TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM: Linh mục TRẦN TAM TỈNH (CHƯƠNG III)


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

  

 

 

Linh mục TRẦN TAM TỈNH

 

 

 

 

 

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM

 

 

 

  

 

 

 01

 

 

 

   

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - 1978

 

  

 

 

Chương III

 

GIÁO HỘI TRONG CƠN BĂO BÙNG

 

 

    1 ─ GIÁO HỘI CHIẾN THẮNG

 

    “Tại các vùng tôi đă đi thăm, người Cộng sản đă giành được một loạt thắng lợi về chính trị, hành chính, quân sự và – cũng phải nói thôi – tinh thần… Điều đă gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi, hỡi ôi, lại là tinh thần hăng hái họ đă tạo được nơi các cán bộ không Cộng sản và sự ủng hộ mạnh mẽ họ giành được từ phía nông dân”. (Joseph Alsop, phóng viên chống cộng, ngày 31-8-1954).

 

    Lêo Secnơ (Leo Cherne) viết trong báo Look ngày 19-1-1955 rằng: “Nếu tổ chức đầu phiếu hiện nay th́ phần lớn người Việt (miền Nam) sẽ bỏ cho Cộng sản… Chúng ta biết làm được ǵ?”.

 

    Các phóng viên người Mỹ kể trên có lẽ chưa đọc lời tuyên bố chính thức của các tu sĩ ḍng Tên trong báo Missi mười lăm hôm sau hiệp định Giơnevơ, vốn đă tiên liệu bằng giấy trắng mực đen cuộc đầu phiếu cho năm 1956, như sau: «Sẽ không có đầu phiếu, dầu người của Nhà nước có suy nghĩ nói năng thế nào cũng mặc. Sẽ không bao giờ có đầu phiếu, bởi một lẽ là không thể làm việc đó, nếu chính quyền miền Nam có may mà thắng cử, th́ liệu chính phủ Việt minh có chịu giải tán quân đội, bộ máy hành chính, cảnh sát của họ để tuân theo sự phán quyết của dân chúng chăng? Thực ra, Việt minh vẫn mong một thắng lợi trọn vẹn, càng ḥa hoăn th́ càng có tính quyết định hơn. Họ mong chiến thắng về tâm lư «giải phóng» bởi v́ các bối cảnh chính trị và mối liên lụy miền Nam mắc phải, lại có lợi cho họ.

 

    «Nhưng các cuộc bầu cử có lợi cho Việt minh không thể xảy ra, bởi v́ Hoa Kỳ và các thành viên trong Đông Nam Á không thể chấp nhận một sự đảo ngược cán cân như thế. Càng không thể được, khi mà chính quyền Việt Nam đă nhất định quay sang phía Hoa Kỳ, được coi là thành tŕ các nước tự do» (Missi số 7.1954, tr.252).

 

    Danlơt (F. Dulles), Quốc vụ Hoa Kỳ, đă chẳng nói trong một mật điệp gửi cho phụ tá của ông, ngày 7-7-54, đang tham dự thương nghị Giơnevơ như sau: «Chẳng c̣n hồ nghi về việc các cuộc bầu cử có thể thống nhất đất nước Việt Nam dưới quyền của Hồ Chí Minh» (Pentagon Papers 46). Aixơnhao cũng đă chẳng cả quyết sau này rằng: «Nếu bầu cử xảy ra theo như Hiệp định Giơnevơ đă tiên liệu th́ 80% dân chúng miền Nam sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh» đó sao?

 

    Phải nh́n vào ánh sáng của chính sách rơ ràng đó, người ta mới hiểu được tại sao Mỹ và các thành phần Công giáo đă nổ lực xô đẩy vào Nam những đoàn người Công giáo rồi đây trở thành những toán quân xung kích chống Cộng và có nhiệm vụ phá hoại bầu cử, để hoàn tất việc chia cắt đất nước ra làm hai, trái với Hiệp định Giơnevơ và bảo vệ cho chế độ mỏng manh do Mỹ dựng lên.

 

    Toàn thể độc giả chắc c̣n nhớ các biến cố tại Sài G̣n những năm 1954 – 1956. Ngô Đ́nh Diệm phải đánh dẹp các lực lượng phong kiến đă do quân Pháp dựng lên trong thời chiến: Quân B́nh Xuyên, lúc đó kiểm soát ngành cảnh sát Sài G̣n Chợ Lớn, các đảng phái vũ trang như Cao Đài và Ḥa Hảo và cái gọi là quân đội miền Nam, nhưng sĩ quan đều là tay sai của Pháp. Diệm đă thắng. Một đàng, nhờ Mỹ đă thành công hất cẳng Pháp, bắt họ rút hết quân thuộc địa về. Quân Pháp đi rồi, Ngô Đ́nh Diệm truất phế Bảo Đại, rồi tự phong là tổng thống Cộng ḥa miền Nam. Trong tất cả các cuộc khủng hoảng này, chú Sam luôn luôn có mặt đấy, «Theo yêu cầu của ông Diệm, chúng tôi (trung tá Lansdale, trùm CIA) đến thăm ông ta hầu như mỗi chiều, trong thời gian đó căng thẳng gia tăng, và nhiều khi cuộc thăm viếng của chúng tôi kéo dài hàng giờ» (Pentagon Papers, tr.20).

 

    Nhưng đàng khác, bên cạnh sự ủng hộ của Mỹ, Diệm cũng cần có lực lượng dân chúng để giúp ông cầm quyền. Nhân dân miền Nam tỏ thái độ hững hờ hoặc chống đối ông. Các đảng phái chính trị - tôn giáo hầu như không không muốn hợp tác với ông. Quân đội th́ c̣n ở dưới sự chỉ huy của các sĩ quan thân Pháp. Đảng Cần Lao do em của Diệm là Ngô Đ́nh Nhu lập ra, tập họp một nhóm chính trị gia Công giáo tư sản c̣n ở giai đoạn trứng nước. Diệm dựa vào khối Công giáo di cư, dễ sai bảo và cuồng nhiệt, sẵn sàng tuân lệnh các cha xứ kéo nhau xuống đường mít tinh ủng hộ. Cuộc xuống đường đầu tiên xảy ra ngày 21-9-1954. «Trong không khí bị đầu độc của Sài G̣n, những người di cư khốn khổ ấy dầu sao cũng là một sự khích lệ cho Diệm, khi họ kéo nhau biểu t́nh hô to ủng hộ ông ta, với những khẩu hiệu được bôi vẽ vội vàng. Như thế ông không phải cô đơn một ḿnh trong dinh Dorođôm, như một vài người muốn nói. Người di cư được tập họp theo những mệnh lệnh hết sức đơn giản. Họ biết rằng người cha của họ, người họ cậy nhờ, người bảo hộ cho họ, đó là tổng thống Diệm… Người ta nói với họ rằng tổng thống sắp gặp rắc rối với các đối thủ, thế là họ kéo nhau tới, một cách hiền ḥa, chẳng súng ống ǵ, để nói lên sự gắn bó của họ». Đó là mô tả t́nh h́nh theo báo Missi. C̣n phải thêm luận điệu của Paris-Match để hiểu sự kết cuộc bi đát của nội vụ: «Các đoàn xe cam nhông B́nh Xuyên xuất hiện, điều động vào địa h́nh rất tài, dựng cản khắp đưởng phố. Rồi bỗng dưng một loạt súng máy bắn xả vào một toán, mà chỉ cần nhẹ hơn cũng đử sức giải tán… Nhiều người chết và bị thương nằm la liệt giữa phố. Một nhóm nhỏ biểu t́nh tiến tới quảng trường Bá Đa Lộc và treo lên bờ rào của Nhà thờ chính ṭa mấy câu khầu hiệu. Các linh mục tới gỡ đi và khuyên đám biểu t́nh hăy giải tán.».

 

    Những màn tương tự cứ tiếp tục xảy ra tại Sài G̣n. Mỗi lần «Quốc gia lâm nguy», hàng chục ngàn người Công giáo, từ các trại di cư quanh thủ đô sắp hàng theo sau các cha xứ bận áo chùng thâm, kéo tuôn về thủ đô để biểu t́nh nói lên ư chí cương quyết ủng hộ Diệm tới chết. Quả thế, số phận họ được coi như gắn liền với số phận của thủ tướng.

 

    Nhờ viện trợ Mỹ, việc định cư hầu như được giao phó hoàn toàn trong tay cái cha xứ, các làng «kiểu Bắc kỳ» mọc lên tại Hố Nai, Cái Sắn v.v… bao quanh nhà thờ, lúc đầu chỉ làm bằng vật liệu nhẹ, sau được xây gạch thường có tháp chuông. Đó là những ốc đảo khép kín, vừa không thể xâm nhập, vừa không thể đánh chiếm.

 

    Nhờ sự ủng hộ vô điều kiện đó, sau cùng Diệm đă hất được Bảo Đại trong cuộc trưng cầu dân ư ngày 23-10-55, Diệm chiếm được 98% số phiếu. Nước Cộng ḥa được công bố và đương nhiên Diệm trở thành tổng thống đầu tiên. Các mục tiêu của chính phủ ông đơn giản lắm. a) củng cố miền Nam; b) giải phóng miền Bắc khỏi ách Cộng sản.

 

    Người ta đă viết nhiều về Ngô Đ́nh Diệm như một «người hùng Đông Nam Á», là «Côngxtantanh châu Á», là «Klôvít mới trong lịch sử Giáo hội». Theo dư luận của những người đă từng cộng tác với ông, Diệm là một người liệm khiết, độc tài, phong nho, và «trung cổ». Cổ lổ, ông càng tỏ ra cổ lổ hơn, khi tự cho ḿnh là «Người Chúa chọn» để cứu dân. Là người độc thân từng sống gần chục năm trong tu viện, chủng viện, tại Việt Nam cũng như tại Mỹ, ông gần gủi với thuyết thiên chủ hơn là dân chủ.

 

    Là cha của nước Cộng ḥa, ông chỉ chấp nhận một đảng duy nhất là Cần Lao, được thành lập và khuynh loát bởi ông em Ngô Đ́nh Nhu, làm ṇng cốt cho cái ông gọi là Phong trào cách mạng quốc gia. Phong trào này được tổ chức theo cơ cấu của một chính thể quốc gia, có tất cà các bộ chân rết như bộ máy chính quyền từ trên xuống dưới, khiến bất cứ ai muốn được thành tỉnh trưởng, quận trưởng, xă trưởng, giáo sư hay công chức, đều phải là đảng viên Cần Lao. Hệ tư tưởng của Đảng và Phong trào là «thuyết Nhân vị», chỉ có một trường đào tạo duy nhất là «Trung tâm đào tạo nhân vị’, do người anh của tổng thống là Giám mục địa phận Vĩnh Long, Ngô Đ́nh Thục sáng lập. Bất kỳ là Công giáo hay không, tất cả công chức đều phải qua một khóa học tập ít là một tháng tại đó. Cá lớp học đều do các linh mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản, con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những điều lầm lạc của Phật giáo, Khổng Giáo, về các tội ác của Cộng sản… Cuộc «tẩy năo» này do chính các linh mục thực hiện, họ là những người chỉ biết triết học kinh viện tây Âu và «đă tiếp thụ tại Rôma cái khái niệm về Phật giáo do các cố cựu thừa sai dạy cho» (lời thú nhận của giám mục Thục).

 

    Vị giám mục này, anh của tổng thống, niên trưởng của hàng Giáo phẩm, đă hóa thành trí năo tuyệt vời của chế độ. Người ta t́m tới ông để xin xỏ ân huệ, đặc quyền. Giám mục làm như hiện thân của Giáo hội, cũng như ông em là hiện thân của Nhà nước. Thật không phải vô cớ mà thiên hạ hàn tán về «óc hiếu thắng của Giáo hội» và chủ nghĩa gia đ́nh trị của nhà họ Ngô. Đáp lại các lời chỉ trích, giám mục Thục nói năm 1963 rằng «Trên bàn giấy của tôi nằm chồng chất những lô đơn xin tôi can thiệp cho họ ơn này ơn nọ, khổ thay, thường chỉ là thế tục, từ chóp bu của Giáo hội, băng qua các đồng nghiệp của tôi trong hàng giám mục (…) và xuống cho tới những tầng lớp thấp nhất của quần chúng, bất phân màu da và tôn giáo (tôi có thể kể ra tên tuổi đáng kính như hồng y Feltin và đức cha Rô-đanh (Rodhain). Tôi không thể dửng dưng trước những lời kêu xin của họ. Cho nên có sự ăn qua giữa cái thiêng liêng và cái phàm tục! Ở vào địa vị tôi, các ông sẽ xự sự thế nào?» (ICI, 15.4.1963).

 

    Từ 1955 đến 1963 là thời vàng son của chủ nghĩa cha chú, với những lợi ích thật chẳng bao nhiêu, nhưng với những hà lạm gây nhiểu tiếng tăm hơn, nhất là trong khi công chúng gồm 90% là ngoài công giáo mà bị kiểm hăm dưới một thứ «chính phủ công giáo». Khắp nơi, ở thành phố cũng như nông thôn, chiếc áo chùng thâm là biểu tượng của quyền thế.

 

    Tại các vùng Công giáo di cư, cha xứ là toàn quyền, là những ông vua tuyệt đối. Giám mục Ngô Đ́nh Thục cũng phải thừa nhận những chuyên hà lạm của các nhà độc tài áo đen. Trong một lá thư gởi cho một bạn cũ, ông viết: «Người ta có cả trăm hồ sơ, tố cáo các linh mục ăn cắp tiền của di cư, bằng những danh sách ma, bằng cách tẩy xóa sổ sách, bằng cách thu xếp để chiếm đoạt tiền bạc của chương tŕnh Cải cách ruộng đất, hoặc bán hàng viện trợ Mỹ (theo các lời tố cáo của chính bà con di cư) hay là giữ tiêu riêng các khoản tiền họ nhận để xây dựng nhà ở cho bà con di cư: Nhà nước (và cả Giáo quyền) dễ dăi cứ nhắm mắt làm ngơ cái vụ đó, bởi vỉ linh mục rất cần cho việc huy động dân chúng trong cuộc chống Cộng.

 

    Tại thành thị, các linh mục chẳng có bằng cấp, chẳng tài giỏi ǵ, mà vẫn điều khiển các trường tư thục, được tổ chức những áp phe vơ vét tiền bạc. Hai linh mục đă được cử làm viện trưởng của hai trong ba đại học của toàn miền Nam, trong đó có đại học Đà Lạt. Đại học này chỉ là Công giáo nơi danh nghĩa thôi. Đất đai và cơ sở kiến trúc của nó đều do Nhà nước đài thọ. Để có nguồn thu nhập cho đại học, giám mục Thục đă giành được độc quyền các vùng đốn cây tại Định Quán, là điểm ngon nhất nước. Ông cũng xin được những thửa đất ruộng mênh mông dọc bờ biển, để trồng dương liễu và dừa; công viện này được tiến hành nhờ có tiền vay được hàng triệu đồng của chính phủ. Đă có đại học Công giáo th́ phải có sinh viên. Song Đà Lạt là một thành phố nhỏ miền cao nguyên, ở xa các trung tâm đô thị lớn và nhất là nó chỉ là một thành phố biệt thự dành cho hạng giàu có. Muốn cho đại học Công giáo này hoạt động, chính phủ quyết định dời khoa sư phạm Sài G̣n lên, đem theo toàn bộ sinh viên, anh chị em nào cũng có học bổng Nhà nước cấp.

 

    Thế là nhờ có sự bảo trợ của giám mục Thục thuộc địa phận Vĩnh Long, sau nầy làm Tổng giám mục Huế, các sinh viên Công giáo đă giành được những vị trí then chót và lương bỗng cao. Ṭa giám mục trở thành một loại pḥng ngoài của dinh Tổng thống. Người ta thấy bộ trưởng, dân biểu, tỉnh trưởng, tướng tá (trong đó có nhiều người mới trở lại đạo) lũ lượt sắp hàng vào hầu đức cha. Tại các tỉnh, các linh mục cố vấn chính trị rất có ảnh hưởng cạnh tổng thống hoặc bên cạnh người em thứ ba của tổng thống – phó vương không danh nghĩa của miền Trung – các cha không ngần ngại t́m cách đưa con chiên ḿnh vào thay thế các quận trưởng hay xă trưởng không công giáo.

 

    Để thành lập những đơn vị bảo vệ dinh tổng thống Diệm chiêu mộ những người di cư tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, B́nh vốn nổi tiếng là dũng cảm và chống Cộng. Ông nói chuyện đó với linh mục Cao Văn Luận, một người rất thân tín. «Giả như tôi đem vào được ít chục ngàn chiến sĩ của Thanh Nghệ Tĩnh B́nh và một chục cán bộ có khả năng cỡ cha Khai, th́ mọi sự chắc chắn sẽ thành công. (Người ta biết rằng sau này linh mục Khai đă hối tiếc v́ đă qua nhiệt t́nh phục vụ ông Diệm).

 

    “Chính phủ công giáo” ngày càng trở nên lộ liễu khi ngành công binh, từng đoàn binh xa và vật tư của chính phủ được đưa ra sử dụng trong việc xây cất nhà thờ, chủng viện, các nhà thuê thuộc ṭa giám mục; khi các cán bộ nông thôn và công chính được phái đi lo việc trồng dương liễu và dừa cho đức cha, khi các binh sĩ được biệt phái thường trực tại văn pḥng Công giáo tiến hành, khi các giám mục có chỗ danh dự đứng bên cạnh tổng thống trong các nghi lễ công cộng, hay là trong các cuộc duyệt binh, khi chính phủ phê nhận luật gia đ́nh của bà Nhu, em dâu của Diệm, áp dụng – trong một nước mà 90% dân là không công giáo – các khoản luật gần giống như trong Giáo luật. Khỏi nói tới việc dựng các tượng Đức Mẹ do tay tổng thống, có giám mục nọ kia phụ vào, tại nhiều điểm ranh giới để «nhờ Đức Mẹ che chở đất nước khỏi nạn Cộng sản».

 

    Quả thế, Đức Mẹ cũng được đưa vào môi trường của chủ nghĩa hiếu thắng huênh hoang, nhất là dịp Đại hội Thánh mẫu tháng 2 năm 1959, có hồng y Agagian, sứ thần của Đức giáo hoàng qua chủ sự. «Ba trăm ngàn giáo hữu đă đi theo cuộc rước khổng lồ trong ngày kết thúc, sau đó hồng y đă long trọng dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm» theo tin tức báo chí thời ấy. Để cuộc rước đó thành công, ngoài sự tưởng tượng của Rôma và Pari, người ta đă huy động hàng ngàn tên công binh để xây dựng một bệ lớn trước nhà thờ chính ṭa Sài G̣n, để dựng lên cổng chào, đồng thời đưa ra hàng trăm xe căm nhông để vận chuyển hàng chục ngàn giáo dân từ các tỉnh về.

 

    Đức Mẹ cũng được cung kính đặc biệt tại La Vang, quăng 30 km mạn nam vĩ tuyến 17. V́ những lư do chính trị, ngôi nhà nguyện nhỏ mất hút trong rừng núi, bỗng trở nên một nơi hành hương cho toàn thể người Công giáo Việt Nam, thậm chí của toàn nhân dân Việt Nam! Được mệnh danh là «thành lũy thế giới tự do chống cộng sản», ngôi nhà nguyện khiêm tốn này vừa được nâng lên hàng Vương cung thánh đường từ sau Đại hội Thánh Mẫu, đă tiếp nhận vào tháng 8-1961 một cuộc hành hương khồng lồ nhất trong lịch sử chế độ Diệm. Ngày 16-8, tổng thống đích thân phú thác tương lai nước Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang. Trước mặt 200.000 người hành hương, đầy đủ các giám chức của Giáo hội, các bộ trưởng và công chức cao cấp, phần lớn không phải là Công giáo, tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục đă đọc lời kinh dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ, sau cuộc rước kiệu khổng lồ.

 

    Nhằm biến La Vang thành một thứ Lộ Đức Việt Nam, hàng giám mục đă tổ chức tại La Vang để lấy cho được cỡ 10 triệu đồng dành cho việc xây nhà thờ mới, các tượng Thánh Giá và cái hồ «làm phép lạ». Vé số được phân phối một cách đương nhiên cho các công chức, Công giáo hay không cũng mặc, bằng cách khấu trừ tiền lương của họ. Các học sinh nghèo, nhất là tại các trường học miền Nam, cũng phải mua vé số. Một số vé được đem giao cho các công chức và quân sự phân phối. Tại Sài G̣n, một bữa tiệc kiểu Mỹ đă được tổ chức trong đó có khách được mời phải đóng 2.500 đồng (ngang với một tháng lương của công nhân) gọi là để đóng góp cho Trung tâm quốc gia La Vang. Danh sách các ân nhân «tự nguyện» của La Vang rất dài, với những người đứng đầu sổ là Phó tổng thống người Phật giáo, các bộ trưởng, các tướng tá, mỗi người dân cũng từ 10.000 đến 20.000 đồng. Đối với Nhà nước cũng như giáo hội, La Vang không chỉ là một trung tâm tôn giáo, mà c̣n là biểu thị của chế độ chống cộng. Chẳng hạn khi b́nh luận cuộc hành hương năm 1961, tờ Viễn Đông, một tạp chí tuyên truyền của chế độ, đă viết: «La Vang là nơi ḥa nhập nên một, đối với người Công giáo, bản chất ḷng yêu nước với đức tin giải ra trước con mắt của kẻ tin một việc lựa chọn hai chiều thật đúng với việc quan pḥng của Chúa. Và sự chọn lựa này hiện rơ một lần nơi cái dự án kỳ diệu không tả nỗi và nơi vị trí địa dư của La Vang. Nguyện đường năm ngay đường ranh giáp với chủ nghĩa cộng sản vô thần, từ nay nhà nguyện này nổi lên như một «con đê thiêng liêng của Nước nhà».

 

    Bên cạnh chủ nghĩa hiếu thắng bề ngoài đó, phải nói thêm một thứ hiếu thắng khác về «mục vụ» như là đặc điểm của Giáo hội thời kỳ này, đó là việc đưa dân ngoại vào đạo. Giám mục Angxen (Ancel) phụ tá địa phận Lyon, đă nhắc lại lời giám mục Thục: «có những làng nguyên vẹn xin chịu phép rữa tội. Người ta không làm sao dạy giáo lư kịp cho họ… Và ông kết luận: «Đây là nước duy nhất tại Viễn Đông (không kể Philippin) đang trên đà trở lại đạo cả nước». Những con số người lớn chịu rữa tội, nhất là tại địa phận Qui Nhơn xem ra phù hợp với cảm tưởng của vị giám mục Pháp: 16.323 năm 1956-1957, 27.385 năm 1958-1959, 37.429 năm 1960-1961. Năm 1959, tại Qui Nhơn, chỉ trong một tháng, 61.000 người xin chịu phép rửa tội. Ơn Chúa h́nh như, đùng một phát, tuôn xuống như mưa trên địa phận của giám mục Phạm Ngọc Chi, giám mục phụ trách di cư những năm 1954-1956, ông đă nhận được từ cơ quan Viện trợ Công giáo Hoa kỳ 38 triệu đô la, của tổ chức viện trợ Pháp cũng như Caritas quốc tế c̣n nhiều triệu khác nữa.”

 

    Phong trào trở lại đạo hàng loạt như thế vừa là ky diệu vừa gây khó chịu, bởi v́ dân chúng trong vùng do đă sồng dưới quyền kiểm soát của Việt minh trong thời chiến tranh Pháp – Việt. Giám mục Chi đă cho chúng tôi biết rằng phép lạ đó, một phần v́ nhờ có việc tuyên truyền «thuyết nhân vị» của chính phủ, dọn đường cho quần chúng tại đây t́m gặp được đạo Công giáo và đàng khác nhờ các việc từ thiện Công giáo, các trường học, cô nhi viện, nhà thương, điểm phát quần áo, bánh ḿ và lương thực. Có người cho rằng việc theo đạo hàng loạt đó chỉ lập lại theo ngạn ngôn đă có từ thời Pháp, «đi đạo lấy gạo mà ăn» thôi. Quả thế, viện trợ Công giáo từ ngoài vào đều do các linh mục tự tiện thao túng và thường chỉ dành để phân phát cho người Công giáo. Dân chúng miền Trung này, là vùng nghèo nhất miền Nam, chẳng qua đă t́m nơi việc theo đạo Công giáo một phương tiện kiếm ăn. Có những người cũng cho rằng họ vào đạo để khỏi bị sách nhiểu về chính trị. Quần chúng ở đây, v́ đă từng sống lâu năm dưới chế độ Việt minh, nên bị t́nh nghi có liên hệ với «kẻ địch», bây giờ vào đạo là gặp được con đường để tỏ ḷng trung thành với chế độ hoặc ít ra tránh được những quấy nhiểu của cảnh sát. Đó là ơn Chúa hay chỉ là do động cơ khác của con người? Có thể nói là cả hai phía vậy.

 

    Điều chắc chắn là phong trào trở lại đạo đó chấm dứt với năm 1963, ngay khi tổng thống công giáo Diệm bị lật đổ.

 

    Về phép lạ Qui Nhơn, nên đọc thêm những ǵ viết sau đây của báo Missi (1-1959): «Các linh mục phải kêu xin tiếp cứu. Giám mục Fulton Shenn đă nghe những lời yêu cầu đó và người Công giáo Hoa Kỳ đă hợp tác với giám mục Chi. Hàng ngàn tràng chuỗi, sách kinh đă được gửi tới Qui Nhơn, cũng như những lô ảnh vẻ Đức Mẹ và tượng Chúa Kitô là những dấu hiệu đầu tiên của con người mới.

 

    Người ta nói đến lư do chính trị của cuộc trở lại. Điều đó chắc chắn là có và có một cách hết sức đặc biệt.

 

    Mùa hè 1955, Ngô Đ́nh Diệm tung ra chiến dịch Tố Cộng và qua luật 10-1959, ông đă lập các Ṭa án quân sự đặc biệt, như một bộ máy đàn áp. Luật này, kết án tử h́nh và phải thi hành trong ṿng 3 ngày, khỏi có quyền bào chữa, tất cả những người Cộng sản, những người có quan hệ với Cộng sản (những chiến sĩ yêu nước chống Pháp, cả cha mẹ và bạn bè của họ), tất cả những bị cáo được xem là phạm đến an ninh quốc gia. Các cuộc càn quét đă bắt về ngàn «tên đỏ», từ nay gọi là Việt cộng và nhiều người trong số đó đă bị giết. Một số khác may mắn hơn, như ông Nguyễn Hữu Thọ, rồi đây sẽ là Chủ tịch Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng, từng là luật sư ở Sài G̣n và là Chủ tịch Ủy ban Ḥa b́nh Sài G̣n Chợ Lớn, phải sống lê lếch trong các trại giam. Trong lănh vực này, tài liệu bí mật của Lầu Năm Góc cũng giống như những ǵ do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa phổ biến hồi đó: «Suốt thời gian của cái gọi là chiến dịch Tố cộng được tung ra mùa hè năm 1955, từ 50.000 đến 100.000 ngàn người đă bị nhốt vào ngục. Nhưng như bản báo cáo có nói, phần lớn những kẻ bị bắt đây không phải là đảng viên Cộng sản». Đó là lời của Bơttơphiu (F. Butterfield) viết trong bản phân tích Tài Liệu Lầu năm góc. Tác giả c̣n thêm: «Chương tŕnh công dân vụ đă thất bại, bởi vỉ tổng thống Diệm hầu như chỉ phái toàn những người di cư miền Bắc hay là công giáo đến các làng đó. Nông dân cho rằng những thứ người đó không phải là người của họ” (Pentagon Papers, tr.82).

 

    Mặc dầu thái độ thiên vị của Diệm không chỉ nằm lại nơi các bảng thống kê, cũng cần ghi nhận rằng, trong một miến Nam chỉ có 10% là Công giáo, mà tại Quốc hội có tới 30% dân biểu Công giáo, với 3 vị chủ tịch quốc hội liên tiếp là Công giáo: trong bộ máy hành chánh, có 9 trên 14 tỉnh trưởng miền Trung và 14 trên 18 tỉnh trưởng miền Nam là Công giáo, trong chính phủ th́ 4 trong số 12 bộ trưởng là Công giáo và trong quân đội 3 trong số 16 tướng lănh là Công giáo.

 

    Các bản thống kê nói trên cho thấy một khuôn mặt xă hội không mấy đúng đắn về người Công giáo Việt nam. Như đă tŕnh bầy ở trên, gần như toàn thể giáo dân người Việt là thành phần nông dân, nghèo đói. Cho đến năm 1954, giữa đám rừng tác giả và thi sĩ nổi tiếng, người ta chỉ đếm được một thi sĩ là công giáo. Rất ít người là trí thức. Như vậy, việc tăng vọt số người Công giáo trong chính trường cần được giải thích không phải v́ họ có nhiều trí thức tŕnh độ vượt trổi, hay là tài ba lỗi lạc hơn thiên hạ trong lănh vực quản lư hành chánh và chính trị.

 

    Trong một báo cáo được soạn thảo vào cuối tháng 8, theo chỉ thị của ṭa Khâm sứ Sài G̣n, để gửi cho Vatican, một linh mục khá thông thạo các các vấn đề Việt Nam có viết: «Người ta đă nói đến tiếng «hiếu thắng». Tôi nghĩ tiếng đó không phải là thái quá để đánh giá cách xự sự của một số giám mục và linh mục. Trong các cuộc lễ nhậm chức giám mục hai năm trước đây cho hai đức cha Qui Nhơn và Đà Nẵng, người ta đă tổ chức những cuộc biểu t́nh khổng lồ. Không phải tất cả do người Công giáo đơn phương làm. Nhân sự và phương tiện của chính phủ đă góp một phần lớn vào các cuộc tập họp đó, mà không phải bao giờ cũng do ḷng tự nguyện…»

 

    «Các đêm canh thức Giáng sinh, các Tuần Ta, nhật Tuần thánh của chúng tôi, được tổ chức với sự hỗ trợ to lớn của quân đội và bộ Thông tin, gây nên ganh tỵ nơi người Lương. Và các vụ xổ số, hội chợ do các linh mục tổ chức để có tiền làm việc thiện, gây bực bội cho rất nhiều người trong quần chúng. (Tài liệu này, chúng tôi có bản sao, chắc đă ảnh hưởng mạnh mẽ tới đường lối của Vatican thời kỷ này)».

 

    Một biến cố cuối cùng, lẽ ra phải đánh dấu tuyệt đỉnh của chủ nghĩa hiếu thắng, nếu không có vụ khủng hoảng Phật giáo nổ ra: Tổng giám mục Thục đang chuẩn bị lễ Ngân khánh, ăn mừng 25 năm làm giám mục, ngày 29-6-1963. Từ tháng 3, một Ủy ban Ngân khánh đă được thành lập, do Chủ tịch Quốc hội làm chủ tịch, với nhiều vị bộ trưởng và nhân vật tên tuổi làm ủy viên. Người ta tổ chức tại Sài G̣n một bữa tiệc mỗi thực khách phài đóng 5.000 đồng và tại các tỉnh th́ tổ chức các cuộc lạc quyên, vừa xin vừa ép, với những cuộc xổ số do tỉnh trưởng chỉ thị. Người ta muốn biến cuộc lễ Ngân khánh của Giám mục thành Quốc lễ. Nhưng cuộc lễ này đă chỉ ăn mừng «trong thân mật», do cuộc nổi lên của Phật tử.

 

    2 ─ HOA SEN ĐẨM MÁU

 

    Năm 1963, ngày Phật đản đúng mồng 8 tháng 5. Bà con Phật tử đem cờ Phật giáo treo đầy đường phố Huế. Chính phủ, trích dẫn qui tắc đă ra từ 1957, ban lệnh cất đi các lá cờ tôn giáo đó, nếu cần th́ dùng cả vũ lực, bởi vỉ chỉ có quốc kỳ mới được treo ở nơi công cộng. Hàng chục ngàn Phật tử đă tham gia xuống đường phản đối. Quân đội, theo lệnh chính phủ đă dẹp tan đám biểu t́nh và một loạt đạn súng máy giết chết 9 trẻ em.

 

    Đó là một biến cố bi đát, nhưng bề ngoài th́ cũng chỉ là sự việc lẻ tẻ thôi. Tuy nhiên vụ cờ Phật giáo phản ánh sự ch́n muồi của cơn khủng hoảng từ lâu đă âm ỷ dưới đám tro. Dư luận quốc tế được báo động qua bác sĩ Wuhl, giáo sư đại học tại Huế, đă săn sóc những người bị thương trong vụ nầy. Sự căm phẫn của dân chúng tăng lên tột độ khi Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngă tư Lê Văn Duyệt-Phan Đ́nh Phùng ngày 11 tháng 6. Tổng thống Diệm nói đến «việc Việt cộng đă len lỏi vào kích động dân chúng». Giám mục Thục giải thích vụ này, đă xảy ra hầu như trước mặt ông, tuyên bố rằng đó chỉ là một «đám lửa rơm» thôi. C̣n bà Nhu th́ cho mấy ông thầy chùa tự thiêu là tṛ «nướng thịt».

 

    Nhưng dân chúng rất xúc động. Dư luận quốc tế th́ cho các biến cố đó là dấu hiệu chứng tỏ chính phủ Công giáo có bách hại đàn áp tôn giáo. Và dĩ nhiên người Công giáo, và cả Giáo hội Việt Nam, đều liên lụy trong đó. Trong giới Công giáo, người ta t́m cách giảm nhẹ sự việc và giải độc dư luận «vốn bị báo chí chạy theo giật gân lừa bịp». Chẳng hạn, đức Tổng giám mục Sài G̣n nói «Không có chuyện bách hại Phật giáo từ phía chính phủ, cũng như từ phía Công giáo. Không thể v́ một hành vi phân biệt đối xử lẻ tệ của cá nhân, mà đổ lỗi cho Nhà nước và Giáo hội. Vụ rắc rối ở Huế xảy ra ngày 8-5-1963 liên quan đến chuyện cờ Phật giáo treo tại các chùa, thiết tưởng có thể tránh không để xảy ra, nếu không có việc nhắc lại chỉ thị năm 1957 ra lệnh cấm treo cờ tôn giáo, dầu là Công giáo hay Phật giáo, ở nơi công cộng. Điều đă gây tức giận cho Phật tử là nhắc lại chỉ thị nọ lại xảy ra chỉ có 2 hôm trước lễ Phật đản và chỉ mấy bữa sau cuộc lễ nhậm chức của hai giám mục các địa phận gần đó, trong đó có cờ Ṭa thánh bay phất phới khắp nơi» (Missi 1963, tr. 354). Một số người Công giáo tại Nam Việt Nam và một số tạp chí thừa sai Pháp và Ư, cho rằng Phật tử có tham vọng biến đạo ḿnh thành quốc giáo và một nhóm thiểu số cuồng tín sẽ tiếp tục «tự thiêu và để cho người ta thiêu ḿnh; nhằm bảo vệ một vị trí có đặc quyền ưu đăi».

 

    Có người c̣n đi xa hơn. Theo họ, đây chẳng qua là một âm mưu Cộng sản giật dây phong trào Phật tử, nhằm trục lợi kiểu «đục nước béo c̣». Hăy nghe tác giả của bản phúc tŕnh gửi Vatican mà chúng tôi đă nhắc tới trên kia: «Bọn Phật tử chẳng hề quan tâm ǵ tới các lợi ích và vấn đề hệ trọng của đất nước. Chẳng mấy khi đọc được trong các tạp chí Phật giáo những bài chống Cộng. Họ có khả năng chống lại các yếu tố của học thuyết Mác-xit chăng? Có thuở nào họ dám mạo hiểm đi vào con đường hành động chống lại Cộng sản không? Chúng tôi tin là không, vởi v́ có những tay ṇng cốt Cộng sản đang đóng vai điều khiển phong trào Phật giáo.

 

    «Chính phủ nhằm mục đích cung cấp một cơ sở học thuyết cho cuộc chiến đấu chống Cộng của ḿnh, nên đă công nhiên đưa ra những quan niệm duy linh và nhân vị. Hai học thuyết này đă được tŕnh bày, không phài như là sản phẩm của đạo Công giáo, mà như là sản nghiệp chung của nền văn hóa tổ tiên. Thế nhưng, theo tôi biết được, thời chưa bao giờ thấy một vị sư, hoặc một giảng viên Phật tử, bàn về hai học thuyết đó trong các tạp chí hay trong diễn thuyết công khai…

 

    «Trong lúc các cha xứ lao ḿnh, cả xác lẫn hồn, vào việc định cư dân chúng và tổ chức khai thác các vùng đất bỏ hoang, nhất là vùng cao nguyên, đào tạo dân quân bảo vệ làng xă, th́ tu sĩ Phật giáo chẳng quan tâm ǵ tới các chuyện đó bao nhiêu, không phải là không quan tâm ǵ hết».

 

    Quan điểm này h́nh như là của phần đông người Công giáo miền Nam vẫn mang những tư tưởng chống Phật giáo khó dấu diếm. Chính tác giả của tài liệu này cũng thú nhận rằng «người của ḿnh (Công giáo) thường có cặp mắt chẳng tốt ǵ đối với bất kỳ cái ǵ do bên Lương làm, trái lại thường chế diễu ḷng tin, nghi lễ của họ, ngang nhiên khinh dễ các vị sư, chùa chiền của họ và hễ có dịp là phá luôn cả bàn thờ, với các đồ họ cúng trên đó».

 

    Có những người khác đổ việc nỗi loạn của Phật tử không những cho Cộng sản, mà cho cả đối thủ chính trị và bọn Mỹ, lợi dụng sự bất b́nh của một thiểu số nhà sư để trục lợi cho ḿnh. Đó là ư kiến của một nhân vật quan trọng trong Giáo hội, theo Missi kể.

 

    Những nhà quan sát ngoài Công giáo và có lưu tâm th́ phân tích t́nh h́nh chính trị kỹ càng hơn, th́ nghĩ rằng phong trào chống đối vừa có tính chất tôn giáo vừa có lư do chính trị của nó: «Một mức nào đó, phụ thuộc thôi, có sự đối chọi Phật giáo chống lại Công giáo. Nhưng phần chính yếu quan trọng hơn nhiều, là phong trào này đem những bộ phận đông đảo dân chúng, ở đây là Phật tử, chống lại một chính phủ độc tài do người Công giáo nắm hầu hết».

 

    Đó cũng là một số ư kiến của một số linh mục và giáo dân sáng suốt hơn, nhưng tiếng nói của họ tan như hạt muối bỏ biển ở giữa trào lưu hiếu thắng của Giáo hội lúc bấy giờ. Bởi v́ những nhà lănh đạo Giáo hội quá tự măn, v́ được đứng đầu một «thiểu số nắm ưu thế», quá tin tưởng vào các bản thống kê về việc theo đạo hàng loạt, đă mù quáng bởi tham vọng biến cả nước Việt Nam thành «đứa con đấu ḷng đích thực của Giáo hội».

 

    Quả thế, vụ rắc rối xảy ra ở Huế, lẽ ra có thể tránh được, nếu Tổng giám mục Huế đă không đích thân nhúng tay vào. «Ngày 7 tháng 5, theo lời linh mục Luận, một trong những linh mục gắn khá sâu với nhà Ngô và là viện trưởng đại học Huế - từ La Vang về, đức cha nhận thấy đường phố được giăng đầy cờ Phật giáo… Ngài bực ḿnh và ngay chiều hôm đó, Ngài cho gọi ông Hồ Đấc Khương vào, ông là đại diện của chính phủ, và quở trách ông, tại sao để cờ Phật giáo treo đấy đường phố, trái với lệnh nhà nước cấm treo cờ đạo nơi công cộng. (Thật hết sức mỉa mai, thành phố Huế, nơi có ṭa giám mục của đức cha Thục, nhiều lần đă từng được chứng kiến những cuộc rước kiệu Công giáo hết sức linh đ́nh, với cờ vàng trắng của Vatican phất phới bay, chẳng những trên đường phố, mà ngay cả trước các cơ quan chính quyền. Năm 1961, ngày ông nhậm chức Tổng giám mục Huế, ông đă được nghênh đón tại sân bay bởi cả một tiểu đoàn bận lễ phục và một lá cờ ṭa Thánh khổng lồ được dựng ở ngay sân bay).

 

    Vị đại diện chính phủ chẳng biết làm thế nào được, bởi ông hiểu rơ, nếu cấm treo cờ lúc này th́ không tiện chút nào, v́ người ta sẽ cắt nghĩa việc đó như một điều hạ nhục Phật giáo. Ông điện vào Sài G̣n. Chẳng rơ bức điện có tới Tổng thống hoặc ông cố vấn Nhu chăng, nhưng một bức điện từ Văn pḥng Tổng thống đánh ra khẳng định rằng lệnh cấm cờ vẫn c̣n hiệu lực… Rồi câu chuyện ra sao th́ sau đó ai cũng biết rồi…

 

    Nhưng không nên đơn giản nghĩ rằng cơn khủng hoảng Phật giáo chỉ v́ có chuyện treo cờ và cấm treo cờ. Thực ra biến cố Huế chỉ là ngọn đuốc châm lên, soi rơ sự bất măn của anh em Phật giáo từ lâu nay cứ bị trù dập. Có nhiều nguyên nhân của sự bất măn này.

 

    Trước tiên là chỉ thị số 10 của Phủ tồng thống, lấy lại các sắc lệnh của chế độ thuộc địa, nói rằng: «Tất cả các hiệp hội tôn giáo, văn hóa, thể dục, chỉ trừ Công giáo, đều không được mua bất động sản, nếu không có phép của Phủ tổng thống». Bản văn của sắc lệnh đặt Công giáo ra ngoài và hạ Phật giáo xuống hàng các hiệp hội văn hóa và thể thao, tất nhiên nó phải làm bực bội Giáo hội Phật giáo. Việc trở lại thời thuộc địa như thế, cũng không làm hài ḷng đại bộ phận quần chúng nhân dân, dẫu sao cũng không bao giờ từ bỏ truyền thống nhà Phật. Hơn nữa, sắc lệnh khơi lại sự đố kỵ đối với người Công giáo, mới đây đă từng liên minh với bon xâm lược và hôm nay lại liênn minh với chủ mới là Mỹ. Sau nữa, những hành động lặp đi lặp lại như dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ, đưa nhiều người công giáo lên các chức vụ quan trọng trong chính quyền, cho phép giải thích sắc lệnh, vốn đă bất công, như một cử chỉ «t́m cách Kitô hóa» cả nước là trái ư mọi người.

 

    Tiếp đến, việc áp đặt chủ nghĩa «Nhân vị» – học thuyết vừa mông lung vừa ngược với tinh thần người Việt – làm hệ tư tưởng của Nhà nước, việc khinh dể tất cả giá trị tinh thần và văn hoá của cả chục thế kỳ lịch sử Việt Nam đă từng thấm nhuần trong nhân dân, việc thiên vị ưu đăi quá rơ ràng đối với người Công giáo trong mọi lănh vực, đă tạo ra sự nổi giận lúc đầu c̣n ngấm ngầm, sau đă nổ rơ ra nơi quần chúng Phật tử. Bà con Phật tử ngày càng ư thức hơn rằng, muốn chống lại sự độc tài của Diệm, muốn cân bằng lực lượng của Công giáo, th́ phải hiệp nhau lại trong Giáo hội Phật giáo.

 

    Cuộc nổi loạn của Phật tử làm cả chế độ phải lung lay, nhưng cho tới ngày sụp đổ, chế độ vẫn tiếp tục gia tăng đàn áp, lục soát các chùa, bắt giam sư săi và các chiến sĩ Phật tử. Hoa kỳ, chỗ dựa nếu Diệm không c̣n dựa được là sẽ rớt đài, đă quyết định thay ngựa. Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 đă được chuẩn bị kỹ lưỡng, đă dàn dựng khéo léo, như chính Tài Liệu bí mật Lầu năm góc cho chúng ta biết.

 

    3 ─ AI LÀ NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM.

 

    Phải nhờ ánh sáng các sự kiện lịch sử nói trên, mới hiểu được sự phản ứng của vị Linh mục người Bỉ, một «cha xứ xung kích» khi ông tâm sự với Lacutuya: «Ai là người chịu trách nhiệm về t́nh h́nh tan hoang đó, về sự thất bại hoàn toàn của chế độ Diệm, về sự xao xuyến rối răm hiện nay của giới Công giáo chúng ta? Ai, tôi xin phép hỏi ông? Phải chăng quân đội? Phải chăng chính quyền? Phải chăng bọn Mỹ? Không, chính là giới Công giáo! Vâng chính khối Công giáo là kẻ chịu trách nhiệm. Họ đă chạy theo hiếu thắng, họ đă bay như diều, chẳng bao giờ biết kiềm hăm, t́m cách sửa chữa những lạm dụng không thể chịu nổi của chính chế độ. Có phản ứng chăng, th́ chỉ ở những cấp hết sức khiêm tốn thôi. Họ đă đồng ư với một kiểu lẫn lộn hoàn toàn giữa giầu có với Công giáo, giữa tư sản ph́ nôn với hàng giáo phẩm. Và ngày nay nông nỗi đă xảy ra như thế này, chỉ c̣n chờ Phật giáo trả thù, t́nh h́nh có thể rẽ ngoặt một cách thảm hại nếu Việt Cộng thành công nắm được Phật giáo, như hiện họ đang ra sức làm. Người Công giáo không chịu sửa ḿnh, không chịu cứu uy tín cho ông Diệm, phải bắt đầu lại từ số không, trên những đống gạch vụn, nếu phía địch là phía hiện đang năm tới 80% số người có khả năng của đất nước này, c̣n cho chúng ta đủ ngày giờ…»

 

    Tiếc thay, vị thừa sai kia đă không lên tiếng sớm hơn! Bàn cờ đă ngă ngũ. Theo lệnh của Mỹ, Diệm phải từ chức hay là chết thôi. Một tài liệu mật của Ṭa Khâm sứ cho chúng ta biết một chuyện quan trọng, từ trước vẫn không ai hay biết, liên quan đến cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963:

 

    «Sự yên tĩnh của giờ nghĩ trưa bị xé tan vào lúc 13 giờ 45, bởi một loạt súng máy nổ ran phía sân bay Tân Sơn Nhất, ở 6km mạn Bắc thành phố. Nghe loạt súng bất thường vào giờ này, lập tức tôi nghĩ ra rằng đây không phải súng đảo chánh, mà chỉ là chuyện cục bộ do một nhóm quân đội chống lại lính bảo vệ và quân khu thủ đô nằm dưới quyền trực tiếp của Phủ tổng thống. Tới 15 giờ 15, tôi nhận được cú điện thoại của ông Cobốt, tôi có thể ghi lại đúng như sau: «Thưa Đức cha, như Đức cha có thể nghe đó, tiếng súng đă nổ. Quân đội đă chiếm sân bay Tân sơn Nhất và căn cứ Biên Ḥa, lúc này họ đang tiến về hướng Phủ tổng thống (Dinh Gia Long).

 

    «Nghe ông nói tiếng Pháp, tôi lấy làm lạ, tại sao ông cho tôi những tin tức loại này, mà không cần giữ giọng kín tiếng lại, tôi bèn hỏi người đối thoại cho biết có phải là đích thân ông Cabốt chăng. Ông này muốn tôi biết chắc bèn nói: Tôi là bạn của Đức cha, cũng đă từng là bạn của đức cha Asta. Đức cha nhớ lại, chúng ta đă gặp nhau nhiều lần tại ṭa Khâm sứ». Nghe tôi hỏi tại sao tôi biết tiếng Ư mà lại không dùng nó để giữ sự kín đáo hơn tại Sài G̣n, ông nói rằng ông biết tiếng Ư nhưng không quen nói.

 

    Từ lúc đó, tôi th́ nói tiếng Ư, c̣n ông ta th́ nói tiếng Pháp. Cuộc điện đàm giữa chúng tôi tiếp tục như sau: «Tôi đă thấy cần tán thưởng vai tṛ trung gian mà ṭa Khâm sứ đă vui ḷng chấp nhận giúp trong vụ Phật giáo. Tôi phải nói cho Đức cha hay rằng, nếu lần này ông Diệm và ông Nhu có nhờ ṭa Khâm sứ làm trung gian, th́ xin Đức cha nói với hai ông rằng, không c̣n chuyện trung gian hoặc thương lượng nữa đâu, bản thân tôi cũng như phía quân đội đă quyết định là chỉ cho họ khỏi chết thôi, họ có thể dùng lối này hay lối khác để ra khỏi nước và không bao giờ trở lại nữa».

 

    «Tôi nhận thấy giọng nói minh bạch và quyết định của lới đưa tin này. Tuy nhiên, nhớ lại bầu không khí thương lượng đă có từ trước cho tới gần đây giữa chính phủ Diệm và Hoa Kỳ, tôi hỏi thêm mấy câu để ông Lốt xác lập lâi đều đó. Tôi đang tính chuyển qua những người đang bị bao vây tại Dinh Gia Long các điều kiện người ta cho họ nếu họ chịu đầu hàng…»

 

    So sánh các cuộc đàm thoại đó với cuộc điện đàm được ghi âm giữa ông Diệm và Cabốt Lốt đă do Tài liệu Lầu năm góc công bố, người ta thấy rằng tổng thống đă gọi đại sứ Mỹ vào lúc 4 giờ rưỡi chiều, sau khi đă nhận được tin của Ṭa Khâm sứ. Sau khi khước từ can thiệp giúp đỡ Diệm, ông Lốt nói với người đối thoại: … «Đến giờ này rồi, tôi lo cho chính sự an toàn của Tổng thống nhất. Người ta cho tôi hay rằng, những kẻ đang điều động vụ này sẵn sàng cho ông và em ông lối thoát để ra khỏi nước, với điều kiện ông từ chức. Ông có biết chuyện đó chưa? ». Diệm trả lời: «Không biết (nghỉ một lát), ông có số điện thoại của tôi không? Lốt đáp: Có. Xin cứ gọi tôi, nếu tôi có thể làm ǵ được ǵ cho sự an toàn sinh mạng cho ông».

 

    4 ─ CÁC TƯỚNG TÁ MÚA MAY QUAY CUỒNG

 

    Ngày trước, mỗi lần tồng thống Diệm thoát khỏi một vụ mưu sát hay một cuộc đảo chánh, người ta hát kinh ‘Te Deum» (Tạ Ơn Chúa) tại các nhà thờ. Lần này, cả kinh Requiem (an táng) cũng không có. Tờ nhật báo công giáo Thẳng Tiến mới hôm kia tuyên bố vung vít rằng. Chúa đă làm những việc lạ lùng đặc biệt để bảo vệ mạng sống cho Tổng Thống, bởi ông là người Chúa chọn lựa cứu nhân dân Việt Nam. Ngay sau vụ ám sát Diệm, cũng tờ nhật báo đó đă gọi ông là tên đôc tài, là tay đàn áp. Sự trở mặt đó cần được giải thích như một hành động xu thời, hay là chỉ v́ hốt hoảng thôi? Quả thế, người Công giáo lúc náy sống trong sự hốt hoảng, lo âu sẽ bị trả thù. Diệm bị ám sát, cái đảng toàn quyền Cần Lao đă sụp đổ như một ṭa nhà bằng giấy. Phong trào Cách mạng quốc gia khổng lồ, như do một bàn tay phù thủy làm biến mất dạng. Thay vào đó, người ta dựng lên Hội đồng Cách mạng gồm toàn tướng tá. Trong quăng trống chính trị này, cái trống rỗng không lấp đầy được với những đảng phái chính trị tái xuất giang hồ, những nhóm nhỏ thường chẳng có chương tŕnh rỏ rệt nào, và các tướng tá bắt đầu màn nhảy múa quay cuồng của họ. Hết binh biến lại đảo chánh, hết đảo chánh lại binh biến thay phiên nhau.

 

    Cuộc binh biến đấu tiên do «Minh đại ca» chỉ huy đă bị lật nhào ngày 30 tháng giêng 1964 bởi một nhóm tướng trẻ do Nguyễn Khánh điều khiển. Khánh lại phải cuốn gói ngày 13 tháng 9 để nhường tay lái cho một «tên Thồ trẻ», tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ. Như một phép lạ, ngày 27 tháng 10 năm 1964, xuất hiện một chính phủ dân sự của Phan Khắc Sửu, chẳng mấy bữa đă bị lật đổ ngày 20 tháng chạp trong một cuộc «đảo chính bỏ túi». Nguyễn Khánh lại lên ghế Chủ tịch, bằng một cuộc trở về yên ổn ngày 28 tháng giêng năm 1965, để ba tuần lễ sau đó lănh án «lưu vong», làm đại sứ lưu động, rồi sau đó làm chủ một quán ăn ở Pari. Vụ lật đổ thứ sáu đưa ông tướng hung hăng Nguyễn Cao Kỳ lên cầm đầu chính phủ.

 

    Trước trận múa máy quay cuồng đó của tướng tá, những người theo dỏi t́nh h́nh Nam Việt Nam một cách sơ sài sẽ lấy làm bỡ ngỡ, khó hiểu. Nhưng thực tế đơn giản hơn nhiều. Có một nhân vật ngồi ung dung trong văn pḥng ḿnh, tại sứ quán Mỹ, cứ giật dây, điều khiển các con rối và thay đổi chúng tùy thích, đó là Cabốt Lốt. Chính Lốt đă công khai tuyên bố với những người cứ bảo rằng không ai thay thế được Diệm, rằng: «Tại Việt Nam có hàng chục người có khả năng thay thế ông ta». Chính Lốt đă giết con «cu cu» (nói theo ngôn từ của tác giả cuốn «Vị đại sứ», bởi v́ Mỹ «sẽ không rút khỏi Việt Nam trước khi thắng giặc» (theo lời của ngoại trưởng Đin Rớt (Dean Rusk), Lốt có nhiệm vụ chọn người có khả năng thực hiện mục tiêu của Mỹ. Nhất là kể từ nay, chú Sam không thể rút khỏi Việt Nam mà không mất mặt. Tài liệu nghiên cứu của Lấu năm góc nói rơ: Phần chúng ta đă có trong cuộc đảo chính này, chỉ làm gia tăng trách nhiệm của chúng ta tại đó, cũng như sự lún sâu của Mỹ vào đó» (Pentagon Papers, tr. 158, 205).

 

    Nhưng con người mà Mỹ mơ ước chẳng thể t́m ra. Các tướng tá của cuộc lật đổ đầu, những sĩ quan mang quá nhiều sao và được đào tạo kiểu Pháp, bị cho là nhút nhát và chậm chạp trong việc chấp hành lệnh của quan thầy nóng nảy đă bị thay thế bằng Nguyển Khánh, «con cưng» của tướng Pôn Hackin và được Têlo đánh giá là «không ai thế được» trong một báo cáo ngáy 10-8-1964. Tên đồ đệ dễ bảo này phải làm bung xung cho thầy ḿnh, vốn ước mơ từ lâu việc ném bom Bắc Việt. Ngày 8 tháng 8, sau một vụ xô xát nhỏ trong hải phận Bắc Việt, giữa hai tàu tuần tiểu nhỏ Bắc Việt và cá khu trục hạm của hạm đội 7, tổng thống Giônxơn đă ra lệnh ném bom phía trên vĩ tuyến 17. Nhưng cả Nguyễn Khánh lẫn chính phủ dân sự của Sửu, đều không thể thỏa măn được tham vọng của Lầu năm góc. Sau đó, họ t́m được một người, tướng Nguyễn Cao Kỳ, đă từng lái máy bay ra đánh phá nhiều lần trên vĩ tuyến 17, con người ôm ấp trong ḷng hế hoạch tấn công miền Bắc và nhiều lần đă tuyên bố ư định đó với báo chí.

 

    Tuy nhiên viên tướng ăn chơi này, dầu hoạt bát và hữu hiệu đấy, cũng chỉ là một chính trị gia bết bát. Chẳng bao lâu, y đă đành chịu đóng vai nh́ bên cạnh một tướng cao mưu, xảo kế hơn, đó là Nguyễn Văn Thiệu. Tay này đă trở lại đạo Công giáo dưới chế độ Diệm. Một số người cho rằng y theo đạo Công giáo v́ những động cơ chính trị, hơn là lư do tôn giáo.

 

    Nhằm tô vẽ cho chế độ Sài G̣n có một nước sơn dân chủ và để hợp thức hóa cho cuộc chiến thực dân mới tại Việt Nam. Cộng ḥa đệ nhị ra đời: Hiến pháp mới được công bố ngày 1-4-1967 và cuộc bầu cử tổng thống được tiến hành ngày 2-9-1967. Thiệu đắc cử với Nguyễn Cao Kỳ đứng chung một liên danh. Bốn năm sau, Thiệu được tái đắc cử với tỉ lệ áp đảo là «94.36%», trong một cuộc bầu cử lịch sử mà chỉ ḿnh ông ta độc diễn.

 

    Trong khi đó, sự can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam trở nên trực tiếp và ồ ạt. Người ta biết rằng từ năm 1961, Kenơdi đă phái «lực lượng đặt biệt» qua Nam Việt và đă từng tung ra một chiến dịch bí mật phá hoại và tấn công miền Bắc, bằng cách sử dụng các toán biệt kích Công giáo chọn lọc trong thành phần di cư. Ngày Diệm đổ, có 17.732 lính Mỹ tại Việt Nam trong tư cách «cố vấn quân sự». Sau vụ ám sát Diệm, t́nh h́nh chính trị và quân sự xấu đi. Để «cứu văn các vị trí Mỹ tại Đông Nam Á» và để «chận đường Trung Quốc», Lấu năm góc vạch ra kế hoạch hành quân cà trên không lẫn ở đất liền.

 

    5 ─ ĐỐI DIỆN VỚI CHIẾN TRANH CỦA MỸ

 

    Ngày 5 tháng 3 năm 1965, ba ngàn rưỡi lính Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng, rồi nhiều đơn vị khác tiếp theo sau. Đến cuối năm ấy, quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam lên tới 184,414 người. Các lần bổ sung cứ tiếp tục theo nhau: đến cuối năm 1966, quân lính Mỹ đă lên tới 400,000 và cuối năm 1967 có quăng 500,000 quân. Việc leo thang không chiến đă được chuẩn bị bởi một loạt vụ khiêu khích rùm beng nhằm bắt «phía địch phản ứng», rồi ngày 6-2-1965, cuộc ném bom mở rộng đầu tiên tại Bắc Việt được tiến hành và liên tiềp những vụ đó nối đuôi theo hầu như hằng ngày. Đến cuối năm đó, chiến tranh không quân đă đạt nhịp độ 1500 chuyến cất cánh mỗi tuần. Các vụ ném bom hàng ngày trở nên càng tàn bạo hơn ở Bắc cũng như Nam, trong hai năm 1966 và 1967. Người ta đưa đất nước này trở lại «thời kỳ đồ đá», để các nhà lănh đạo của nó phải qú gối xuống. Tất cả được đưa ra sử dụng nhằm đưa tới mục đích ấy: bom hóa học, bom napan, các loại vũ khí tối tân của kho chiến cụ Hoa Kỳ mang qua.

 

    Song nhân dân Việt Nam vẫn bất khuất. Ngày 31 tháng giêng năm 1968, Mặt trận Giải phóng tấn công Ṭa đại sứ Mỹ tại Sài G̣n và một số thành phố quan trọng khác. Người dân Mỹ cuối cùng đă nh́n ra sự khùng dại của các tướng lănh đạo họ. Tổng thống Giônxơn thừa nhận sự thất bại và ngày 3-4-1968 chịu ngồi vào bàn hội nghị ḥa b́nh với Bắc Việt Nam và Mặt trận Giải phóng.

 

    Các cuộc thảm sát do bàn tay lính thủy đánh bộ của Mỹ trong những cuộc hành quân «t́m giết cho sạch, phá cho hết”, trước những cảnh hủy diệt các thành thị khắp nơi trên thế giới dấy lên những phản ứng khác nhau. Tại Mỹ, đám «diều hâu» vỗ tay và biện hộ cho sự can thiệp của Mỹ bằng những lư lẽ tôn giáo. Dựa vào lời lẽ của chính quyền, theo đó «người Mỹ sang Việt Nam là do lời yêu cầu của chính phủ Nam Việt Nam, nhằm chấm dứt việc miền Bắc xâm lăng và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho một cuộc dàn xếp êm đẹp». nhiều linh mục rao giảng hô hào một cuộc thánh chiến. Một bài của tạp chí Ave Maria (25-9-1955) trích lời đức Piô XII, khẳng định rằng: «Bất kỳ nước nào đi xâm lăng đều phải bị các nước khác trừng trị. Điều chúng ta đang làm đây là việc trị tội một nước xâm lăng nọ đang bị nước Trung Hoa Cộng Sản xúi dục». Theo một điều tra dư luận của Catholic Pools Ino năm 1967 th́ có 80% linh mục Hoa Kỳ tán thành chính sách hiếu chiến của Giônxơn. Lời biện hộ ngoạn mục nhất là do Hồng y Xpenman, tổng tuyên úy quân đội Hoa Kỳ, sau thánh lễ Vọng Giáng Sinh năm 1966, đă hô hào lính Mỹ tại sân bay Tân Sơn Nhứt, trước mặt đại tướng tổng tư lệnh Oétmolen (Westmoreland) rằng: «Tôi tin rằng chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến bảo vệ nền văn minh… Như tổng thống chúng ta đă tuyên bố, cũng như lời ngoại trưởng, không thể chỉ thắng một cuộc chiến nửa vời được. V́ thế, chúng ta cầu nguyện cho chiến tranh chóng đến với chúng ra, bởi v́ không thể nghĩ rằng một giải pháp nào, ng̣ai sự chiến thắng… Chúng ta phải chiến thắng, hầu bảo toàn những ǵ chúng ta gọi được là nền văn minh… Các bạn ở đây không chỉ là binh sĩ quân lực Hoa Kỳ, nhưng c̣n là binh sĩ của Đức Kitô”. Ít hôm sau, phát biểu trước mặt quân sĩ Hoa Kỳ, Hồng y lại cả quyết: «Ở đây, các bạn đang bảo vệ một chính nghĩa, chính nghĩa của văn minh và chính nghĩa của Đức Chúa Trời!

 

    Những lời tuyên bố đó của Hồng y, h́nh như bị lu mờ đi trước cuộc vận động chống chiến tranh do một thiểu số linh mục và người Công giáo Mỹ tung ta. Quả thế, từ 1965, có một số linh mục, tu sĩ nam nữ Công giáo phối hợp với những cuộc biễu t́nh do Tin Lành tổ chức đ̣i ngừng bắn và rút lính Mỹ về. «Thưa tổng thống, nhân danh Đức Chúa Trời, hăy ngừng tay lại».

 

    Đứng trước việc Mỹ leo thang chiến tranh, nhiều sinh viên đă tổ chức «biểu t́nh ngồi ỳ» hoặc băi khóa, nhiều mục sư, linh mục và giáo sĩ Do thái giáo cùng nhau lập ra một «Ủy ban giáo sĩ lo về Việt Nam». Rằng ḿnh chỉ là một thiểu số. «Chúng tôi nhận thấy với đầy lo âu rằng người Kitô giáo Hoa Kỳ, cho tới nay, đă không thành công trong việc góp phần vào việc giữ ḥa b́nh thế giới. Họ hầu như câm nín, đang khi đất nước ta càng ngày càng sa lầy vào chiến cuộc Việt Nam». Về phía Công giáo, t́nh h́nh c̣n tệ hơn. «Quả là đáng báo động, khi nhận thấy rằng người Công giáo không đưa ra một chứng cớ rơ rệt liên quan đến cuộc chiến khốn nạn này. Đă hẳn, có ít người trong họ, như các linh mục Đanien và Philip Berigan có làm chứng. Nhưng đa số người Công giáo th́ không. » (Sứ điệp Hội đồng Nhà thờ thế giới ngày 3-12-1965).

 

    Đúng thế, đa số người Công giáo Mỹ đi theo đường hướng của hàng giáo phẩm hơn là suy nghĩ tới những lời kêu gọi đầy lo âu của Hội đồng Đại kết các Giáo phái, của một số giới chức nước ngoài và của đức Phaolô VI, từ 1964, đă từng kêu gọi nhiều lần và tỏ ra lo lắng nhiều về nền ḥa b́nh. «Những khổ cực và lo âu phát xuất từ các cuộc tàn phá to lớn như thế, mà không dạy cho chúng ta điều ǵ sao? Nh́n thấy những cảnh xáo trộn của bao gia đ́nh tàn nát, của bao nhiêu thân thể bị xâu xé, cùng những thành thị bị hủy diệt, mà không gây được ảnh hưởng ǵ trong tâm trí những người có trách nhiệm hay sao? ». Trước và sau Giáng sinh 1965, đức Phaolô VI đưa ra một loạt hành động hăng hái, phục vụ cho một nền ḥa b́nh bằng con đường thương lượng.

 

    6 ─ GIÁO HỘI ĐỐI DIỆN VỚI VẤN ĐỀ H̉A B̀NH

 

    Trong bối cảnh như thế, thái độ của Giáo hội Việt Nam như thế nào? Sau một lúc bị gạt ra ŕa bởi nhóm tướng tá đảo chính và Hoa Kỳ đang muốn chơi con bài Phật Giáo, người Công giáo lại giành được thế mạnh chính trị vào năm 1965. Quả thế, trong vụ khủng hoảng Phật giáo và sau khi Diệm bị đổ, người Mỹ cứ nghĩ rằng có thể dựa vào Phật giáo để thực hiện mục tiêu của ḿnh. Nhưng Giáo hội Phật giáo Thống nhất, mặc dầu có nhiều xu hướng và ư đồ khác nhau, vẫn không tán thành chiến tranh và không chống lại việc thương thuyết với Cộng sản. Một điều chắc chắn, theo cây bút Xunbecgơ trong tờ Nữu Ước thời báo ngày 15-3-1965, tổ chức Phật giáo không đồng t́nh với kiểu cách của Oasinhtơn, mà lại nghiêng về phía các ước nguyện của Việt Cộng.

 

    Mất hứng trước thái độ của Phật giáo, Lầu năm góc quay lại luôn phía Công giáo và chơi cho hết ván bài này. Dĩ nhiên, trong các tài liệu của Tổng giám mục Sài G̣n, tiếng «ḥa b́nh» hay được nói đến, nhưng luôn luôn chỉ rơ rằng phải là một thứ «ḥa b́nh công b́nh bền vững» chứ không phải chỉ là «ḥa b́nh giả tạo chẳng khác ǵ một cuộc đầu hàng Cộng sản». Người Công giáo lại bắt đầu xuống đường, biểu dương lực lượng. Ngày 12-6-1966, 20.000 thanh niên Công giáo biểu t́nh trên đường phố, trước mặt 40.000 người đồng đạo của ḿnh. Thanh niên biểu t́nh được tổ chức thành những toán bán quân sự và bận đồng phục màu đen, có nịt lưng. Họ hănh diện hô các khẩu hiệu, rồi được quần chúng hô theo: «Nhân dân Việt Nam ghi ơn quân đội đồng minh» (Hoa Kỳ). «người Công giáo không thỏa hiệp với Xatan», «Liên hiệp với Cộng sản là tự sát». Đồng thời, các báo Công giáo hoan nghênh các cuộc ném bom của Mỹ như là «cử chỉ xứng đáng của người Xamarita tốt bụng». Họ tránh né không công bố các lời kêu gọi ḥa b́nh của Đức Giáo hoàng, hoặc kiểm duyệt cắt xén, hoặc t́m cách giới hạn ảnh hưỡng của những lời kêu gọi ấy. Chẳng hạn tờ Xây Dựng, nhật báo Công giáo, viết: «Đức giáo hoàng không được thông tin đúng đắn, Ngài không rơ t́nh h́nh phức tạp của Việt Nam, Ngài chỉ nắm được một khía cạnh của vấn đề, Ngài bị bao vây bởi nhóm người khả nghi... Đức giáo hoàng bị ép phải ăn nói có lợi cho kẻ thù... »

 

    Đức giáo hoàng, vừa nói ra một thông điệp đ̣i phải thương nghị tái lập ḥa b́nh, không thể không lo lắng trước thái độ thiếu sốt sắng của hàng Giáo phẩm Việt Nam, cũng như trước lập trường công khai ngược lại của người Công giáo. Thực ra, có một số người Công giáo, gồm linh mục và giáo dân, lấy lập trường thương lượng ḥa b́nh, như 11 linh mục đă kư tên vào một bản thương nghị và ḥa b́nh ngày 1-11-1966. Nhưng các tài liệu đó bị các cha xứ cấm giáo dân tiếp xúc, c̣n tác giả th́ bị anh em đồng nghiệp cô lập, và bị bề trên ruồng bỏ. Một nhà báo của tờ Thông tin Công giáo quốc tế đă hỏi một giám mục vào tháng 4 năm 1965 rằng: «Tại sao Đức cha không phổ biến rộng răi lời kêu gọi ḥa b́nh cửa đức Phaolô VI?” Trả lời: «Ông cứ xem bức thư của 11 linh mục. Đó là một kiểu lên tiếng nguy hiểm. Chính phủ có thể giải thích bức thư đó như một sự hùa theo Cộng sản. Và Giáo hội có thể v́ đó mà gặp rắc rối. V́ thế, chúng tôi khó ḷng mà nói được về ḥa b́nh. Bức thư đó gây nguy cơ chia rẽ Giáo hội, bởi v́ kẻ thù của chúng tôi có thể coi đấy như lập trường chính thức của hàng Giáo phẩm, điều đó không đúng đâu... Bên châu Âu, các ông không hiểu ǵ. Những người Cộng sản của các ông là lớp người tư sản, tử tế và hiền lành. Ở đây, biện pháp của Việt cộng kinh khủng lắm. Họ chôn sống những ai không chịu đi theo họ. Họ biết rơ từng người đàn ông, đàn bà, họ ghi số, kiểm soát, đóng khung dân chúng lại. Các ông không hiểu những điều đó là thế nào cả... ».

 

    Như để bắt các giám mục tỏ một thái độ mềm dẽo hơn, tháng 10 năm 1966, đức Phaolô VI đă phái một đặc sứ qua Sài G̣n. Trong sứ mạng khó khăn này, đức cha Pighêdoli đă chỉ làm được cho các giám mục Việt Nam y như với đức Phaolô VI và lặp lại nguyên xi các lời của Ngài: «Nhân danh Chúa, chúng tôi xin kêu lên: Hăy ngừng lại. Cần phải gặp gỡ nhau một cách thành thật…, Ḥa b́nh và tự do, phải tôn trọng các quyền con người, quyền lợi cách công đồng, nếu không th́ chỉ là ḥa b́nh mỏng manh và không bền vững».

 

    Bản tuyên bố hơi miễn cưỡng đó, xem ra không ngược lại với lời cả quyết của đức cha Pighêdoli được tờ báo Sống Đạo đăng tải: «Nếu có chống, hay đúng hơn, nếu có chống lại việc thương thuyết để đi tới ḥa b́nh, th́ đó là phía Công giáo. Nhận xét này là một cách tố cáo Giáo hội Việt Nam, quá chậm chạp trong phong trào ḥa b́nh, mặc dầu đă có những lời kêu gọi và các nỗ lực của đức Giáo hoàng». Các sự kiện xảy ra sau tháng 10-1966 xem ra xác nhận thực tế đau ḷng nói trên. Người ta trông thấy sự có mặt âm thầm của một giám mục Việt Nam trong buổi Hồng y Xpenman đưa ra bản tuyên bố hiếu chiến dịp lễ Giáng sinh 1966.

 

    Người ta cũng nhận thấy toàn thể hàng Giáo phẩm giữ im lặng hoàn toàn đối với «quả bom Xpenman», nó đă gây bối rối cho Vatican và khiến một số giám mục, linh mục và giáo dân trên thế giớ phản đối. Trái lại, tại Sải G̣n, một tờ tuần báo cho rằng «tư tưởng của Hồng y trùng hợp với tư tưởng của Đức giáo hoàng». Lực lượng đại đoàn kết đồng t́nh với lời tuyên bố của Hồng y người Mỹ, bởi v́ «các vụ ném bom Bắc Việt là đúng đắn và có thể biện hộ được». Hơn nữa, họ yêu cầu những người Công giáo «chủ ḥa» Hoa Kỳ «đừng làm ǵ, đừng nói ǵ có thể làm suy yếu sự kháng cự của Việt Nam». Giáo hội Việt Nam tin cậy vào đường lối cứng rắn, nghĩa là đường lối Mỹ, và chấp nhận lập trường chính thức của Lầu năm góc như một tín điều, theo đó người Mỹ sang Việt Nam chỉ nhằm bảo vệ miền Nam khỏi họa xâm lăng Cộng sản. (Người ta biết được nhờ việc công bố Tài liệu Lầu năm góc, rằng những lư do đích thực của cuộc viễn chinh Hoa Kỳ là lợi ích của Hoa Kỳ thôi). Giám mục Xét (Seitx) địa phận Kông-tum, đă không dấu diếm ư kiến ḿnh khi nói với ông Vanexem, một cựu tướng lĩnh của đạo quân viễn chinh Pháp rằng: «Tôi cam đoan, xâm lăng là từ Bắc vào. Và cuôc xâm lăng mang dạng tàn bạo nhất là xâm lăng các linh hồn. Dân của tôi là tốt hay xấu, tùy họ được che chở hay là bỏ rơi vào tay Việt cộng… Hoa Kỳ đă định bao vây và cô lập Trung Quốc. Để làm việc đó, c̣n thiếu Cambốt và Miến Điện. Nhưng Mỹ không thể lùi thêm một đốt ngón tay nữa, nhượng bộ một tấc đất, làm suy yếu vị trí của họ đi, là mọi sự sẽ lâm nguy, rồi sẽ mất hết». (Espoir à Saigon, tr. 171).

 

    Ít lâu sau vụ Xpenman, hồng y Cac-đin (Cardin) kư tên vào môt bản tuyên cáo «yêu cầu» ngưng tức khắc vụ ném bom của Mỹ tại Bắc Việt và phải tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam, bằng cách rút quân đội Mỹ về và chấm dứt mọi can thiệp nước ngoài vào Việt Nam. Chính Hồng y, vị sáng lập Phong trào Thanh Lao công, ngơ ư muốn qua Sài G̣n gặp Thanh Lao công Việt Nam. Phía Việt Nam đă phản ứng nhanh. Giám mục Phạm Ngọc Chi – người đă thường tháp từng Hồng y Xpenman trong cuộc viếng thăm Sài G̣n – đă nhân danh ḿnh và các linh mục, giáo dân của ông gửi một điện văn cho vị Hồng y người Bĩ, nói lên sự đau buồn của ông khi thấy Hồng y cổ vơ một nền ḥa b́nh giả dối, bằng hành động «liều lĩnh và nguy hiểm trước khi bàn với hàng Giáo mục Việt Nam và Ṭa Khâm sứ tại Việt Nam». Đức cha Khâm, Giám mục phụ tá Sài G̣n, viết cho Ngài rằng tại Việt Nam, người ta coi Hồng y là «người bất bảo». Nhiều bức điện khác cũng gởi tới phản đối Hồng y. Để đánh dấu rơ sự phản đối của dân chúng, nhiều cuộc mít tinh khổng lồ đă được tổ chức tại Sài G̣n và các làng Công giáo, với những khẩu hiệu «Hồng y Cac-đin làm bung xung cho những tay chạy t́m ḥa b́nh giả dối đang làm nên đạo quân thứ năm của bọn Cộng sản xâm lăng Việt Nam», «khi để cho những tay ḥa b́nh giả dối lợi dụng tên tuổi ḿnh, Hồng y Cac-đin đă để bàn tay ḿnh vấy máu tín hữu Công giáo Việt Nam chuộng ḥa b́nh thật», «Đả đảo những tay sai phát xít làm tôi mọi cho Cộng sản»…

 

    Có những tờ báo Công giáo gọi Hồng y là «Hồng y Cộng sản, là chiên ghẻ, là con ma quĩ». Tờ Thắng Tiến, một tờ báo Công giáo, coi đó như dấu hiệu của một âm mưu thực dân và Cộng sản chống lại miền Nam tự do. Người ta tố cáo sự điên rồ của các tín hữu người Âu, kể cả Giám mục và Hồng y dám nói việc chung sống giữa Công giáo và Cộng sản vô thần, giữa thế giới tự do và khối Cộng sản.

 

    Năm 1967, khắp nơi trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ, nhiều cuộc biểu t́nh được tổ chức chống lại hành động của Mỹ tại Việt Nam. Tại Việt Nam, các binh sĩ Mỹ đă đẩy được lên ngôi tổng thống một người công giáo (Nguyễn Văn Thiệu) và đưa vào thượng viện đa số nghị sĩ Công giáo (35 ghế trên 60). Đó là thắng lợi lớn của chủ thuyết «đánh tới cùng». Tại Mỹ và trên thế giới, chính phủ Giônxơn đang ngày càng mất hết tín nhiệm. Ngày 2-5-1967, Đức Phaolô VI kêu gọi thương thuyết và ngừng ném bom. «Cần ngưng việc ném bom Bắc Việt và đồng thời chấm dứt việc chuyển quân và vũ khí vào miền Nam». Bảy tháng sau đó, ngày 8-1-1968, Hội đồng Giám mục miền Nam cũng chỉ lặp lại các lời kêu gọi trên của Đức Giáo Hoàng, lời kêu gọi bị vô hiệu hóa bởi thái độ im lặng của Ngài về vụ lính Mỹ thảm sát dân thường tại Mỹ Lai tháng 3 năm 1968 bởi các bài Công giáo chống lại việc thương thuyết do báo chí Hoa Kỳ đề nghị.

 

    Tại Mỹ, sau cuộc bầu cử tháng 11 năm 1968, Nic-xơn thay thề Giônxơn. Tổng thống mới hứa sẽ rút lần binh sĩ Hoa Kỳ về và sẽ Việt Nam hóa chiến tranh, đồng thời tăng cường ném bom Bắc Việt. Nhà trắng hy vọng làm dịu bớt tiếng phản đối của dân chúng Mỹ bằng cách giảm đến tối thiểu số binh sĩ bị giết, đồng thời vẫn làm cho đời sống tại Bắc Việt bị tê liệt, cũng như tại các vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát, bằng các cuộc không tập c̣n tàn bạo hơn thời Giônxơn.

 

    Những cảnh bạo tàn của chiến tranh, việc hủy hoại cả nền văn hóa Việt Nam do quân đội Mỹ chiếm đóng, ngày càng tạo nên ở Việt Nam các phong trào chống đối, nhất là trong giới trẻ, học sinh, sinh viên và các nhà chùa. Cuộc đàn áp rất dă man. Hàng ngàn sinh viên và Phật tử bị bắt, tra tấn, thanh toán, không cần xét xử. Trong Giáo hội Công giáo, thái độ hàng giáo phẩm và linh mục không thay đổi. Người ta tiếp tục ủng hộ sự can thiệp Mỹ và chế độ Thiệu, trong đó người Công giáo nắm được các vị trí then chốt. Một số người hoan hô Nichxơn tăng cường ném bom Bắc Việt. Họ bực bội khi thấy Mỹ c̣n tha cho thành phố Hà Nội và các đê điều sông Hồng. Họ lấy làm lạ tại sao Hoa Kỳ chưa xử dụng bom nguyên tử mà hủy diệt Cộng sản. Hàng giáo phẩm giữ im lặng trước các cuộc thảm sát dân thường, trước hoàn cảnh các tù nhân chính trị bị nhốt «chuồng cọp» khi các phương tiện thông tin cả thế giới đă làm rùm beng lên khắp nơi rồi. Nhờ việc tiết lộ của Don Luce và mấy thượng nghị sĩ Mỹ, người phương Tây biết được các cuộc tra tấn man rợ tại các đồn bót cảnh sát, tại các văn pḥng mật vụ, tại các nhà giam được Mỹ trang bị và nuôi dưỡng, điều mà tại miền Nam mọi người đều hay biết và phản đối, chỉ trừ tiếng nói chính thức của Giáo hội.

 

    Từ 1968 đến Hiệp định Paris tháng giêng 1973, tấm thảm kịch Việt Nam một mặt là những tàn phá do chiến tranh gây nên, mặt khác là những cuộc đàn áp đối lập và phản chiến, v́ chủ trương trung lập cũng như những ngườn thiên Cộng hay là Cộng sản.

 

    Về mặt quân sự, chiến dịch Phượng Hoàng do CIA tung ra nhằm tảo thanh triệt để các vùng hoâc nghi ngờ, hoặc chính phủ Sài G̣n không kiểm soát được. Phương thức thật giản dị bởi quân cách mạng là cá sống trong nước, th́ cứ tát hết nước đi th́ bắt được cá. Trong những cuộc càn quét rộng lớn kinh khủng, quân đội Mỹ và Nam Việt quét sạch các làng mạc, bắt đi tất cả nam nữ và trẻ em cho vào cái trại «lánh nạn» có rào kẽm gai, rồi giao cho mật vu thanh lọc. Những người t́nh nghi được đưa tới các pḥng thẩm vấn hoặc trại giam. Sau khi đă cưỡng bức tập trung dân chúng vào các trại tỵ nạn chung quanh các thành phố hoặc căn cứ quân đội, nông thôn được coi là «vùng tự do» ném bom giết chết bất kỳ ai, hoặt hủy diệt bằng rải chất độc hóa học, thuốc làm trụi lá và bom napan. Cũng gọi là vùng «tự do oang kích», những vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát mà quân đội Mỹ và Nam Việt không thể chiếm được. Số lượng bom ném xuống nguyên miền Nam đă vượt số lượng bom sử dụng trong thế chiến thứ hai.

 

    Về việc đàn áp, cảnh sát miền Nam, được Mỹ trang bị cho, đă đạt tới mức hiệu quả tối đa, v́ có cả máy điện toán, và c̣n dụng cụ tra tấn th́ có loại thuộc thời trung cổ, có loại hiện đại tối tân nhất. Những người bị giam giữ phải chịu những cực h́nh man rợ, vô nhân đạo, vượt xa khả năng tưởng tượng của con người. Về b́nh diện xă hội, các tệ đoan lan tràn khắp nơi: cái ǵ cũng mua được, bán được, các chức vụ trong Quốc hội, chức vụ các tỉnh, quận huyện, làng xă; chợ đen là địa bàn phổ biến cho mọi hạng người, Công giáo cũng như Phật giáo, tu sĩ cũng như giáo dân, nạn măi dâm lan tràn rộng khắp, tham nhũng, ăn cắp, hối lộ ngày càng trở nên chuyện thường ngày của dân chúng.

 

    Đứng trước những thực tế đau buồn đó, một lực lượng «đối lập» h́nh thành trong Giáo hội: một thiểu số các linh mục và giáo dân, trí thức hay thợ thuyền, lên tiếng báo động và thức tỉnh Giáo hội đă «sa lầy với Hoa Kỳ», lại một lần nữa phản bội tổ quốc v́ những đặc quyền và đô la, liên hiệp với một chính quyền thối nát, áp bức. Hai tờ báo «Đối Diện» và «Chọn» có được một số bài rất có giá trị để tạo ra một bầu không khí đối thoại, thông cảm và đấu tranh cho ḥa b́nh. Nhưng âm vang lại chỉ xảy ra chủ yếu nơi giới trẻ, người ngoài Công giáo. Một linh mục thổ lộ: «Hể anh nói với một người Công giáo Việt Nam về trường hợp Cộng sản có thể thắng, anh sẽ làm cho họ phải run rẩy cả người, họ sẽ nạt nộ, mất cả trí khôn. Đối với người Công giáo đó, Cộng sản sẽ là loại người đă bị kết án sa hỏa ngục rồi». Mấy tạp chí kể trên chẳng mấy chốc đă bị chính quyền giáng cơn lôi đ́nh cho. Ông chủ nhiệm Đối Diện bị kêu án 5 năm tù giam, và mấy triệu đồng tiền phạt, c̣n tờ báo th́ sau nhiều lần bị tịch thu, cuối cùng đă bị đóng cửa vĩnh viễn từ 1972. Từ đó, nó trở thành báo lậu và phát hành chui. «Chọn» cũng không được nương nhẹ hơn, v́ đă dám phổ biến và chú thích tài liệu Thượng hội đồng Rôma về «Công bằng trên thế giới», mỗi biên tập viên đă lănh 5 năm tù giam và tờ tạp chí bị đặt ra ngoài ṿng pháp luật.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend