TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Kytô Công Giáo-Tin Lành Âu Mỹ Đang Suy Tàn. V́ Giáo Dân Tây Phương Tỉnh Thức


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

   

 

Kytô Công Giáo - Tin Lành Âu Mỹ Đang Đi Vào Ngỏ Cụt Và Suy Tàn V́ Giáo Dân Tây Phương Tỉnh Thức 

 

 

 

     Trong Phúc Âm John 8:32, Chúa Giê-su phán: “Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ cởi trói cho các ngươi” [Then you will know the truth, and the truth will set you free].  Nhưng thật là kỳ lạ, trong suốt 2000 lịch sử của Công giáo, các Giáo hoàng, đại diện của Chúa trên trần, các bậc chăn chiên, Chúa thứ hai, và các con chiên, nhất là con chiên Việt Nam, lại rất sợ sự thật.  Samuel Butler đă chẳng từng nói: “Công giáo không sợ bất cứ cái ǵ khác, mà chỉ sợ có sự thật”.

 

     Nhận định của Samuel Butler không sai nếu chúng ta biết là, sách lược che dấu sự thật trước đám con chiên thấp kém là sách lược cốt tủy của Giáo hội Công Giáo.  

  

     Tại sao Giáo hội phải làm như vậy? V́ quyền lực thế tục cũng như tài sản của Giáo hội Công Giáo tùy thuộc ở số đông tín đồ nên Giáo hội rất sợ tín đồ biết đến cái bản chất thực sự của Giáo hội cũng như những sai lầm trong Thánh Kinh, những sai lầm mà chính giáo hoàng hay giáo hội cũng không thể phủ nhận, nhưng không bao giờ dám cho đàn chiên của ḿnh biết. Chúng ta nên nhớ rằng đă một thời Giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, vi phạm luật này có thể bị xử tịch thu tài sản, bị vạ tuyệt thông, hay bị tử h́nh.

 

     Giáo hội Công Giáo muốn giữ độc quyền giải thích Thánh Kinh, thường chỉ là những đoạn chọn lọc kỹ ngoài ngữ cảnh bất kể đến những mâu thuẫn và những đoạn không thể đọc được trong Thánh Kinh, và tín đồ chỉ có việc nghe theo v́ không thể nào biết được những giải thích đó đúng hay sai, có trong Thánh Kinh hay có phù hợp với những điều viết trong Thánh Kinh hay không?   Giáo hội Công giáo diễn giải những đoạn đă chọn lọc kỹ đó cùng với những tín lư giáo hội dựng ra theo ư giáo hội bất kể sự thật, và cũng lẽ dĩ nhiên tuyệt đại đa số tín đồ cũng chỉ biết về đạo của họ qua những lời diễn giảng một chiều này. 

 

     Giáo lư của Giáo hội đặt nặng trên truyền thống của Giáo hội, nghĩa là đặt nặng trên những điều “Giáo hội dạy rằng..” dù rằng những điều này không hề có trong Thánh Kinh, và với “đức vâng lời”, con đường duy nhất để tín đồ sau khi chết sẽ được lên thiên đường, một cái bánh vẽ trên trời theo Mục sư Ernie Bringas,  cho nên Giáo hội dạy sao th́ tín đồ cứ tin vậy..

 

     Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lư Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

 

     Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những ǵ Thiên Chúa đă mạc khải và tất cả những ǵ Giáo hội Công giáo dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh.  V́ Truyền Thống Công giáo (nghĩa là những ǵ giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải. (A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not.  Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God)

 

     Và chúng ta không thể không nhắc lại câu nói thời danh của Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập ḍng Tên:  “Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội Công Giáo quyết định như vậy.“ (We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides).

 

     Giáo hội Công giáo đă viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho ḿnh.  Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh, cùng cầm quyền sinh sát trong tay.  Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh th́ người ta đă khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều mâu thuẫn cùng những điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một thiên chúa toàn năng, toàn trí….

 

     Cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo đă được các học giả Tây phương nghiên cứu phân tích kỹ hơn bất cứ cuốn sách nào khác.  Và kết quả nghiên cứu về cuốn Thánh Kinh trong ṿng 200 năm gần đây của các học giả Tây phương đă đi đến kết luận:

 

     “Các học giả Âu Châu đă phân tích Thánh Kinh kỹ hơn bao giờ hết, và kết luận của họ là: Thánh Kinh không phải là cuốn sách do Thiên Chúa mạc khải mà viết ra, như các Ki Tô hữu đă thường tin từ lâu, do đó không thể sai lầm.  Thật ra, đó là, một hợp tuyển lộn xộn những huyền thoại cổ xưa, truyền thuyết, lịch sử, luật lệ, triết lư, bài giảng đạo, thi ca, chuyện giả tưởng, và một số ngụy tạo rất hiển nhiên.” [1]

 

     Và Giám mục Tin Lành John Shelby Spong đă khai sáng thêm vấn đề “mạc khải” qua đoạn sau đây:

 

     Thánh Kinh không phải là lời mạc khải của Thượng đế.. Nó chưa từng là như vậy bao giờ!  Các sách Phúc Âm không phải là những tác phẩm không có sai lầm, khải thị bởi Thiên Chúa.  Chúng được viết ra bởi những cộng đồng có đức tin, và chúng biểu thị ngay cả những thiên kiến của các cộng đồng đó.  Trong các sách Phúc Âm không phải là không có những mâu thuẫn nội tại đáng kể hay những quan niệm đạo đức và trí thức làm cho chúng ta ngượng ngùng, xấu hổ. (John Shelby Spong, Why Christianity Must Change Or Die, p. 72) [2]:

  

     Nhưng Thánh Kinh không phải là cuốn sách duy nhất mà Giáo hội Công giáo cấm tín đồ đọc.  Sách lược chính của Giáo hội Công giáo là trói tín đồ vào trong ṿng đen tối trí thức và mê hoặc tâm linh để dễ bề ngự trị.  Chúng ta có thể thấy rơ điều này qua vài sự kiện sau đây. 

 

     Lịch sử Công giáo cho thấy rằng:

 

     “Giáo hội Công giáo đă có những tác động tàn phá trên xă hội. Khi Giáo hội nắm được vai tṛ lănh đạo, hoạt động trong những ngành  y khoa, kỹ thuật, khoa học, giáo dục, lịch sử, nghệ thuật và thương mại đều sụp đổ. Âu Châu đi vào những Thời Đại Đen Tối. Tuy Giáo hội vơ vét được một tài sản to lớn trong những thế kỷ đó, hầu hết những ǵ định nghĩa cho văn minh đă biến mất.”  (Helen Ellerbe, The Dark Side of Christian History, p. 50) [3]

  

     Nhận định của Helen Ellerbe không sai nếu chúng ta biết đến chủ trương của Giáo hội Công Giáo qua những hành động ngăn chận sự tiến bộ trí thức của nhân loại như:

 

     Giữ độc quyền giáo dục với chính sách làm cho nhân dân ngu muội, tối tăm.

     Đốt sách vở ghi chép những kiến thức cổ xưa của nhân loại.

     Ngụy tạo và viết lại lịch sử với mục đích chứng thực đức tin của Công Giáo.

     Hủy diệt các nền văn hóa phi Ki-Tô.

  

     Từ 1559, Giáo hội đă đưa ra danh sách những sách cấm tín đồ đọc, vi phạm “luật thánh” này sẽ bị vạ tuyệt thông.  Tuyệt thông hay rút phép thông công là h́nh phạt của Giáo hội Ca-tô áp dụng đối với các con chiên ghẻ không tuân phục và vâng lời giáo hội.  H́nh phạt này có nghĩa là những người bị phạt không c̣n quyền hưởng các “bí tích” trong Công Giáo, và do đó Giáo hội không cho họ hiệp thông với Chúa của họ. H́nh phạt này vẫn được Giáo hội sử dụng ngày nay.  Thật vậy, theo bản tin trên VietCatholic News (Thứ Năm 29/05/2008 16:32) th́:

 

     Vatican- Thứ năm ngày 29/05/08, Toà Thánh phổ biển một sắc lệnh đe dọa rút phép thông công ngay lập tức với những ai truyền chức linh mục cho giới nữ, biện pháp này cũng sẽ liên quan đến những phụ nữ được truyền chức linh mục.

   

     Nhưng thật ra vạ “tuyệt thông” hay “rút phép thông công” của Công giáo là ǵ?   Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "rút phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, v́ họ đă được nhồi vào đầu từ khi c̣n nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa th́ phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Ṭa Thánh".  Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, th́ đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, v́ nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc.  Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hăi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đă vạch rơ cho chúng ta thấy bản chất và ư nghĩa của H́nh Phạt Hù Dọa Tuyệt Thông Của Ṭa Thánh, trang 39: 

 

     Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Công giáo. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một h́nh phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn c̣n có ư nghĩa ǵ đối với con người....Tuyệt thông,  trong nhiều thế kỷ, đă là vai tṛ của giới quyền lực đóng vai Thượng  đế .  Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô.  Nhưng nhất là, nó đă là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, v́ quá lo sợ mất đi quyền lực của ḿnh, nên phải kiểm soát tín đồ thay v́ hướng dẫn họ đi tới một t́nh yêu thương tự do và trưởng thành.[4]

 

     Theo Wikipedia th́ danh sách những ấn phẩm mà Giáo hội Công giáo kiểm duyệt và cấm tín đồ đọc là danh sách những ấn phẩm mà Giáo hội kiểm duyệt, cho rằng nguy hiểm đến chính Giáo hội và đức tin của các tín đồ [The Index Librorum Prohibitorum ("List of Prohibited Books" or “Index of Forbidden Books”) is a list of publications which the Catholic Church censored for being a danger to itself and the faith of its members.], nhưng thực ra chỉ là để che dấu những sự thật về những giáo lư của Giáo hội và giữ tín đồ trong ṿng ngu dốt để dễ trị.    Trong danh sách những cuốn sách cấm đọc, với 32 ấn bản trong hơn 400 năm, từ 1559 đến 1966, chúng ta có thể đếm được 6892 đầu sách cấm tín đồ đọc, và trong mỗi ấn bản đều chứa những luật của Giáo hội về vấn đề đọc sách, bán sách và kiểm duyệt sách. [The various editions also contain the rules of the Church relating to the reading, selling and censorship of books.]  Bởi vậy chúng ta không lấy ǵ làm lạ khi thấy kiến thức của tuyệt đại đa số tín đồ Công giáo các cấp quá thiếu sót, nghèo nàn, về chính tôn giáo của ḿnh, cho nên thường không đủ khả năng để đối thoại một cách nghiêm chỉnh về những vấn nạn của Công giáo. 

 

     Nhưng chúng ta phải công nhận là, làm cho đầu óc của các tín đồ biến thành đầu óc của các con chiên, cúi đầu đi theo sự chăn dắt của giới chăn chiên, tin tất cả những ǵ “bề trên” dạy, đi kèm với sách lược cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, cùng cấm đọc những tác phẩm, báo chí v..v.. mà giáo hội không cho phép để nhốt đầu óc của các tín đồ vào cái ngục tù tâm linh của giáo hội là sự thành công lớn nhất của Giáo hội Công giáo

 

     Ngoài ra, để nắm giữ đầu óc tín đồ từ ngày sinh ra đời đến ngày chết, và để tạo quyền lực cho giới chăn chiên trước đàn con chiên thấp kém, Giáo hội Công Giáo c̣n dựng lên những màn ảo thuật gọi là "bí tích" [sacraments], những lễ tiết tín đồ bắt buộc phải tin hiệu năng huyền nhiệm của chúng theo như những lời "giáo hội dạy rằng", dù giáo hội "bí đặc", không làm sao giải thích được tại sao lại phải tin như vậy, v́ bản chất những "bí tích" này thuộc loại mê tín dị đoan. Giáo hội dạy rằng mọi “bí tích” này là do Chúa Giê-su lập ra, và con chiên nghe đến Chúa là mất hết lư trí, chỉ việc nhắm mắt tin theo. Trong cuộc thảo luận sau khi tŕnh chiếu cuốn phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus của đài Discovery, khi được hỏi ư kiến về những sự kiện khoa học khám phá ra trong phim, một ông linh mục đă thản nhiên trả lời: “Đức tin là về sự huyền nhiệm, không về khoa học” [Faith deals with mystery, not science]

 

     Chúng ta hăy tự hỏi nền giáo dục Công giáo thuộc loại nào khi ra lệnh cấm tín đồ không được đọc cuốn Thánh Kinh và gần 7000 cuốn sách nằm trong danh sách những cuốn “cấm đọc” của Giáo hội Công giáo. Nhưng tiến hóa là một định luật của nhân loại, làm sao mà giáo hội có thể ngăn chận được sự tiến bộ trí thức của nhân loại?  Khi mà giáo hội không c̣n nắm toàn quyền sinh sát và giáo dục toàn dân như ở Âu Châu trước đây, và người dân đổ xô đi học các trường học công cộng (public schools), th́ xảy ra một nghịch lư.  Giáo hội cấm th́ cứ cấm, c̣n các trường học công cộng vẫn cứ dạy học tṛ về những tác giả bị cấm, v́ các tác giả này thuộc chương tŕnh học về tư tưởng, triết lư, và văn chương nhân loại.  Và tuy danh sách những sách cấm đọc đă được băi bỏ từ năm 1966, ngày nay giáo hội vẫn khuyên các con chiên đừng đọc những sách thuộc loại nguy hiểm, bảo đó chỉ là sự hướng dẫn đạo đức chứ không phải là luật cấm. [Today the Church may issue an "admonitum," a warning to the faithful, that a book might be dangerous. It is only a moral guide, however, without the force of ecclesiastical law."]  Nhưng v́ truyền thống “quên ḿnh trong vâng phục” của các tín đồ, và v́ tín đồ được thường xuyên nhắc nhở về “đức vâng lời” cho nên khi một ông linh mục hay giám mục “khuyên” tín đồ không nên đọc cuốn sách nào th́ lời “khuyên” đó chính là một lệnh, tín đồ sẽ không dám đọc cuốn sách đó, v́ họ đă được dạy là không vâng lời “bề trên” th́ sẽ bị “Chúa phán xét”, linh hồn không được “cứu rỗi”.

 

     Nhưng nay Tây phương thực sự đă thức tỉnh, thức tỉnh v́ những sự thật về Ki Tô Giáo đă giải phóng Tây phương ra khỏi ngục tù tâm linh sau bao thế kỷ bị Giáo hội Công giáo trói buộc và giam giữ.  Và sự thức tỉnh của Tây phương đă đưa đến sự suy thoái không phương cứu văn của Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng.  Đây là một sự kiện không ai có thể chối bỏ. Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy thật ra sự thức tỉnh của Tây phương không phải trong thời đại này mới xảy ra mà đă bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người ít ra là từ cuộc Cách Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, từ Thời Đại Lư Trí  (The Age of Reason) vào thế kỷ 18, Thời Đại Khai Sáng (The Age of Enlightenment) vào thế kỷ 19, và Thời Đại Phân Tích (The Age of Analysis) vào thế kỷ 20.  Những thời đại này đă kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), một thời đại mà sự thống trị của Công Giáo La-mă đă đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ (The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages), hay Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The age of barbarism and intellectual darkness).

 

     Những thời đại bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người như trên đă từ từ văn minh hóa Công Giáo La-mă, hay nói đúng hơn, theo John E. Remsburg, đă tước khỏi những bàn tay đẫm máu của Công Giáo La-mă những bó củi để thiêu sống người và những thanh gươm để giết người.  Mặt khác, sau khi Martin Luther ly khai với giáo hội Công Giáo La-mă vào đầu thế kỷ 16, không công nhận chế độ giáo hoàng, để lập ra hệ phái Ki-Tô Phản Đối (Protestantism) mà chúng ta thường biết dưới cưỡng từ Tin Lành, th́ Thánh Kinh bắt đầu được dịch ra những tiếng địa phương, và cũng bắt đầu từ đó, những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh và về nhân vật Giê-su trong Thánh Kinh phát triển.  Kết quả của những công cuộc nghiên cứu này đưa đến h́nh ảnh của một Giê-su như là một người Do Thái thường, sống với ảo tưởng ḿnh chính là con của Thượng đế của người Do Thái và là cứu tinh của dân tộc Do Thái.  H́nh ảnh lịch sử này khác hẳn với h́nh ảnh thần linh có khả năng làm những phép lạ và có khả năng cứu rỗi mà giáo hội Công Giáo La-mă đă tạo dựng lên.  Và cũng từ đây, những tín lư, tín điều, cũng như những lễ tiết có tính cách mê hoặc mà giáo hội Công Giáo La-mă gọi là "bí tích" đă không c̣n chỗ đứng trong những xă hội Tây phương, ít ra là trong giới thức giả hiểu biết, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, và cũng c̣n ở trong quảng đại quần chúng. 

 

     Thực chất của Ki Tô Giáo đă được các học giả nghiên cứu kỹ trong ṿng 200 năm gần đây, bác bỏ mọi huyền thoại mà Ki Tô Giáo dựng lên, những chuyện thuộc loại hoang đường, mê tín cổ xưa đó bắt buộc phải ra khỏi đầu óc của con người, nhường chỗ cho những sự kiện khoa học và những thực tế xă hội..  Một cuốn sách điển h́nh về hiện tượng giải hoặc Ki Tô Giáo này là của Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ duy nhất trên thế giới chiếm được ngôi vị giáo sư thần học Công giáo của giáo hội Công giáo [the first woman in the world to hold a chair of Catholic theology], cuốn “Hăy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting Away Childish Things, HarperCollins, 1995).  Những chuyện trẻ con nào? Đó là những tín lư căn bản của Ca-Tô Giáo: “Tư cách thần thánh của Chúa Ki Tô”; “Sinh ra từ một nữ trinh”; “ngôi mộ trống”; “Ngày Thứ Sáu tốt đẹp”; “Phục sinh”; “Thăng Thiên”; “Bị hành quyết để chuộc tội”; “Hỏa ngục” [The divinity of Christ, The Virgin mother, Good Friday, Easter, Resurrection, Ascension, Redemption by execution, Hell]. 

 

     Tác giả trích dẫn câu 1 Corinthians 13:11 ở ngay đầu cuốn sách:  “Khi tôi c̣n là một đứa trẻ, Tôi nói như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ như một đứa trẻ; Nhưng khi tôi trở thành một người trưởng thành, tôi dẹp bỏ những chuyện của trẻ con”  [When I was a child, I spoke as a child, I understood as a child, I thought as a child; But when I became an adult, I put away childish things.] 

 

     Trong cuốn "Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority), Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio, cũng đưa ra một nhận định tương tự::

 

     Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích Thánh Kinh một cách thuần lư hơn là điều không thể tránh được. Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa, và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

 

     Trong những năm 1835-1836, cuốn "Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined) của D. F. Strauss đă quy một số chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ư tưởng tôn giáo. Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và xác nhận sự khẳng định này. Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lư giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

 

     1. Đức Mẹ đồng trinh

     2. Hiện thân của Chúa (Thượng đế hiện thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê- su.)

     3. Nhiệm vụ chuộc tội của Chúa [kế hoạch cứu rỗi]

     4. Sự sống lại của Chúa.

     5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

     6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người chết cho ngày phán xét cuối cùng)

     7. Ngày phán xét cuối cùng (Thiên Chúa phán xét mọi người khi Giê su trở lại trần thế)

 

     (With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur. In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

   In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those unhistorical elements as expressing a series of religious ideas. Today, analytical studies continue to support and confirm this assertion. The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

     1. The virgin birth

     2. The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

     3. The work of Atonement (plan for salvation)

     4. The resurrection

     5. The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

     6. The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)

     7. The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)

 

     Khi mà những nhà thần học Công giáo như Uta Ranke-Heinemann, Tin Lành như Mục sư Ernie Bringas, Giám Mục John Shelby Spong và nhiều bậc lănh đạo khác trong Ki Tô Giáo đă nhận thức được rằng, những tín lư mà nền thần học Ki Tô Giáo tạo ra về Giê-su chỉ là những huyền thoại để cho trẻ con tin, hoặc cho những người lớn có đầu óc ở tŕnh độ của trẻ con, th́ tất nhiên Ki Tô Giáo phải suy thoái.  Thật vậy, chính Giáo hoàng và hàng giáo phẩm Công giáo cũng không c̣n tin vào những huyền thoại như trên nữa.  Sau đây là vài sự kiện chứng minh.

 

     Từ năm 1981, ṭa thánh Vatican đă mời một số chuyên gia đến để cố vấn cho ṭa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên t́m hiểu về chính lúc nổ v́ đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.” (Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116) [5]:. Chúng ta nên để ư, căn bản thuyết Big Bang đă được công nhận là đúng dù năm 1981, thuyết Big Bang chưa được hoàn chỉnh cho đến khi ḍ ra được bức xạ nền [background radiation] trong vũ trụ vào năm 1992, và rồi những vân trong bức xạ nền v..v…nhưng Giáo hoàng cũng đă phải công nhận vũ trụ này sinh ra từ một Big Bang.  Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đă xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) của Thượng đế Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể sai lầm của Thượng đế.

 

     Rồi đến năm 1996, giáo hoàng John Paul II đă thú nhận trước thế giới là “thân xác con người có thể không phải là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”. [6]

 

     Chấp nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, chấp nhận con người không phải là do Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần và lâu dài, giáo hoàng đă phá tan thuyết sáng tạo của Thượng đế, cùng huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm ǵ có chuyện Adam và Eve sa ngă tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai tṛ “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác ḷng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.

  

     Tháng 7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đă bắt buộc phải tuyên bố: "thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và hành động mà con người đă làm trong đời này” (Hell is not a punishment imposed externally by God, but the condition resulting from attitudes and actions which people adopt in this life). Như vậy là Giáo Hoàng đă bác bỏ phần giáo lư quan trọng nhất của giáo hội Công giáo: “người nào tin Chúa th́ sẽ được Chúa cho lên thiên đường sống cuộc sống đời đời bên ngài, kẻ nào không tin sẽ bị Chúa phán xét đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục ở trong ḷng đất”. Thiên đường, cái bánh vẽ trên trời mà Giáo hội thường dùng để khuyến dụ những người nhẹ dạ cả tin, và một hỏa ngục để hù dọa những người yếu bóng vía, sau cùng đă không c̣n tác dụng ǵ đối với nhân loại trong thời đại văn minh tiến bộ ngày nay.

  

     Chúng ta thấy, từ những công cuộc nghiên cứu mới nhất về Thánh Kinh, về nhân vật Giê-su, về Ki Tô Giáo nói chung, giới thức giả Tây phương đă thức tỉnh và nhận ra rằng, từ thế hệ này qua thế hệ khác, trải qua 2000 năm lịch sử, từ khi Giê-su sinh ra đời, con người Tây phương đă bị giam chặt trong một đức tin thuộc loại mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.  Hơn nữa, trước những cảnh chiến tranh triền miên, thiên tai, bệnh tật, cảnh khổ, cảnh chết đói ở những nước kém mở mang ở Phi Châu, bất cứ người nào c̣n có đầu óc suy tư  đều không c̣n có thể chấp nhận luận điệu thần học về một Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những thuộc tính của Thiên Chúa như : "Thiên Chúa quá thương yêu thế gian...", "Giê-su yêu tất cả mọi người", "Giê-su đến để mang một tin vui, tin vui t́nh thương, tin vui tự do..." v..v..  Chỉ có những đầu óc trong đó có một khuyết tật hay một điểm mù tôn giáo mới có thể c̣n tin như vậy.

  

     Sự thức tỉnh của Tây phương không chỉ thuần túy là v́ những giá trị mạc khải của tín ngưỡng Ki Tô Giáo nay đă sụp đổ, v́ những giáo lư, bí tích v..v… ngày nay đă không c̣n mấy giá trị trong thế giới Tây phương, mà c̣n v́ một khía cạnh khác không kém phần quan trọng.  Đó là cái lịch sử ô nhục đẫm máu của Ki Tô Giáo, đặc biệt là Công giáo, đă làm cho thế giới thấy rằng đó chỉ là những tổ chức thế tục, buôn thần bán thánh, nấp sau bộ mặt tôn giáo.  Ngày nay, các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki Tô đă phanh phui ra rằng lịch sử Ki Tô Giáo c̣n cái mặt đen tối, và nếu đặt lên cán cân th́ mặt này sẽ nặng trĩu trên cán cân.  Sau đây là vài lời thú nhận của chính giáo hoàng John Paul II của Công  Giáo La-mă.

 

     1994: Trong một mật thư gửi cho các hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ư, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: "Làm sao mà chúng ta có thể tiếp tục yên lặng trước nhiều h́nh thức bạo tàn mà giáo hội đă phạm phải nhân danh đức tin - chiến tranh tôn giáo, những Ṭa H́nh Án Xử Dị Giáo và những h́nh thức vi phạm nhân quyền khác?" (Chicago Tribune, June 5, 1995) [7]:

  

     1995:  Giáo hoàng John Paul II thúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hăy nắm lấy cơ hội "đặc biệt thuận lợi" của một thiên niên kỷ mới để ghi nhận "cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Công giáo)" [8]

  

     Rồi đến ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong một cuộc “thánh lễ” công cộng tại “thánh đường” Phê-rô, Giáo hoàng cùng một số hồng y, tổng giám mục, trong đó có tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận, đại diện cho “hội thánh” Công giáo, đă chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của Công giáo.  7 núi tội ác này, qua gần 20 thế kỷ, đă đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như “thập ác chinh” (thường được gọi một cách sai lầm là “thánh chiến” v́ bản chất những cuộc chiến này rất man rợ, bạo tàn chứ chẳng có ǵ là “thánh” cả), ṭa h́nh án xử dị giáo, bách hại dân Do Thái, kỳ thị phái nữ, liên kết với thực dân để truyền đạo với sách lược xâm lăng văn hóa, mưu toan thống trị và có thái độ thù nghịch với các tôn giáo khác v..v..  Hành động “xưng thú 7 núi tội ác” này đă làm cho những lời tự nhận của giáo hội mà giáo hội thường nhồi nhét vào đầu óc tín đồ từ khi c̣n nhỏ, rằng Công giáo là tôn giáo “thiên khải duy nhất”, “thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “hôn thê của Chúa”, “cao quư”, “ánh sáng của nhân loại”, bác ái”, “dân chủ” v..v.., trở thành những lời nói láo vĩ đại nhất trong lịch sử các tôn giáo của loài người.  Một khi mà những lời nói láo không c̣n có hiệu lực và không c̣n thuyết phục được ai, th́ tất nhiên con người sẽ không c̣n tin vào chúng nữa.  Và ngày nay, ở Tây phương cũng như ở nhiều nơi trên thế giới, tín đồ bỏ đạo hàng loạt là v́ họ không c̣n muốn dính dáng ǵ đến một giáo hội đầy tội lỗi thế gian, và tŕnh độ người dân ngày nay đă cao, không c̣n có thể tin vào những điều thuộc loại hoang đường mê tín nữa.  Chính các học giả ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô đă khai sáng cho họ qua những tác phẩm nghiên cứu nghiêm chỉnh về Ki Tô Giáo.

 

     Ki Tô Giáo đang suy thoái,  con người Ki Tô trên khắp thế giới đang dần dần từ bỏ niềm tin vào một Thượng đế không tưởng cũng như vai tṛ cứu thế của Giê-su. Giáo hoàng đương nhiệm Benedict XVI đă nhiều lần thú nhận về sự suy thoái không cơ cứu văn của Công giáo và Tin Lành ở Tây phương.  Theo những tin tức trên báo chí trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, th́ Benedict 16 đă lên tiếng phàn nàn như sau:

 

     Những tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương [Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần v́ các xă hội càng ngày càng trở nên thế tục và không c̣n cần đến Thiên Chúa nữa. 

  

     Nhận xét của Ngài có vẻ bi quan và rầu rĩ  hơn GH tiền nhiệm là  John Paul II, người đă than phiền về sự suy thoái của đức tin trong các quốc gia phát triển và nói rằng điều này giải thích sự vật lộn của Giáo Hội Công giáo đối với vấn đề  số người đi nhà thờ giảm rất nhiều trong những năm gần đây.” [9]

 

     Cũng theo tin hăng Reuters ở Rome th́ Giáo hoàng Benedict 16 đă phải đau ḷng mà chấp nhận một sự thực:

 

     Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của ḿnh, một thế giới ở thời điểm mà không có bằng chứng nào là con người c̣n cần đến Thiên Chúa nữa, và c̣n cần ít hơn đến Chúa Ki Tô.  Những Giáo Hội gọi là 'truyền thống' xem ra như đang chết dần.”

 

     Theo một phúc tŕnh mới đây của Vatican th́ trong một số nước phát triển, Giáo dân đi dự lễ ngày  Chủ Nhật chỉ c̣n khoảng 5%. Ngài nói thêm: Tuy nhiên không phải chỉ có đạo Công giáo  bị như vậy mà Giáo Hội Tin Lành cũng bị ảnh hưởng nặng hơn nữa trong thời điểm lịch sử này. Không thấy có giải pháp nào mau chóng và thần diệu cả để cứu văn giúp Giáo Hội chúng ta cả. [10]

 

     Giáo hoàng khuyên tín đồ Công giáo, nhắm vào khối tín đồ Công giáo lạc hậu ở Phi Châu, Nam Mỹ, Phi Luật Tân, và Việt Nam, hăy kiên tŕ giữ vững đức tin, tiếp tục tiến bước trong đường hầm [keep walking in the tunnel], có thể ánh sáng le lói của Chúa Ki-Tô sẽ xuất hiện ở cuối đường hầm [Christ light would appear at the end]

 

     Gần đây nhất, ngày 9 tháng 4, 2007, Giáo hoàng Benedict 16 lại cảnh báo là “Âu Châu có vẻ như sẽ mất đức tin trong tương lai, và gọi những người Âu Châu chỉ muốn có ít con là theo “chủ nghĩa cá nhân nguy hiểm” [trong khi cả thế giới đang lo nạn nhân măn và cổ súy hạn chế sinh đẻ]  Giáo hoàng nói:Bất hạnh thay, chúng ta phải ghi nhận là Âu Châu có vẻ như đang tuột  xuống một con đường có thể đưa Âu Châu đến sự giă từ lịch sử[Ki Tô Giáo vẫn cho rằng lịch sử Âu Châu là lịch sử Ki Tô Giáo]

 

     (Time, April 9, 2007: “One must unfortunately note that Europe seems to be going down a road which could lead it to take its leave from history”  Pope Benedict XVI, warning that Europe appears to be losing faith in its future, calling some Europeans’ desire to have fewer children “dangerous individualism”.)

 

     Ngoài ra, trong một hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu châu tuyên bố rằng các dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đă quyết định sống “như là Thiên chúa không hề hiện hữu”. (At a special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples of the entire continent had decided to live “as though God did not exist”.)

 

     Có một sự kiện mà ít người để ư đến.  Đó là Phật Giáo đă giúp cho Tây phương thức tỉnh phần nào, dù Phật Giáo không bao giờ có chủ trương xâm lăng văn hóa, hay xâm lăng tôn giáo, hay kiếm tín đồ bằng tất cả những thủ đoạn bất chính như Công giáo.  Đây là sự tiến bộ trí thức tự nhiên trong thế giới Tây phương.

 

     Thật vậy, năm 1969, John H. Garabedian & Orde Coombs xuất bản cuốn Những Tôn Giáo Đông Phương Trong Thời Đại Điện Tử (Eastern Religions In The Electric Age), h́nh b́a ngoài là hàng chữ lớn viết lên tường: Chúa Ki-Tô Đă Chết - Phật Đang Sống (Christ Is Dead - Buddha Lives !), nội dung nói về cuộc nổi giậy đạo đức ở Mỹ (moral revolt in America), phân tích tại sao hàng triệu giới trẻ đang vứt bỏ những truyền thống của họ và t́m kiếm những giải đáp mới trong những tư tưởng và tôn giáo Đông phương (Why millions of young people are rejecting their own traditions and seeking new answers in the ideas and religions of the East)

 

     Năm 1994, Stephen Batchelor xuất bản cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West), nội dung viết về lịch sử tiếp xúc của Phật Giáo với Tây phương.  Cuốn sách được giới thiệu như sau:

  

     "Cuốn "Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương" là một cuốn viết rất hay về lịch sử tiếp xúc của Phật Giáo với Tây phương trong 2000 năm qua - một cuốn sử biên về những cơ hội bỏ lỡ, sự kiêu căng văn hóa, thảm kịch chính trị, và những giấc mộng không thành.  Từ thời đại đế Alexandre, các vua chúa và giáo hoàng Tây phương đă mong mỏi kiếm được quyền lực bằng cách chinh phục Á Châu.  Qua nhiều thời kỳ họ đă phái từng đợt sứ giả và các nhà truyền giáo tới Á Châu để tiếp xúc với những người "ngoại đạo", nhưng tâm thức hẹp ḥi của người Tây phương đă làm cho những người này chẳng biết được bao nhiêu về Phật Giáo.

  

     Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tinh thần có ảnh hưởng nhiều nhất ở Tây phương."[11]

 

 

     Tên cuốn sách đă gây sự ngỡ ngàng trong thế giới Tây phương không ít.  Tây phương vẫn được coi, hay tự nhận, là văn minh tiến bộ nhất, và tôn giáo Tây phương, Ki Tô Giáo, vẫn được coi, hay tự nhận, là tôn giáo mạc khải, tôn giáo duy nhất có giá trị trên thế gian.  Vậy tại sao Phật giáo đă làm cho Tây phương thức tỉnh, và thức tỉnh khỏi cái ǵ? 

 

     Sau đây là một thí dụ điển h́nh về sự thức tỉnh của con người Tây phương: sự xuất bản cuốn Tinh Túy Của Phật Giáo: Một Khai Tâm Thực Hành Tứ Diệu Đế Của Tôn Giáo Thích Hợp Nhất Cho Thế Giới Ngày Nay (The Essence of Buddhism: A Practical Introduction To The Four Noble Truths Of The Religion Most Suited To Today’s World), tác giả là John Walters.  Cuốn sách nhỏ này, vào khoảng 150 trang, rất đặc biệt, v́ đó là tác phẩm của một người trưởng thành trong truyền thống Ki Tô, bị nhồi sọ Phật Giáo là một tôn giáo yếm thế, vô vọng, một dạng sơ khai của chủ thuyết hiện sinh [Buddhism as a defeatist philosophy of pessimism and hopelessness, a primitive form of Existentialism] v..v.., và tin rằng Ki Tô Giáo là tôn giáo duy nhất có ích cho nhân loại [in the bellief that Christianity was the only religion that had anything useful to offer to mankind].  Nhưng sau một chuyến du hành Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, ông ta đă thấy tận mắt thực chất của Phật Giáo, hoàn toàn không như những điều ông đă được nhồi vào đầu từ khi c̣n nhỏ.  Ông bèn suy nghĩ lại, t́m hiểu lịch sử và so sánh Ki Tô Giáo với Phật Giáo.  Ông nghĩ tới “những sai lầm và tội ác của những Giáo hội Ki Tô và những giới chức lănh đạo trong quá khứ (the blunders and crimes of the churches and their leaders in past ages), những lễ tiết (rituals) trong Ki Tô Giáo mà ông cho là có tính cách “mê tín tàn bạo” (sadistic superstition) và so sánh với  “một trong những sự vinh quang nhất của Phật Giáo là tinh thần khoan nhượng” (one of the greatest glories of Buddhism is its tolerance). 

  

     Chân giá trị của Phật Giáo đă làm cho John Walters thức tỉnh, thức tỉnh khỏi những điều sai sự thực, mê muội mà tôn giáo truyền thống của ông đă đầu độc đầu óc ông từ khi ông c̣n nhỏ.  Và đây là sự thức tỉnh về tư duy, một khả năng quư báu nhất của con người.

  

     Trên đây chỉ là vài tài liệu điển h́nh nói lên sự phát triển Phật Giáo ở Tây phương.  Tuy nhiên, chúng không khỏi gây cho chúng ta một thắc mắc: Nếu nền văn minh tiến bộ Tây phương mà Ki Tô Giáo thường nhận vơ vào làm nền văn minh Ki Tô Giáo thật sự có giá trị về vấn đề đạo đức, tâm linh, th́ tại sao thế giới Tây phương, nhất là giới trí thức hiểu biết, lại không hài ḷng với tôn giáo truyền thống của ḿnh mà lại thấy Phật Giáo hấp dẫn?  Câu trả lời ngắn gọn là: Tây phương đă thức tỉnh, hay nói đúng hơn, đă tự cởi trói ra khỏi những mê lầm của tôn giáo truyền thống.  Một khi con người Tây phương đă thức tỉnh ra khỏi sự mê lầm của tôn giáo truyền thống Tây phương th́ tất nhiên tôn giáo truyền thống Tây phương phải suy thoái.  Và đây là một sự kiện rất hiển nhiên, không những chỉ ở Âu Châu mà c̣n ở trên khắp thế giới, kể cả nước Mỹ là nước vẫn tự hào là “God’s country” với motto “In God We trust”.   “In God We trust, But which one?”, đó là câu hỏi của Judith Hayes.

 

     Tất nhiên, khi đă mất niềm tin, về nền tảng tín ngưỡng cũng như về thực chất hành tŕ của các giáo hội Ki Tô, con người Tây phương cần phải đi t́m một cái ǵ khác để bù đắp vào nhu cầu tâm linh của ḿnh.  Tất cả những tôn giáo độc thần khác như Hồi Giáo, Do Thái Giáo, bản chất đều như nhau, không thể thỏa măn nhu cầu tâm linh thích hợp với thời đại này của người Tây phương.  Do đó, Tây phương đă phải đi t́m sự uyên thâm về tư tưởng ở Đông phương.  Đông phương có Phật Giáo, Lăo Giáo, Khổng Giáo, và Ấn Độ Giáo.  Ấn Độ Giáo thờ nhiều thần, không thích hợp với người Tây phương.  Khổng giáo là những triết lư về xă hội và có những điều nay không c̣n hợp thời.  Lăo giáo th́ thoát tục, xa ĺa trần thế.  Chỉ c̣n có Phật Giáo, vừa là một tôn giáo nhân chủ và nhân bản, vừa là một hệ thống triết lư thực dụng chẳng bao giờ lỗi thời, vừa có tinh thần khoa học, cho nên có thể nói là thích hợp với con người Tây phương nhất.  Một cuốn sách xuất bản mới đây nhất của Vicky MacKenzies đă chứng minh sự kiện này.  Cuốn sách có tên là Tại Sao Lại Là Phật Giáo? Người Tây Phương Đi T́m Kiếm Sự Uyên Thâm Của Trí Tuệ (Why Buddhism?  Westerners In Search Of Wisdom), nxb Tronsons, Anh quốc, và đề năm xuất bản là 2003. 

  

     Nói tóm lại, sự thức tỉnh của thế giới Tây phương là điều tất nhiên.  V́ như nữ học giả Công giáo Joane H. Meehl, sau khi đă nh́n thấy rơ chủ đích và những việc làm của Giáo hội Công giáo từ thế kỷ 4 cho tới ngày nay, đă viết trong cuốn "Người Tín Đồ Công giáo Tỉnh Ngộ" (The Recovering Catholic, Prometheus Book, 1995, trang 288):

   

     “Đạo Công giáo chỉ thịnh hành và phát triển trong đám người nghèo và ngu dốt.  Nó chỉ bị khắc phục bằng giáo dục (mở mang dân trí. TCN) và đời sống kinh tế thoải máí” (Catholicism thrives and grows among the poor and ignorant.  It  is  overcome  by education  and economic well-being).

 

     Thật vậy, đời sống vật chất ở Tây phương tương đối cao, xă hội càng ngày càng cải tiến, số người nghèo và ít học càng ngày càng giảm bớt.  Cho nên, số người tha thiết với một Thiên Chúa không tưởng của Ki Tô Giáo càng ngày càng giảm.  Hiện tượng này đă quá rơ rệt trong thế giới Tây phương.  Nhưng vấn đề chính để cho con người Tây phương thức tỉnh là sự mở mang dân trí.  Khi mà Giáo hội Công giáo không c̣n đủ khả năng để kiểm duyệt những sách nghiên cứu về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo th́ người dân càng ngày càng tiếp cận với những sự thật về Ki Tô Giáo.  Các bậc lănh đạo trong Ki Tô Giáo không c̣n khả năng để thuyết phục giáo dân tin vào những điều họ nói, ngoại trừ những giáo dân trong những cộng đồng nghèo khổ mà chính sách bưng bít, che dấu sự thật của giáo hội vẫn c̣n có hiệu quả.  Trong thế giới Tây phương ngày nay, chúng ta thấy cả ngàn tác phẩm viết về mọi khía cạnh của Ki Tô Giáo, và trên Internet chúng ta cũng thấy rất nhiều trang nhà nghiên cứu và đưa ra những sự thật về Ki Tô Giáo. Số tài liệu này nhiều đến độ không ai có thể tự cho là ḿnh đă có thể đọc hết đưuợc.  Sau đây là một số đầu sách điển h́nh.  Đọc những cuốn sách này, chúng ta sẽ hiểu tại sao Ki Tô Giáo lại suy thoái, và tại sao Giáo hoàng Benedict XVI cũng như Hội Đồng Giám Mục Âu Châu đă phải than phiền là: Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới mệt nhọc với chính văn hoá của ḿnh, một thế giới ở thời điểm mà không c̣n bằng chứng để con người c̣n cần đến Thiên Chúa nữa, và c̣n ít cần hơn đến Chúa Ki-tô.

 

     1. Về Lịch sử phát triển Công Giáo La Mă:

 

     1. The Cross, The Flag, and the Bomb, William  A. Au; 2. Holy Blood, Holy Grail, Michael Baigent, Richard Leigh & Henry Lincoln; 3. Our Hands Are Stained With Blood: The Tragic Story of the "Church" and the Jewish People, Michael L. Brown; 4. The Birth of Christianity: Reality and Myth, Joel Carmichael;  5. The Final Superstition, Joseph L. Daleiden; 6.  The Early Christian Church, J.G. Davies; 7. The Court-Martial of Jesus: A Christian Defends The Jews Against the Charge of Deicide, Weddig Fricke;  8. Deceptions and Myths  of  the  Bible,  Lloyd M. Graham;   9. The Inquisition of the Middle Ages, Henry Charles Lea;  10. The Mythmaker: Paul and the Invention of Christianity, Hyam Maccoby; 11. The Truth About The Catholic Church, Joseph McCabe; 12. The Vatican & Zionism, Sergio I. Minerbi; 13. Middle Ages, George F. Mott & Harold M. Dee; 14. The Spanish Inquisition, Jean Plaidy; 15. A Legacy of Hatred: Why Christians Must Not Forget The Holocaust, David A. Raush; 16. Dungeon, Fire, and Sword, John J. Robinson; 17.  Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy, Peter de Rosa; 18. The Crusades, Henry Treece; 19. The Barbarian West: The Early Middle Ages, Wallace-Hadrill; 20. Characters of the Inquisition, William Thomas Walsh.

 

     2.  Về Sách Lược Truyền Đạo và Chính Trị Công Giáo La Mă:                                     

  

     1. Unholy Trinity: How The Vatican's Nazi Networks Betrayed Western Intelligence to the Soviets, Mark Aarons & John Loftus; 2. The Vatican Empire, Nino Lo Bello; 3. American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard; 4. a. Gia Tô Thực Dân Sử Liệu, b. Sách Lược Gia Tô Thực Dân Thống Trị Toàn Cầu, c. Gia Tô Thực Dân Chính Sử, Chu Văn Tŕnh; 5. Pope, Premier, President, Roland Flamini; 6. Catholicisme et Sociétés Asiatiques, Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi; 7. The Roman Catholic Church in Colonial Latin America, Richard E. Greenleaf; 8. The Catholic Church in World Politics, Eric O. Hanson; 9. Les Missions  Étrangères  et la  Pénétration  Francaise  au  Viet-Nam,   Nicole-Dominique  Lê;   10.  The  Missionaries:  God Against   the   Indians,   Norman   Lewis;   11.   a.   Catholic Imperialism and World Freedom, b. Vietnam: Why Did We Go?, c. The Vatican's Holocaust, Avro Manhattan; 12. The Vietnamese Response to French Intervention: 1862-1874, Mark W. McLeod; 13. The Politics of the Vatican, Peter Nichols;  14. Christ or Evil? The Corrupt Face of Christianity in Africa, Anene Obianyido; 15. The Holy Humbugs, Padchi; 16. Missionaries, Julian Pettifer & Clive Prince; 17. The Roman Catholic Church in Modern Latin America, Karl M. Schmit;  18. Histoire de la Pénétration Francaise au Vietnam (1858-1897), Nguyễn Xuân Thọ;   19. Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa  Thực  Dân Tại  Việt-Nam, Cao  Huy Thuần;   20. Dieu et César: Les Catholiques dans L'histoire du Vietnam, Trần Tam Tĩnh; 21. French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914, Patrick J.N. Tuck.

           

     1. Về Vatican:

 

     -   Vatican Mis À Nu” của Đức Ông Luigi Marinelli

     -     Những cuốn “The Vatican’s Mafia”Vatican Exposed: Money, Murder, and the Mafia”;  “The Vatican’s Finances”; “The Antichrist  in the Vatican; “The Lies of Pope John Paul II”   v..v.. của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén.

     -   “The Secret Archives of the Vatican của Maria Luisa Ambrosini & Mary Willis

     -     “The Vatican and Zionism” của Sergio I. Minerbi.

     -     “The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of the Popes” của Dr. Angelo S. Rappoport

     -    “In the Vatican: The Politics and Organization of the Roman Catholic Church” của Thomas Reese

     -      “Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy” của Giám mục ḍng Tên Peter de Rosa

     -      “The Vatican’s Holocaust” của Baron Avro Manhattan

     -      “In the Vatican của Peter Hebblethwaite

         “The Vatican Empire”“The Incredible Book of  Vatican Facts and Papal Curiosities”  của Nino Lo Bello

     -    “O Vatican: A slightly wicked view of the Holy See” của Paul Hofmann

     -     “The Vatican Connection” của Richard Hammer

     -   “Papal Sin” của Garry Wills

      

     4.  Về Phân tích và phê b́nh Thánh Kinh:

  

     1. The X-Rated Bible: An Irreverend Survey of  Sex in the Scriptures, Ben Edward Akerley; 2. A History of God, Karen Armstrong; 3. The Bible Handbook, W.P.Ball, G.W. Foote et al..; 4. a. The Gospel of Love Versus Crime, b. The Shadow of the Deamon, Jack Bays; 5. Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, Ernie Bringa; 6. Dieu Contre Dieu, Robert Dalian; 7. Christianity Cross-Examined, William Floyd; 8. Bible Romances, G.W. Foote;  9. Who Wrote the Bible?,  Richard  Elliott Friedman; 10. One Hundred Contradictions in the Bible, Marshall J. Gauvin;  11.  Deceptions  and Myths  of  the Bible, Lloyd M. Graham;   12.  a.   The  Book  of  Ruth,   b.  The  Born Again Skeptic's Guide to the Bible, Ruth Hermence Green; 13. Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus, William Harwood; 14. Some Mistakes of Moses, Robert G. Ingersoll; 15. All the Obscenities in the Bible, Gene Kasmar; 16. The Bible Unmasked, Joseph Lewis; 17. The Case Against Christianity, Michael Martin; 18. a. Resurrection: Myth or Reality, b. Born a Woman: A  Bishop Rethinks the  Birth  of  Jesus, John Shelby Spong;  19. Jesus and the Riddle of the Dead Sea Scrolls, Barbara Thiering; 20. The Bad News Bible: The New Testament, David Voas; 21. Fictional Transfiguration of Jesus, Theodore Ziolkowski; 22. The Five Gospels: What Did Jesus Say?, The Jesus Seminar.

 

     5.  Về Cấu trúc độc tài toàn trị của chế độ giáo hoàng:

  

     1. The Papacy and the Modern World, Karl Otmar Von Aterin; 2. The Pope and the Mavericks, Louis Baldwin; 3. The Decline and Fall of the Medieval Papacy, L. Elliot Binns; 4. American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard; 5. Church: Charism & Power, Leonardo Boff;  6. The Final Superstition, Joseph L. Daleiden; 7. The Rest of Us Catholics: The Loyal Opposition, Joseph Dunn; 8. The Limits of the Papacy, Patrick Granfield; 9. A Modern Priest Looks at his Outdated Church, James Kavanaugh; 10. The Infallibility Debate, John J. Kirvan; 11. Infallible? An Inquiry,  Hans Kung;  12.  The Keys to this  Blood,  Malachi Martin; 13. The  Totalitarian  Church of Rome:  Its Fuehrer, Its   Gauleiter,  Its  Gestapo,  and   Its   Money-Box ,  Joseph McCabe;  14.  Freedom's  Foe - The Vatican,  Adrian Pigott; 15. Authority in the Roman Catholic Church, Maximilian F. Russer; 16.  Vicars  of Christ:  The Dark Side  of the Papacy, Peter de Rosa.

 

     6. Về Linh mục bỏ đạo và loạn dâm:

 

     1. Pourquoi J'ai Quitté L'Église Romaine, Georges Las Vergnas; 2. Why I Left The Roman Catholic Church, Charles Davis; 3. Letters To An Ex-Priest, Emmett McLoughlin; 4. Shattered Vows, Priests Who Leave, David Rice; 5. Full Pews and Empty Altars, Richard Schonherr & Lawrence Young; 6.  Liberating Faith, Geffrey B. Kelly; 7.  Braking Faith, John Cornwell; 8. Sex, Priests, and Power, Richard Sipe.

 

     7.  Về Thiên Chúa Của Ki Tô Giáo:

1.  A History of God & The Case for God, Karen Armstrong;  2. Gospel Fictions, Randel Helms;  3. Gospel Truth, Russell Shorto;  4. God is not Great, Christopher Hitchens;  5. Atheism: The Case Against God;  6.  Critiques of God, Peter A. Angeles;  7.  The Dark Side of God, Douglas Lockhart;  The God Delusion, Richard Dawkins;  8.  Putting Away Childish Things, Uta Ranke-Heinemann;  9. The Impossibility of God,  Michael Martin; 10.  The Impossibility of God, Jeffrey Grupp; 11. God: The Failed Hypothesis, Victor J. Stenger; 12.  God’s problem, Bent D. Ehrman.

 

 

 

Xin đón đọc kỳ tới:  Phần II.-  Công Giáo Việt Nam Vẫn C̣n Mê.


 

_______________________________

 

[1] European scholars were scrutinizing the Bible more closely than ever before.  They had concluded that the Bible was not, as Christians had long believed, a book dictated by God and therefore infallibly true.  It was, instead, a disorderly anthology of ancient myths, legends, history, law, philosophy, sermons, poems, fiction, and some outright forgeries

[2] The Bible is not the word of God... It never has been!  The Gospels are not inerrant works, divinely authored.  They were written by communities of faith, and they express even the biases of the communities.  The Gospels are not without significant internal contradictions or embarrassing moral and intellectual concepts

[3] The Catholic Church had devastating impact upon society. As the Church assumed leadership, activity in the fields of medicine, technology, science, education, history, art and commerce all but collapsed. Europe entered the Dark Ages. Although the Church amassed immense wealth during these centuries, most of what defines civilization disappeared.

[4] I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

    ...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God.  It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience.  But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward freedom and maturity

[5] He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God

[6] Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis”.

[7] In a 1994 confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press, Pope John Paul II asked: "How can one remain silent about the many forms of violence perpetrated in the name of faith - wars of religion, tribunals of the Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?"

 

[8] Ibid.,: Pope John Paul II had urged the Roman Catholic Church to seize the "particularly propitious" occasion of the new millennium to recognize "the dark side of its history".

 

[9] ROME (Reuters, July 27, 2005) - Mainstream churches in the West appear to be dying as societies that are increasingly secular see less need for God, Pope Benedict said in comments published on Wednesday.

   His outlook was even glummer than that of his predecessor John Paul, who lamented the decline of faith in the developed world and said it explained the Catholic Church's struggle with falling attendance in the West in recent years.

[10] It is different in the Western world, a world which is tired of its own culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence for a need of God, even less of Christ," he told a meeting of clergy in the Italian Alps.

   "The so-called traditional churches look like they are dying," he said, according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.

   Participation at Sunday Mass in some developed countries was as low as 5 percent, a recent Vatican report said.

   "The Catholic Church is not doing as badly as the big Protestant Churches but naturally it shares the problem of this moment in historỵ"  "There’s no system for a rapid change.”

[11] The "Awakening of the West" is a beautifully written history of the Encounter of Buddhism with the West during the past 2000 years - a chronicle of missed opportunities, cultural arrogance, political tragedy, and unfulfilled dreamd.  Since the time of Alexander the Great, European kings and popes longed for the power to be gained through the conquest of Asia.  They sent periodic streams of envoys and missionaries to establish contact with the "infidels," but the European's narrow-mindedness prevented them from learning much at all about Buddhism.

   Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movements in the West.

 

 

 

TRẦN CHUNG NGỌC, giaodiemonline.com, ngày 26/3/10

ĐDTB, ngày 31/3/2001



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend