TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

NHÀ NƯỚC CHXHCNVN VÀ NHÂN DÂN VIỆT PHẢI TỐNG XUẤT TÀ ĐẠO TIN LÀNH RA BIỂN ĐÔNG


  Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

    

Tin Thế Giới & Việt Nam

  

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN  

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

 

Websites trong nước

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 

 

Websites hải ngoại

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

  

Họ là những kẻ điên và phản loạn, không phải là những con người có đầu óc

Nhà nước CHXHCNVN cảm nghĩ và phản ứng như thế nào về cái  

“Tuyên Ngôn Thuộc Linh” đă xúc phạm đến cả dân tộc Việt Nam

 

 

NHÀ NƯỚC CHXHCNVN, TRÍ THỨC VÀ NHÂN DÂN VIỆT

PHẢI TỐNG XUẤT  TÀ ĐẠO TIN MALÀNH RA BIỂN ĐÔNG BỞI CÁI

“TUYÊN NGÔN THỤC LINH” ĐĂ XÚC PHẠM ĐẾN DÂN TỘC VIỆT   

 

      Năm 1924, Nhà Cách Mạng Nguyễn Ái Quốc (Cha già Hồ Chí Minh) đă viết:

  

     “…Người nông dân bị hành h́nh vừa bằng lưỡi lê của nền “văn minh” tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm( Tổng Tập Văn Học Việt Nam, 1980, tập 36, NXBKH, tr 244)

 

    Chúng ta biết rằng Chính phủ Pháp quyết định việc chinh phục Bắc Kỳ là do sự xúi giục của các ngài giáo phẩm thực dân được mụ vợ Napoléon để tâm đỡ đầu. Và các vị đó (vị giáo phẩm) đă làm những ǵ? Họ đă lợi dụng ḷng hiếu khách của Việt Nam để đánh cấp những bí mật quân sự, vẽ bản đồ nộp cho quân đội viễn chinh. Chúng tôi không hiểu tiếng La Tinh gọi là ǵ, chứ tiếng Pháp thông dụng gọi đó là gián điệp”. (TTVH/Việt Nam, tập 36, tr408, Lên Án Chế Độ Thực Dân)

 

     Tổng Thống Bush Con gọi Giáo Hội Công Giáo là:

 

Ứng cử viên Tổng thống Bush Con , trong cuộc vận động bầu cử tại trường Đại học South Carolina, ngày 2- 2 – 2000, đă gọi Giáo Hội Công Giáo là “ Giáo Hội Satan ”

 

    Thống đốc Bang Oklahoma, Frank Keating gọi GHCG Vatican là Mafia:

 

Cựu thống đốc bang Oklahoma, Frank Keating, Chủ Tịch Ủy Ban Điều Tra Sách Nhiễu Tĩnh Dục, từ chức sau khi ông đă cho tờ báo Los Angeles Times phỏng vấn ông và ông đă so sánh các giám mục ( Giáo hội Công giáo ) giống như La Cosa Nostra ( Mafia ), là một tổ chức tội ác trong cách che dấu những trọng tội. Keating nói về những viên chức không được nêu tên của giáo hội là: " Đă hành động giống như tổ chức Lacosa Nostra ( Mafia ) che dấu và đàn áp , mà theo tôi là vô cùng bệnh hoạn. Nhưng rồi, mọi sự cũng sẽ lộ ra hết." ( trang nhà ĐDTB Net & Com tháng 8, sè đăng trọn bài Chủ Tịch Ủy Ban Điều Tra Sách Nhiễu T́nh Dục Từ Chức, By Laurie Goodstein, News York Times, đă được trích đăng trên báo Houston Chronicle, ngày 6/16/03 ) 

 

   Nhà tham luận số một Miền Nam, ông Trần Bạch Đằng đă gọi:      

 

    “…V́ sự lộng hành của bọn lănh chúa áo đen này đă làm khốn khổ đồng bào kể từ thời Pháp thuộc cho đến năm 1975, người Việt hiểu rất rơ, ông Trần Bạch Đằng đă gọi giáo hội Thiên Chúa giáo La Mă là một tổ chức, nghĩa là không coi đó là một tôn giáo, chỉ coi đó là một tổ chức nên có vấn đề cần phải đối phó. ( Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử Trong Thế Kỷ 20, của Lê Trọng Văn, tr II, III, IV, V, VI )”

 

    Trong bài Lửa Đă Cháy Trên Quảng Trường Mỹ Đ́nh, Hà Nội, http://hoithanh.com/, chúng ta có thể đọc vài đoạn như sau: “dầu sống, hay chết, quyết dâng trọn đời sống cho Jesus...” Những anh em chúng tôi xác tín với nhau rằng, dầu phải chết chúng tôi cũng sẽ thực hiện bằng được chương tŕnh này để tôn cao danh Đức Chúa Trời trên đất nước Việt Nam."

 

       Và nhất là cái gọi là “Tuyên Ngôn Thuộc Linh”:

 

      Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đă bị tuyên bố cắt đứt, h́nh ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không c̣n tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt Nam. Việt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước, Hội thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp một khắng khít trước mặt Đức Chúa Trời... Đó chính là nội dung chính của "Tuyên ngôn thuộc linh" được dơng dạc tuyên bố trước hàng ngàn trái tim ngày đêm quặn thắt cho dân tộc. 

   Chúng ta thấy, họ là những kẻ điên, không phải là những con người có đầu óc b́nh thường.  Họ có quyền tin thờ một người dân thường Do Thái sống với một ảo tưởng, Giê-su;  họ có quyền dâng trọn đời sống, hay chết, cho người họ tôn thờ; họ có quyền tôn cao danh Đức Chúa Trời của họ, nhưng họ ngu xuẩn đến mức là không biết rằng họ tuyệt đối không có quyền xúc phạm đến cả dân tộc Việt Nam như trên.  Tỷ lệ Tin Lành ở Việt Nam so với Công Giáo không đáng kể.  Và Tin Lành đang suy thoái khắp nơi trên thế giới, kể cả trên nước Mỹ.  Vậy mà họ vẫn huênh hoang muốn đem đồ phế thải về làm ô nhiễm dân tộc Việt Nam.  Tuy nhiên, họ ngu xuẩn là v́ cái “gen” Tin Lành của họ, và từ cái “gen” này họ mới có những hành động ngu si vô trí.  Nhưng vấn đề là tại sao Nhà Nước lại để cho họ ăn nói như vậy. Đây không phải là vấn đề “tự do ngôn luận”, hay vấn đề “tự do tín ngưỡng” mà là vấn đề xúc phạm đến cả một dân tộc mà đa số tuyệt đối người dân coi Tin Lành như một “tà đạo”Phải chăng đă có sự mua chuộc trong tầng lớp cán bộ.  Nhà Nước không có trách nhiệm ǵ trong vụ ăn nói bừa băi này hay sao?  Và tại sao người dân phi Tin Lành không có phản ứng trước những lời hỗn hào láo xược như trên của Tin Lành?  Tôi không hô hào một cuộc chiến tranh tôn giáo, nhưng tôi tha thiết kêu gọi tầng lớp trí thức Việt Nam trong Tam Giáo, trong các tôn giáo khác ở Việt Nam, hăy tham gia mặt trận văn hóa, thẳng thắn vạch ra những cái tầm bậy của Tin Lành.  Ngày nay, chúng ta có đầy đủ những thông tin về bản chất và thực chất của Tin Lành. (Trần Chung Ngọc)

 

■    "Trải qua nhiều thế kỷ, sự sùng tín Thánh Kinh đă dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, ngược đăi  người  Do  Thái  và những  người  phi-Ki-Tô,  giết  hại  và khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt,  tạo tâm  lư  sùng tín,  và nhiều lầm lạc khác.  Những mô thức hành xử có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ dàng là chúng bắt nguồn từ sự tin  vào quyền  năng tuyệt đối của những điều viết trong Thánh Kinh.”

Mục sư Ernie Bringas, trong cuốn Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Bởi (Tin Vào) Quyền Năng Của Cuốn Thánh Kinh [Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, trang 17] [1]

 

     " Nhân danh Chúa Ki Tô hàng triệu nam nữ đă bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đă bị làm nô lệ.   Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đă làm đổ máu của những người thông thái nhất, giỏi nhất. 

   Nhân danh hắn sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng  cả  ngàn  năm… Phúc âm của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cơi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo t́nh thương yêu như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người.  Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra - Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được sinh ra.”

Robert G. Ingersoll trong cuốn Ingersoll, Con Người Phi Thường [Ingersoll, The Magnificient, trang 117] [2]  

 

■ “Toàn thể cấu trúc của Giáo hội Công giáo La-mă được xây dựng trên những ngụy tạo, những lá thư tông đồ giả mạo, những bài giảng giả mạo, những phép lạ giả mạo, những di tích (của các Thánh) giả mạo, những công đồng giả mạo, và những sắc lệnh giả mạo của các giáo hoàng.”

Cựu Linh mục ḍng Tên Peter Doeswyck [3]

 

 

 

 

 

KI-TÔ TIN MALÀNH: Bản Chất & Thực Chất

 

[Một khảo Luận Qua Các Tài Liệu]

 

 

 

 

 

Thực ra th́ “Tin Lành” là dịch từ từ “Phúc Âm” [Gospels] nghĩa  là dựa theo 4 Phúc Âm của Matthew, Mark, Luke và John trong Tân ước.  Người Ki Tô Giáo cho đó là Phúc Âm hay Tin Matthew, Mark, Luke và John trong Tân ước.  Người Ki Tô Giáo cho đó là Phúc Âm hay Tin Lành, nhưng người ngoại đạo với đôi chút hiểu biết th́ lại cho đó là “Tin Dữ” hay “Tin Xấu” v́  nội dung của Tân ước, ngoài vai tṛ của Giê-su như là “Chúa cứu thế” mà Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong đ̣i phải dẹp bỏ: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php , và niềm hoang tưởng về sự “cứu rỗi” của Giê-su mà Linh Mục James Kavanaugh đă coi như là một huyền thoại:  http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php, c̣n lại toàn là Tin Dữ hay Tin Xấu.  Không phải là vô căn cứ mà Giáo sư đại học David Voas viết cả một cuốn sách dưới tên “Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân ước” [David Voas, The Bad News Bible: The New Testament, Prometheus Books, New York, 1995]

   

   Có lẽ chúng ta cũng nên biết qua là “Đạo Tin Lành Khác Với Công Giáo La-Mă Như Thế Nào?”  Thực ra, câu hỏi này đă được một người hỏi Robert G. Ingersoll từ cuối thế kỷ 19: “Sự khác biệt giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành là ǵ? Và đạo nào tốt hơn?” (What is the difference between Catholicism and Protestantism? and which one is better?).  Và câu trả lời của Ingersoll có thể nói là chính xác, ngắn gọn, và đầy đủ nhất: Tin lành khá hơn v́ có ít chất Công giáo hơn [nghĩa là ít độc tài, ít giáo điều, ít những lễ tiết mê tín hoang đường hơn, và ít tội ác hơn], nhưng sự khác biệt giữa đạo Công giáo và đạo Tin lành chỉ là sự khác biệt giữa một con cá sấu lớn và một con cá sấu nhỏ. [Protestantism is better because it is less Catholic, but the difference between Catholicism and Protestantism is only the difference between an alligator and a crocodile].  Ingersoll là nhà tư tưởng tự do (freethinker) vĩ đại nhất của nước Mỹ.

 

    Ingersoll đă nhận xét rất đúng về thực chất của đạo Tin Lành cũng như Công Giáo: đó là hai định chế tôn giáo độc hại, xấu xí, một xấu nhiều, một xấu ít hơn, nếu chúng ta xét đến lịch sử của cả hai đạo.  Công Giáo có một lịch sử lâu dài hơn Tin Lành nên gây tác hại cho nhân loại nhiều hơn là Tin Lành, mới được thành lập từ thế kỷ 16.  Khi Giáo hoàng John Paul II xưng thú trước thế giới 7 núi tội ác của Công giáo đối với nhân loại th́ Tin Lành cũng dự một phần đáng kể trong đó, bởi v́ Tin Lành cũng can dự vào những núi tội ác như:  Giết hại phù thủy, bách hại dân Do Thái, thi hành chính sách diệt chủng dân da đỏ ở Bắc Mỹ, không tôn trọng các nền văn hóa khác v..v.., tất cả đều có những bàn tay dính nhơ đầy máu và đầu óc có chứa một loại “gen” đặc biệt của Tin Lành.

 

   Về h́nh thức, giữa Tin Lành và Công Giáo có sự khác biệt.  Những tín đồ Công Giáo thực chất là nô lệ của cấu trúc quyền lực của Giáo hội Công Giáo, nghĩa là nô lệ của các bề trên từ Giáo hoàng xuống tới các Linh mục qua giáo lư nô lệ hóa tín đồ là “đức vâng lời”.  V́ vậy các tín đồ Công Giáo đều phải nhắm mắt mà tin những tín lư, tín điều Giáo hội bầy đặt ra, mục đích chính là để tạo quyền lực cho giới chăn chiên..  C̣n tín đồ Tin Lành thường được coi là ở trong một định chế dân chủ, nhưng thực chất là nô lệ của cuốn Thánh Kinh,  hay nói đúng hơn, nô lệ của những đoạn đă được chọn lọc kỹ trong Thánh Kinh.  Nhưng đi sâu vào phương cách nhồi sọ tín đồ th́ cả hai đều giống nhau, đều có những mánh mung để nhốt tín đồ vào trong những khuôn phép tâm linh, nếu không muốn nói là ngục tù tâm linh, đă định sẵn. 

 

Đạo Tin Lành tin ở cái ǵ?  Theo Mục sư Nguyễn Văn Huệ giải thích th́ đức tin Tin Lành là như sau:

 

Người Tin Lành tin tưởng Kinh Thánh là uy quyền duy nhất và đầy đủ của đức tin. Người Tin Lành chỉ tôn trọng những truyền thống nào của Hội Thánh phù hợp với Kinh Thánh. Người Tin Lành muốn trở về với cội nguồn đức tin và h́nh thức sống đạo theo như Kinh Thánh dẫn, không thêm, không bớt.

 

   Thực tế là, ngày nay những ai c̣n nói chuyện mạc khải, hay thẩm quyền của Thánh Kinh, thật ra chỉ là những người c̣n sống trong bóng tối, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ.  Bởi v́, thực tế là, Thánh Kinh có phải là do Thiên Chúa mạc khải hay không th́ trong Thánh Kinh, những chuyện  loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn là giết người, phi lư phản khoa học vẫn là phi lư và phản khoa học v..v...  Thật vậy, tất cả những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh: bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest), ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology), trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry), hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc (Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible) của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Thiên Chúa về vũ trụ, nhân sinh, đă chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.

 

   Tôi thực t́nh không hiểu người Tin Lành tin những ǵ trong  cuốn Thánh Kinh của họ.  Sách lược truyền đạo của họ là chỉ đưa ra những câu lạc lơng trong Thánh Kinh hợp với niềm tin của họ, hoặc có đôi chút đạo lư, và lờ đi những đoạn không thể đọc được chiếm phần lớn Thánh Kinh.  Thật vậy, nếu chúng ta mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc, đọc từ đầu đến cuối, đừng bỏ sót phần nào, th́ chúng ta sẽ thấy rằng tuyệt đại đa số những điều viết trong Thánh Kinh là những chuyện không nên đọc, nhất là đối với các trẻ vị thành niên. Nếu ngại công t́m kiếm những điều trên, có đầy trong Thánh Kinh, tôi xin giới thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đă trích dẫn sẵn những câu, những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Tin Lành hay Công giáo không bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:

     

-  “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về T́nh Dục Trong Thánh Kinh” [The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press, Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley: cuốn sách dày hơn 400 trang, liệt kê những chuyện t́nh dục dâm ô, loạn luân trong Thánh Kinh.

- “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh” [All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500 trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn luân v..v.. [Human sacrifice, murder and violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..] trong Thánh Kinh.

- “Sách Chỉ Nam Về Thánh Kinh” [The Bible Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986]  của W. P. Ball, G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith ...: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.

- “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Sống Lại [trong Chúa] Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979]  của Bà Ruth Hurmence Green: B́nh luận những chuyện tàn bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.

- “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh” [One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New York, 1922]  của Marshall J. Gauvin: Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.

- “Lột mặt nạ Thánh Kinh” [The Bible Unmasked, The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis:  đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.

- “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd:  Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.

- “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker:  Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.  

 

 

     

   Xin nhớ rằng, những cuốn sách khảo cứu về Thánh Kinh như trên đă được phổ biến rộng răi trên đất Mỹ, và Công Giáo cũng như Tin Lành, dù có nhiều quyền thế và tiền bạc, cũng không có cách nào dẹp bỏ những cuốn sách trên, hay đối thoại để phản bác, v́ tất cả đều là sự thật.  V́ thế nên Khoa học gia Ira Cardiff đă đưa ra một nhận xét rất chính xác như sau:

 

Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh.  Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó - đừng nói là đọc cả cuốn.

Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một  óc phê phán  th́ chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi." [4]  

 

  Đó là những sự thực về cuốn sách mà người Tin Lành tuyệt đối tin vào để được lên Thiên đường (mù) sống cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, cùng Chúa của họ, trong trường hợp hăn hữu được Chúa biết đến và tặng cho một cái bánh vẽ  “cứu rỗi” ở trên trời. 

 

   Trước khi đi vào chi tiết để t́m hiểu thêm về đạo Tin Lành, tôi muốn nhắc lại ở đây nhận định của Robert G. Ingersoll, nhà tư tưởng tự do vĩ đại nhất của nước Mỹ, vào cuối thế kỷ 19:

 

 Tin Lành Giáo thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ là quần chúng th́ mê tín và các mục sư và những người đi giảng đạo th́ đần độn (stupid). [5]

 

       Nhận định của Robert G. Ingersoll như trên đúng hay sai, xin để cho quư độc giả tự ḿnh phán xét, và tôi tin chắc những người Tin Lành ngoài phái bảo thủ cũng tự biết bản chất của tôn giáo ḿnh theo là như thế nào.  Riêng đối với tôi, đọc những bài của nhóm Tin Lành Việt Nam, từ các Mục sư cho tới những người được gọi là “trí thức Tin Lành” như Huỳnh Thiên Hồng, Lê Anh Huy, Nguyễn Huệ Nhật v..v.. chúng ta thấy rơ là nhận định của Ingersoll không sai một mảy may.  Không những họ cuồng tín và đần độn mà c̣n cho chúng ta thấy, đạo Tin Lành đă làm cho họ mê mẩn đến độ trở thành ngu xuẩn hết mức, và đặc biệt là không c̣n biết đến các truyền thống văn hóa của dân tộc là ǵ.  Sau đây là vài trường hợp điển h́nh về những đầu óc vô cùng ngu xuẩn của Tin Lành Việt Nam.

 

1.   Trong bài Lửa Đă Cháy Trên Quảng Trường Mỹ Đ́nh, Hà Nội, http://hoithanh.com/, chúng ta có thể đọc vài đoạn như sau: “dầu sống, hay chết, quyết dâng trọn đời sống cho Jesus...” Những anh em chúng tôi xác tín với nhau rằng, dầu phải chết chúng tôi cũng sẽ thực hiện bằng được chương tŕnh này để tôn cao danh Đức Chúa Trời trên đất nước Việt Nam."

 

       Và nhất là cái gọi là “Tuyên Ngôn Thuộc Linh”:

 

       Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đă bị tuyên bố cắt đứt, h́nh ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không c̣n tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt Nam. Việt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước, Hội thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp một khắng khít trước mặt Đức Chúa Trời... Đó chính là nội dung chính của "Tuyên ngôn thuộc linh" được dơng dạc tuyên bố trước hàng ngàn trái tim ngày đêm quặn thắt cho dân tộc. 

   Chúng ta thấy, họ là những kẻ điên, không phải là những con người có đầu óc b́nh thường.  Họ có quyền tin thờ một người dân thường Do Thái sống với một ảo tưởng, Giê-su;  họ có quyền dâng trọn đời sống, hay chết, cho người họ tôn thờ; họ có quyền tôn cao danh Đức Chúa Trời của họ, nhưng họ ngu xuẩn đến mức là không biết rằng họ tuyệt đối không có quyền xúc phạm đến cả dân tộc Việt Nam như trên.  Tỷ lệ Tin Lành ở Việt Nam so với Công Giáo không đáng kể.  Và Tin Lành đang suy thoái khắp nơi trên thế giới, kể cả trên nước Mỹ.  Vậy mà họ vẫn huênh hoang muốn đem đồ phế thải về làm ô nhiễm dân tộc Việt Nam.  Tuy nhiên, họ ngu xuẩn là v́ cái “gen” Tin Lành của họ, và từ cái “gen” này họ mới có những hành động ngu si vô trí.  Nhưng vấn đề là tại sao Nhà Nước lại để cho họ ăn nói như vậy. Đây không phải là vấn đề “tự do ngôn luận”, hay vấn đề “tự do tín ngưỡng” mà là vấn đề xúc phạm đến cả một dân tộc mà đa số tuyệt đối người dân coi Tin Lành như một “tà đạo”Phải chăng đă có sự mua chuộc trong tầng lớp cán bộ.  Nhà Nước không có trách nhiệm ǵ trong vụ ăn nói bừa băi này hay sao?  Và tại sao người dân phi Tin Lành không có phản ứng trước những lời hỗn hào láo xược như trên của Tin Lành?  Tôi không hô hào một cuộc chiến tranh tôn giáo, nhưng tôi tha thiết kêu gọi tầng lớp trí thức Việt Nam trong Tam Giáo, trong các tôn giáo khác ở Việt Nam, hăy tham gia mặt trận văn hóa, thẳng thắn vạch ra những cái tầm bậy của Tin Lành.  Ngày nay, chúng ta có đầy đủ những thông tin về bản chất và thực chất của Tin Lành.

 

2.   Một chuyện khôi hài nhất thế kỷ đă xảy ra ở Việt Nam trước đây:  Mục Sư Tin Lành [sic] Trần Long thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm Việt Nam, lấy tư cách của một “môn đồ của Chúa Jesus” để gửi một “Thông Điệp Phước Lành [sic]” cho “Nhà Cầm Quyền Việt Nam”, một thông điệp, xin lỗi quư độc giả v́ tôi không kiếm được từ nào thích hợp hơn, có thể nói là ngu xuẩn và mê tín nhất thế gian, để kêu gọi nhà cầm quyền hăy từ bỏ nền văn hóa dân tộc để theo nền văn hóa Tin Lành, cũng là nền “văn hóa thiên đàng”.  (Ở trên thế giới này làm ǵ có cái gọi là “văn hóa Tin Lành” hay “văn hóa thiên đàng”, có chăng chỉ là nền văn hóa mù quáng, hay văn hóa mê tín, hay văn hóa hoang tưởng của các con cừu Tin Lành) mà mục sư Trần Long cho là nền văn hóa của cả nhân loại, có nghĩa là biến nước Việt Nam thành nước Tin Lành [Trần Long: Phục hồi bản sắc văn hóa của dân tộc là để văn hóa Tin Lành tuôn chảy trong ḷng dân tộc- v́ đây là văn hóa của dân tộc Việt Nam cũng là văn hóa toàn thế giới. .]  Đây là một hành động của một kẻ không có đầu óc, cuồng tín cực đoan, muốn mang niềm tin thuộc thời bán khai của ḿnh mà ngày nay thế giới văn minh Âu Mỹ đang dần dần loại bỏ, để áp đặt trên toàn thể đất nước.

 

   Cái mà mục sư Trần Long gọi là “Phước Lành” hay “Tin Lành”, thực ra chỉ là “Hiểm Họa” hay “Tin Dữ”.  Cái gọi là “thông điệp phước lành” của mục sư chỉ toàn là một thứ thuộc loại mê tín hoang đường như “Chúa sáng tạo”, “Kính sợ Chúa”, “Biết ơn Chúa”, “Thờ phượng Chúa” “Nước Thiên Đàng vinh hiển”, “Đức Chúa Trời sẽ giáng họa” và vô số những điều tin nhảm nhí khác về Jesus, phản ánh một đầu óc mê muội chưa từng thấy.  Đó là những “Tin Dữ” hay “Tin Xấu” (Bad News) đă mang họa dữ đến cho nhân loại.  Điều này đă thật là rơ ràng nếu chúng ta đọc qua cái lịch sử đẫm máu của Ki-tô Giáo, những hành động ác ôn của Ki-tô Giáo, tất cả đều nhân danh “Tin Lành”. Mục sư Trần Long muốn biến người Việt Nam thành những con cừu đi theo sự dẫn dắt của một đám gọi là Mục sư, đầu óc kém cỏi, cuồng tín như Trần Long, để tin nhảm tin nhí vào một người Do Thái đă chết mà bản chất là vô đạo đức, đạo đức giả, ác độc và ḷng đầy thù hận: Jesus.  Thủ đoạn truyền tà giáo của các mục sư như Trần Long là viết láo lếu về Kinh Thánh, Lịch Sử nhân loại, và trích dẫn lắt léo Kinh Thánh , làm như không ai biết đọc Kinh Thánh.

 

   Chúng ta hăy thử đọc một đoạn trong cái thông điệp quái gở này mà Nhà Nước phải kiên nhẫn chịu đựng sự lạm dụng quyền tự do một cách ngu xuẩn để viết bậy, viết nhảm nhí nấp sau b́nh phong tự do tín ngưỡng.  Nhà Nước nên nghe lời đề nghị của Charlie Nguyễn trước đây, không nên nhân nhượng với loại người coi thường chính quyền và dân tộc này.

 

Với tư cách là người Việt Nam và là môn đồ của Chúa Jesus; với tư cách là người của Đức Chúa Trời trong đất nước được gọi là tự do tín ngưỡng, tôi có trách nhiệm trên đất nước ḿnh đang ở, tôi phải tuân thủ luật pháp nhà nước mà Đức Chúa Trời đă bổ nhiệm nhà nước nầy cầm quyền, nhưng chúng tôi cũng có trách nhiệm tuân thủ luật pháp của Chúa Jesus – là lời Đức Chúa Trời.

 

   Với tư cách là một người Mỹ gốc Việt, không phải là môn đồ của Chúa Jesus, tôi xin có vài lời ngỏ cùng mục sư Trần Long.  Đất nước Việt Nam quả là một đất nước có tự do tín ngưỡng, cho nên ai muốn làm môn đồ của Chúa Jesus th́ cứ việc làm, không có ai ngăn cản.  Nhưng môn đồ của Chúa Jesus th́ không có tư cách ǵ ngoài tư cách của một con chiên.  Tại sao? V́ đối với mục sư Trần Long th́ Jesus là Chúa,  là Đức Chúa Trời,  nhưng đối với những người ngoại đạo như chúng tôi, và cả những người trí thức trong đạo Ki-Tô,  những người đă từng nghiên cứu kỹ Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, th́ Jesus không có cái ǵ xứng đáng để gọi là Chúa hay Đức Chúa Trời.  Khoan kể đến hơn 90% người dân Việt Nam cũng như hơn 4 tỷ người trên thế giới không biết hay không muốn biết Jesus là ai.  Do đó ông Trần Long chỉ có thể lấy tư cách của một công dân Việt Nam chứ không thể lấy tư cách của một môn đồ của Chúa Jesus, một người Do Thái đă chết tám hoánh từ 2000 năm nay,  để bàn quốc sự Việt Nam.  Chỉ có một điều sơ đẳng này mà mục sư Trần Long cũng không hiểu, tưởng rằng mang cái nhăn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” ra là vinh hạnh lắm.  Nếu mục sư biết rơ Jesus là ai th́ cái nhăn hiệu “môn đồ của Chúa Jesus” chẳng có ǵ là vinh hạnh mà rất có thể là một biểu hiện của sự ô nhục (a badge of shame).  Tôi có cần phải chứng minh ở đây không?

 

3.   Trường hợp điển h́nh thứ ba là về bức “Tâm Thư Ngỏ” của ông Tin Lành Khuất Minh ở Việt Nam.   Mở đầu “Tâm Thư ngỏ” ông Khuất Minh viết:

 

Ngày 11 tháng 8 năm 2001

Kính gửi ông Tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới

Đồng kính gửi ông Trần Chung Ngọc, tác giả bài báo Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo tại hải ngoại.

 

Tạ ơn Đức Chúa Trời, nhân danh một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ, tôi trân trọng gửi lời chào đến quư ông, đồng thời xin gửi đến quư ông một số ư kiến của ḿnh về bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc đăng trên trang 30 báo An Ninh Thế Giới số 226 ngày thứ Tư 11/07/2001.

 

   Tôi không hiểu báo An Ninh Thế Giới có nhận được Tâm Thư ngỏ này không và thái độ của họ đối với bức Tâm Thư này ra sao, chứ tôi th́ tôi không hề nhận được, và nay chỉ đọc 1 câu trên tôi đă cảm thấy vô cùng ngán ngẩm.  Tôi không thể tưởng tượng là cái đạo Tin Lành lại có thể biến đầu óc của một con người thành tê liệt đến độ như vậy, không c̣n một khả năng suy nghĩ nào, chỉ biết nhắm mắt mà tin, không cần biết, không cần hiểu.  T́nh trạng thê thảm này c̣n rơ hơn trong những phần sau của bức Tâm Thư. Tôi cũng không hiểu nổi là tại sao gửi 1 bức Tâm Thư cho ANTG và cho Trần Chung Ngọc ông Khuất Minh lại phải tạ ơn Đức Chúa Trời?   

 

   Thứ đến, nhân danh là một công dân của vương quốc Thiên Đàng của Đức Chúa Jésus Christ để gửi 1 bức Tâm Thư cho tờ báo ANTG của Bộ Công An nước CHXHCNVN với nội dung chỉ trích chế độ CS và hi vọng người ta sẽ có đáp ứng thỏa đáng?  Ở trên đời này có người nào đần đến độ như vậy không?  Hay là đầu óc của ông ấy đă bị thuốc phiện Tin Lành làm cho bất b́nh thườngKhông những tác giả của bức Tâm Thư này đần đến độ ngớ ngẩn mà những người đăng bức Tâm Thư này trên Internet cũng đần không kém.  Bộ các ông cho rằng Bộ Công An CS cần biết cái vương quốc Thiên Đàng của Chúa Jésus Christ là cái ǵ, hay công dân của nước đó là ai hay sao

 

   Tôi nói cho các ông biết một sự kiện, chính giáo hoàng John Paul II, chủ chăn của số tín đồ Công giáo đông gấp 3 lần số tín đồ Tin Lành trên thế giới, muốn tới La Vang, trước đây cướp được của Chùa Phật Giáo ở đó nhờ thế lực của thực dân Pháp để làm “thánh đường”, ḥng nuôi dưỡng ḷng mê tín và khích động ḷng cuồng tín của giáo dân, cũng phải xin phép nhà nước CHXHCNVN, và nhà nước đă từ chối, không cho phép.  Vậy th́ một công dân của cái gọi là vương quốc Thiên Đàng của Chúa Jésus Christ mà không ai biết nó ở đâu th́ có tư cách ǵ để “trả lời” một bài báo đăng trên tờ An Ninh Thế Giới của Bộ Công An Việt Nam.  Việt Nam có biết cái vương quốc Thiên đàng đó ở đâu đâu, và lẽ dĩ nhiên, chẳng làm ǵ có quan hệ ngoại giao nào với cái vương quốc tưởng tượng đó. May ra th́ nhiều nhất là Bộ Công An biết được sự kiện là cái người mà ông Khuất Minh gọi là Chúa Jésus Christ th́ đă bị đóng đinh trên một cái giá bằng gỗ có hai thanh, một thanh dài và một thanh ngắn, đóng thẳng góc với nhau, và đă chết cách đây khoảng gần 1980 năm rồi.

 

   Đến đây chắc quư độc giả đă thấy đầu óc của những người Tin Lành thuộc loại như thế nào.  Tất cả là bắt nguồn từ sự tin nhảm nhí vào cuốn Thánh Kinh.  Loại đầu óc như vậy không chỉ có ở Việt Nam mà c̣n ở trên đất Mỹ được coi là văn minh nhất thế giới.  Pat Roberson, nhà truyền giáo trên TV, cho rằng vụ động đất ở Haiti gần đây là sự trừng phạt của Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, v́ người Haiti khi xưa đă kư hợp đồng với Satan (pack with the Devil), không biết rằng gần 90% người dân Haiti theo Công giáo. Trước đây ông ta cũng cho trận băo Katrina ở New Orleans là do Chúa trừng phạt v́ nơi đây hợp thức hóa chuyện phá thai, và cho rằng bệnh AIDS là do Thiên Chúa “sáng tạo” ra để trừng phạt những người đồng giống luyến ái (homosexuals). 

 

Hiển nhiên là Pat Roberson ngu đến độ không biết là tại sao có những thiên tai băo lụt, động đất v.. v… đă xảy ra trên thế gian cả ngàn vụ, và trong nhiều trường hợp, các chuyên gia đă có thể tiên đoán được khi nào sẽ xảy ra.. 

 

    Một trường hợp điển h́nh khác ở Mỹ là, sau vụ 9-11 ở New York, trước ngày lễ Halloween, 31 tháng 10 hàng năm, Mục sư Tin Lành Deacon Fred, trong một bài giảng cho các tín đồ, cho rằng bổn phận của người Ki-tô là phải giết phù thủy ngay trong thời đại này:

 

Thiên Chúa rất rơ ràng ở đây, thưa quư vị, ông ta không muốn cho các phù thủy sống.  Chúng ta phải giết các phù thủyNếu không, chúng ta đang bất tuân lệnh của Thiên Chúa.  Jesus sẽ vui mừng  đến chảy nước mắt nếu ông ta từ trên đám mây cúi xuống và hít hà mùi thịt nướng của một phù thủy trong ngày lễ Halloween này. [Trong ngày lễ Halloween vào 31 tháng 10 mỗi năm, rất nhiều người ăn mặc giả làm phù thủy kéo ra chật đường phố]  Có phải là như vậy đă phá tan ngày sinh nhật nhỏ của Satan không?  Hăy ca tụng Thiên Chúa. [Vui mừng khi được hít hà mùi thịt nướng của một con người] Thật là xấu hổ v́ chính quyền Mỹ đă ngăn cấm người dân không được thực hành lệnh trong Kinh Thánh là phải thiêu sống phù thủy. [6]  

     

   Sự tai hại của niềm tin vào những điều viết nhảm nhí trong Kinh Thánh thật đă rơ rệt.  Ở nơi nào mà Khi Tô Giáo, đặc biệt là đám Tin Lành cuồng tín, đám người tin tất cả vào uy quyền tối thượng của Kinh Thánh,  nắm quyền thế tục th́ lịch sử đẫm máu của Ki Tô Giáo sẽ lại tái diễn. Tất cả bắt nguồn từ niềm tin vào cuốn sách gọi là Kinh Thánh và nhân danh Thiên Chúa của họ. 

 

    Hiểm họa Tin Lành là một sự kiện rơ như ban ngày, khó ai có thể chối căi. Vấn nạn của những người Tin Lành tân ṭng Việt Nam là không biết đầu óc học đă bị điều kiện hóa như thế nào để đến nỗi trở thành những kẻ mê muội, cuồng tín đến mức phi lư trí, phi dân tộc, bất chấp sự tiến bộ trí thức của nhân loại, bất chấp những sự thực hiển nhiên về chính tôn giáo của họ. 

 

  Do đó, mọi người Việt Nam phi Ki-Tô phải có bổn phận ngăn chận cái hiểm họa này, không thể  để cho cái tế bào ung thư này tự do lan rộng trong xă hội lành mạnh về tâm linh của chúng ta .   Đọc những luận điệu cuồng tín của Trần Long, Khuất Minh và “Tuyên ngôn thuộc linh” ở trên, chúng ta thấy rơ Tin Lành là một đạo hoàn toàn không thích hợp với người Việt Nam, những niềm tin thuộc thời man rợ bán khai của họ đă đang phá sản ở Âu Mỹ hoàn toàn bất phù hợp với truyền thống văn hóa chiết trung (synchretic) về tôn giáo của Việt Nam..

 

   Vậy biện pháp nào thích hợp nhất để bảo vệ và ǵn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam?  Tôi cho rằng, để tránh cái hiểm họa Công Giáo và Tin Lành, cái hiểm họa đă được chứng tỏ trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo , ở Việt Nam, ngoài việc cương quyết canh chừng, kiểm soát những phương cách truyền đạo bất chính, con đường hữu hiệu nhất là con đường mở mang dân trí.  Qua con đường này, người dân sẽ biết rơ về bản chất và những sự thực về Ki Tô Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng, và từ đó sẽ không c̣n bị mê hoặc bởi những lời truyền đạo giả dối, che đậy thực chất mê tín, hoang đường, phi lư của Ki Tô Giáo mà ngày nay thế giới Tây Phương đă nhận thức rơ và đang từ bỏ dần dần.  Nhà Nước cũng cần huấn luyện một đội ngũ trí thức nắm vững nội dung Kinh Thánh và lịch sử các giáo hội Công Giáo và Tin Lành cùng kiến thức thời đại về các bộ môn khoa học để có thể công khai chất vấn các nhà truyền đạo về mọi mặt trong các cuộc giảng đạo hay truyền đạo của họ. Chúng ta nên nhớ, “người Ki Tô Giáo, nhất là Công giáo, chỉ sợ sự thật.”  

 

   Mở mang dân trí, cập nhật hóa kiến thức thời đại, đây chính là một nhiệm vụ quan trọng trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng của chính quyền mà là nhiệm vụ chung của mọi người dân Việt Nam nào c̣n có ḷng với dân tộc, đất nước, c̣n trân quư truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam.  Tôi hi vọng giới trí thức, nhất là giới trẻ ngày nay, hăy nhận thức rơ tầm quan trọng của lănh vực văn hóa này.  V́ lợi ích của mọi người, và v́ tương lai của dân tộc và đất nước, chúng ta hăy cùng nhau tích cực hoạt động trong đường hướng mở mang dân trí, giúp người dân nhận thức được những sự thật về các tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam

 

   Chúng ta đă biết, mất đi chỗ đứng trong thế giới Tây phương, Công Giáo cũng như Tin Lành đều có mưu toan bành trướng sang Á Châu, nơi đây ở một số nơi,  Giáo hội đă có sẵn một đám thuộc hạ cuồng tín, nô lệ, bảo sao nghe vậy, và con người c̣n đang sống trong cảnh khó khăn vật chất và thiếu hiểu biết.  Họ là nhưng mồi ngon trong sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo.  Đối với đất nước Việt Nam, đó là một hiểm họa cần phải pḥng ngừa nếu chúng ta muốn bảo vệ và ǵn giữ nền văn hóa truyền thống của Việt Nam. Không có lư do ǵ để cho người dân tiếp tục bị lừa dối để chấp nhận những đồ phế thải của Tây phương mà lịch sử đă chứng tỏ trái nghịch với truyền thống văn hóa và tôn giáo của Việt Nam

 

     Tại sao những người Tin Lành lại đều có một loại đầu óc hầu hết là ngu đần và cuồng tín như trong những trường hợp đă nêu ở trên.  Chúng ta hăy đọc một chút về sự phân tích vấn đề của Mục sư Tin Lành Rubem Alves.    Trong cuốn “Đạo Tin Lành Và Sự Đàn Áp” (Protestantism and Repression, Orbis Books, New York, 1985), Mục sư Tin Lành Rubem Alves, giáo sư đại học ở Campinas, Brazil, đă phân tích rất sâu sắc về mọi khía cạnh của đạo Tin Lành, đặc biệt là về tâm thức của những người tân ṭng trong Chương 2: Cải Đạo:  Cái Khuôn Xúc Động T́nh Cảm Của Tin Lành (Conversion: The Emotional Matrix of Protestantism), dài 24 trang giấy, từ 22 đến 46.  Đây là một cuốn sách, dày 215 trang, rất hữu ích cho những người nào muốn t́m hiểu về đạo Tin Lành, từ cấu trúc t́nh cảm, nhận thức thực tại, cho đến phương pháp tẩy năo, nhồi sọ những giáo điều mà Tin Lành chấp chặt bất kể đến những bằng chứng về lô-gic, về khoa học, về xă hội, những bằng chứng trái ngược với Kinh Thánh một cách rất hiển nhiên.  Chúng ta hăy đọc một đoạn ngắn trong mục “Cải Đạo và Khổ” (Conversion and Suffering), trang 43-44, để thấy rơ Tin Lành đă lợi dụng những t́nh trạng khủng khoảng về vật chất và tinh thần của con người như thế nào để kéo họ vào trong ṿng mê tín của Tin Lành:

 

Sự phân tích vấn đề của chúng tôi đưa đến kết luận là, kinh nghiệm cải đạo là sự đáp ứng của một t́nh trạng khủng khoảng.  Sự cải đạo giải quyết một ngơ bí t́nh cảm.

 

Đó là tại sao giáo hội phát triển nhanh hơn trong những địa phương ở đó những tiến tŕnh xă hội đă gây ra sự khổ, đặc biệt là từ hoàn cảnh ngoài lề xă hội và sự sụp đổ ư nghĩa của cuộc đời.. Những địa phương như vậy là ưu tiên số một của các nhà thờ ở địa phương, mà những nỗ lực để tạo nên đời sống trong giáo hội được chú trọng trong những địa phương này.

 

Tôi không nói điều ǵ mới lạ đối với những người Tin Lành.  Không có sự cải đạo (vào Tin Lành) nếu không có sự khủng khoảng, không có sự cải đạo mà không có sự khổ.  Cải đạo là một quá tŕnh mà con người hấp thụ sự khổ thành một ư nghĩa mới của cuộc đời và làm cho nó có ư nghĩa...

 

Có phải là khó hiểu không khi mà (vai tṛ của) Giê-su Ki-tô không thể rao giảng được cho những người cảm thấy ḿnh an toàn, hạnh phúc, cho những người cảm thấy đời sống thật đáng sống, cho những người không đang ở trong cơn khủng khoảngCó phải là kỳ cục không khi mà Đấng Ki-tô  chỉ có thể tŕnh bày và làm cho có ư nghĩa trong những t́nh trạng bệnh hoạn trong đó con người bị nhiễm bởi sự bất an, bởi những cảm xúc tội lỗi, và sợ hăi cái chết?  Thật ra nhiệm vụ của những nhà truyền bá phúc âm là ǵ?  Nhiệm vụ của họ là gán cho một cơn khủng khoảng những cái tên thần học trong khi nguồn gốc của nó chỉ là tâm lư xă hội.  Nhà truyền bá phúc âm t́m cách khơi động một cơn khủng khoảng mà con người có thể không cảm thấy trước, rồi từ đó, và chỉ từ đó, họ mới có thể tuyên bố: “Chúa Ki-tôt là giải đáp”

 

Chúng tôi bắt buộc phải kết luận rằng thế giới chỉ mở chỗ cho Chúa Ki-tô khi nó cảm thấy ốm đau, bệnh hoạn.  Có một lư do thần học nào để giải thích là tại sao sự sợ hăi cái chết lại là những bí tích đặc quyền của sự cứu rỗi?  Nói cách khác, kinh nghiệm cải đạo giả định là điểm gặp nhau giữa Thiên Chúa và thế giới là sự khổ và thống khổ.  Có phải là có một cách nh́n thực tại một cách tự măn trong sự đau khổ (sadomasochistic vision of reality) tiềm ẩn ở đàng sau giả định như vậy? [Tác giả dùng từ sadomasochistic nghĩa là phối hợp của sadism (thỏa măn trong sự độc ác) và masochism (cảm thấy thích thú khi bị thống trị hay bị bạc đăi).  Về điểm này, Tin Lành không khác ǵ Công Giáo. Trong một cuộc hành hương tại Lộ Đức (Lourdes), Giáo hoàng John Paul II đă phát biểu là ngài chia sẻ sự đau đớn vật chất của các tín đồ và bảo đảm với họ là những sự đau đớn bệnh hoạn của họ là nằm trong “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa. (Pope John Paul II joined thousands of other ailing pilgrims at Lourdes... telling them he shares in their physical suffering and assuring them that the burden is part of God’s “wondrous plan”.)  Không hiểu khi ông ta bị bắn suưt chết, và khi bị bện Parkingson run rẩy chân tay, ăn nói lắp bắp th́ ông ta có nghĩ đó là “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa dành cho người “đại diện của Chúa ở trên trần” không?]

 

Sự khổ được biến đổi thành một dạng ân sủng, v́ nó mang đến cho kẻ tội lỗi một cơ hội để gặp Chúa Ki-tô.  [Ở đây, chúng ta lại thấy Tin Lành và Công giáo gặp nhau ở điểm này.  Thật vậy, một học giả chuyên gia viết tiểu sử, Anne Sebba, đă sang tận Calcutta và nhiều nơi khác để quan sát nhưng “cơ sở từ thiện” (sic) của bà Teresa, và đă viết trong cuốn “Mother Teresa: Beyond The Image” (Mẹ Teresa: Ngoài Cái H́nh Ảnh Đă Được Dựng Lên) là: “Công việc từ thiện của bà Teresa không bắt nguồn từ chính ḷng từ thiện mà động cơ thúc đẩy chính là để làm sáng danh Chúa và để truyền đạo...  Bà Teresa đă khẳng định rằng công việc từ thiện bà làm là để phục vụ Chúa, không phải phục vụ con người, phục vụ Chúa bằng cách kiếm thêm nhiều tín đồ cho Chúa mà những sự đau khổ, bất hạnh của con người là những cơ hội để bà làm việc thiện, chứng tỏ ḷng “từ bi” (sic) của bà.” (Xin đọc bài Đâu Là Sự Thực? trên trang nhà Giao Điểm).]  Sự khổ càng lớn th́ những cơ hội truyền đạo càng nhiều.  Có phải chăng điều này hàm ư là Giáo hội được đặt trong một vị thế khó hiểu là thường cầu nguyện cho nhân loại bị khổ nhiều hơn để cho con người có thể chấp nhận thông điệp của giáo hội?  Đây là câu hỏi mà Dietrich Bonhoeffer [Một nhà thần học Ki-tô bị chết trong nhà tù của Đức Quốc Xă] đặt trước Giáo hội.            

 

Vậy những nhà biện hộ cho đức tin Ki-tô, những người mang những “tin lành” thực sự đă làm những ǵ?

 

Họ chứng tỏ cho những người đang ở trong t́nh trạng an toàn, hài ḷng, hạnh phúc, thực ra là chẳng sung sướng ǵ, tuyệt vọng, và không ư thức được rằng ḿnh đang ở trong t́nh trạng nghiêm trọng mà ḿnh không biết ǵ về nó, từ đó chỉ có họ (những nhà truyền bá phúc âm) mới có thể cứu được.  Bất cứ ở nơi nào mà có sự khỏe mạnh, sức sống, sự an toàn, b́nh dị, họ ḍ xét để kiếm những trái cây ngọt ngào [những kẻ nhẹ dạ, cả tin] để gặm nhấm hoặc kiếm chỗ đặt những cái trứng độc hại của họ trong đó.  Họ đặt mục tiêu số một vào cách đưa con người vào t́nh trạng tuyệt vọng nội tâm, và từ đó những người này sẽ hoàn toàn lệ thuộc họ. [Bonhoeffer].

 

Cải đạo (theo Tin Lành) là một giải đáp cho một vấn nạn đau đớn.  Người ta bắt đầu đi từ cải đạo đến một quan niệm về thế giới có tác dụng ngăn ngừa sự tái xuất hiện của kinh nghiệm bất an tiên khởi.  Mục đích [của cải đạo] là đuổi đi sự sợ hăi.  Nếu sự cải đạo đă đủ để chứng minh có thể đuổi đi sự sợ hăi, tâm thức con người sẽ gắn chặt vào kinh nghiệm cải đạo và vào quan niệm mới về thế giới.  Đó là tại sao mọi lư luận không có tác dụng ở tŕnh độ này.  Chúng ta có thể đưa ra mọi thứ bằng chứng – lô-gic, khoa học, hay bất cứ bằng chứng nào khác – để kêu gọi người cải đạo suy tư về kinh nghiệm cải đạo của họ.  Bằng chứng này bị bác bỏ ngay lập tức bởi người tân ṭng. [Bởi v́ người tân ṭng sợ phải đối diện lại với một tâm thức bất an như trước.]  [7]

 

   Nơi trang 84-85, mục sư Rubem Alves c̣n cho chúng ta biết rơ những người tân ṭng đă cải đạo vào Tin Lành như thế nào và tâm thức của họ đă bị cộng đồng Tin Lành thay đổi như thế nào để họ có thể được chấp nhận trong “hội thánh” (sic) Tin Lành.  Đọc xong đoạn sau đây chúng ta sẽ hiểu rơ hơn tại sao những tín đồ Tin Lành như Lê Anh Huy, Huỳnh Thiên Hồng hay Nguyễn Huệ Nhật, Trần Long, Khuất Minh v…v..  lại như những con vẹt, nhắc lại y chang những điều mà họ được truyền dạy trong những cộng đồng Tin Lành:

 

T́nh trạng của một kẻ tân ṭng giống như t́nh trạng của một đứa trẻ lần đầu tiên đi đến trường học.  Họ không biết ǵ hết.  Kiến thức sẽ được dàn xếp để truyền cho họ bởi một người [tự cho là] đă có kiến thức (về Tin Lành).  Quá tŕnh học tập là một quá tŕnh tập sự.  Sự tương giao xă hội giữa hai bên không phải là một sự tương giao b́nh đẳng.  Ông thầy và kẻ tập sự, thầy dạy giáo lư và kẻ tân ṭng học hỏi, không ở cùng một tŕnh độ.  Một người là thuộc cấp của người kia; do đó quyền lực nằm trong phương tŕnh này.  Những người dạy giáo lư là những người có quyền năng áp đặt những định nghĩa về thực tại của ḿnh; những kẻ tân ṭng học hỏi là những người không có quyền giữ những định nghĩa về thực tại của ḿnh..

 

   Ngay cả trước khi những kẻ tân ṭng học hỏi bất cứ điều ǵ về thế giới, họ được dạy để tự coi ḿnh như là không biết ǵ.  Những kiến thức của họ được để trong dấu ngoặc và được dạy phải  nghi ngờ.  Họ không được phép viện ra những điều mà họ cho là họ biết để phê b́nh loại kiến thức mà “hội thánh” muốn chuyển đạt cho họ.  Tại sao vậy?  V́ kiến thức có trước của họ là tài sản từ các thời kỳ tăm tối và bị đầy đọa từ trước.  Đầu óc của họ được đưa về t́nh trạng của những trang giấy trắng.  Họ không có ǵ để nói; nhiệm vụ của họ là nghe.  Là những kẻ tập sự và học hỏi, họ phải tuân phục định chế của giáo hội trong yên lặng.  Nay họ biết rằng định chế đó có độc quyền về sự hiểu biết tuyệt đối, do đó có độc quyền để nói.

 

     Như vậy, trong thế giới Tin Lành, quá tŕnh học hỏi bắt đầu bằng một bài học thuộc loại đặc biệt về mối giao hệ xă hội: những người dạy giáo lư nói, những kẻ học hỏi ngồi yên; những người dạy giáo lư giảng dạy, những kẻ học hỏi nhắc lại.  Nếu những kẻ học hỏi không biết là ḿnh tin cái ǵ (như những người giảng dạy tự cho là ḿnh đă biết), họ không đủ tư cách để nói.  Đúng là những kẻ tân ṭng được tự do tỏ lộ t́nh cảm của ḿnh.  Nhưng họ không thể nói điều ǵ về sự hiểu biết của họ.  Đó là tại sao loại ngôn từ thích hợp của những kẻ tân ṭng học hỏi là nhắc lại, như sách giáo lư (của Tin Lành) đă minh họa rơ ràng.  Những sách giáo lư là sách đầu tiên để cho những kẻ tân ṭng tập sự và học hỏi.  Chúng chứa những câu hỏi và những câu trả lời viết sẵn.  Khi nào th́ những kẻ tân ṭng học hỏi hiểu sách giáo lư của Tin Lành?  Khi họ có thể đọc thuộc ḷng những câu trả lời in sẵn trong đó.  Sự học hỏi của cộng đống Tin Lành được định nghĩa theo loại kiến thức đó, và sự kiểm tra sự học hỏi của những kẻ tân ṭng là khả năng nhớ  và nhắc lại những câu hỏi và câu trả lời trong sách giáo lư.  Theo cách này tâm thức tập thể của cộng đồng Tin Lành được in vào đầu óc và tâm thức của thành viên.  Thế c̣n vấn đề tự do t́m hiểu th́ sao?  Thế c̣n vấn đề để cho những kẻ tân ṭng học hỏi tự mở mang trí tuệ?  Không thể t́m thấy ở đâu trong đạo Tin Lành. [8]  [30]

 

   Ngoài ra, mục sư Rubem Alves c̣n cho chúng ta biết, trang 34, là Tin Lành cấy vào đầu tân ṭng mặc cảm tội lỗi, và để có thể vào trong cộng đồng Tin Lành, người tân ṭng phải tin rằng ḿnh sinh ra trong tội lỗi, và v́ cái bản chất tội lỗi đó con người không thể làm điều ǵ tốt (Believe that you were born in sin, and that by nature you are incapable of doing good.).  Để thoát ra khỏi cái bản chất tội lỗi đó, con người chỉ có một cách: chấp nhận Giê-su Ki-tô là đấng cứu chuộc duy nhất và đầy đủ [Accepting Christ as the sole and sufficient savior] Cái công thức này không khuyến khích làm thiện mà chỉ cần đầu phục Giê-su Ki-tô [The formula calls not for doing  but for surrendering to Christ] Thật vậy, rất mực đạo đức c̣n thường được coi là một chướng ngại trong sự cải đạo [Indeed moral excellence is often considered an obstacle to conversion].

 

    Những người Tin Lành Việt Nam, đầu óc mù mịt, không biết rằng thế giới đă thay đổi nhiều, và những điều rao giảng của Tin Lành về Chúa Giê-su, về nước “thiên đường” v… v… nay đă không c̣n mấy giá trị trong cả ngay nội bộ Tin Lành.  Những tác phẩm của Giám mục Tin Lành Jogn Shelby Spong, Mục sư Ernie Bringas  và Rubem Alves v…v… đă nói rơ hơn ǵ hết sự phá sản tâm linh của Tin Lành.  Thật vậy, chúng ta hăy xét đến một điều giảng dạy chính của Ki Tô Giáo, chung cho Công giáo và Tin Lành về “T́nh yêu của Thiên Chúa”:

 

   Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, xuất bản năm 1995, trang 76,  để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, Giáo hoàng John Paul II đă trích dẫn một câu trong Phúc Âm John 3: 16  làm luận điểm giải thích, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”, nhưng lờ đi câu  tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su th́ đă bị đầy đọa rồi, v́ người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế.”  Theo tôi, mấy câu trên là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước v́ những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Lẽ dĩ nhiên chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.  Nhưng  lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này.  Ngày nay, trên đất Mỹ chúng ta thấy nhan nhản những bảng hiệu đề “Giê-su Yêu Bạn” [Jesus loves you], và trong bài “Lửa Cháy trên Quảng Trường Mỹ Đ́nh” ở trên chúng ta cũng thấy một chuyện phịa về một ông Mục sư Joseph nào đó cảm hóa được ba tên “ăn trộm” bằng mấy câu vớ vẩn vô căn cứ mà “đạo chích” thường dùng như "Chúa rất yêu các em, các em đừng làm như vậy", "Chúa rất yêu thương các em, các em hăy lên tiếp nhận Chúa" trong khi Chúa đă chết gần 2000 năm nay rồi và Ki Tô Giáo thường khẳng định là không ai có thể biết ư Chúa là như thế nào..  Nhưng thử hỏi mấy ông Tin Lành, nếu tôi không thèm tin vào Chúa của các ông, không muốn tiếp nhận Chúa của các ông, th́ Chúa của các ông có c̣n yêu thương tôi không, hay là đày đọa tôi xuống hỏa ngục của ông ấy như được viết rơ trong Tân Ước?  Luận điều “Chúa yêu thương…” chỉ là luận điệu lừa bịp cho những kẻ đầu óc yếu kém cả tin vào những điều không tưởng.

 

      Nền thần học Ki Tô Giáo rao giảng cho các tín đồ về một “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian”, và “Chúa rất thương yêu bạn” , nhưng những sự kiện xảy ra ngay trước mắt:  Tsunami, thiên tai, bệnh tật, quái thai, chiến tranh v.. v… đưa đến một câu hỏi:  T́nh yêu Thiên Chúa đặt ở đâu?   Một ví dụ điển h́nh về ngay cả những bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo cũng không c̣n tin vào một “Thiên Chúa ḷng lành” nữa được đăng trên tờ Newsweek số ngày 7 tháng 5, 2007, về chuyện một Mục sư tuyên úy phục vụ ở Iraq và nay trở về phục vụ trong Quân Y Viện Walter Reed.  Bài báo viết về cuốn Nhật Kư của Mục sư tuyên úy Roger Benimoff.  Những ḍng cuối cùng trong Nhật Kư viết:

 

“Tôi không muốn dính dáng ǵ đến Thiên Chúa.  Tôi thật chán ngấy tôn giáo.  Đó là cặp nạng cho những kẻ yếu kém.. Chúng ta tạo ra Thiên Chúa cho những ǵ chúng ta cần đến trong một lúc.  Tôi thậm ghét Thiên Chúa.  Tôi thậm ghét tất cả những kẻ nào toan tính giảng giải về Thiên Chúa trong khi họ thực sự không hiểu ǵ về Thiên Chúa” [9]  

  

   Tại sao một Mục sư tuyên úy lại viết như vậy?.  V́ ông ta đă chứng kiến những cảnh tàn bạo dă man phi lư trong cuộc chiến ở Iraq và những cảnh đau khổ của thương phế binh ở Quân Y Viện Walter Reed, và ông ta không thể nào ḥa hợp những cảnh đó với luận điệu thần học “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” trong phúc âm John.  

 

   Cựu Thống Đốc Jesse Ventura của Bang Minnesota cũng đă từng phát biểu:

 

“KiTô giáo là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số đông” [Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers]

 

     Nhưng những người Tin Lành đầu óc mụ mị, được nhồi sọ để tin rằng mọi sự tốt đẹp xảy ra cho họ là do Chúa ban cho:  [Trần Long: Người Tin Lành cám ơn Chúa Trời là Đấng ban cho gạo cơm, mưa nắng, sức khỏe, sự sống, và con cái]. Điều này nói lên tâm cảnh ích kỷ cùng cực của những người Tin Lành.  Họ không hề nghĩ đến những đứa trẻ sinh ra là quái thai, hoặc có khuyết tật, những thiên tai hàng ngày xảy ra trên thế giới, và vô số những cảnh nghèo khổ xảy ra trong ¾ thế giới.  Họ bị đầu độc bởi viên thuốc phiện Thiên Chúa, tạo cho họ một tâm cảnh hoàn toàn phụ thuộc vào cặp nạng thiên chúa, không bao giờ dám rời bỏ cặp nạng này, dù hàng bao tỷ người trên thế giới vẫn đứng vững trên trường đời mà không cần đến cặp nạng thiên chúa..  Họ được cấy vào đầu là mọi sự tốt lành trên thế gian này đều là do thiên chúa của họ tạo ra, không bao giờ buồn để ư đến những sự xấu ác, bất toàn trên thế giới.  Họ được dạy là thiên chúa ḷng lành, rất thương yêu thế gian, nhưng họ chưa từng đọc Kinh Thánh nên không biết rằng thiên chúa của họ trong đó ác ôn như thế nào.  Sau đây chỉ  kể vài điều điển h́nh về những đ̣i hỏi và hành động của Thiên Chúa của họ trong Kinh Thánh:

 

-         Thiên Chúa đ̣i hỏi và chấp nhận giết người để tế Thiên Chúa (Leviticus 27; Judges 11;  2 Samuel  21).

-         Thiên Chúa giết đứa con đầu ḷng trong mọi gia đ́nh Ai Cập (Exodus 12)

-         Thiên Chúa chấp nhận nô lệ (Exodus 21; Leviticus 25)

-         Thiên Chúa chấp nhận việc bán con gái làm nô lệ (Exodus 21)

-         Thiên Chúa ra lệnh giết các phù thủy và những kẻ lạc đạo (Exodus 22)

-         Thiên Chúa xử chết những người vi phạm ngày lễ Sabbath (không nghỉ làm việc ngày thứ Bảy) (Exodus 31)

-         Thiên Chúa giết 70000 người trong một dịch hạch do chính Chúa tạo ra (2 Samuel 24)

-         Thiên Chúa cho 2 con gấu cắn nát 42 đứa trẻ v́ chúng chế riễu nhà tiên tri Elisha (2 Kings 2)

-         Thiên Chúa tạo ra hồng thủy giết chết mọi người và mọi sinh vật, chỉ chừa lại gia đ́nh tên say rượu Noah và giống vật mỗi thứ một cặp, v́ Chúa thấy loài người, do chính Chúa “sáng tạo” ra,  tội lỗi (Genesis 6) [Dưới con mắt cận thị của Thiên Chúa th́ con người sa ngă, mang tội với Thiên Chúa, do đó Thiên Chúa tạo ra Hồng Thủy để giết hại hầu hết loài người. Nhưng thử hỏi, tại sao Thiên Chúa lại giết cả mọi sinh vật hoàn toàn vô tội, gồm có nhiều triệu chủng loại khác nhau, khi chúng do chính Chúa “sáng tạo” ra và không hề làm điều ǵ trái với ư của Thiên Chúa?]

-         Thiên Chúa ra lệnh giết vợ con, anh em nếu họ theo tôn giáo khác (Deuteronomy 13)

-         Thiên Chúa xử chết những đứa trẻ nào không cắt miếng da đầu dương vật  (Genesis 17)

-         Một học giả trên Internet đă đếm được là trong Thánh Kinh Thiên Chúa đă giết trên 2 triệu người, đó là con số đếm được, trong khi Satan chỉ giết có 10 người, với sự đồng ư của Thiên Chúa, trong vụ đánh cuộc về trường hợp của Job.

 

      Một trường hợp phá sản tâm linh khác của Tin Lành như sau.  Charles Kimball, Mục sư Tin Lành hệ Baptist, Tiến sĩ Thần Học, tốt nghiệp đại học Harvard, Trưởng Ban Tôn Giáo đại học Wake Forest, gần đây mới xuất bản cuốn Khi Tôn Giáo Trở Thành Ác Ôn (When Religion Becomes Evil), HarperSanFrancisco, 2003.  Tác giả đưa ra 5 dấu hiệu đồi bại [5 warning signs of corruption in religion] của một tôn giáo, khiến cho tôn giáo đó trở thành ác ôn. Đó là:

 

-         Tự cho là nắm chân lư tuyệt đối [Absolute truth claims]

-         Tuân phục một cách mù quáng [Blind obedience] (Công Giáo dạy tín đồ phải quên ḿnh trong vâng phục các bề trên, Tin lành dạy phải tuyệt đối trung thành với Thánh Kinh. TCN)

-         Thiết lập thời điểm “lư tưởng” (thời điểm được cứu rỗi để  truyền đạo) [Establish the “ideal” time]

-         Cứu cánh biện minh cho bất cứ phương tiện nào [The end justifies any means]

-         Tuyên bố Thánh Chiến [Declaring Holy War]

 

     Chúng ta không c̣n lạ ǵ, cả 5 dấu hiệu này là những sắc thái đặc thù của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành.  Những dấu hiệu này không chỉ là những dấu hiệu của tự thân Ki Tô Giáo mà cũng là những dấu hiệu của những chính quyền dân sự theo Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo như dưới thời Franco ở Tây Ban Nha, Palevich ở Croatia, Ngô Đ́nh Diệm ở Việt Nam v…v…

 

    Tiến sĩ Kimball đă phê b́nh gay gắt sách lược truyền đạo của Ki Tô Giáo và tác giả viết, trang 25:“Tự do tôn giáo là điều tốt.  Nhưng tự do từ chối cái tôn giáo mà những người khác muốn áp đặt trên những người có niềm tin khác cũng là điều tốt vậy thôi.” [10]

 

    Điều này có nghĩa là chúng ta có quyền tự do từ chối và không cho phép những kẻ truyền đạo dùng những thủ đoạn bất lương (The end justifies any means) để truyền đạo như đám Tin Lành.

 

   Người Việt Nam hẳn không ai mà không biết đến câu “theo đạo có gạo mà ăn”, được truyền tụng trong dân gian từ ngày Công giáo bắt đầu xâm nhập Việt Nam cho tới bây giờ, và gần đây, những nhà truyền giáo Tin Lành đă mua mỗi đầu người Thượng trên miền thượng du vào đạo bằng 20 đô-la.  Ki Tô Giáo không thể truyền đạo trong các môi trường trí thức như trường Trung Học và Đại Học, không thể truyền đạo bằng Thánh Kinh, trừ vài đoạn trích dẫn vụn vặt đượm chất hoang đường, mê tín, nhưng lại khiến cho những người ít đầu óc dễ tin..  Họ chỉ thành công, hoặc bằng bạo lực như trong quá khứ, hoặc bằng cách dùng bả vật chất, trong các cộng đồng mà cảnh nghèo khổ và kém hiểu biết của người dân là những yếu tố dễ lợi dụng và khai thác nhất. Nhưng phải công nhận rằng, “từ thiện” là cái mặt thành công nhất của Ki Tô Giáo, nếu kể về số tín đồ nghèo khó và trí tuệ thấp kém mà Ki Tô Giáo dụ được “vô đạo”, cái đạo “vô đạo” của Ki Tô Giáo.

 

Kết Luận:

 

   Trên đây chỉ là vài nét về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành.  Không ai có thể viết hết về Ki Tô  giáo trong một bài viết thuộc loại này.  Thời buổi này mà chúng ta vẫn c̣n nghe thấy những luận điệu như những bài viết thuộc loại nghiên cứu lịch sử này là “chống Công giáo”, “chống Tin Lành”, hay “chia rẽ tôn giáo” hay “theo sách lược đánh phá Ki-tô giáo của Cộng sản” của một số tín đồ Ki Tô giáo Việt Nam cuồng tín.  Đây chỉ là những luận điệu chụp mũ vu vơ, không bằng chứng, v́ tất cả các tài liệu dùng trong những bài nghiên cứu về Ki Tô Giáo đều là của giới trí thức Tây phương, ở trong cũng như ở ngoài các Giáo hội Ki-tô.  Tuyệt đối không có một tài liệu nào của Phật Giáo hay của Cộng sản.  Tại sao các tín đồ Ki tô giáo Việt Nam, kể cả các bậc chăn chiên và trí thức, lại không có mấy ai sử dụng đến lư trí của ḿnh ?

 

   Nếu c̣n dùng đến lư trí th́ các tín đồ Ki Tô giáo Việt Nam phải hiểu rằng, một khi mà những lời nói dối trá đă không c̣n giá trị trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, những điều thuộc loại mê tín hoang đường cổ xưa không c̣n có hiệu lực và không c̣n thuyết phục được ai, th́ tất nhiên con người sẽ không c̣n tin vào chúng nữa.  Và thực tế là, từ hàng giáo phẩm cho đến các con chiên ở dưới bỏ đạo hàng loạt là v́ họ không c̣n muốn dính dáng ǵ đến một tôn giáo đầy tội lỗi thế gian, và tŕnh độ người dân ngày nay đă cao, không c̣n có thể tin vào những điều thuộc loại hoang đường mê tín nữa.  Chính các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô đă khai sáng cho họ qua những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo.

      

    Cuối cùng tôi muốn nói lên một số ư nghĩ chân thành của tôi về các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam.  Đây là những ư nghĩ  bắt nguồn từ sự hiểu biết về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, với tất cả sự lương thiện trí thức trong lănh vực học thuật, tuyệt đối không phải v́ thù hận cá nhân hay tập thể.  Và những ư nghĩ này nhằm mục đích xây dựng chứ không phải phá hoại.  Do đó, các bạn, xin phép được gọi như vậy, nên hiểu rằng đây là những ư nghĩ của một người bạn, không phải của kẻ thù.

 

   Vấn đề không phải là các tín đồ Ki Tô Giáo tin vào Thượng đế của người Do Thái, v́ ai cũng có quyền tin vào một Thượng đế mà ḿnh muốn tin. Trong thế giới ngày nay, chúng ta thấy có cả trăm Thượng đế khác nhau, và về bản chất, mọi Thượng đế và mọi đối tượng tín ngưỡng đều như  nhau, nếu chỉ là thuần túy đối tượng của một đức tin không cần biết, không cần hiểu. Vấn đề chính là tin như thế nào, và những hành động tôn giáo bắt nguồn từ đức tin của ḿnh có thật sự làm sáng danh Thượng đế mà ḿnh tin hay không, hay ngược lại chỉ kéo Thượng đế của ḿnh xuống ṿng  ô nhục.  Thảm thay, đây chính lại là điều các tín đồ Ki-tô thường làm, tưởng rằng để vinh danh Thiên Chúa nhưng thực ra lại hạ thấp Thiên Chúa của ḿnh xuống hàng tệ mạt nhất trong nhân loại, qua những hành động tàn bạo, ác ôn nhất trong lịch sử nhân loại.  Có phải là kỳ lạ  không khi chúng ta tin vào Thần cây đa, Thần b́nh vôi v... v..., chúng ta không hề gây hại cho ai, trong khi tin vào Thần của Ki Tô Giáo th́ lại gây ra bao thảm cảnh cho nhân loại.  Vậy về phương diện xă hội, những niềm tin nào đă gây hại cho xă hội.  Các tín đồ Ki-tô có bao giờ nghĩ đến điều này không?

 

   Sau đây tôi sẽ đưa ra vài điều để các bạn suy nghĩ và thấy rằng không phải tôi viết bừa mà không có căn cứ.

 

-         Các bạn tin vào một Thiên Chúa toàn năng [nghĩa là làm ǵ cũng được], sáng tạo ra cả vũ trụ và muôn loài trong đó.  Nhưng các bạn lại tin rằng Thiên Chúa phải cần đến những con người thế tục, đầy tội lỗi như các bạn để đi kiếm thêm linh hồn cho Thiên Chúa của các bạn.  Chẳng vậy mà các bạn ŕnh ṃ xem có người quen nào sắp chết, nhân lúc gia đ́nh vắng mặt, đến ban tên thánh cho người sắp chết, hoặc dùng mọi thủ đoạn để kéo người ngọai đạo vào trong niềm tin của các bạn.  Vậy thực ra các bạn đang vinh danh Thiên Chúa hay đang mạ lỵ Thiên Chúa của các bạn?  Các bạn đă không tin ở thuộc tính toàn năng của Thiên Chúa, không tin ở khả năng sáng tạo của Thiên Chúa, không tin ở khả năng thực hiện tất cả những ǵ mà Thiên Chúa muốn.  Các bạn tin rằng Thiên Chúa có nhiều nhu cầu, thí dụ như nhu cầu độc tài, không ai được thờ Thần khác, hoặc nhu cầu về sự yêu thương hết ḷng hết sức của những con người do chính Thiên Chúa tạo ra, hoặc nhu cầu cần được người trần vinh danh v..v.. và Thiên Chúa lại phải nhờ đến các bạn để cung cấp những nhu cầu ấy cho Thiên Chúa?  Vậy thực chất Thiên Chúa của các bạn là cái ǵ, có khác ǵ người thường không?  Các bạn đă mang những tính xấu trần tục của con người để áp đặt lên Thượng đế của các bạn.

 

-         Các bạn tin lời giải thích của giáo hội hay của chính giáo hoàng John Paul II gần đây ở Lourdes, là mọi bất hạnh, tật nguyền xảy tới với các bạn là nằm trong “kế hoạch kỳ diệu” của Thiên Chúa (God’s wondrous plan).  Các bạn không hiểu tại sao những bất hạnh đó lại đến với các bạn, và để tự an ủi các bạn đă tin vào lời giải thích như trên.  Cũng như khi xưa, người dân Do Thái được các thầy tu hay tiên tri Do Thái giải thích là những đau khổ triền miên xảy ra cho dân Do Thái là do sự trừng phạt của Thiên Chúa v́ dân Do Thái đầy tội lỗi, không theo đúng luật của Thiên Chúa.  Một ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ hồi tâm, mang nước thiên đường, nghĩa là một Jerusalem mới tràn đầy sữa và mật cho người Do Thái.  Vậy thật ra các bạn đă tin vào một Thiên Chúa chuyên làm ác, gây ra bao đau khổ và bất hạnh cho nhân loại chỉ v́ Thiên Chúa không vừa ư [ai biết ư Chúa ra sao?]. Điều này đối ngược hẳn với niềm tin của các bạn về một Thiên Chúa “quá thương yêu thế gian”.  Có niềm tin nào có thể hạ thấp Thiên Chúa của các bạn xuống hàng ác ôn hơn không?

 

-         Trong nhiều thế kỷ, các giáo hội Ki-tô đă gây ra bao thảm họa cho nhân loại qua những cuộc Thánh chiến, những cuộc săn lùng phù thủy, thiêu sống con người, những ṭa án xử dị giáo với những cuộc tra tấn khủng khiếp con người, những cuộc cưỡng ép cải đạo khắp năm châu v..v.. mà tất cả đều được biện minh là làm theo ư Chúa (God’s will it = Motto trong cuộc thánh chiến đầu tiên).  Như vậy là các bạn đă tin và chấp nhận một Thiên Chúa toàn năng chủ trương giết chóc, tra tấn, thiêu sống và cưỡng bách cải đạo v..v...  Một Thiên Chúa như vậy th́ có giá trị ǵ cho nhân loại, hay thực chất chỉ là một tên ác ôn khát máu?

 

-         Đă một thời, và ngày nay vẫn c̣n nhiều người tin, là những thiên tai như động đất, băo lụt, bệnh dịch truyền nhiễm v..v.. đều là những biện pháp của Thiên Chúa để trừng phạt những người không tin theo Ngài hoặc v́ một lư do nào đó của Thiên Chúa mà chúng ta không thể hiều nổi.  Và tất cả cũng đều là do ư Chúa.  Nhưng thiên tai, bệnh tật có chừa ai đâu, đâu chỉ chọn người ngoại đạo để mà trừng phạt.  Các bạn đă tin vào một Thiên Chúa, tác giả của những tai họa của nhân loại.  Một Thiên Chúa như vậy có đáng để con người kính trọng không, khoan nói đến thờ phung?

 

-         Các bạn tin vào một ông Thiên Chúa đ̣i hỏi các bạn phải yêu ông ta hết sức hết ḷng nếu không th́..., phải tin ông ta và tuân theo những luật lệ của ông ta dù những luật lệ đó đă trở thành lỗi thời, phản ánh một tŕnh độ man rợ của thời chưa khai hóa, nếu không th́...., phải nhận ơn tha thứ của ông ta nếu không th́..., phải tin rằng ông ta có khả năng “cứu rỗi” nếu không th́....  Chỉ có một Thiên Chúa dùng sự đe dọa và sợ hăi để bắt con người phải tin vào ḿnh mới có những đ̣i hỏi như vậy.  Một Thiên Chúa nhân từ, đầy ḷng thương yêu không bao giờ có thể đ̣i hỏi như vậy.  Thật ra các bạn không hiểu các bạn là ai, không hiểu Thiên Chúa là cái ǵ, không hiểu, hoặc hiểu nhưng không chấp nhận, sự vận hành của thiên nhiên, của vũ trụ, của thế giới mà chúng ta đang sống trên đó.  Do đó các bạn không hiểu t́nh yêu là căn bản của mọi sự sống, cũng như không hiểu t́nh yêu của một Thiên Chúa, theo đúng nghĩa của nó, phải là một t́nh yêu không có điều kiện, không có sự phân biệt. 

 

    Đó là những vấn nạn mà các tín đồ Ki Tô Giáo ngày nay phải đối diện.  Nhưng không phải là những vấn nạn trên không thể giải quyết nổi, nếu các bạn có đủ lư trí, ḷng tự tin, và sự lương thiện trí thức tối thiểu.  Tất cả tùy thuộc các bạn.  Các bạn chỉ có hai chọn lựa.  Một là tiêp tục sống trong bóng tối của ngu si, an phận làm con chiên, con cừu, và không cần biết đến những sự tiến bộ tri thức của nhân loại.  Hai là muốn thoát ra khỏi cảnh tối tăm trí thức?  Thoát ra như thế nào.  Mục sư Harry Wilson đề nghị: “Phải cất bỏ gánh nặng Thiên Chúa và Kinh Thánh trên vai.”  Riêng tôi, tôi có một đề nghị thiết thực hơn: Muốn gia nhập hàng ngũ của giới trí thức hiểu biết th́ lẽ tất nhiên các bạn phải thay đổi những niềm tin về Thiên Chúa và Kinh Thánh.  Tôi không có ư nói là phải bỏ những niềm tin này mà là phải thay đổi những niềm tin này như thế nào để những hành động, lời ăn tiếng nói của các bạn không hạ thấp Thiên Chúa của ḿnh xuống như các bạn thường làm trước đây, và cũng phải chấp nhận sự thực là Kinh Thánh không phải là do sự mạc khải của Thiên Chúa viết ra, mà chỉ là sản phẩm của một số người mà kiến thức của họ vào thời đó c̣n rất nhiều thiếu sót.  Các bạn có thể tiếp tục tin vào vài điều đạo đức trong Kinh Thánh, nhưng những chuyện trẻ con như “sáng thế”, “tội tổ tông”, “Giê-su sinh ra từ một nữ trinh”, “chuộc tội”, “cứu rỗi”, “xác chết sống lại” v..v.. th́ đừng có bao giờ mang ra mà quảng cáo trên các diễn đàn công cộng. [Xin đọc cuốn Putting Away Childish Things của Nữ Giáo sư Thần Học Uta Ranke-Heinemann]

 

Nếu các bạn cứ tiếp tục tin vào một ông Thượng đế của người Do Thái, về sau được biến thành Thượng đế của Ki Tô Giáo, tiếp tục tin vào sự không thể sai lầm của Kinh Thánh, và không hề có một thắc mắc, nghi vấn nào, như các bạn đă tin, tôi e rằng các bạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thắc mắc của thiên hạ về Thượng đế của Ki Tô Giáo hay về mức độ khả tín, chính xác, không thể sai lầm của cuốn Kinh Thánh.

 

Đây chỉ là vài ư kiến chân thành của tôi, hi vọng có thể giúp các bạn trở về thân phận con người mà cái quư báu nhất là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, phân biệt chân giả, và nhất là, đừng v́ những niềm tin của ḿnh mà phản bội dân tộc, đánh giá thấp truyền thống văn hóa cao đẹp hơn văn hóa Ki-tô rất nhiều của Việt Nam..

 

Sau cùng, xin độc giả hiểu cho rằng, bài viết này chỉ viết về bản chất và thực chất của Ki Tô Giáo, Công giáo cũng như Tin Lành, chứ không có ư tổng quát hóa, quy tất cả những tội ác và sai trái của Ki Tô Giáo lên đầu đám tín đồ ở dưới mà trong đám này tất nhiên có rất nhiều người lành thiện, giầu ḷng bác ái, là những công dân tốt.  Họ không bao giờ nghĩ rằng bản chất và thực chất của tôn giáo họ theo lại có một lịch sử như vậy.  Họ là những người đáng thương chứ không đáng trách.

 

 

Trần Chung Ngọc, giaodiemonline,  ngày 8/2/10

NDVN, ngày10/2/10

 

 

__________________________

 

 

[1] Over the past centuries, bibliolatry has led Christians in  bigotry,  the  persecution   of   Jews  and   other  non-Christians, murder and terrorism, the oppression of women, the suppression of sexuality, censorship, cult mentality, and other aberrations.  The  destructive  behavior  patterns can be easily traced to the unchallenged authority accorded biblical writing. - Ernie Bringas in Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, p.17

[2]  In Christ name millions and millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed.  In his name millions and millions have been enslaved.  In his name the thinkers, the investigators, have been branded as criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best.  In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years.  His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.

   It would be far better had the New Testament never been written - far better had the theological Christ never lived. - Robert G. Ingersoll in Ingersoll, The Magnificient, p. 117

[3]    The entire structure of the Roman Church is built on forgeries, spurious epistles, spurious sermons, spurious miracles, spurious relics, spurious councils, and spurious papal bulls. - Ex-Jesuit Priest, Peter Doeswyck

 

[4]  Virtually no one really reads the Bible.  The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it - much less reads all of it.

   If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.

[5] Protestantism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are superstitious and the preachers stupid.

 

[6] God is very clear here, folks, he doesn't want witches to live. We are supposed to be killing witches! If we don't, we are disobeying God. Jesus would weep tears of joy if He leaned down off His cloud and sniffed up the burning flesh of a witch this Halloween. Wouldn't that ruin Satan's little birthday party! Praise God! It's just a shame that the United States Government has placed restrictions on the Biblically-mandated practice of witch burning.

 

[7]  Our analysis has led us to the conclusion that the experience of conversion is a response to a crisis situation.  It resolves an emotional impasse.

   That is why the Church grows more rapidly in areas where social processes are causing suffering, particularly from anomie and the collapse of meaning-structures...Such areas should be given top priority by the churches, that efforts to build up church life should be concentrated in them...

   I am not saying anything that is news to Protestants.  There is no conversion without crisis, no conversion without suffering.  Conversion is a process whereby one assimilates suffering to a new meaning-structure and thus makes it meaningful...

   Isn’t it curious that Christ cannot be prached to people who feel secure and happy, to people who feel that life is worth living, to people who are not going through a crisis?  Isn’t it odd that Christ can only be proclaimed and made meaningful in morbid situations where people are infected with existential anxiety, guilt feelings, and terror of death?  What really is the task of the evangelists?  His or her task is to give theological names to a crisis that could well be psychosocial in origin.  The evangelist seeks to activate a crisis which might not have been sensed befored, so that then, and only then, he or she can proclaim that “Christ is the answer.”

   We are forced to conclude that the world makes room for Christ only when it feels ill, when it has come down with some sickness.  Is there some theological reason why dread of death and guilt are the privileged sacraments of salvation?  To put it another way, the experience of conversion presupposes that the meeting-point between God and the world is suffering and anguish – the world’s state of pain and sickness.  When there is health and happiness, language about God loses its meaningfulness.  Isn’t there a sadomasochistic vision of reality buried underneath such presupposition?

   Suffering is transformed into a blessing, because it provides an opportunity for the sinner to encounter Christ.  The greater the suffering, the greater the opportunities for evangelists!  Doesn’t that suggest that the Church is being put in the curious position of praying for more human suffering so that human hearts will be more receptive to its message?  That was a question which Dietich Bonhoeffer posed to the Church.

   What do the apologists for the Christian faith, the bearers of the “good news” really do?

   They demonstrate to secure, content, happy mankind that it is really unhappy and desperate, and merely willing to realize that it is in severe traits it knows nothing at all about, from which only they can rescue it.   Wherever there is health, strength, security, simplicity, they spy luscious fruit to gnaw at or to lay their pernicious eggs in.  They make it their object first of all to drive men to inward despair, and then it is all theirs (Bonhoeffer).

   Conversion is a solution to a painful problem.  One starts from conversion to structure a world whose function is to prevent the reappearance of anxiety.  The aim is the exorcism of the terror.  Now if the conversion has proved adequate in exorcising this terror, consciousness will be firmly glued to that conversion-experience and its attendant cognitive worldview.  That is why arguments won’t work at this level.  You may offer all sorts of evidence – logical, scientific, or whatever – to call to convert’s basic experience into question.  It will immediately and flatly rejected by the convert.

 

[8] The situation of the new converts is akin to that of children going to school for the first time.  They know nothing.  Knowledge will be mediated to them by a person who has knowledge. The learning process is a process of apprenticeship.  The social interaction between two parties involved is not an interaction between equals.  Master and apprentice, teacher and learner, are not the same level.  One is subordinate to the other; hence power is involved in the equation.  The teachers are those who have the power to impose their definition of reality; the learners are those who do not have the power to maintain their definition of reality..

   Even before new converts learn anything about the world, they are taught to view themselves as people who know nothing.  Their own knowledge is placed between parentheses and called into doubt.  It is not permissible for them to appeal to what they think they know in order to criticize the knowledge that the church community wishes to transmit to them.  Why?  Because their knowledge is a heritage from their earlier period of darkness and damnation.  Their minds are reduced to blank pages.  They have nothing to say; their job is to listen.  As apprentices and learners, they must submit silently to the church institution.  They now know that the institution has the monopoly on absolute knowledge, hence a monopoly on the right to talk.

   In the Protestant world, then, the learning process begins with a lesson in a particular kind of social relationship: the teachers speaks, the learners keep quiet; the teachers teach, the learners repeat.  If the learners do not know what they believe, they are not qualified to speak.  It is true that the converts are free to sing their emotions.  But the discourse of knowledge is still impossible.  This is why the proper mode of speech for the learners is repetition, as catechisms clearly illustrate.  Catechisms are primers for apprentice-learners.  They contain questions and ready-made answers.  When do learners know their catechism?  When they can recite by heart the printed answers in it.  The learning of the church community is defined in terms of that knowledge, and the test of learning is the ability to memorize and repeat the catechism questions and answers.  In this way the collective conscience of the community is imprinted as truth on the mind and conscience of the individual member.  What about free inquiry?  What about let the converts break their own ground?  That is nowhere to be found.

 

[9] Newsweek, p.33: The last lines read:  I do not want anything to do with God.  I am sick of religion.  It is a crutch for the weak.. We make God into what we need for the moment.  I hate God.  I hate all those who try to explain God when they really don’t know.

 

[10] Freedom of religion is a good thing.  So is freedom from the religion others may wish to impose on those who differ.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend