TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

“ÔNG TRỜI" KHÔNG QUEN BIẾT "THƯỢNG ĐẾ”


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

  

 

 

“ÔNG TRỜI" KHÔNG QUEN BIẾT "THƯỢNG ĐẾ”

 

Trần Chung Ngọc

 

 

 

     LTS: Là một trong những tác giả người Việt Nam viết táo bạo về những điều cấm kỵ của các tín đồ đạo Chúa (như đem Chúa và các vị thánh mà giáo hội Công Giáo đă tôn thờ ra làm đối tượng nghiên cứu, như phân tích thánh kinh theo như thánh kinh nói, vân vân…), Giáo sư Trần Chung Ngọc thường phải chịu đựng rất nhiều phản ứng theo nhiều cách thể hiện khác nhau, phẩm chất khác nhau và biên độ khác nhau từ các giai tầng trong xă hội, nhất là từ cộng đồng Thiên Chúa Giáo người Việt. Ông xem như không biết đến những việc đó ngoại trừ một vài trường hợp.

 

     Bằng vốn liếng của một nhà giảng và dạy khoa học, khi ông nghiền ngẫm quyển “thánh kinh” của đạo Chúa, phản ảnh nó trên những cách ứng xử của những tín đồ tin Chúa, nhiều lúc ông quá thất vọng và chỉ c̣n cách diễn tả đối tượng một cách nôm na cái t́nh trạng “trống vắng” chứng cớ, vắng mặt lư luận, và thiếu thốn thông tin. “Ngu si” (ignorance) là một trong những từ mà ông buộc miệng trong những trường hợp như thế.

 

     Mới đây, có câu hỏi của Francis Dương đă được gửi đến nhiều diễn đàn trong đó có địa chỉ ṭa soạn Sách Hiếm. Ṭa soạn chuyển thư của Francis Dương cho ông Trần Chung Ngọc để thông tin mà thôi, không nghĩ ông để ư, không ngờ cụ Trần Chung Ngọc lại mất công bỏ chút th́ giờ để trả lời.

 

     Người Á châu chúng tôi có thể rất thoải mái nói bừa: “Ông trời là cái quái ǵ?” Người ta cứ «kêu trời như bọng» mỗi lần tức giận, cầu trời chứng giám cho t́nh bằng hữu, hay cám ơn trời khi làm ăn khấm khá, hoặc mắng “trời không có mắt”, “con tạo trớ true” mà chẳng hề quan tâm ông trời da trắng hay da nâu như thế nào cả. Vui th́ “bái thiên địa”, buồn th́ “ông trời ăn ở bất công”. Cũng chưa từng có người nào phải “bảo vệ” ông Trời, hay phải đánh nhau, chửi nhau chỉ v́ thấy người khác không “nể” ông Trời cả. Và chúng ta có thể kêu trời bất cứ khi nào thích, không như bên đạo Chúa “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”  v́ sẽ phạm “tội chết” (Leviticus 24:16)

 

     Lạ thật, nếu ông Chúa Ba ngôi của các ngài cũng giống như ông trời chịu chơi của người Á châu chúng tôi, th́ tại sao người Việt đạo Chúa lại cứ khẩn trương và kèn cựa về sự hiện hữu hay không hiện hữu của ông trời chết tiệt đó chứ? Vậy chắc chắn các tín đồ Thiên Chúa Giáo người Việt c̣n mặc cảm lo sợ ông Thượng Đế c̣n thua kém ông Trời của chúng tôi, ít nhất là về đức độ!

 

     Trước đây đă có vài bài viết về ông trời của người Á đông khác với ông Thượng Đế của đạo Chúa như:

 

     - Quan niệm “Ông Trời” của người Việt của cụ Charlie Nguyễn,

     - Nhân Chuyện Khám Phá Có Jehovah Trong Ca Dao Việt của Thiên Lôi

     - Nhân đọc “Ông Trời trong thi ca Việt-Nam" (Sơn Dă Bần Phu)

 

     Riêng cụ Trần Chung Ngọc sẽ có câu chuyện để gửi tặng các bạn đọc một vài phút giải trí, chắc chắn sẽ đem lại một ngày vui.

 

*    *

*

 

     Tôi vừa nhận được từ Ṭa Soạn Sách Hiếm bài “Ôn Cố Tri Tân” của Francis Dương trong đó có đưa ra một thách đố cho tôi và Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang như sau: “NHỮNG NGƯỜI NHƯ CỤ TRẦN CHUNG NGỌC, NGUYỄN MẠNH QUANG, NHÓM GIAO ĐIỂM ONLINE….C̉N DÁM TẶNG CÁC NHÀ BÁC HỌC KHOA HỌC GIA CÁC THỜI  ĐẠI CÓ TÊN SAU ĐÂY LÀ NGU NGỐC HỦ LẬU KHÔNG ?  V̀ HỌ ĐỀU TIN CÓ ÔNG TRỜI HAY ĐẤNG  CHÍ  TÔN VÔ  H̀NH  QUẢN  CAI  VŨ  TRỤ”, 

 

     Nay tôi có vài lời để khai sáng cho cháu Francis Dương v́ chính câu hỏi trên có thể xếp vào loại ngu si rồi..  Đọc bài “Ôn Cố Tri Tân” tôi cảm thấy tội nghiệp cho cháu Francis Dương v́ cháu viết mà không hiểu ḿnh viết cái ǵ.  Rơ ràng cháu là một tín đồ Công giáo, dùng tài liệu của Giáo hội, trong đó có nhiều phần bịa đặt sai sự thực, không nêu rơ xuất xứ, nên phần lớn là vô giá trị.  Cháu chỉ nhắc lại như con vẹt những ǵ  Giáo hội tuyên truyền mà không nhận ra những sai trái trong đó. Mục đích của bài “Ôn Cố Tri Tân” của cháu là để “chứng minh” rằng có nhiều khoa học gia nổi tiếng và danh nhân, vĩ nhân,  tin có một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai Vũ Trụ” cho nên, tất nhiên, “Đấng Chí Tôn” này phải hiện hữu.  Đây vốn là mánh mưu của Công giáo, luôn luôn vơ vào ḿnh những ǵ có thể dùng để đánh bóng giáo lư của Giáo hội, bất kể phải ngụy tạo, hoặc che dấu sự thật trong những điều Giáo hội đưa ra.  Điều này tôi sẽ chứng minh trong một đoạn sau.

 

     Một điều cần phải làm sáng tỏ, đó là trong danh sách Francis Dương nêu trong bài, không có một người nào tin ở “ông Trời” v́ một lẽ rất đơn giản là quan niệm về Ông Trời rất xa lạ đối với các xă hội Tây phương và tất nhiên rất xa lạ đối với họ.  Ngoài ra, điều mà Francis Dương không biết, là cái tin về một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia hay danh nhân hay vĩ nhân mà Francis Dương nêu trong bài, ngày nay c̣n lại bao nhiêu giá trị?

 

     Để mở đầu, câu trả lời hay nhất cho Francis Dương là của Richard Lederer, nhà ngữ học Mỹ:

 

     Có một thời mà mọi người [ở Âu Châu] đều tin vào Thiên Chúa, và giáo hội [Công giáo] thống trị.  Thời đại đó được gọi là Thời Đại Tăm Tối.  [There once was a time when all people believe in God and the Church ruled.  This time was called the Dark Ages.]

 

     Thời đại này cũng c̣n được biết là “Thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức” [The ages of barbarous and intellectual darkness]

 

     E rằng cháu Francis Dương không nắm được ư trong câu trên, tôi xin khai sáng thêm một chút.

 

     Trước hết, tôi cũng như Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, và trong nhóm Giao Điểm chưa có ai lên tiếng “tặng” các khoa học gia có tên tuổi là ngu ngốc, hủ lậu, chỉ v́ họ tin có “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai vũ trụ” alias “Gót” [God] của Ki Tô Giáo cả.  Họ có những bộ óc sáng suốt, có nhiều sáng kiến, và có nhiều công tŕnh khoa học để đời cho nhân loại, nhưng về lănh vực tín ngưỡng tôn giáo th́ họ vẫn rất có thể bị liệt vào loại ngu si vô trí, nghĩa là không thể nh́n tôn giáo của họ như thực nó là như vậy (to see it as it really is: như thực tri kiến).  Lư do, tôn giáo không phải là lănh vực nghiên cứu của họ cho nên họ không đủ thông tin để phán đoán về bản chất và thực chất của tôn giáo.  Như vậy mọi người chúng ta đều có thể nói là “ngu si vô trí” ở một phương diện hay lănh vực nào đó.  Nhưng thực ra chẳng có ai biết là họ tin như thế nào.  Trái lại, có nhiều bằng chứng chứng tỏ họ chẳng mấy tin v́ những công tŕnh khoa học của họ đă dứt khoát bác bỏ Thượng đế của Ki Tô Giáo như được viết trong cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo.  Tôi không tin rằng những bộ óc sáng suốt của họ lại có thể tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai vũ trụ”,  mà khuôn mặt của Đấng Chí Tôn này thường thấy rơ trong các cuộc Thánh Chiến, các Ṭa H́nh Án xử dị giáo, hay những vụ thiêu sống phù thủy.  Ngày nay chúng ta cũng thấy rơ khuôn mặt của Đấng Chí Tôn trong Tsunami ở Thái Lan, băo Katrina ở New Orleans, và gần đây, trận động đất ở Haiti,  khoan kể đến những em bé sơ sinh khuyết tật nằm đầy trong các nhà thương, bệnh AIDS tàn phá ở Phi Châu v…v…, một khuôn mặt mà không có mấy người có đầu óc c̣n có thể tin vào đó. 

 

     Nếu có một CEO nào quản lư một công ty mà để xảy ra những tệ hại trong công ty, th́ CEO đó sẽ bị cho về vườn làm 7 nghề.  Nếu có một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai vũ trụ” nào mà để xảy ra những chiến tranh, thiên tai bệnh tật cho nhân loại th́ Đấng đó phải cho nghỉ vĩnh viễn không lương, nghĩa là tín đồ tin thờ Đấng đó không cần phải tiếp tục đóng tiền cho nhà thờ để cho mấy tên buôn thần bán thánh tiếp tục nuôi dưỡng sự mê tín, hay làm bậy, thí dụ như trên 5000 linh mục, hay “Chúa thứ hai”,  can tội loạn dâm và ấu dâm, và Giáo hội đă dùng tiền của tín đồ, lên tới hơn 2 tỷ đô-la, để bồi thường cho các nạn nhân t́nh dục của các “Chúa thứ hai”.

 

     Francis Dương có hiểu được điều này không?

 

     Bây giờ, tôi xin đi vào phần trả lời sự thách đố của Francis Dương.  Vấn đề là, sinh ra ở Âu Châu, cái nôi của Công giáo và từ thế kỷ 17, một phần Tin Lành, tất nhiên hầu hết mọi người đều có đạo, cha truyền con nối theo truyền thống gia đ́nh và xă hội.  Nhưng có đạo là một chuyện mà tin là có một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai vũ trụ” , alias Thượng đế của Ki Tô Giáo, lại là chuyện khác. Có một thời, không tin cũng phải làm bộ tin, v́ không tin có thể mất mạng như chơi.  Lịch sử Âu Châu dưới quyền thống trị của Công giáo đă chứng tỏ như vậy.  Nhưng niềm tin này đă được khảo sát, phán xét,  và đánh giá cẩn thận qua các thời đại, và ngày nay chúng ta thấy xuất hiện những tác phẩm như “The God Delusion” của Richard Dawkins, “God Is Not Great” của Christopher Hitchens, “The Dark Side of God” của Douglas Lockhart, “The Impossibility of God”  Edited by Michael Martin and Ricki Monnier,  “Critiques of God” Edited by Peter A. Angeles, “God’s Defenders:  What They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, chỉ kể vài cuốn điển h́nh.  Cũng như khi xưa, con người cho rằng sấm sét là những cơn thịnh nộ của Gót, rất sợ Gót và quỳ xuống van vái Gót, nhưng ngày nay sấm sét chỉ có thể làm cho chó mèo cúp tai chạy, chứ c̣n con người như cụ Trần th́ thản nhiên ngồi trước bàn máy điện toán viết bài chống Gót và Ki Tô Giáo.  Đây là sự tiến bộ trí thức của nhân loại.

 

     Chúng ta hăy đọc chơi một đoạn trong cuốn “God’s Defenders:  What They Believe and Why They Are Wrong” của S.T. Joshi, trang 9:

 

     Hoặc là chỉ có một “gót”, hay nhiều “gót”, hay chẳng có “gót” nào.  Hoặc là có cái gọi là linh hồn của con người hoặc là không có, và, nếu có, linh hồn đó có thể hoặc không có thể sống sót sau khi thân thể đă chết.  Hoặc là Giê-su Ki Tô, nếu ông ta có thực, là con hoặc không phải con của Gót (của Ki Tô Giáo) .  Hoặc Mohammed, nếu ông ta có thực, là tiên tri hoặc không phải là tiên tri của Gót.

 

     Rằng những giáo lư cốt yếu của nhiều tôn giáo chính trên thế giới – đặc biệt là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo – là vấn đề hoặc đúng hoặc sai tự nó là một sự kiện mà về nó không có một số lượng ngụy biện nào hay sự bào chữa đặc biệt nào có thể đi tới.  Bất hạnh thay cho những tôn giáo này, những bằng chứng  tích lũy trong ít nhất là nửa thiên niên kỷ qua (500 năm) đă thừa nhận là những giáo lư này sai. [1]

 

     Judith Hayes cũng đặt câu hỏi: “Chúng ta tin ở Gót, nhưng mà là Gót nào?” [In God we trust, but which one?]  Francis Dương có thể trả lời câu hỏi này không?

  

     Có một điều mà Francis Dương cần phải hiểu:  đó là tín ngưỡng tôn giáo và khoa học là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, với hai cách nh́n thế giới khác nhau.  Tôn giáo, điển h́nh là Ki Tô Giáo, Do Thái Giáo, hay Hồi Giáo, không dựa trên bất cứ một bằng chứng nào ngoài những cuốn sách hiện hữu trên thế giới mà họ gọi là thánh thư, nhưng mỗi cuốn thánh thư đều có nhiều điểm khác nhau, tuy chúng có một điểm chung, đó là mọi hiện tượng trên thế giới đều là tác phẩm của Gót, và cho rằng Gót là chủ tể của nhân loại, quản cai vũ trụ, nghĩa là trách nhiệm về mọi sự xảy ra trong vũ trụ. C̣n khoa học th́ thu thập tích lũy hàng núi bằng chứng chứng tỏ rằng vai tṛ của Gót không cần thiết trong việc giải thích những hiện tượng thiên nhiên.  Thí dụ, khi anh phát biểu là có một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh Quản Cai Vũ Trụ” th́ đó là bày tỏ một niềm tin chứ không phải là khẳng định bản chất của một thực thể.  Trong khoa học, chúng ta không cần đến Gót để giải thích là tại sao khi ta ném một viên đá lên trời th́ quỹ đạo của ḥn đá là một h́nh parabol và cuối cùng ḥn đá lại rơi xuống mặt đất. 

 

     Có một điều mà Francis Dương không nghĩ tới là khi nêu lên những công tŕnh khoa học của một số khoa học gia mà Francis Dương cho rằng họ tin là có Thượng đế, tất nhiên là Thượng đế của Ki Tô Giáo, thí dụ như Nicolas Copernicus, Isaac Newton, Johannes Kepler, Galileo Galilei Jean Baptiste Lamarck, George LeMaitre v…v… [nhưng quên mất Giordano Bruno,  Charles Darwin, hay Alexander VI, Hitler v…v…], Francis Dương lại không biết rằng chính những công tŕnh khoa học của những người này đă phá sập nền thần học của Ki Tô Giáo, nghĩa là bộ môn dùng tṛ chơi ngôn ngữ để chứng minh là có Thượng đế.  Một Giordano Bruno, bị Giáo hội thiêu sống chỉ v́ tin chắc rằng ngoài thế giới của chúng ta c̣n có nhiều thế giới khác.  Chẳng có lẽ ông ta lại tin ở một Thượng đế ngu đần đến độ cho rằng thế giới của chúng ta là duy nhất do chính ông Thượng đế đó sáng tạo ra như được viết trong Thánh Kinh.  Một Galilei có đầy đủ bằng chứng là trái đất quay xung quanh mặt trời chẳng lẽ lại tin ở một Thượng đế ngu xuẩn đến độ cho rằng trái đất phẳng, dẹt, có bốn góc, đứng yên, và mặt trời quay xung quanh trái đất như được viết trong Thánh Kinh.  Charles Darwin cũng là người Công Giáo, nhưng thuyết Tiến Hóa của ông ta, và những bằng chứng khoa học về vũ trụ học,  đă làm cho thuyết Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài của Ki Tô Giáo trở thành ngớ ngẩn, khôi hài và hoàn toàn vô giá trị.  Vậy th́ những khoa học gia này có những công tŕnh vinh danh khoa học hay vinh danh Thượng đế.  Francis Dương hăy trả lời câu hỏi này. 

 

     Mặt khác, Jean Baptiste Lamarck chỉ có một số tư tưởng về Tiến Hóa, c̣n Charles Darwin mới chính là người lập thuyết Tiến Hóa một cách khoa học.  Thật ra th́, nhiều tư tưởng về tiến hóa đă có trước Darwin. Ngay từ trước thời đại thông thường ngày nay (B.C.E = Before Common Era), ở Đông phương chúng ta có thể thấy tư tưởng tiến hóa trong Áo Nghĩa Thư (800 B.C.E)  của Ấn Độ, trong Đạo Đức Kinh của Lăo Tử và sau được phát triển bởi Trang Tử, và trong Kinh Dịch.  Ở Tây phương, chúng ta có thể kể Thales, Anaximander (học tṛ của Thales), Xenophanes, Anaxagoras, Empedocles, Aristotle, Lucretius.  Trong thời đại thông thường ngày nay (C.E = Common Era) có Plotinus (205-270 C.E.), Avicenna (980-1037), Leonardo da Vinci (1452-1519), Carolus Linnaeus (1707-1778), Georges Louis Leclearc, Comte de Buffon (1707-1788), Erasmus Darwin (1731-1802), Jean Baptiste de Lamark (1774-1829), đó là chỉ kể những tên chính. 

 

     George LeMaitre cũng không phải là tác giả của thuyết Big Bang như Francis Dương viết.  Lemaitre dùng những phương tŕnh tương đối của Einstein để tính ngược tới một thời điểm mà vũ trụ được thu gọn trong một trái cầu lớn hơn mặt trời khoảng 30 lần mà ông ta gọi là "nguyên tử đầu tiên" (primeval atom), c̣n được biết dưới danh từ "trứng vũ trụ" (cosmic egg).  Theo Lemaitre th́, v́ những lư do không rơ, trái trứng vũ trụ này nổ bùng tạo thành vũ trụ của chúng ta ngày nay.  Nhưng các phương tŕnh của Einstein lại cho phép các khoa học gia đi ngược thời gian xa hơn nữa, tới một thời điểm mà tất cả vũ trụ được thu gọn trong một điểm mà danh từ khoa học gọi là "dị điểm" (singularity), một thời điểm vào khoảng 0.0001 (một phần mười ngàn) của một giây đồng hồ (10-4 sec.) sau khi dị điểm bùng nổ, khi đó nhiệt độ của dị điểm là khoảng 1,000,000,000,000 (một ngàn tỷ) độ tuyệt đối (1012 oK), nhiệt độ tuyệt đối K cao hơn nhiệt độ bách phân C là 273.16  độ,  do đó  0 độ K  tương đương  với  -273.16 độ bách phân C, và tỷ trọng của dị điểm là 100,000,000,000,000 (một trăm ngàn tỷ) gram (1014 g) cho một phân khối.  Để có môt ư niệm về các con số trên,  nhiệt độ ngoài biên của mặt trời chỉ vào khoảng 6000 độ, và tỷ trọng của nước chỉ là 1 gram cho một phân khối.  Đây mới là thuyết Big Bang.

 

     Để chứng minh thêm là Francis Dương viết mà không hiểu ḿnh viết cái ǵ, tôi xin đưa ra hai trường hợp điển h́nh: 

 

     1.   Francis Dương đưa tên nhà toán học Pháp Pierre Simon de Laplace vào danh sách những khoa học gia nổi tiếng mà Francis Dương cho rằng ông ta tin vào Thượng đế của Ki Tô Giáo.  Nhưng Francis Dương không biết, hoặc biết mà cố t́nh không nhắc, đến một giai thoại về Laplace như sau:

 

     Hoàng đế Napoléon Bonaparte, sau khi đọc cuốn “Cơ Học về Các Thiên Thể” (Celestial Mechanics), cuốn sách giải thích vũ trụ thuần túy theo những nguyên nhân tự nhiên, nhận xét rằng trong cuốn sách đó Laplace không đả động ǵ đến Gót cả.  Laplace đă trả lời như sau: “Thưa Ngài, tôi không cần đến cái giả thuyết đó” [ Sire, I have no need to that hypothesis].  Trong khoa học, giả thuyết có ư nghĩa như thế nào, mọi người đều biết.

 

     Laplace cũng c̣n phát biểu: Kính thiên văn đă quét hết ṿm trời mà không thấy Thiên Chúa ở đâu. [The telescope sweeps the skies without finding god.]

 

     2.  Francis Dương cũng đưa tên Blaise Pascal vào danh sách những người tin có Thượng đế và nêu lên lư luận “đánh cuộc của Pascal” (Pascal’s Wager) như sau mà Francis Dương cho là một danh ngôn mà tới nay, ai cũng thấy hữu lư: “Giả như Thượng Đế không có, ta chẳng mất ǵ cả, nếu đă tin vào Ngài; nhưng nếu có Ngài, ta sẽ mất tất cả” [thiếu câu sau: nếu không tin là có Ngài. [If God does not exist, one will lose nothing by believing in him (wrong), while if he does exist, one will lose everything by not believing (wrong again)]. Francis Dương không nhận ra một đống sai lầm trong câu trên và không biết rằng câu trên phát xuất từ một sự mê tín chứ không phải là khẳng định về một thực thể.  Chúng ta phải hiểu câu trên như sau:  nếu tin vào Thượng đế và Thượng đế có thật th́ sẽ được lên thiên đường sau khi chết, c̣n nếu không tin mà Thượng đế có thật th́ sẽ bị đày đọa xuống hỏa ngục sau khi chết. Đó là một câu đánh cuộc vào một điều ḿnh không biết hoặc chưa tin (là “Thương đế”), v́ nếu đă biết hoặc đă tin th́ c̣n đánh cuộc làm ǵ !

 

     Thứ nhất, hàng tỷ người trên thế gian không tin có Thượng đế của Ki Tô Giáo nhưng vẫn có cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc, lành mạnh, đầu óc tỉnh táo không mê mẩn v́ một cái bánh vẽ trên trời (điều này chứng tỏ là chẳng làm ǵ có Thượng đế và cũng chẳng ai cần đến Thượng đế.)  Ngay cả theo lư thuyết thần học của Ki Tô Giáo, trong trường hợp hoang tưởng là những người không tin sẽ phải bị đầy đọa xuống hỏa ngục sau khi chết th́ cũng không thể nói là họ đă “mất tất cả”.  Giáo hoàng John Paul II đă chính thức phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường hay hỏa ngục của Ki Tô Giáo, điều này đă ném các Pascal’s Wager vào “đống những đồ phế thải”.  Cho nên những người hi vọng ở một đời sau hạnh phúc trên thiên đường mới là những người “mất tất cả” v́ hi vọng đó không bao giờ có thể thành đạt.

 

     Thứ nh́ câu của Pascal cũng có thể áp dụng cho Do Thái Giáo hay Hồi Giáo hay Ấn Độ giáo.  Hồi giáo có thể nói, tin vào Allah và nếu Allah không có thật th́ cũng chẳng mất mát ǵ.  Nếu không tin và Allah có thật th́ sẽ mất tất cả.  Đối với Hồi Giáo th́ tất cả các tín đồ Ki Tô Giáo đều phải xuống hỏa ngục của Hồi Giáo nếu Allah có thật. Đối  với nhiều tông phái Ấn Độ giáo cũng vậy, tất cả tín đồ Ki Tô giáo đều thành ma quỷ hết nếu các vị thần linh của họ có thật.

 

     Thứ ba, sự kiện là, dù muốn dù không, đời sống của chúng ta trên trái đất là đời sống duy nhất mà chúng ta sẽ trải qua.  Nếu chúng ta hi sinh đời sống này cho một Thượng đế giả tưởng th́ có thể nói là chúng ta sẽ mất tất cả.  Đây chính là vong thân.

 

     Sau cùng, tôi muốn khai sáng cho Francis Dương về đoạn kết của ông ta.  Francis Dương viết về “Vô Thần”:

 

     Người vô thần là người không ư thức, bác bỏ, phủ nhận niềm tin vào  Đấng Tạo Hóa, Ông Trời, Thượng Đế, Thiên Chúa, Jehovah, Allah...   v́ hoặc là họ cho rằng không có bằng chứng hiễn nhiên, rơ ràng, hay họ dựa vào các triết thuyết, xă hội học, lịch sử, và thiên nhiên…

 

     Vậy con người nên theo Cộng Sản, tôn thờ Karl Marx, Lenin, Mao, Hồ, hay Ông Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Chí Tôn, Thiên Chúa, Jehovah, Allah để khi ĺa dương thế c̣n có hy vọng một đời sau hạnh phúc, và khi c̣n sống c̣n có chút lương tâm yêu thương tổ tiên cha mẹ anh chị em bà con xóm giềng cùng đồng loại.  Ngược lại nếu trong xă hội loài người không ai c̣n tin vào sự hiện hữu của ÔNG TRỜI, ĐẤNG CHÍ TÔN vô h́nh chủ tể muôn loài muôn vật th́ con người sẽ ăn thịt con người, cướp bóc khắp mọi nơi, mạnh được yếu thua như súc vật.  

 

     Đọc câu nầy, về mặt phương pháp luận, ta đă thấy Francis Dương bị kẹt vào thế nhị nguyên đối đăi: Không Thiên Chúa th́ chỉ là Cọng sản, không Cọng sản th́ chỉ phải là Thiên Chúa, chứ không c̣n chọn lựa nào khác ! Vậy trước khi có Cọng sản th́ sao ? Đây là cái loại đầu óc bị cầm tù và bị nhồi sọ bởi ông Giáo hoàng Pio XI từ hơn 70 năm trước để chống Cọng mà mở mang nước Chúa ở Bùi Chu Phát Diệm, nay c̣n đọng lại mà Linh mục Trần Tam Tĩnh đă nói đến trong tác phẩm “Thập giá và Lưỡi gươm: “Ở một số địa bàn Công giáo tiêm nhiễm nội dung chống Cộng của thông điệp Divini Redemptoris của Piô XI, nên người ta phải sống trong một thứ hoang mang, thời gian để lại những hậu quả rất nghiệm trọng. Một vài lănh tụ Công giáo đă vạch ra một đường lối xử thế, mà nhiều người rồi đây đă thấy là xảo quyệt gian manh”.

 

     Sau đây là một bài học nhỏ cho Francis Dương về “Vô Thấn” và “Hữu Thần”.

 

    Đoạn trên của Francis Dương là luận điệu cố hữu của Công giáo, kẻ thù không đội trời chung với Cộng sản.   Tại sao Công giáo lại chống Cộng một cách điên cuồng bất kể thủ đoạn như vậy?  Thật là dễ hiểu, v́ lư thuyết của Marx đă vạch trần bộ mặt thật của Ki Tô Giáo, kết quả là đưa Ki Tô Giáo vào con đường suy thoái không có cách nào cứu văn.  Hiện tượng này thật là rơ rệt, không những chỉ ở Âu Châu, cái nôi của Ki Tô Giáo, mà c̣n ở khắp nơi trên thế giới, kể cả Bắc Mỹ.  Học giả Công giáo Joseph L. Daleiden đă viết trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition, Prometheus Books, New York,  1994): “Căn nguyên sự thù ghét của giáo hội Công giáo đối với Cộng Sản là giáo hội ư thức được rằng Cộng Sản, về ảnh hưởng, là một địch thủ tôn giáo.” [2]    

 

     Francis Dương có biết là:  

 

     Trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đă quyết định sống “như là Thiên Chúa không hề hiện hữu” (nghĩa là sống như là “vô thần”) [3]

 

     Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, th́ Benedict XVI đă lên tiếng phàn nàn như sau:

 

     “Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần v́ các xă hội càng ngày càng trở nên thế tục và không c̣n cần đến Thiên Chúa nữa. [4]

  

     Cũng theo tin hăng Reuters ở Rome th́ Giáo hoàng Benedict XVI đă phải đau ḷng mà chấp nhận một sự thực: “Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của ḿnh, một thế giới mà con người càng ngày càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần ǵ đến Chúa Giêsu nữa. Những Giáo Hội gọi là 'truyền thống' xem ra như đang chết dần.” [5]

 

     Những sự kiện trên chứng tỏ rằng niềm tin vào một “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai Vũ Trụ” của các khoa học gia mà Francis Dương nêu lên để quảng cáo cho “Đấng Chí Tôn..” ngày nay chẳng c̣n mấy giá trị.  Nó chỉ c̣n giá trị đối với “đám quần chúng tín đồ ngu si, và những linh mục xảo quyệt” [Robert G. Ingersoll, in 1870:  The people are stupid, and the priests are cunning].

 

     Hơn một thế kỷ sau, S.T. Joshi cũng đưa ra một nhận định tương tự:  “Câu hỏi chính không phải là tại sao tôn giáo (tác giả muốn nói đến Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Ki Tô Giáo) không chết đi mà là tại sao nó c̣n tiếp tục tồn tại trước hàng núi những bằng chứng trái ngược [với những ǵ các tôn giáo trên rao truyền].  Đối với tôi, câu trả lời có thể thâu tóm trong một câu thẳng thắn: quần chúng tín đồ th́ ngu si [6]

 

     Thật ra, theo định nghĩa th́, Vô thần chỉ có nghĩa là không tin, từ chối, không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa [Atheism = Disbelief in or denial of the existence of God].  Thiên Chúa ở đây phải hiểu là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo. Vô thần không có nghĩa là chống Thiên Chúa, v́ chống một cái không hiện hữu là một chuyện vô ích.  Nói cho đúng ra, Vô Thần, nếu có chống, là chống sự mê tín của con người vào một Thiên Chúa do chính con người bày đặt ra.

 

     Đối với giới “Chống Cộng Cho Chúa” [CCCC] th́ hai chữ “vô thần” hầu như bao giờ cũng đi liền với hai chữ “Cộng sản” trong những bản văn chống Cộng ở hải ngoại, và ngay cả ở trong nước.  Điều này chứng tỏ là những người Chống Cộng Cho Chúa chẳng hiểu ǵ về vô thần hay Cộng sản.  Họ chỉ lập lại như những con vẹt những luận điệu chống Cộng của Công Giáo sau chiêu bài “vô thần” làm như “vô thần” là có tội với Thiên Chúa, là vô đạo đức của Thiên Chúa v…v…

 

     Bất cứ người nào có đôi chút kiến thức cũng phải hiểu rằng: CS là một hệ thống chính trị xă hội – kinh tế [Communism is a socio-economic political system] trong khi Vô Thần là một lập trường đối với các tôn giáo (thần giáo), đặc biệt là Ki Tô Giáo [Atheism is a position taken in respect to religion, especially Western religion], và Vô Thần đă có từ trên 2000 năm nay, trong khi Cộng sản mới chỉ ra đời cách đây trên 100 năm.

 

     V́ không hiểu rơ chủ trương vô thần của Marx cũng như bản chất của vô thần cho nên ngày nay vẫn c̣n có những người cuồng tín đần độn, kể cả những người gọi là trí thức Công Giáo,  và cả một số trí thức Phật Giáo thiếu trí tuệ, vẫn tiếp tục kết hợp Cộng sản với Vô Thần, làm như Vô Thần là một trọng tội xấu xa cần phải diệt trừ.  Họ không đủ kiến thức để hiểu rằng, khi họ kết hợp Cộng Sản với Vô Thần là họ đang thực sự tôn vinh Cộng Sản. 

 

     Thật vậy, như Voltaire đă nhận định: “Vô Thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” [Atheism is the vice of a few intelligent people] và trên thực tế, Vô Thần là kết quả tiến bộ trí thức của con người, như Frank E. Tate đă tuyên bố như sau:

 

     “Suốt cuộc đời tôi, tôi đă tiến bộ từ một người sùng tín đến một người theo thuyết “bất khả tri” và bây giờ là một người vô thần.   Tôi dùng từ “tiến bộ” v́ tôi tin rằng đó thực sự là một sự tiến bộ, tiến từ sự chấp nhận mù quáng vào một huyền thoại phi lư đă lỗi thời đến sự nghi ngờ và sau cùng đến sự từ bỏ và không c̣n tin nữa.

 

     Chính cái huyền thoại đó – cuốn Thánh kinh Do Thái-Ki Tô – là một cuốn ghi chép kinh hoàng về những cuộc đổ máu, dâm dật, và cuồng tín không đếm xỉa ǵ đến đời sống và sự an sinh của những người nào không bày  tỏ niềm tin mù quáng của ḿnh vào những giới luật được tŕnh bày qua những lời lẽ mâu thuẫn và không thể nào xảy ra được” [7]

 

     Những người Công Giáo thường bị tẩy năo, nhồi sọ từ nhỏ là những người không tin vào Thiên Chúa của họ là “vô thần” (trong đó có cả Phật giáo và Không giáo “ma quỷ” của Alexandre de Rhodes nữa), và vô thần có nghĩa là vô đạo đức của Ki Tô Giáo, và do đó có thể làm tất cả những điều ác v́ không c̣n sợ Thiên Chúa của họ như Francis Dương viết ở trên.  Nhưng nếu chúng ta đọc lịch sử giới hữu thần và so với giới vô thần, chúng ta sẽ thấy rằng đạo đức của giới hữu thần thực sự thua xa đạo đức của giới vô thần.  Lịch sử Ki Tô Giáo đă chứng tỏ như vậy.  Tại sao?  Bởi v́ Ki Tô Giáo tin vào cuốn Thánh Kinh của họ, và trong Thánh Kinh, những điều luân lư đạo đức chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với những phần vô đạo đức, phi luân.

 

     Sự thực là, hững người vô thần nổi tiếng từ xưa tới nay đều là những bậc thông thái, có đạo đức, chứ không tàn bạo, ngu đần, vô đạo đức như một số giáo hoàng thờ thần trong cái tôn giáo thờ thần là Công giáo như lịch sử đă chứng minh. Và trong những xă hội Ki Tô Giáo “hữu thần”, tỷ lệ những tội ác như giết người, cướp của, loạn luân, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con, ma túy v..v.. đă vượt trội những xă hội “vô thần”.  Thí dụ:

 

     Mỹ là một nước “hữu thần” hạng nh́ (sau Phi Luật Tân) trong thế giới ngày nay, v́ theo Francis Dương th́ có 51.3 % theo Tin Lành và 23.9 % theo Công giáo, số người tin vào sự “thiết kế thông minh” của một ông Thiên Chúa để tạo nên nước Mỹ làm dân của Thiên Chúa (God’s people).  Nhưng những tội ác như linh mục loạn dâm, đĩ điếm, cần sa, ma túy, gian manh lừa đảo, giết người, băng đảng xă hội đen v..v.. đều chiếm giải quán quân trên thế giới.  Nói có sách, mách có chứng: sau đây là vài con số thống kê của Mỹ:

 

      -  Thống kê năm 2000:  14 triệu người tuổi từ 12 trở lên dùng ma túy (6.3% dân số).

   -  Năm 2001: 15.980 vụ giết người, 90.491 vụ hiếp dâm.  Cứ 2 phút lại có một người bị hiếp (tài liệu của bộ Tư Pháp)

      -  Trên 1 triệu gái măi dâm hành nghề trên đường phố, nhà tắm hơi (sauna), pḥng tẩm quất (massage parlor) và qua điện thoại, trong đó có 300.000 vị thành niên.  Thành phố New York tốn $43 triệu mỗi năm để kiểm soát các vấn đề liên quan đến măi dâm.

      -  14.000.000 người nghiện rượu.

      -  Có 2.200.000 tù nhân Mỹ đang ngồi tù.  Cả thế giới có 9.000.000 người đang ngồi tù, Mỹ chiếm 22% trong khi tỷ lệ dân số của Mỹ trên thế giới chỉ có 5%.

-  Ở Trung Quốc [xứ vô thần] th́ cứ trong 100.000 người có 111 người ngồi tù, ở Mỹ [xứ hữu thần] là 686 người, gấp hơn 6 lần trong khi dân số Mỹ chỉ bằng 24% dân số Trung Quốc.

      -  50% các cặp vợ chồng do Chúa kết hợp đi đến ly dị.

      -  Từ 4% đến 10% dân chúng đồng tính luyến ái.

      -  Tới nay đă có hơn 5000  linh mục Công Giáo bị truy tố về tội cưỡng dâm trẻ em phụ tế và nữ tín đồ, chưa kể số Mục sư Tin Lành..

 

     Có thể những người thờ thần, hay thờ Chúa cũng vậy, muốn biết là một người vô thần có những cảm nghĩ ǵ?  Tôi xin mượn vài tư tưởng của Robert G. Ingersoll.  Ingersoll là một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ.  Tên ông ta có trong lịch sử, trong tự điển.  Những tư tưởng của ông đều có trong các thư viện lớn và trên Internet.  Tượng đài tưởng  niệm ghi công ông khai phóng đầu óc giới trẻ được xây ở Peoria, bang Illinois.  Ingersoll phát biểu như sau về cảm nghĩ của một người vô thần.  Tôi chỉ xin nêu ra vài tư tưởng trong đó:

 

     “Khi tôi tin chắc rằng Vũ trụ là thiên nhiên – và rằng những thánh ma, thiên chúa chỉ là những huyền thoại, th́ những cảm nghĩ, nhận thức, và niềm hân hoan về sự tự do, giải thoát đă xâm nhập vào đầu óc tôi, vào linh hồn tôi, và vào từng giọt máu trong người tôi.  Những bức tường của cái nhà tù của tôi [Ki Tô Giáo] đă sụp đổ, ngục tù tăm tối đă được tràn ngập ánh sáng, và tất cả những then cửa, chấn song, gông cùm đă trở thành cát bụi.  Tôi không c̣n là một tôi tớ hèn mọn, một người hầu, hay một nô lệ nữa (Xin đọc trang nhà Mucsu.net: Người Ki Tô Giáo vẫn thường tự nhận là tôi tớ hèn hạ, là người hầu việc Chúa v..v.. )  Tôi đă tự do:

 

-  tự do suy tư, phát biểu tư tưởng

-  tự do sống theo ư tưởng của tôi

-  tự do tận dụng mọi khả năng, mọi giác quan của tôi

-  tự do t́m hiểu

-  tự do vứt bỏ mọi tín điều ngu đần và độc ác, mọi sách “mạc khải” mà những người dă man đă tạo ra chúng và mọi truyền thuyết man rợ của quá khứ

-  tự do thoát khỏi những giáo hoàng và linh mục

-  tự do thoát khỏi những sai lầm được thánh hóa và những lời nói láo mang tính thánh

-  tự do thoát khỏi sự sợ hăi về một sự đau đớn vĩnh hằng (đày hỏa ngục)

-  tự do thoát khỏi những ma, quỉ và thiên chúa.” [8]

 

    Để khai sáng cho Francis Dương biết ai là những người “vô thần”, không tin vào cái gọi là “Ô ng Trời” hay “Đấng Chí Tôn Vô H́nh quản cai Vũ Trụ” của Francia Dương, tôi xin liệt kê tên của một số nhỏ những nhân vật có tên tuổi trên thế giới mà tôi cho là quen thuộc nhất đối với chúng ta, trong số 600 nhân vật (lẽ dĩ nhiên vẫn chưa đầy đủ) trong cuốn 2000 Years of Disbelief: Famous People  With The Courage To Doubt của James A. Haught, (Prometheus Books, 1996), những nhân vật có thể xếp vào trong đoàn thể của những người “vô thần”, theo thứ tự A, B, C.  Chúng ta nên để ư là trong danh sách này có những tên mà Francis Dương cho vào danh sách những người “hữu thần” nhưng không hề ghi xuất xứ, những tên có gạch dưới:

 

     Lord Acton - John Adams - Ethan Allen - Steve Allen – Aristotle - Isaac Asimov - Sir Francis Bacon - Honoré de Balzac - Charles Baudelaire - Simone de Beauvoir - Ludwig van Beethoven - Hector Berlioz - Georges Bizet - Charles Bradlaugh - Johannes Brahms - Benjamin Britten - Giordano Bruno - Pearl Buck - Albert Camus - Andrew Carnegie - Marcus Tullius Cicero - Auguste Comte – Confucius - Nicolaus Copernicus - Clarence Darrow - Charles Darwin - Claude Debussy - Daniel Defoe – Demosthenes - Charles Dickens - Denis Diderot – Diogenes - Alexandre Dumas - Will Durant - Thomas Edison - Albert Einstein - George Eliot - Albert Ellis – Empedocles – Euripides - William Faulkner - Richard P. Feynman - Gustave Flaubert - Antony Flew - George William Foote - Anatole France - Benjamin Franklin - Sigmund Freud - Galileli Galileo - Indira Gandhi - Mohandas Gandhi - Giuseppe Garibaldi - Edward Gibbon - André Gide - Johann Wolfang von Geothe - Thomas Hardy - Stephen Hawking - Joseph Haydn - George W. F. Hegel - Martin Heidegger - Fred Hoyle - Victor Hugo - David Hume - Aldous Huxley - Robert G. Ingersoll - Thomas Jefferson - James Joyce - Franz Kafka - Immanuel Kant - Johannes Kepler - Jean de la Bruyère - Pierre Simon de Laplace - William E. H. Lecky - Abraham Lincoln - John Locke - James Madison - Karl Marx - Jules Massenet - Somerset Maugham - Guy de Maupassant - Henry Louis Mencken - Michel de Montaigne - Baron de Montesquieu - Wolfang Amadeus Mozart - Jawaharlal Nehru - Friedrich Nietzsche - Madalyn Murray O’Hair - Thomas Paine - Pablo Picasso - Max Planck - Marcel Proust - Jules Renard - Eleanor Roosevelt - Theodore Roosevelt - Jean-Jacques Rousseau - Carl Sagan - George Sand - George Santayana - Jean Paul Sartre - Arthur Schlesinger - William Shakespeare - Adam Smith – Socrates - Baruch Spinoza - Richard Strauss - Leo Tolstoy - Mark Twain – Voltaire - George Washington - Daniel Webster - H. G. Wells – Zeno - Émile Zola.

 

     Danh sách nầy được tác giả James A. Haught chọn lựa theo tiêu chuẫn là “những người thông minh, có học, có khuynh hướng phê phán [những hiện tượng] siêu nhiên và những điều gọi là sự thật được hiễn lộ của tôn giáo. Cho nên không có ǵ đáng ngạc nhiên khi t́m thấy [trong danh sách nầy] tên tuổi một số lớn những người hoài nghi và vô tín ngưỡng trong số những nhà phát minh, khoa học gia, nhà văn, nhà cải cách xă hội và những nhân vật làm đổi thay thế giới trọng đại của chúng ta - những người thường được gọi là vĩ nhân. Sự tiến bộ của văn minh Tây phương đă phần nào là một câu chuyện về chiến thắng từ từ những áp bức của tôn giáo, và những người nghi ngờ kiệt xuất nầy là những vị đàn ông cũng như phụ nữ đă không cầu nguyện, đă không quỳ trước các bàn thờ, đă không hành hương, và đă không đọc kinh nguyện. Cuốn sách nầy là một cuốn sách trích dẫn tổng hợp những lời phát biểu của các “vĩ nhân” cả Đông lẫn Tây, từ cổ đại cho đến hiện đại…[9]

 


Trần Chung Ngọc

[Source: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN89.php - 1/2010]

NDVN, ngày 27/1/10



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend