngxít Gácniê đă chiếm được Nam Định, Hải Dương và những vùng khác thuộc đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng. Nhưng, mặc dầu được giám mục bảo là phải cảnh giác, Gácniê đă bị giết ngày 21.12.1873 trong một cuộc phục kích tại Cầu Giấy. Đám tang của y được cử hành trọng thể bởi giám mục Puyginiê với hai giám mục Pháp khác.

 

     Chiến thắng và cái chết của Phrăngxít Gácniê đă gây ra sau đó những cuộc bắt đạo dữ dội. Theo tài liệu của chính quyền Nam kỳ, mỗi lần quân đội Việt Nam bị thất bại, th́ dân chúng người lương lại thêm căm thù dân công giáo: “Nhiều cuộc tàn sát đốt làng đă theo sau vụ Nam Định bị quân Pháp đánh chiếm ngày 9.12.1873. Tại các tỉnh Nam Định, Ninh B́nh, Hà Nội những cảnh đó trở nên rất tàn bạo, khi người ta nghĩ rằng sau cái chết của Gácniê quân Pháp có thể rời bỏ Bắc kỳ”.

 

     Chẳng cần nhấn mạnh liên hệ nhân quả ở đây, tài liệu trên kể thêm rằng: “Cơn bắt đạo xảy ra sau sự rút lui của chúng tôi khỏi Bắc kỳ đă không hoành hành trong các địa phận thuộc Ḍng Đa-Minh Tây Ban Nha cai quản. Các thừa sai của họ vẫn được tự do tương đối và đă được đối xử khoan hồng. Giám mục (Côlomer) đă được vua Tự Đức cấp cho đất xây nhà thờ và nhiều huân chương vàng bạc tưởng thưởng họ, v́ đă đóng góp tốt cho việc giữ ǵn tri an trong các tỉnh mạn đông sông Cái (tức sông Hồng)”.

 

Trong một tài liệu song song - truyền đơn do các chí sĩ Nghệ Tĩnh tung ra năm 1871 - người ta đọc thấy những lời tố cáo thừa sai như sau: “Từ bên ngoài, từ bên trong, bọn chúng (người Tây) gặm dần đất nước ta như tằm ăn dâu: nhà thờ mọc lên, dân chúng theo đạo, rơ ràng là nguy cơ trước mắt đó, đất nước ta đang bị xói ṃn dần, ngay dưới bàn chân”.

 

     Cho tới ngày chết, 25.4.1892, giám mục Puyginiê chẳng bỏ qua bữa nào mà không hoạt động để cũng cố thêm vị trí nước Pháp tại xứ sở con nuôi này của ông. Người ta đang giữ được hàng chục điệp văn và bản tin t́nh báo mang chữ kư của ông trong văn khố của Bộ thuộc địa. Và một phần nhờ các bản tin đó mà quân Pháp đă có thể dập tan cuộc kháng chiến vũ trang của Người Việt Nam. Cuộc kháng cự hùng mạnh nhất đă xảy ra tại Ba Đ́nh, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Bề ngoài, đó là một loại làng được biền thành căn cứ, được lũy tre bảo vệ, có thành, có đường hầm và hệ thống giao thông hào được bố trí rất thông minh. Tinh thần các chiến sĩ lúc đó rất cao. Nhằm «b́nh định» cứ điểm này, quân Pháp đă gửi tới một lực lượng gồm 2250 tên lính, 25 đại bác, 4 pháo hạm dưới quyền chỉ huy của trung tá Métxanhgiê (Metzinger). Cuộc tấn công ngày 16-12-1886 bị đẩy lùi. Quân Pháp phải tổ chức bao vây để t́m hiểu chiến thuật mới. May cho chúng, v́ có một sĩ quan trẻ, đại úy Giôphơrơ (Joffre sau này là thống chế Pháp trong chiến tranh thế giớ thứ nhất) nghĩ tới việc nhờ linh mục Trần Lục, quản xứ Phát Diệm và là Phó vương, tiếp trợ cho cuộc b́nh định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông linh mục này đă nhận phép lành của giám mục Puyginiê, rồi đi tiếp viện cho quân Pháp với 5000 giáo dân, Ba Đ́nh đă thất thủ.

 

05   Thật đau ḷng cho một sử gia người Việt Nam công giáo khi phải nhắc lại những năm  tháng ấy, thấy quân đội Pháp hành quân “b́nh định” chỉ được nghĩ ngơi trong các làng giáo: “Sau một cuộc hành quân mệt ră rời, quân lính của ta kiệt sức v́ thiếu ăn, mà tiến vào một làng người lương th́ thường chỉ được ăn đạn. Nhưng nếu gặp được làng người công giáo th́ trẻ con chạy ra đóng đường và kêu ầm lên: Công giáo, công giáo đây! để quân chúng ta biết rằng chẳng có ǵ phải sợ ở đó, rồi dân làng đem chuối, trứng, gà ra chiêu đăi. Sự khác biệt thật rơ ràng và là điều đáng ghi nhớ nhỉ?”. Những gịng trên đây chẳng phải do một bàn tay Cộng sản ghi lại, mà là do một tu sĩ ḍng Tên đă say sưa thích thú về thái độ của người có đạo kitô lúc đó nghĩ rằng bổn phận của họ là phải hợp tác (với Pháp) v́ ḿnh là người công giáo (F. Rouvier, Loin du Pays, Paris 1896, tr/ 103-104).

 

06     Cụ Phan Bội Châu, một chí sĩ yêu nước, đă gửi cho họ những lời tâm huyết trong cuốn Việt Nam vong quốc sử, xuất bản năm 1905 như sau: “Có một hạng người mà tổ tiên là Việt Nam, nhưng đă cùng vợ con trở thành tín đồ kitô. Này, hăy nghe tôi nói. Chúng ta đều sinh ra trong cùng một xứ sở, chúng ta cùng sống với nhau dưới gầm trời, cùng ăn một thứ cơm gạo... Bởi thế, chúng ta phải liên kết với nhau hầu bảo vệ giống ṇi, hơn là qú gối trước mặt quân thù. Sau cái chết của các ngươi, có thể các người lên thiên đường, nhưng bây giờ đây, các ngươi phải cầu nguyện cho ḥa b́nh; cuộc sống của các ngươi tại ngục tù trần gian này thật là khốn khổ, tại sao các người lại dững dưng được? Quả thực, mặc dầu là kitô hữu, các người thảy là người dân Việt Nam. Các người đừng đi theo quân Pháp, đừng giúp chúng nó làm hại Tổ quốc chúng ta. Như vậy, các người sẽ lập được công đức trung thành với Chúa, môn đồ của Đấng Kitô Cứu Thế, đồng thời thật là đồng bào Việt Nam”.

 

     7. GIÁO HỘI DƯỚI CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA.

 

     Từ ngày xâm chiếm Viêt Nam cho tới năm 1945, quân Pháp hằng phải đương đầu với các cuộc nổi dậy liên tục, lúc th́ rộng lớn, khi th́ giới hạn hơn. Không những nhân dân Việt Nam v́ hănh diện với nền băn hóa 4000 năm, không thể chịu cái nhục bị đô hộ, nhưng cũng v́ thế chế độ cai trị thuộc địa đă giam hăm họ măi trong sự nghèo khổ, dốt nát và bất công. Với những ly rượu, ly thuốc phiện, bọn thực dân bắt quần chúng say sưa quân cả bản thân và nghiện ngập đến trở thành đần độn như súc vật. Cứ đọc chẳng hạn những bản báo cáo mà phủ toàn quyền gửi về cho Bộ thuộc địa Pháp, sẽ thấy Báo cáo ngày 29-1-1908 viết: «Việc bán rượu trong cùng một thời kỳ (tháng 10-1907) đă vượt con số 700 ngàn lít, nhưng giảm mất 60 ngàn lít so với tháng trước... C̣n thuốc phiện trái lại mức bán có gia tăng luôn. Tháng 10, đă bán được gần 1.800 kí thuốc phiện, nghĩa là gần gấp đôi số lượng đă bán cùng kỳ năm 1906”.

 

     Báo cáo ngày 19-2-1908 ghi: “Việc tiêu thụ rượu tháng 11-1907 đă lên tới 744.798 lít, vượt tháng 10 được 40.957 lít, nhưng thấp hơn tháng 11 năm 1906, v́ năm ấy đă bán tất cả 923.245 lít rượu. C̣n việc bán thuốc phiện vẫn gia tăng một cách rất đáng phấn khởi”.

 

     Vài ví dụ đó chỉ rơ công tŕnh văn minh “Thiên Chúa Giáo» người Pháp thực hiện tại Việt Nam đứng ở mức đạo lư cao chừng nào. Tuy thế, trong thời kỳ này, công giáo vẫn đang phồn thịnh và ngày càn một phát triễn hơn. Có vài người lănh đạo công giáo Việt Nam c̣n dám gọi thời thuộc địa đó là «thời vàng son của Giáo Hội tại Việt Nam”.

 

     Việc phát triển công giáo trước hết là về mặc kinh tế. Nhằm tỏ ḷng tri ân đối với các hoạt động thừa sai ngày 28-8-1962, tức chỉ 2 năm sau khi chiếm được 3 tỉnh ở Nam kỳ, toàn quyền thực dân đă ra nghị định dâng “nhưng không cho Nhà Chung mạn Tây Nam kỳ, hoàn toàn được chủ quyền về một sở đất tọa lạc tại Sài G̣n”. Đàng khác, mặc dầu có luật tách biệt Nhà thờ khỏi Nhà nước được bỏ phiếu năm 1905 và áp dụng tại “mẫu quốc” rồi, luật đó vẫn không bao giờ được công bố và áp dụng tại thuộc địa. Nhiều vụ nhượng đất đai đă được thực hiện cho Nhà Chung, chẳng hạn những năm 1923, 1926, 1927, 1930, 1931, không nói tới các vụ hiến đất «cách riêng tư», một số quan người Pháp đă lấy đất công dâng cho Nhà chung, thể theo ḷng đạo đức cá nhân của họ.

 

07  08 

     Nhà  Thờ lớn ở Hà  Nội và Nhà thờ  “Đức Bà” ở Sài G̣n

 

     Năm 1939, tài sản của Nhà Chung thừa sai Pháp trị giá trên 5 triệu đồng, tức là trên 50 triệu quan tiền Pháp. Trị giá đó là chính thức, nhưng theo các luật gia thuộc địa Caratini và Gơranggiăng (Grandjean) th́ thấp hơn giá trị thực tế và không bao gồm tất cả các tài sản của Giáo Hội, v́ đă bỏ ra ngoài của của cải các xứ đạo và nhiều pháp nhân giáo hội khác vốn có quyền sở hữu. Tài sản các Nhà Ḍng Đaminh Tây Ban Nha cũng rất quan trọng. Nói cho đúng th́ một phần các tài sản của Ḍng, nhất là đất đai và ruộng vườn thường là của trối, hoặc của dâng cúng từ phía giáo dân. Nhưng các Nhà Chung được liệt vào hạng địa chủ lớn nhất thời ấy.

 

     Cũng có thể nhắc thêm một số đặc ân quan trọng, Nhờ một nghị định ngày 8-2-1868, giám mục Sài G̣n được miễn cước phí về toàn bộ thư tín chính thức gửi cho nhà cầm quyền và cho các thừa sai. Năm 1877, người ta cũng cho ṭa giám mục Sài G̣n được miễn phí khi đánh điện tín theo nhu cầu công việc của Nhà Chung. Ngày 22-8-1867, một quyết định của Nhà nước thuộc địa ra lệnh cấp cho ṭa giám mục Sài G̣n 4000 quan. Sau cùng, theo nghị định ngày 14-12-1868, «các phần tử giáo sĩ tại thuộc địa, khi đi dưỡng sức th́ được Nhà nước trả cho 50% phí tổn trong 5 tháng nghỉ đầu». Năm 1872, chính quyền Nam kỳ ban cho Nhà chung Sài G̣n một khoản trợ cấp hàng năm là 170.000 tiền Pháp. Số ngày đă bị cắt từ năm 1882 theo sau việc khiếu nại của những người ngoài công giáo. Năm 1887, nhà nước Nam kỳ đă cấp cho các Nhà Chung ở Bắc và Trung Việt Nam số tiền 50.000 quan Pháp.

 

     Nói cho đúng th́ với các tài sản và đặc ân kể trên, Giáo hội đă lo mở mang một hệ thống trường tư thục khác nổi tiếng, tạo dựng các nhả thương (nơi đó các nữ tu người Tây lănh lương tháng 75 đồng, c̣n các chị người bản xứ chỉ được 30 đồng, theo nghị định ra ngày 9-7-1921) và các trại chăm sóc bệnh cùi, cũng như thiết lập nhiều cơ sở từ thiện lớn.

 

     Xét về dân số, th́ người công giáo đă tăng gấp 3 lần trong ṿng một thế kỷ (từ 600 ngàn vào thời đầu đô hộ lên tới một triệu 700.000 năm 1945). Nhưng giáo dân hầu hết là nông dân, thường th́ khi theo đạo để được chở che khỏi bị các quan chức thối nát quấy nhiễu và đôi khi c̣n được đảm bảo chén cơm độ nhất.

 

     Hồi đầu, Giáo hội tỏ ra rất dè dặt đối với Văn Thân. Năm 1887, toàn quyền Lanetxăng (Lanessan) chính thức đến thăm giám mục Hà Nội là đức cha Puyginiê. Sau đó Lanetxăng thuật lại rằng: “Bởi thấy đức cha cứ nói đi nói lại về vấn đề Văn Thân, tôi mới đặt ra cho đức cha câu hỏi: Đức cha nghĩ nước Pháp phải đối xử với họ thế nào? Đức cha trả lời dứt khoát ngắn gọn rằng: “Phải tiêu diệt bọn họ đi”, vừa nói vừa đưa tay ra dấu, cho thấy rỏ thái độ dứt khoát của Đức Cha. Tôi mới hỏi: Tại sao thế? Đức Cha trả lời: Tại v́ bọn Văn Thân rất có ảnh hưởng, họ có uy tín lớn và một khi được làm quan là thiên hạ kính trọng họ, v́ vậy nhất thiết phải thanh toán bọn họ đi. Bao lâu c̣n Văn Thân, chúng ta sẽ phải lo lắng đủ thứ, bởi v́ bọn họ quá yêu nước, không thể nào chấp nhận sự cai trị của chúng ta. Hơn nữa, chẳng bao giờ một người Văn Thân chịu theo đạo Kitô”.

    

     Mặc dầu ngành giáo dục Kitô giáo có phát triển, hạn trí thức người Việt nói chung vẫn không đón nhận đức tin Kitô giáo. Phần lớn họ cho rằng công giáo phải chịu trách nhiệm về việc đất nước mất độc lập (cứ đọc các tác phẩm lịch sử, hoặc tiểu thuyết lịch sử th́ đủ rơ điều này). Một số người khác nghĩ rằng, mặc dầu Giáo hội có cơ cấu rất mạnh, nhưng vẫn hoàn toàn nằm bên ngoài nền văn hóa Việt Nam.

 

     8. CHỦ NGHĨA PHONG KIẾN TRONG ĐẠO.

 

     Phải nói rằng cá cố thừa sai, do màu da và chiếc áo chùng thâm của họ, họ đứng ở một vị trí rất cao trên chiếc than xă hội. Người ta phải cung kính họ ngang với các quan đầu tỉnh (gọi là công sứ tại hai miền Trung và Bắc). Và nhiều ông đă lợi dụng vị trí của họ như thế để cai quản theo kiểu bạo chúa. Một vài thí dụ. Cố Antôn đi qua một làng lương, trên người mang áo chùng thâm và áo các phép. Một số thiếu niên người lương thấy cố ăn mặc kỳ cục th́ cười diễu, có vài trẻ dám chửi rủa cố. Trở về nhà tức giận, tập hợp giáo dân lại, ra lệnh cho họ đi ruồng qua làng lương kia, trừng phạt đích đáng mấy đứa có tội, nghĩa là đánh đập tất cả những người họ bắt gặp ngoài đường tung hoành trong làng ấy như đối với quân thù vậy. Các cụ bô lăo trong làng lương bèn gửi khiếu nại lên huyện. Và thật ngỡ ngàng khi thấy quan huyện bắt họ phải mua lễ vật, theo phong tục Việt Nam mà đến sắp ḿnh lạy trước mặt cố, xin tha thứ cho những ǵ đă xúc phạm cố. Quan huyện c̣n nói thêm: “Đó là bản án c̣n nhẹ đấy, bởi đây là lần đầu tiên dân tụi bay đă phạm lỗi như thế. Chớ quên rằng, nếu c̣n tái phạm, th́ bô lăo sẽ vào tù, c̣n phạm nhân th́ sẽ bị tử h́nh”.

 

     Cố Giăng, nằm trong một cái cáng do 2 giáo dân khiêng tới 1 thành phố cách nhà 18 kilômét. Vừa ra khỏi xứ đạo, một trong hai thưa rằng ḿnh bị bệnh, xin cố kiếm ai thay thế hộ. Cố bảo: “Cứ bắt được ai th́ bắt!” Có một người đi qua, cố kêu: “ê anh kia, đến khiêng ta đi tỉnh!» Người kia lắc đầu: «Không, tôi không thể và tôi không muốn”. – “Thằng xấc láo, mày không muốn hả? Thằng giặc!” Người kia vẫn không chịu khiêng: “Tôi là lư trưởng, tôi không thể khiêng được”. Đứng trước sự khước từ dứt khoát như thế, ông cố xuống khỏi cáng, cầm gậy bổ tới đánh đập viên lư trưởng, miệng nguyền rủa: “Lư với không lư, liệu mà khiêng cáng cho tao. À, thằng giặc cộng sản! Mày sẽ biết tao tao!”.

 

     Hôm đó, cố Tây đến nhà quan đầu tỉnh và tố cáo rằng làng lương bên cạnh xứ đạo của ông đang nổi loạn, mà chính tên lư trưởng cầm đầu. Qua ngày sau viên lư trưởng bị cách chức và bị tống vào ngục. Không hiểu cố Tây có tạ ơn Chúa cho ḿnh chiến thắng tên ngoại đạo kia chăng, nhưng chắc cố phải rất thích thú thấy rằng phong trào chống giáo sĩ bên chính quốc Pháp chưa được du nhập sang các vùng thuộc địa.

 

     Cả bên trong Giáo Hội cũng có phân biệt đối xử một cách ngang nhiên. Cố thừa sai tin chắc rằng nhờ ơn Chúa và nhờ vào da trắng của ông, ông phải lo bảo vệ danh dự của người da trắng và cách đặc quyền chính trị của người da trắng. Hàng giáo sĩ Việt Nam được đào tạo để luôn biết sống trong lệ thuộc. Cần ghi nhận rằng hồi 1630, sĩ số các thừa sai chỉ là 20% trong hàng giáo sĩ tại Việt Nam, nhưng họ chiếm giữ toàn bộ các chức vụ quan trọng: như giám mục, tổng quản, hạt trưởng, giám đốc chủng viện, bề trên hội Ḍng, chánh xứ ở thành thị. Trong hầu hết các địa phận, linh mục người Việt không được ngồi cùng một bàn với ông cố Tây, càng không được ăn cơm chung với cố.

 

     Giám mục Côxtanini (Costantini) đă viết về óc phong kiến trong đạo bên Trung Hoa thời đó thế này: Khi tôi đếnh Trung Hoa, tôi thấy cả nước chia ra 56 giáo điểm, mỗi điểm có một vùng đất rộng lớn và rất phân biệt với nhau. Tôi có ngay cảm giác là các giáo điều này chẳng khác nào những căn cứ biệt lập, trong đó các giáo sĩ người Hoa sống và làm việc như người phụ thuộc thôi. Cần nói thêm rằng hồi đó, tại nhiều Nhà chung, vẫn giữ phong tục dành cho thừa sai nước ngoài được ngồi ghế đầu. Người ta thấy có vị thừa sai trẻ măng vừa từ châu Âu tới, đă được ngồi trên cả một nhóm linh mục địa phương, trong đó có cả những người già dáng kính với bộ râu đă bạc trắng».

 

     Cảm tưởng của vị khâm sai ṭa thánh tại Trung Quốc trùng hợp với óc phân biệt chủng tộc tại Việt Nam, nhất là khi Việt Nam khác Trung Quốc ở chỗ là một thuộc địa trọn nghĩa, một «thuộc địa để khai thác» nói theo tử ngữ chính thức của nhà cầm quyền Pháp. Tại Bùi Chu, ngày lễ Thánh Đaminh, tất cả các linh mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải tới sụp lạy trước mặt các thừa sai, kể cả đối với mấy người c̣n trẻ măng, hoặc chỉ là thầy phó tế thôi, và hôn kính giày các thừa sai đó, để giúp ḿnh nhớ lại lời thánh Phaolô: “Phúc đức thay bàn chân các nhà truyền giáo”.

 

     Cảnh phân biệt chủng tộc ấy c̣n nổi bật hơn nữa trong lănh vực đặc ân mà Giáo Hội dành cho giáo dân người Pháp, như tại các thành phố hoặc tại nơi họ cư ngụ, phải dành cho họ những chỗ đầu trong nhà thờ, nơi đó không một người Việt nào được phép ngồi vào, kể cả những ngày có đông giáo dân dự lễ đến nơi hàng trăm người cứ phải đứng, Giáo dân người Việt là giáo dân hạng thứ. Người ta quen kể họ như những trẻ thiếu niên được sức mạnh và uy quyền Giáo hội bảo hộ cho.

 

     Ngoại trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người công giáo thường được tập trung lại thánh làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân kḥi liên hệ với đồng bào, thúc đảy họ từ khước, tảy chay bất cứ điều ǵ không được Giáo Hội chánh thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc cái tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Vônte (Voltaire), Môngtekiơ (Montesquieu), khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đă dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng latinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, c̣n giáo dân th́ không thể sờ tới).

 

     9. TRONG TRẬN GIÓ XOÁY NHỮNG NĂM 30.

 

     Phải sống xa rời cả đất nước ḿnh, nhận mệnh lệnh chẳng phải từ Rôma mà từ phố Bác (Pari) và từ Manila (điểm phát xuất các thừa sai Tây Ban Nha), giáo sĩ cũng như giáo dân Việt Nam nói chung đều phải sống ngược với phong trào yêu nước của nhân dân.

 

     Năm 1930, Nguyễn Thái Học, với đảng quốc gia tư sản là Việt Nam quốc dân đảng, quyết định phất cờ kêu gọi dân chúng nổi dậy làm một cuộc cách mạng vũ trang, thề nguyền “liều chết để cả thế giới biết rằng tinh thần dân Việt là bất tử”. Cuộc nổi dậy nổ ra tại Yên Bái (9-2-1930) và một số tỉnh lân cận đă giết chết một số sĩ quan Pháp, một vài tên thực dân và 1 linh mục. Cuộc đàn áp sau đó thật đẩm máu. Các lănh tụ đảng bị bắt và xử tử. Những người tỏ thiện cảm bị kết án và đày sang Côn Đảo. Nhiều người bị dội bom chấy sạch.

 

     Các Nhà chung công giáo phản ứng lại theo cách của ḿnh. Họ tung ra luận điệu về nguy cơ cộng sản – dầu cuộc nổi dậy được chỉ huy bởi 1 đấng tư sản quốc gia – họ t́m mọi cách minh chứng trước dư luận quần chúng Pháp rằng: Giáo Hội là lực lượng duy nhất bảo đảm cho sự hiện diện của nước Pháp tại Việt Nam, cũng như vấn đầ an ninh, trật tự xă hội. Chẳng bọ Bề Trên thừa sai Pari tuyên bố: “Nhà nước vốn phải gánh những trách nhiệm nặng nề và cảm thấy sự nặng nề đó, nên đă hiểu được vai tṛ bảo vệ trật tự nhờ có Nhà chung là quan trọng chừng nào… Sự rối ren khiến Nhà nước phải lo lắng từ 2 năm nay là phải lẽ đấy… nhưng nó chẳng dính dáng ǵ tới khối dân công giáo. Nhờ lớp dân chúng nên không cách nào cộng sản xâm nhập vào được. V́ thế, từ nhiều tháng nay, các linh mục bạn bè chỉ cho tôi thấy chỗ này chỗ kia có thài độ mới mẻ tại địa bàn người lương, giá đây họ c̣n thù ghét công giáo, nay lại nh́n công giáo như là thành tŕ độc nhất có thể ngăn chặn sự tấn công của những kiểu tàn bạo tân thời”.

 

     Những “địa bàn người lương” mà cố Tây nói đây. là thành phần tư sản thành thị và các quan lại vốn lo sợ, nều đế quốc thuộc địa sụp đổ th́ chúng sẽ mất cả nồi cơm và các đặc quyền đặc lợi của ḿnh. Muốn phụng sự Chúa và nước Pháp tốt hơn, có những nhà thừa sai và giáo dân đă tiếp tay khá mạnh mẽ cho bọn cảnh sát trong việc “b́nh định xứ sở”.

 

     Cuộc khởi nghĩa thất bại ở Yên Bái không làm dân chúng chịu bỏ khí giới, mặc dầu hết sức đói khổ do khủng hoảng kinh tế thế giới và do sự bóc lột triệt để của chế độ thuộc địa. Tại các thành phố lớn, nổi lên những cuộc biểu t́nh quan trọng: 42 cuộc từ ngày 1 tháng 5 năm 1930 đến đầu tháng năm năm 1931. Tại nông thôn, dân chúng đói khổ kêu đ̣i: “Trả đất cho người cày” và đồng thời tổ chức xuống đường đấu tranh. Ngày 12 tháng 9 năm 1931, gần 20.000 nông dân biểu t́nh tại thành phố Vinh. Chính quyền gọi máy bay tới ném bom và kéo quân lính tới bắn xả và dân chúng. Mặc dầu bị đàn áp tàn bạo, cuộc nổi dậy vẫn cứ tiếp tục. Nói chung dân công giáo, nghe theo lệnh các cố, đều đứng ngoài cuộc. Một số thừa sai không ngần ngại cung cấp t́nh báo cho cảnh sát và đem nộp cho chúng một số linh mục yêu nước. Thái độ và những cách hành động như thế gây bâng khuâng cho chính Rôma. V́ từ thế chiến thứ nhất, Vatican, lo âu trước cung cách dấn thân thực dân của các thừa sai, đă nhiều lần đưa ra lời cảnh báo: “Thật tai hại biết bao khi thấy các thừa sai quên mất địa vị ḿnh, đến nổi đặt những điều lo lắng bản thân và quê hương trần gian của ḿnh lên trên Nước trời và chứng tỏ một sự nhiệt t́nh thật không khôn ngoan lo cho việc bành tướng sức mạnh của xứ sở, sự chiếu tỏa lan rộng danh dự của quê hương lên trên tất cả. Các kiểu cách như thế chỉ là một thứ dịch tả phá hoại công việc tông đồ mà thôi” (Maximum Illud, Tông Huấn “Việc quan trọng nhất” ra ngày 30-11-1919).

 

     Và đức Piô trong Thông điệp “Các sự việc Giáo hội”, công bố năm 1925 đă nói: “Hăy đặt giả thuyết rằng, người dân xứ thuộc địa ngày nào đó sẽ đạt tới một tŕnh độ văn minh mà mức trưởng thành chính trị muốn làm những người chủ đất nước họ, nên sẽ t́m cách trục xuất hết quân lính và thừa sai của nước mà họ từng bị đô hộ…”. Đêm đặt lính tráng chung một hàng với thừa sai, quả là chuyện đau ḷng đối với một Giáo hoàng mà tinh thần tin mừng và cải cách đă khiến nhiều nhà thừa sai phải bực bội. Giám mục Senxo Coxtantini (Celso Costantini) đặt sứ ṭa thánh được phái sang Trung Quốc, đă gặp phải sự chống đối khắp nơi khi ông ta cho các cố thừa sai biết rằng: đức Piô XI dự tính phong một số giám mục người Trung Hoa và giao cho họ cai quản một số địa phận. Nhiều người cho rằng điều đó khác ǵ một sự phản bội máu và mồ hôi cố thừa sai đă đổ ra suốt 3 thế kỷ nay! Kẻ khác lại cho rằng làm như thế là điên khùng.

 

     Trước đó, linh mục Lebơ (Lebbes) một thừa sai người Bỉ đă bị vạ treo chén bởi giám mục của ông và ông đ̣i Giáo hội Trung Hoa lại cho người Trung Hoa. Người ta biết rằng điều đó cũng xảy ra tại Việt Nam. Mặc dầu giám mục Mac-cu (Maceou) địa phận Phát Diệm, một người khá cởi mở, đă đồng ư nhận cho một giám mục phó người Việt ở với ḿnh, nhưng phần đông các cố thừa sai lại chống. Phải rất nhiều kiên nhẫn và sau nhiều cuộc thương lượng, Rôma mới có thể phong vị giám mục người Việt Nam đầu tiên năm 1933, vị thứ hai năm 1936 và vị thứ 3 năm 1939. Cũng cần thêm rằng, chính quyền Pháp chống lại việc bổ nhiệm các giám mục người Việt. Thật ra, người ta chỉ trao cho các giám mục bản xứ những địa phận nông thôn, 14 địa khác vẫn ở trong tay các giám mục thừa sai, vốn chỉ c̣ gần 20% sĩ số trong hàng giáo sĩ ở Việt Nam.

 

     Các cuộc bổ nhiệm kể trên gây sự tin tưởng cho hàng giáo sĩ và giáo dân Việt Nam và đă làm nảy sinh một phong trào yêu nước trong giáo giới. Tại các địa phận c̣n do các giám mục Pháp hoặc Tây Ban Nha cai trị, một số giam mục đă can đảm gửi sang Rôma thư thỉnh nguyện xin ṭa thánh đem Giáo-hội Việt Nam trao lại cho người Việt Nam. Bị kết án là nổi loạn, một vài vị đó đă bị phạt vạ treo chén, nhiều vị khác bị đày tới những xứ đạo nhỏ bé hẻo lánh và không có ảnh hưởng ǵ.

 

     Cùng với sự thất bại nước Pháp năm 1939 và qua cuộc xâm lăng của quân phiệt Nhật từ năm 1941, người công giáo Việt Nam nhận ra, cũng như phần lớn đồng bào ḿnh, rằng ṭa nhà thuộc địa sắp sụp đổ tới nơi. Người ta bắt đầu dám nói tới ḷng yêu nước, nhưng cách kín đáo tại các chủng viện. Một vài linh mục và giáo dân tỏ ra thiện cảm thông đồng với các phong trào cách mạng trong bưng. Tại Ninh B́nh, một nhóm thanh niên công giáo đi vào rừng khán chiến, đánh Pháp đuổi Nhật.

 

     10. THẬP GIÁ ĐƯỢC GIẢI PHÓNG.

 

     Ngoại trừ các cố thừa sai, chẳng một ai lấy làm lạ khi thấy hàng giáo sĩ và giáo dân các xứ đạo đă sắp hàng đứng sau lưng cụ Hồ Chí Minh từ ngày Cách mạng tháng 8 và ngày tuyên bố độc lập mồng 2 tháng 9 năm 1945. Dù được ách đô hộ của hàng giáo sĩ nước ngoài vượt qua trên đầu vị Khâm Mạng Ṭa thánh người Pháp, giám mục Nguyễn Bá Ṭng đă nhân danh các giám mục và dân công giáo Việt Nam, gửi một Sứ điệp cho Đức giáo hoàng Piô XII ngày 23 tháng 9 năm 1945, trong đó có đoạn nói:

 

     “Nhân dân Việt Nam yêu quí của chúng con muốn nhờ trung gian 4 vị giám mục của hô, dâng lên Đức Thánh Cha ḷng tôn kính sâu xa và xin Đức Thánh Cha ban phúc lành, tỏ ḷng rộng lượng và cầu nguyện cho nền độc lập mà nhân dân chúng con mới dành lại được vá quyết tâm bảo vệ với mọi giá. Chính phủ chúng con cũng đă ra một nghị quyết tốt đẹp và nhân ái, chọn ngày quốc khánh cho cả nước trùng với lễ kính các tử đạo Việt Nam, mà ṭa thánh mới cho phép mừng vào chủ nhật đầu tháng 9. Toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo, mừng lễ này với một tinh thần yêu nước chân thành và nồng nhiệt chưa từng có với những cuộc biểu t́nh to lớn và nao nức, tỏ ta cho thấy toàn dân cùng quyết tâm bảo vệ chính quyền cho ḿnh, dầu có phải đổ máu”.

 

     “Đứng trước những biến cố hết sức xúc động như thế này và bản thân chúng con cảm động đến tận trong ḷng, v́ ư thức bổn phận thiêng liêng đối với Tổ quốc chúng con, các giám mục người Việt Nam chúng con nài xin Đức Thánh Cha, ṭa thánh Rôma, các đức Hồng Y, các đức Tổng giám mục, Giám mục và toàn thể anh chị em công giáo khắp thế giới và đặt biệt là công giáo Pháp, hăy hổ trợ cho việc quyết định của Tổ quốc yêu quí chúng con”.

 

     Bức thư chân t́nh và cảm động đó có ẩn chứa một mối lo âu: các Giám mục Việt Nam sợ rằng Rôma với Đức giáo hoàng ủng hộ việc quân Pháp tái chiếm Đông dương. Muốn hiểu đúng nội dung của bức thư này, cần nhắt lại các biến cố quyết định với lịch sử Việt Nam năm 1945.

 

     Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật đă tước vũ khí quân Pháp, hầu như chẳng gặp một chống cự nào. Vua Bảo Đại xóa bỏ các hiệp ước bất công đă kư với Pháp, tuyên bố “nền độc lập Việt Nam trong ḷng Đại Á” dưới sự hướng dẫn của Nhật bản. Thực ra đó là một cuộc áp đảo nền đô hộ của Nhật một cách trá h́nh. Cùng thời đó, mặt trận Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội) phát xuất từ chiến khu Thái Nguyên dưới sự lănh đạo của cụ Hồ Chí Minh gia tăng du kích đánh lại quân Nhật. Lợi dụng sự đầu hàng của đế quốc Hừng Đông, cụ Hồ Chí Minh tung ra mạnh mẽ lời hiệu triệu toàn dân đứng lên giải phóng đất nước. Ngày 17 tháng 8, một cuộc mít tinh đă biến thành một cuộc xuống đường Giài phóng.

 

     Ngày 19 tháng 8, cuộc cách mạng đă dành được thắng lợi mà không phải đổ máu. Khắp nơi, quần chúng nhân dân tuông ra đường hoan hô nền độc lập thật sự đă đến. Ngày 23 tháng 8, Bảo Đại thoái vị, đem bảo kiếm và hoàng ấn nộp cho chính phủ Cách mạng Lâm thời, Bảo Đại đă tuyên bố: “thà làm dân thường một nước tự do hơn được làm vua một nước bị trị”.

 

     Ngày 2 tháng 9, tại quảng trường Ba Đ́nh, cụ Hồ Chí Minh tuyên bố nền độc lập nước nhà trước đông đảo dân chúng, cả nước đă vui mừng “Nhân dân ta đă đập tan gông xiềng gần một thế kỷ của thực dân Pháp, để đem lại cho Tổ quốc Việt Nam chúng ta nền độc lập”.

 

     Cụ không dấu diếm những khó khăn. Khắp nơi c̣n nguy cơ. Trước hết quân đồng minh đă giao cho lính Trung quốc phía bắc vĩ tuyến 16 và cho lính Anh phía nam, để giải giáp quân Nhật. 200 ngàn quân của Tưởng Giới Thạch làm áp lực, đ̣i thiết lập tại Hà Nội một chính phủ thân Trung Hoa. Phía nam, lực lượng quân Anh lại giúp quân đội Pháp của tướng Lơ-kole (Leclerec) đổ bộ “tái chiếm”. Đơ Gôn gặp đô đốc Thiery Đắgiăng-liơ (Thierry de Argenlieu), một tu sĩ ḍng Camêlô, làm cho Cao ủy Pháp tại Đông Dướng, nghĩa là làm Toàn quyền. Có lẽ ông hy vọng rằng vị linh mục này sẽ thành công trong việc qui tụ dân công giáo lại đi theo ủng hộ ḿnh, như hồi chinh lần đầu, cách đó một thế kỷ.

 

     Ngày 2 tháng 9, trong cuộc mít tinh của đông đảo dân chúng mừng độc lập, có những người Pháp núp tại một nhà thờ Sài G̣n chĩa súng vào đám đông làm chết 47 người và bị thương. Trong đem 22 rạng ngày 23 tháng ấy, quân lính Pháp nổ súng tấn công và bắt đầu cuộc tái chiếm Nam bộ.

 

     Cụ Hồ Chí Minh nêu khẩu lệnh: Hoặc là chết, Quân đội, nhân dân Nam bộ kháng cự dũng cảm với những cây súng xưa, gươm giáo và tầm vong vạt nhọn. Từ khắp nơi đổ về nào người nào của, tiếp viện cho kháng chiến.

 

     Chính phủ cách mạng vừa chống cự lại cuộc tiến công của Pháp, vừa phải đương đầu với những khó khăn về chính trị và kinh tế. Quân lính Trung Hoa đến gọi là để giải giáp người Nhật, nhưng không che đậy nổi tham vọng thực dân của chúng. Chính phủ chỉ có trong tay vỏn vẹn một triệu đồng, để lo toan mọi chuyện (ngân hàng Đông dương lúc đó vẫn nằm trong tay quân Pháp), phải tổ chức lại tất cả, cái ǵ cũng chỉ bắt đầu, với những cán bộ đầy nhiệt huyết nhưng chưa kinh nghiệm, có những chương tŕnh cải cách táo bạo nhưng dân chúng lại chưa hiểu ra.

 

     Nhằm ngăn chận sự tê liệt kinh tế, chính phủ tổ chức tại nguyên quyên Tuần lễ vàng nhân dân phấn khởi hưởng ứng. Giám mục Hồ ngọc Cẩn địa phận Bùi Chu, đem cả giây chuyền vàng thánh giá dân cùng vào công quỹ.

 

     Tại miền Nam, quân Pháp tăng cường các cuộc hành quân, lùng bắt các nhà yêu nước tại thành thị, ruồng bố các vùng nông thôn. Chúng ra sức bẻ găy tinh thần kháng chiến của dân chúng.

 

     Một lần nữa, 4 vị giám mục người Việt Nam lại đưa ra lời kêu gọi người Kitô giáo trên khắp thế giới và đặt biệt là nhân dân Anh (mà quân đội mang trách nhiệm để cho quân lính Pháp đổ bộ lên mạn nam vĩ tuyến 16) và Hoa kỳ là nước đă trở thành cường quốc hàng đầu thế giới sau thế chiến, rằng: Đất nước chúng tôi hiện đang bị xâm lăng, chúng tôi quyết bảo vệ nền độc lập, chính nghĩa công bằng và tự do. C̣n dân nước chỉ v́ đầy ḷng yêu nước tinh túy mà đang chịu tràn sát trên các chiến trường, lẽ ra họ phải được đưa ra cùng nhau xây dựng đất nước ḿnh.

 

     “Trong lúc ḥa b́nh đă được văn hồi trên toàn thế giới lẽ ra chúng tôi phải được cùng bao dân tộc khác hàn gắn các đổ nát do chiến tranh tàn gây ra, thay v́ tiếp tục dồn thêm đổ nát. Chúng tôi phải chịu ảnh hưởng không sao tránh khỏi của cuộc thế chiến vừa qua, đă tàn phá và xáo trộn tất cả. Chúng tôi đă phải chịu một nạn nói khủng khiếp làm chết đi một phần đồng bào của một nạn đói mới có thề c̣n khủng khiếp hơn nạn trước.”

 

     “Hỡi anh chị em công giáo thế giới, hăy đến trợ giúp cho các miền giáo phồn thịnh đức tin của Việt Nam, hăy đến viện trợ cho Tồ quốc thân yêu của chúng tôi đă từng cống hiến cho anh chị em 90.000 vị nhân chứng đạo thánh và c̣n hứa hẹn nhiều mùa gặt to lớn hơn. Hỡi nhân dân các nước Anh và nước Mỹ, hă cho chúng tôi sự can thiệp có ích lợi, khiến chúng tôi thoát khỏi cảnh rùng rợn của chiến tranh, trong khi cả thế giới đă được hưỡng thái b́nh..!!..”

 

     Lời kêu gọi đó đă thành tiếng vang trong tờ Thông tin tại Bơruygiơ (Bruges, nướic Bỉ) tố cáo nước Pháp tái diễn một cuộc chiến xâm lăng, bất chấp các quyền lợi của nhân dân Việt Nam và việc làm tàn ác đó lại được thực hiện dưới sự điểu khiển của một linh mục Their d’ Acgiăngliơ.

 

     “Điều này làm cho người ta lấy làm tiếc rằng ?những linh mục tu sĩ – chẳng ai lại không biết lư lịch của đô đốc Thiery d’ Acgiănglơi – lại dám nhận, ?dẫu là với ư ngay lành đi nữa, trách nhiệm của cuộc chi ến tranh xâm lăng Chính sách của đô đốc đă làm cho người ta tin theo luận điệu cho rằng linh mục và thừa sai công giáo là những tay chân công cụ củ chủ nghĩa đế quốc phương Tây”.

 

     Tại Việt Nam, như đă kể trong chương sách này, chẳng phải người ta có luận điệu, mà đây là sự thật. Hơn nữa, mặc dầu 4 giám mục người Việt Nam đă lặp lại lời kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Tổ quốc, 14 giám mục thừa sai đều giữ im lặng. Phải chăng họ đồng t́nh với cuộc chiền tái xâm lược của Pháp? Phải chăng họ không chấp nhận cho người dân Việt công giáo được tỏ t́nh yêu nước của ḿnh?

 

     Đă hẳn, trong những tháng sau Cách mạng tháng 8, một vài số thừa sai đă có những điều cay đắng với những giáo dân không ngần ngại tốc giác hành động thực dân và phân việt chủng tộc của các ông.

 

     Trong nhiều địa phận, giáo sĩ Việt Nam nói to lên yêu sách của họ rất chánh đáng, nhưng bị trù dập măi từ lâu năm trước. Quả thế, thật là điều kỳ cục, trong một nước độc lập và trong một Giáo hội có tới 80% giáo sĩ đă là người bản quốc, thế mà linh mục cũng như giáo dân cứ bị một nhúm người phương Tây cai quản măi. Nhớ lại đức Piô đă từng kêu gọi các thừa sai chuyển giao chỗ ḿnh cho giáo sĩ bản xứ, trả Giáo hội Việt Nam lại cho người Việt Nam. Tại các địa phận Hà Nội, Hải pḥng, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Thái B́nh, hàng giáo sĩ gây áp lực để các giám mục thừa sai đặt những Linh mục tổng quản người Việt và giáo xứ đạo thành thị cho các linh mục bản xứ coi sóc thế các cố thừa sai.

 

     Ngày 10.10.1945 tại Thái B́nh 20.000 giáo dân kéo tới hoan hô hội đồng mục vụ địa phận gồm nguyên các linh mục người Việt, chỉ trừ giám mục. Nhiều khẩu hiệu được kết băng phất phới trước gió, như “hoan hô Đức Giáo Hoàng. Giáo hội Việt Nam hoàn lại cho người Việt Nước Việt Nam độc lập muôn năm”. Ḍng người đông như nước lũ diễn hành qua trước ṭa giám mục, có hội đồng mục vụ mới bênh cạnh, xuất hiện trước ban công và giơ tay ban phép lành cho dân chúng. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ra một thư chung bắt các linh mục đọc trong các lễ chủa nhựt băi bỏ chức tổng quản và hội đồng mục vụ, vịn cớ rằng giám mục đă làm chuyện đó v́ bị ép buộc. Các linh mục quản xứ đă không chịu đọc thư chung đó cho giáo dân nghe.

 

     Các linh mục linh mục Tổng Quản được đặt lên trong tất cả các địa phận, khối quần chúng giáo dân tin tưởng vào ḷng yêu nước của ḿnh, hăng hái tham gia cuộc kháng chiến vệ quốc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập.

 

     Như vậy, cùng các giám mục và linh mục đứng đầu người công giáo Việt Nam đă muốn xóa đi h́nh ảnh một giáo hội hợp tác với quân xâm lược, một giáo hội chỉ làm công cụ cho nước Pháp, một giáo hội đă từng sống bên lề của một dân tộc đang chiến đấu cho chủ quyền và sự tự do của ḿnh.

 

     Một trang sử vừa được lật sang. Song tiếc thay chẳng được bao lâu.

 

     (Hết Chương I)

 

     NDVN, ngày 10/1/10



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend