TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

T̀M HIỂU VẤN NẠN LINH MỤC LOẠN DÂM TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

  

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 
 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

 

 

T̀M HIỂU VẤN NẠN LINH MỤC LOẠN DÂM

TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THƯỜNG TỰ NHẬN LÀ

DUY NHẤT”, “THÁNH THIỆN” “TÔNG TRUYỀN

 

Trần Chung Ngọc

 

   Trong ba thuộc tính mà Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ tự nhận: “Duy nhất, Thánh thiện, Tông truyền” th́ chỉ có thuộc tính “Duy Nhất” là đúng.  V́ Giáo hội Công Giáo Hoàn Vũ là Giáo hội “duy nhất” đă gây nên 7 núi tội ác đối với nhân loại mà Vatican đă phải xưng thú cùng thế giới ngày 12.3.2000 tại quảng trường Phê-rô.  Và đặc biệt hơn nữa là Giáo hội Công Giáo cũng là Giáo hội “duy nhất” mà trong đó có một số đáng kể “Chúa thứ hai”,  alias Linh mục, đi hiếp dâm các chị em nữ tu của Giáo hội (các “sơ”) trên ít nhất là 23 quốc gia [The Catholic Church in Rome made the extraordinary admission yesterday that it is aware priests from at least 23 countries have been sexually abusing nuns.] và trong những trường hợp đặc biệt c̣n khuyến khích họ đi phá thai [In extreme instances, the priests had made nuns pregnant and then encouraged them to have abortions.]  Cho tới nay đă có trên 5000 “Chúa thứ hai”,  alias Linh mục, bị truy tố về tội cưỡng dâm, loạn dâm và ấu dâm trong nhiều nước trên thế giới.  Vài sự kiện lịch sử điển h́nh này trong số rất nhiều sự kiện về những tội ác khác của Công giáo đương nhiên đă xóa bỏ những thuộc tính “thánh thiện, tông truyền” mà giáo hội tự nhận. 

 

   Thật là nhục nhă, những bộ mặt tôn giáo giả nhân giả nghĩa, từ giáo hoàng trở xuống, đă bị phanh phui ra trước thế giới, không c̣n có thể che đậy được nữa, dù có lấy mo che.  Tuy nhiên, đối với con chiên Việt Nam th́ Giáo hội Công giáo vẫn là một “hội thánh” như được viết trên các trang nhà Công giáo một cách không ngượng ngùng.  Điển h́nh là trên VietCatholic ta có thể đọc những câu đại khái như “Đường “hội thánh” đi là đường vinh quang” bất kể đến cái lịch sử ô nhục của cái gọi là “hội thánh” Công giáo.  Tôi không hiểu vinh quang ở chỗ nào, thật là tội nghiệp.  Thay v́ ngẩng mặt lên trong vinh quang th́ người Công giáo, một khi c̣n ở trong cái gọi là “hội thánh” đó, nên cúi mặt trước các tôn giáo khác, v́ với cái lịch sử đồi bại ô nhục đẫm máu của Công giáo, không c̣n mặt mũi nào trước Tam Giáo.  Đó là thái độ thích hợp nhất đối với những người c̣n đôi chút liêm sỉ.

 

  Hiện nay, vụ giới chăn chiên loạn dâm và ấu dâm, với sự bao che của chính Giáo hoàng Benedict XVI và một số Hồng Y, Tổng Giám Mục ở các giáo phận v..v..  đang nổ ra như những tràng pháo, liên miên bất tuyệt,  trên khắp thế giới.  Người ta c̣n đ̣i Giáo hoàng Benedict XVI phải từ chức v́ đă che dấu và bao bọc cho những linh mục loạn dâm.  Bản tin tổng hợp trên sachhiem.net ngày 26 tháng 3, 2010 có đoạn như sau:

 

   Qua điểm tin từ những tờ báo nổi tiếng tại : Anh quốc, Pháp quốc, Ư, và Hoa Kỳ ...nhà b́nh luận có tên là Richart de la Cure kết luận như sau :

..."Đạo công giáo đang đi vào ngỏ cụt, và hao tốn, vị giáo hoàng hiện nay bất lực kèm theo lo lắng nay mai sẻ bị thải hồi, và nhất là thế giới nguyền rủa, căm thù ...mà từ trước đến nay Vatican thường tuyên bố .." đạo công giáo là một tôn giáo bác ái và Yêu thương hay thường gọi là công giáo hoàn cầu "...nay đang trên con đường lụi bại và nhục nhả.

 

   Người ta cũng c̣n đ̣i Giáo hoàng Benedict XVI phải ra hầu ṭa trước ṭa án ở Mỹ để trả lời về những vụ linh mục loạn dâm và che dấu tội ác của các Linh mục.  Nhưng Vatican đă ngăn chận điều này với lư do Benedict XVI là một nguyên thủ quốc gia, được hưởng đặc quyền ngoại giao miễn tố. [1] Nhưng đặc quyền miễn tố này cũng đang bị thách thức tại Anh Quốc.  Thật vậy, hai nhà vô thần nổi tiếng là Richard Dawkins và Christopher Hitchens đang nhờ luật sư t́m hiểu khía cạnh pháp lư để có thể bắt giam ông Giáo hoàng này như là một công dân thường [citizen’s arrest] khi ông ta đến Anh vào tháng 9 tới v́ tội bao che các “Chúa thứ hai” can tội loạn dâm và ấu dâm.

 

   Chuyện linh mục loạn dâm và phá sản đạo đức trong “Ṭa Thánh” và trong các Giáo hội địa phương nó dài dài như chuyện “nhân dân tự vệ”.  Vatican phải mở cả một chiến dịch để cho các thuộc hạ của Giáo hoàng, từ Hồng Y xuống tới con chiên, cố gắng ngụy biện để tự vệ, với mục đích bảo vệ uy tín của Giáo hoàng và “hội thánh”.  Giáo hội c̣n đưa ra luận điệu là việc “chống Công giáo” (sic), nhưng không nói là v́ sao mà Công giáo là tôn giáo duy nhất bị chống, cũng giống như là chống Do Thái trước đây, mà quên rằng chính sách chống Do Thái là do chính Giáo hội gây nên v́ vu cho dân tộc Do Thái cái tội giết Chúa của Công giáo.  Giáo hội cũng buộc tội báo chí quốc tế về một chiến dịch tích cực nhằm bôi nhọ giáo hoàng trong khi trên thực tế, mặt mũi Giáo hoàng đă đen ng̣m từ lâu v́ những hành động vô đạo đức và phát ngôn bừa băi của ông ta, cho nên chẳng c̣n chỗ đâu để mà bôi nhọ.  Những ngụy biện tự vệ của Giáo hội chỉ càng chứng tỏ cho thế giới thấy bản chất lem nhem của Giáo hội, và thực ra chỉ để cho các bậc chăn chiên và con chiên ngu ngơ nghe với nhau, chứ người ngoài chẳng có ai thèm để vào tai.  Chẳng có  ai c̣n để ư đến những ǵ Giáo hội tự biện, v́ uy tín của Giáo hội đă mất từ lâu rồi.  Người ta thừa biết rằng Giáo hội có thể làm mọi thủ đoạn để cố bảo vệ, duy tŕ uy tín của Giáo hoàng và Giáo hội.  Nhưng điều này chẳng có tác dụng ǵ và không thể thành công.  Nếu chúng ta đọc qua những bài trên Internet về vấn nạn này th́ chúng ta sẽ thấy như vậy.

 

   Cho nên, muốn ǵ th́ ǵ, Giáo hội có thể chạy nhưng không thể trốn [The Church can run, but not hide].  So với những tội ác kinh khủng hơn nhiều tràn ngập trong Giáo hội suốt 2000 năm nay mà lịch sử Giáo hội đă viết rơ,  vấn đề các linh mục loạn dâm và phá sản đạo đức tôn giáo trong cung đ́nh Vatican ngày nay liên quan đến các vụ Benedict XVI, một số Hồng Y, Tổng Giám Mục bao che cho các linh mục loạn dâm, chỉ là chuyện nhỏ.  Từ những cuộc “thập ác chinh”, những ṭa h́nh án xử dị giáo, những cuộc săn lùng phù thủy, những vụ thiêu sống người lạc đạo, kể cả các khoa học gia trong thời đại hắc ám (The dark ages) của Công giáo [Xin đọc “Công Giáo Chính Sử” của Trần Chung Ngọc trên trang nhà sachhiem.net], mà số nạn nhân vô tội của Giáo hoàng lên đến 200 triệu, theo học giả Lloyd M. Graham trong cuốn “Deceptions and Myths of the Bible”, cho đến những ḷ sát sinh của Công giáo ở Croatia trong thế kỷ 20 [Xin đọc “The Vatican’s Holocaust” của Bá Tước Avro Manhattan], những vụ che dấu các tội phạm chiến tranh trong kỳ đệ nhị thế chiến [Xin đọc cuốn “Unholy Trinity” của Mark Aarons và John Loftus], những vụ bao che các “Chúa thứ hai” loạn dâm và ấu dâm cùng hiếp dâm [có vô số tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt trên Internet],  những hoạt động đặc thù Mafia trong cung đ́nh Vatican [Xin đọc “The Vatican Mafia” của Đức Ông Rafael Rodríguez Guillén], vơ vét tài sản lên đến trên 1000 tỷ đô-la v…v… [Xin đọc cuốn “The Vatican Billion” của Nino Lo Bello],   

 

 

Cho nên không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, Giáo hội Công giáo chẳng phải là một “hội thánh”, v́ trong đó có mặt thánh nào ra hồn về trí tuệ và đạo đức đâu, kể cả những “thánh” nổi tiếng như Augustine hay Thomas Aquinas, thật ra chỉ là những tên ngu đạo cuồng tín có hạng, mà chỉ là một tổ chức thế tục ác ôn nấp sau bộ mặt tôn giáo để buôn thần bán thánh.  Không ác ôn th́ làm sao có thể gây ra những núi tội ác như trên.  Không thế tục th́ làm sao có thể vơ vét được nhiều tài sản như vậy.  Chẳng trách là ngày nay Giáo hội Công Giáo hoàn vũ đă bị thế giới nguyền rủa và căm thù như Richart de la Cure đă nhận định ở trên.

 

   Đọc báo chí và Internet hàng ngày, không ngày nào mà không có những phanh phui mới về các linh mục ở đây, ở đó, can tội loạn dâm hay ấu dâm.  Lại có cả trường hợp nữ tu (em hiền như ma sơ !) cũng phạm tội lạm dụng t́nh dục với trẻ vị thành niên như vụ 2 nữ tu ở Đức.  Gần đây, vào đầu tháng 5/2010,  người ta quảng cáo cho vụ Giáo hoàng Benedict XVI muốn “thanh tẩy” [purify] “đoàn quân Lê Dương của Chúa Ki Tô” [Legionaries of Christ] trong tổ chức “Legion of Christ” do Linh mục Marcial Maciel ở Mexico lập ra, và điều tra những hoạt động của đoàn quân Lê Dương này.  Nhưng chúng ta đều biết, điều tra nội bộ của Vatican chỉ là biện pháp t́m cách che dấu sự thật và trốn tránh pháp luật thế tục, tương tự như các cuộc điều tra nội bộ về các linh mục loạn dâm trước đây, nhẹ nhàng thuyên chuyển họ đi giáo phận khác để họ tiếp tục làm bậy, dấu kín sự thật để bảo vệ “uy tín của Giáo hội” thay v́ quan tâm đến phẩm cách con người [dignity] của các nạn nhân t́nh dục của các “Chúa thứ hai”.. 

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết chút ít về tổ chức “Legion of Christ”.  Tổ chức này có một Chương lịch sử chính là “X́-căng-đan lạm dụng t́nh dục” [The sexual abuse scandal in the Legion of Christ is a major chapter in the order's history.]  Chính sáng lập viên Marcial Maciel đă nhiều lần bị điều tra về dùng ma túy và loạn dâm với những trẻ em [During his life, Maciel was the focus of several investigations regarding allegations of drug abuse and sexually abusing children.]  Nhưng Maciel rất được Giáo hoàng John Paul II tôn trọng v́ đă kiếm được nhiều tiền và lùa được nhiều Linh mục vào cho Giáo hội nên John Paul II đă làm ngơ trước những lời tố cáo Maciel [Pope John Paul II admired Maciel because of his conservative fealty to doctrine and his ability to raise money and recruit priests.]  Benedict XVI, dưới triều đại John Paul II là Hồng y Ratzinger, người cầm đầu “thánh bộ đức tin”, tất nhiên biết rơ vụ này.  Nhưng rồi đời sống bê bối của Maciel càng ngày càng bị phanh phui ra nhiều nên khi lên ngôi, Giáo hoàng, Benedict XVI không c̣n có thể che dấu được nữa nên vào tháng 5, 2006, đưa ra biện pháp kỷ luật (sic) bắt Maciel phải “sống kín đáo, cầu nguyện và sám hối” và dấu không cho quần chúng biết [In May 2006, Pope Benedict XVI disciplined him, inviting him to "a reserved life of prayer and penitence"; no explanation was given to the public.]  Biện pháp kỷ luật này có cũng như không, v́ một con người đồi bại như Maciel th́ “cầu nguyện và sám hối” chỉ là chuyện trên đầu môi chót lưỡi, thực chất là vô tác dụng, mục đích chỉ là để trốn tránh pháp luật ngoài đời.  Người ta c̣n nhớ, Hồng Y Bernard Law ở Boston, chỉ vài giờ trước khi có trát Ṭa đến đ̣i ông ta phải ra hầu Ṭa, đă kịp chuồn về Vatican và được trao cho một chức vụ quan trọng lương cao,.  Ông Hồng Y này đă đến Việt Nam trong “năm thánh” (sic) của Công Giáo ở Việt Nam, và được Giáo dân Việt Nam, từ các bề trên xuống dưới,  hân hoan đón tiếp như là một thánh nhân.

 

   Tháng 7, 2009, người ta c̣n phanh phui ra là Maciel đă có con với một phụ nữ từ 1986, và bà ta hiện sống trong một căn nhà sang trọng ở Madrid, Tây Ban Nha, mà Maciel đă mua cho bà ta.  Rồi một luật sư ở Mễ Tây Cơ, José Bonilla, đại diện cho 3 trong số 6 có thể là con của Maciel đâm đơn kiện để thu hồi tài sản của Maciel.  Ông luật sư này nói rằng có nhiều bất động sản ở Mễ Tây Cơ và trên thế giới mà sở hữu chủ là Maciel. [In July 2009, a Spanish daily published an interview with a woman who had a child with Maciel in 1986 and now lives in a luxury apartment in Madrid which Maciel purchased for her.[6] A day later, Mexican media reported that an attorney, José Bonilla, will represent three of a possible total of six of Maciel's children in a civil suit to recover Maciel's estate. The lawyer claimed that there are several properties in Mexico and around the world which Maciel owned in his own name.]

 

   Những vụ phá sản đạo đức trong Giáo hội Công giáo nhiều đến độ khó ai có thể lôi ra ánh sáng hết được.  Chúng ta hăy đọc đoạn sau đây của Tiến sĩ Loraine Boettner trong cuốn “Roman Catholicism”, trang 27:

 

Giáo hội Công giáo Rô-ma tự khoác lên ḿnh từ “thánh”, nhưng thật ra, qua các thời đại và trong quyền lực của giáo hội Rô-ma, sự kiện là giáo hội đă phạm phải những tội ác khủng khiếp nhất, thực hành nhân danh tôn giáo, gồm có giết người, cướp bóc, bạo hành đủ mọi h́nh thức, hối lộ, gian xảo, lừa dối, và hầu hết mọi tội ác mà con người biết đến.  Những tội ác như vậy không phải là chỉ do những giáo dân của giáo hội gây ra, mà là do các giáo hoàng, hồng y, giám mục, và linh mục, mà như sự nghiên cứu về lịch sử của giáo hội sẽ chứng tỏ, không c̣n chối căi ǵ được nữa, họ đều là những kẻ ác.

 

John Calvin đă từng gọi giáo hội Rô-ma là con điếm điên dại thay v́ là hiền thê của Chúa, v́ mức tiêu chuẩn đạo đức quá thấp mà các linh mục của giáo hội hành xử và dung dưỡng. [2]

     

       Người ta đă phanh phui ra những chuyện tội lỗi đáng ghê tởm nhất trong Giáo hội Công giáo, nhưng có một vấn đề cốt lơi mà chẳng có mấy người đặt ra, đó là:  “Tại sao trong một Giáo hội thường tự nhận là “thánh thiện, tông truyền” , là một “hội thánh”, mà lại xảy ra những vụ ác ôn, bê bối từ trên xuống dưới trong suốt gịng lịch sử của Giáo hội như vậy.” Tại sao Giáo hội lại có thể gây ra những núi tội ác đối với nhân loại như vậy?  Tại sao đạo đức của giới chăn chiên lại tệ hại như vậy.  Và nhất là, tại sao với những tội ác ngập đầu như vậy mà Công giáo vẫn tồn tại trên thế gian?”  Bài viết này mục đích là t́m hiểu vấn nạn trên và hi vọng có thể trả lời cho những câu hỏi trên.

oOo

 

Truy nguyên vấn đề, chúng ta không thể không đồng ư với nhận định của Robert G. Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do (freethinker) vĩ đại nhất của nước Mỹ.  Cách đây hơn một thế kỷ, Robert G. Ingersoll đă giải thích điều này. [Robert G. Ingersoll được coi như là một nhà hùng biện và tư tưởng gia tự do vĩ đại nhất của nước Mỹ (A celebrated orator and free thinker of 19th century America).  Ông ta là bạn của 3 Tổng Thống Hoa Kỳ, là người đă có công nhất trong việc làm nở rộ quyền tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ. (A personal friend of three U.S. presidents, the individual most responsible for the flowering freethought in the United States.). Bức tượng của ông, ghi công ông, nay được đặt ở Periora, Illinois.  Edgar Lee Master, một thi sĩ, đă đưa ra nhận xét: "Đối với những người yêu chuộng tự do ở khắp nơi,  nhất là đối với giới trẻ ở Hoa Kỳ không biết đến Robert G. Ingersoll, hăy nhớ rằng ông ta đă giúp để cho quư vị được tự do." (To the lovers of liberty everywhere, but chiefly to the youth of America who did not know Robert G. Ingersoll, remember that he helped to make you free.)]  Ingersoll đă nói thẳng trước một cử tọa đông đảo mà mỗi người phải bỏ ra $2 (năm 1890) để nghe ông diễn thuyết (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140):

   Công Giáo La Mă  thật sống dai.  Điều này chứng tỏ cái ǵ?  Nó chứng tỏ rằng quần chúng th́ ngu dốt (ignorant) và các linh mục th́ xảo quyệt.(cunning)

     [Roman Catholicism dies hard.  What does that prove?  It proves that the people are ignorant and that the priests are cunning.]

   Sở dĩ Giáo hội Công giáo, tuy làm đủ mọi tội ác đối với nhân loại qua bao thế kỷ, mà vẫn tồn tại chính là v́ giới chăn chiên th́ rất xảo quyệt và giới tín đồ th́ rất ngu dốt.  Nếu tín đồ không ngu dốt th́ làm sao có thể để cho các bề trên của họ điều kiện hóa đầu óc của họ được, đến độ vâng lời các bề trên đi giết người cho Chúa như trong thời Trung Cổ,  đi phá hủy chùa chiền, đền đài miếu mạo của các tôn giáo hay niềm tin dân gian khác như đă từng xảy ra ở Việt Nam khi Công giáo theo gót đoàn quân xâm lược Pháp, và ngày nay các nữ tu cũng như các trẻ vị thành niên có thể để cho những bậc chăn chiên cưỡng dâm họ đượcNếu các linh mục không xảo quyệt th́ làm sao có thể điều kiện hóa đầu óc của giáo dân để cho họ cuồng tín, tin vào những điều hoang đường trong nền thần học Ki Tô Giáo, và để cho các linh mục làm những chuyện nhơ bẩn trên thân xác của họ.

 

   Thật ra th́ không thể nói là toàn thể giới linh mục xảo quyệt.  Chúng ta có thể chia họ ra làm hai loại.  Loại thứ nhất gồm những người mà chính bản thân họ cũng đă bị điều kiện hóa và thuần hóa để trở nên cuồng tín một cách ngu muội và cứ thế truyền lại cho đám giáo dân thấp kém ở dưới, từ đời này sang đời khác. Loại thứ nh́ gồm những người “bất lương trí thức”, chính họ cũng đă biết những chuyện nhảm nhí hoang đường của Ki Tô Giáo, nhưng v́ quyền lợi thế tục, về địa vị ưu việt đối với đám giáo dân ở dưới nên họ vẫn tiếp tục che dấu sự thật, lừa dối giáo dân bằng những hứa hẹn hoang đường. 

 

Nhưng thực ra Giê-su là con người như thế nào, các công cuộc nghiên cứu về Giê-su của giới học giả trí thức trong ṿng 200 năm nay đă có thể giải đáp cho chúng ta vấn nạn này. Tôi đă viết tạm gọi là đầy đủ về những giải đáp này trong cuốn “Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Ǵ?”. Ở đây tôi chỉ muốn nhắc lại một tài liệu điển h́nh:

Học giả Russell Shorto, sau khi duyệt qua những tác phẩm nghiên cứu về Giê-su trong ṿng 200 năm gần đây, đă đưa ra một kết luận trong cuốn “Sự thật trong Phúc Âm” như sau:

 

 Bữa ăn chiều cuối cùng, chuyện Giê-su sinh ra từ một nữ đồng trinh, chuyện Giê-su sống lại : người ta đă khảo nghiệm từng cái đà một của ngôi nhà Ki Tô Giáo. Các học giả nghiên cứu Thánh Kinh – một thời đă từng là các nhà bảo vệ nền thần học của Ki Tô Giáo – nay đă viện đến các ngành khảo cổ, cổ sinh vật học, ngữ học, điện toán, và ngay cả môn vật lư các hạt nhỏ để t́m hiểu câu hỏi “Giê-su Là Ai?” Kết quả là một sự duyệt lại căn bản những chuyện trong Phúc Âm, thật rơ ràng một cách ngạc nhiên, và đối với một số người, là một cú sốc.. Điều quan trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đă khiến cho các học giả, ngay cả những người được giáo hội Công giáo bảo thủ cho phép nghiên cứu, cũng phải đồng ư là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su chỉ là huyền thoại... Các học giả đă biết rơ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng ǵ khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng – họ đă dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ kín không cho đám con chiên biết v́ sợ gây ra những phản ứng xúc động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người c̣n sống trong bóng tối là những tín đồ Ki Tô b́nh thường. [3]

   Đây chính là vấn đề đối với giới chăn chiên.  Họ chỉ muốn giữ con chiên của họ trong ṿng ngu dốt bằng cách che dấu, bưng bít mọi sự thật có ảnh hưởng đến niềm tin vào những chuyện hoang đường mà họ đă cấy vào đầu óc của đám tín đồ đáng thương.

a).  Như vậy, trong giới chăn chiên, loại người thứ nhất là những người cuồng tín, đần độn (fanatic, stupid),  có nghĩa là, vẫn c̣n bám vào những tín lư đă lỗi thời, không theo kịp sự tiến bộ trí thức của con người về vấn đề tôn giáo, và nhắm mắt bác bỏ mọi sự kiện trái nghịch với niềm tin của ḿnh.  Mục sư  Tin Lành Ernie Bringas gọi những đầu óc đần độn này là những đầu óc có một khuyết tật (an astrolabe mind), một loại đầu óc cũ kỹ trong đó có một khoảng cách kiến thức về tôn giáo, và khoảng cách này đă đưa những người có đầu óc như vậy về tŕnh độ của thế kỷ 17.  Họ được nhồi sọ để tuyệt đối tin vào sự không thể sai lầm của Thánh Kinh Ki Tô Giáo, được huấn luyện kỹ để mang những đoạn vụn vặt trong Thánh Kinh ra giảng một cách méo mó, lệch lạc, ngoài ngữ cảnh của toàn bộ vấn đề (out of context) trong khi kiến thức tổng quát của họ về Thánh Kinh, về lịch sử Ki Tô Giáo, và về những tiến bộ trí thức của nhân loại ngày nay thường rất hạn hẹp. 

 

b).  C̣n loại người thứ hai là loại bất lương trí thức (intellectually dishonest) như Russell Shorto đă viết ở trên, nghĩa là những người đă biết rơ sự thật về những huyền thoại trong Ki Tô Giáo, về những ngụy tạo thần học trong giáo hội, nhưng v́ những quyền lợi vật chất và tinh thần trên đám tín đồ thấp kém, nên vẫn tiếp tục diễn giải Thánh Kinh một cách vụn vặt, lắt léo, hoặc tiếp tục đưa ra những luận điệu thần học lừa dối đă lỗi thời, những tín lư, tín điều đă bị giới trí thức trên thế giới, ở trong cũng như ở ngoài các giáo hội Ki-Tô, dứt khoát bác bỏ v́ chúng thuộc loại huyền thoại của người Do Thái cách đây đă trên dưới 2000 năm, để mê hoặc những đầu óc thấp kém, cả tin, đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn vật chất v..v.. ở trong những quốc gia kém phát triển về kinh tế, để lùa họ vào trong tín ngưỡng Ki-Tô, tín ngưỡng đang suy thoái ở trong các quốc gia văn minh tiến bộ. 

 

   Sau đây chúng ta hăy đi vào phần phân tích để xem giới chăn chiên đă dùng những thủ đoạn ǵ để điều kiện hóa và thuần hóa tín đồ, khiến cho họ trở thành những nô lệ tâm linh của các “bề trên”.

 

1.- Mê hoặc tín đồ thấp kém bằng những luận điệu thần học hoang đường ngụy tạo.

 

   Giáo hội Công giáo đưa ra một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời, dựa trên những huyền thoại của người Do Thái trong cuốn sách gọi là Kinh Thánh gồm Cựu Ước và Tân Ước.  Nhưng đọc Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân ước, chúng ta thấy tất cả những chuyện trong đó đều viết về dân tộc Do Thái, các tên Do Thái, và một vài vùng đất trong miền Trung Đông. Các học giả ngày nay đều đồng ư là, cuốn Kinh Thánh chỉ là những huyền thoại về lịch sử Do Thái trong thời bán khai, trí tuệ chưa mở mang, tuyệt đối không có liên hệ đến bất cứ một quốc gia nào khác.  Như chúng ta đă biết, những nghiên cứu về Giê-su trong ṿng 200 năm nay của các học giả đă đưa đến kết luận: Giê-su chỉ là một người Do Thái thường, sống với ảo tưởng, tin ḿnh là con của Gót (God) của Do Thái, có nhiệm vụ xuống trần để cứu dân Do Thái, và chỉ dân Do Thái mà thôi.  Nền thần học Ki Tô Giáo đă ngụy tạo, khai triển ảo tưởng trên của Giê-su và đưa Giê-su lên làm đấng cứu thế cho cả nhân loại, và hứa hẹn một cái bánh vẽ cứu rỗi ở trên trời cho những đầu óc yếu kém trong quá tŕnh bành trướng, truyền đạo bằng vơ lực, mê hoặc đầu óc con người trên khắp thế giới.  Với những xảo thuật truyền đạo bịp bợm, Công giáo đă thành công làm cho tín đồ tin rằng Giê-su là Chúa Cứu Thế có thể ban phát ơn “cứu rỗi” cho những người nào tin ông ta. Nhưng v́ đa số tín đồ là những bàn dân thấp kém, ít học hay vô học, không có khả năng tự ḿnh t́m hiểu Kinh Thánh, nhất là Tân ước, chỉ nghe những lời giảng bậy của các Linh mục, mục sư, nên những người phi – Do Thái trong đó có người Việt Nam vẫn tin là ḿnh có thể được cứu rỗi, trong khi thực chất “cứu rỗi” chỉ là một cái bánh Ki Tô Giáo vẽ trên trời.  Tôi cảm thấy rất tội nghiệp cho những tín đồ Ki Tô Giáo, tin vào những chuyện không thể tin được, những chuyện mà bản chất chỉ là những sự lừa dối sai sự thực để kéo con người vào ṿng nô lệ tâm linh của Ki Tô Giáo.  Chứng minh?

   Tại sao nhân loại cần đến ơn “cứu rỗi” của Giê-su?  Đây là câu hỏi mà người ta đă đặt cho Giáo Hoàng John Paul II. Thật vậy:

   Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, xuất bản năm 1995, trang 76, để trả lời câu hỏi “Tại sao nhân loại cần cứu rỗi?”, giáo hoàng John Paul II đă trích dẫn một câu trong Phúc Âm, John 6: 13, làm luận điểm giải thích, “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”. Như vậy “cứu rỗi” là để được sống đời đời, một hứa hẹn vô trách nhiệm trước những người vốn không có đầu óc suy nghĩ.  Tại sao?  V́ câu trên không phải là lời giải thích cho câu hỏi “Tại sao nhân loại cần đến sự cứu rỗi?” mà là một khẳng định về đức tin Công giáo gồm có hai mặt: 1) huyễn hoặc những người nhẹ dạ cả tin, mê mẩn về một sự sống đời đời, sau khi chết, ở trên một thiên đường giả tưởng, bằng cách tin vào một nhân vật đầy tính chất huyền thoại do nền thần học Ki Tô Giáo tạo dựng lên; và 2) hù dọa những người đầu óc yếu kém về một sự luận phạt phi lư và hoang đường nếu họ không chịu nhắm mắt mà tin.

   Điều này thật là rơ ràng v́, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng John Paul II, trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đă phải thú nhận là “không làm ǵ có thiên đường trên các tầng mây” (Heaven is not a physical place above the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế” (Hell is not a punishment imposed externally by God).

   Phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường trên trời và một hỏa ngục trong ḷng đất, Giáo Hoàng cũng đă phủ nhận luôn sự cứu rỗi và luận phạt của Chúa, một sự hứa hẹn thuộc một đời sau do đó không ai có thể kiểm chứng, và một sự đe dọa cùng loại, hoang đường, mà giáo hội vẫn tiếp tục dùng cho tới ngày nay để nhốt tín đồ vào trong ṿng sợ hăi và mê tín. Đa số tín đồ Công giáo không biết đến sự phủ nhận thiên đường và hỏa ngục của Giáo Hoàng. Một số thuộc hạ của Giáo Hoàng giải thích để biện hộ cho Giáo Hoàng: che dấu sự thực là điều cần thiết để giữ đức tin của tín đồ, để cho niềm tin của họ khỏi bị chao đảo. Người ngoài giáo hội th́ cho đó là hành động bất lương trí thức (intellectual dishonesty), v́ giáo hội đă biết là không làm ǵ có thiên đường hay hỏa ngục, mà vẫn dụ tín đồ bằng cái bánh vẽ cứu rỗi, và hù dọa họ bằng một hỏa ngục giả tưởng.

   Phân tích ra th́ câu John 3: 16 ở trên: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban Con duy nhất của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời., và câu tiếp theo, John 3: 18: “Người nào không tin vào Giê-su th́ đă bị đầy đọa rồi, v́ người đó không tin vào đứa con duy nhất của Thượng đế”, theo tôi, là những câu vô nghĩa và bậy bạ nhất trong Tân Ước v́ những câu này chỉ có thể áp dụng cho những người sinh sau Giê-su mà thôi. Thật vậy, chỉ có những người sinh sau Giê-su mới có thể biết đến Giê-su và tin Giê-su để không bị luận phạt và có cuộc sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết. Như được viết rơ trong Tân Ước, ngay cả bố mẹ Giê-su là Joseph và Maria, cùng các em trai em gái Giê-su cũng không tin Giê-su là đấng cứu thế, trái lại c̣n cho là Giê-su có đầu óc bất b́nh thường (trong Tân Ước viết: out of his mind), cho nên chắc chắn là họ đều bị Giê-su luận phạt và đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Lịch sử loài người đâu chỉ bắt đầu từ khi Giê-su 30 tuổi. Ấy thế mà vẫn có vô số người tin vào những cái câu nhảm nhí này mà lại c̣n thường mang nó ra mà trích dẫn trên một số diễn đàn của các giáo dân Ki Tô Giáo ở hải ngoại. Thật là tội nghiệp.

   Nếu giáo hoàng John Paul II không chịu giảng “tại sao nhân loại cần cứu rỗi’ mà chỉ nói tầm bậy về một câu tầm bậy trong Tân Ước th́ nền Thần học Ki Tô Giáo có thể soi sáng cho chúng ta về vấn đề này.  Lư luận thần học của Ki Tô Giáo về “ơn cứu rỗi” của Giê-su có thể tóm tắt trong vài câu như sau:

-   Ư niệm về sự cứu rỗi lập căn bản trên sự kiện loài người đang sống trong t́nh trạng hư mất, v́ vậy họ cần được cứu. Theo quan điểm Cơ Đốc, con người bị đặt dưới sự đoán phạt của Thiên Chúa v́ cớ nguyên tội (tội tổ tông) mà chúng ta thừa kế từ sự sa ngă của Adam (thừa kế bản chất tội lỗi của Adam sau khi phạm tội).

-  Người Ki Tô Giáo tin rằng nhân loại được tạo nên chỉ để có một mối quan hệ với Thượng đế, nhưng tội lỗi đă tách biệt mọi người với Thượng đế. Người Ki-Tô tin rằng sau khi chết trên cây thập giá, Đức Ki-Tô được chôn, Ông ta lại sống lại, và nay sống bên tay phải của Thượng đế, để măi măi làm trung gian ḥa giải với Thượng đế cho những tín đồ. Ki Tô Giáo khẳng định rằng cái chết của Giê-su trên cây thập giá là đủ để trả hoàn toàn cái nợ tội lỗi [đối với Thượng đế] của mọi người và điều này đă hồi phục mối quan hệ đă đổ vỡ giữa Thượng đế và con người. [4]

  

   Kinh Tin Kính của các Tông đồ [Apostle’s Creed) viết về đức tin và hi vọng căn bản của người Ki Tô Giáo như sau:

Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu KiTô là con một Đức Chúa Cha cũng là Chúa chúng tôi…

chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đanh trên cây thánh giá, chết và táng xác,

xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại…

ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại…

Tôi tin hằng sống vậy.

   Đó là căn bản đức tin và niềm hi vọng trong Ki Tô Giáo. Với đức tin này người Ki Tô Giáo hi vọng ở những ǵ. V́ tin rằng Chúa Giê-su “ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết” và tin rằng “xác loài người ngày sau sống lại”, người Công giáo Việt Nam rất hi vọng được Chúa Giê-su, đến ngày phán xét, hóa phép làm cho thân xác của họ, bất kể chết từ bao giờ, chết trên giường bệnh, già, b́nh thường, hay chết tan xác ngoài mặt trận, sống lại, hợp với linh hồn của họ mà sau khi chết đă được giữ [ai giữ?] trong một kho chứa của Chúa, và rồi, cả hai phần hồn và phần xác, được Chúa cho lên thiên đường để hằng sống, đời đời hầu hạ việc Chúa. Phải nói là “hầu hạ việc Chúa” v́ trên thế gian này, người Ki Tô giáo Việt Nam thường tự nhận là tôi tớ, tỳ nữ hầu hạ việc Chúa, đúng ra là hầu hạ các linh mục, mục sư, với hi vọng là sau khi chết, đến ngày phán xét, được lên thiên đường sống cuộc sống đời đời để tiếp tục hầu hạ Chúa.

   Đọc về những niềm tin của người Ki-Tô Giáo ở trên chúng ta thấy rơ người Ki Tô Giáo chỉ tin chứ không hiểu. Thật vậy, ngày nay không c̣n mấy người tin rằng Thượng đế của Ki Tô Giáo đă sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài cách đây khoảng 6 ngàn năm, và trong 6 ngày, và trước những bằng chứng bất khả phủ bác của khoa học về sự tiến hóa của con người mà chính Giáo hoàng John Paul II đă phải lên tiếng chấp nhận, cũng chẳng c̣n mấy người tin vào cái huyền thoại về tội tổ tông.

   Chúng ta thấy, thuyết thần học Ki Tô về sự cứu chuộc và cứu rỗi của Chúa Giê-su đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước Nhưng ngày nay, trừ những giáo dân ít học và kém hiểu biết, có c̣n ai tin vào huyền thoại "tội tổ tông" nữa đâu. “Tội Tổ Tông” là một huyền thoại đă lỗi thời, và người nào c̣n nhắc đến nó, tin nó, chỉ tự chứng tỏ ḿnh là người có đầu mà không có óc, thiếu học vấn [uneducated].

 

   Thật vậy, Trước những kết quả nghiên cứu Thánh Kinh bất khả phủ bác của giới học giả, huyền thoại về “tội tổ tông” đă không c̣n một giá trị trí thức nào ngay trong giới lănh đạo của Ki Tô Giáo. Chúng ta hăy đọc vài tài liệu về “tội tổ tông” của giới trí thức Tây phương.

 

Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đă viết trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:

 

Giáo Hoàng John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 tháng 10, 1962, rằng “những giáo lư và quan niệm sai lầm vẫn c̣n tồn tại nhiều, nhưng ngày nay con người đă tự ư loại bỏ chúng… Nhưng nếu Roncalli (John XXIII) không thấy là điều giảng dạy mới của ḿnh dẫn tới đâu, th́ hàng trăm nhà thần học và giám mục đă thấy. Trong những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đă từ bỏ niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lư căn bản khác. [5]

 

   Giám mục John Shelby Spong viết trong cuốn “Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Hoặc Chết” [Why Christianity Must Change or Die]:

 

Thuyết Tiến Hóa làm cho Adam và Eve trở nên may nhất là những nhân vật theo truyền thuyết. Thuyết Tiến Hóa không dễ ǵ cho tổ chức tôn giáo chấp nhận, và ngày nay vẫn c̣n những tiếng nói cất lên từ những miền hẻo lánh của thế giới để chống đối thuyết này. Những tiếng nói này sẽ không bao giờ thành công. Nhân loại rơ ràng là tiến hóa theo một quá tŕnh trải dài từ 4 tỷ rưỡi đến 5 tỷ năm. Không làm ǵ có hai cha mẹ đầu tiên (nghĩa là Adam và Eve. TCN), và do đó cái hành động bất tuân lúc đầu của hai bậc cha mẹ đầu tiên không thể nào có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại. Do đó cái huyền thoại về tội tổ tông đă bị một đ̣n khai tử, và cái câu chuyện vững chắc về sự cứu rỗi do những người bảo vệ Ki-tô giáo dựng lên qua nhiều thời đại đă bắt đầu chao đảo. [6]

  

Và chính Giáo Hoàng John Paul II cũng đă phát biểu năm 1996:

Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá tŕnh tiến hóa dần dần... Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.

   (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution...Fresh knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis).

 

   Đọc thêm các tác phẩm nghiên cứu của một số vị trong hàng giáo phẩm Công Giáo cũng như Tin Lành, chúng ta thấy rơ một số đă biểu lộ sự lương thiện trí thức của họ trước những sự kiện khoa học không ai có thể phủ nhận qua những nhận định như sau:

 

   Giám Mục Tin Lành John Shelby Spong đă cho rằng vai tṛ Chúa Cứu Thế của Chúa Giê-su cần phải dẹp bỏ, xin đọc: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN37.php :

 

   “Không có bất cứ một h́nh ảnh nào dùng để giải thích về nhân vật Giê-su đáng được tồn tại. H́nh ảnh hiển nhiên nhất để loại bỏ trong đầu óc tôi có lẽ cũng là cái h́nh ảnh cổ xưa nhất về mọi diễn giải về Giê-su. Đó là cái h́nh ảnh của Giê-su như là “đấng thần linh cứu thế” (the divine rescuer).”.

 

   Và Linh mục Công giáo James Kavanaugh cho rằng “ơn cứu rỗi” chỉ là một huyền thoại , xin đọc: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN36.php :

 

   “Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ư nghĩa ǵ mấy, trừ khi hắn đă bị reo rắc sự sợ hăi và bị tẩy năo từ khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ, chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con ḿnh. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).

   Tôi chấp nhận sự kiện là Giê-su đă chết, và ngay cả đă bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp nhận cái huyền thoại là cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi. Huyền thoại “cứu rỗi” (The salvation Myth) trong Tân ước chỉ là một cách diễn giải. Đó là một huyền thoại của thời bán khai, bản chất của nó giống như những huyền thoại của các dân tộc bán khai ở khắp nơi, nhưng nó hoang đường và độc ác hơn hầu hết các huyền thoại khác. (But it is more unbelievable and more cruel than most myths).”

   Như vậy, “ơn cứu rỗi của Chúa Giê-su” chẳng qua chỉ là một cái bánh vẽ trên trời , đúng như Mục sư Ernie Bringas đă nhận định (A pie-in-the-sky),  mà Ki Tô Giáo vẫn c̣n dùng làm mồi để nhử những đầu óc ngu ngơ ngốc nghếch. Đúng vậy, nếu đă không có ǵ có thể gọi là “tội tổ tông” th́ vai tṛ chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su chỉ là luận điệu thần học bịp bợm của các giáo hội Ki Tô, và riêng đối với Công giáo th́ tín lư tuyên dương bà Mary, mẹ của Giê-su, là “Mẹ Thiên Chúa”, “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội” v..v.. cũng chỉ là những mánh mưu thần học của Công giáo để mê hoặc đám tín đồ vốn không có mấy đầu óc. [Xin đọc loạt bài nghiên cứu về nhân vật Mary trong Công giáo: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN40.php]

 

Vấn nạn của các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam là tại sao họ vẫn c̣n vác cái gánh nặng Thiên Chúa trên vai, biết rằng một Thiên Chúa như được viết trong Kinh Thánh, một Thiên Chúa mà Richard Dawkins đă đưa ra những nhận định về các thuộc tính như sau trong cuốn “The God Delusion”, trang 51:

 

Không cần phải bàn căi ǵ nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hănh diện v́ thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những tṛ tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường. [7]

   Tất cả những thuộc tính này đă được tôi chứng minh qua những trích dẫn từ cuốn Cựu Ước của Ki Tô Giáo trên: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/3NGOI/TCN64_Cha.php và trên:

http://giaodiemonline.com/2009/03/god.htm

 

   Một Thiên Chúa như vậy có đáng để chúng ta kính trọng, khoan nói đến thờ phụng, không?

Vậy tại sao các tín đồ Ki Tô Giáo  không đủ can đảm loại bỏ một Thiên Chúa như vậy ra khỏi đầu óc họ như cả mấy tỷ người trên thế giới đă làm, nhất là Thiên Chúa đó chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái. Họ sợ rằng, sau khi loại bỏ Thượng đế ra khỏi đầu óc th́ họ c̣n lại ǵ?  Đó là một đầu óc lành mạnh, có khả năng suy tư, và từ đó có thể giải thích về sự hiện hữu của những sự xấu trên thế giới, và từ đó,  con người hăy phục vụ con người thay v́ đi phục vụ một đấng ác ôn không ai biết, không ai hiểu, không ai thấy. Trong tất cả các thiên tai, bệnh tật v..v.., chúng ta chỉ thấy con người cứu giúp con người chứ có thấy mặt Thiên Chúa ở đâu khoan nói đến chuyện là, theo niềm tin của Ki Tô Giáo, tất cả những sự đau khổ giáng lên đầu con người đều là tác phẩm của Thiên Chúa cả. Và không phải chỉ có người Ki-Tô mới làm những việc thiện, cứu giúp đồng loại, mà trên thế giới phần lớn là những người phi-KiTô, không tin là có Thiên Chúa.

 

   V́ đặt tất cả niềm tin mù quáng vào những điều ngụy biện hoang đường của nền thần học Ki Tô Giáo cho nên các tín đồ mới cứ tin rằng ḿnh có tội thật đối với một nhân vật thần thoại Do Thái ác ôn như vậy, và do đó mới mơ tưởng tới ơn “cứu rỗi” của một Thiên Chúa mà thực ra chúng ta cần phải vứt bỏ nó đi trong đầu óc của chúng ta.

 

   Nhưng thật ra tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam có hi vọng được Giê-su cứu chuộc hay cứu rỗi không? Câu trả lời là một chữ “KHÔNG” khẳng định. Chữ “KHÔNG” này là do chính Chúa Giê-su khẳng định trong Tân Ước chứ không phải là của tôi. Chứng minh?  

 

   Trước hết, người Việt Nam hiển nhiên không phải là người Do Thái, câu này nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thực ra lại rất quan trọng.  Tại sao lại quan trọng?  V́ đọc Tân Ước, chúng ta thấy:  Giê-Su sẽ chỉ cứu dân Do Thái ra khỏi tội lỗi mà thôi (Matthew 1: 21: for He will save His people from their sins) và sẽ ngự trị trên dân Do Thái đời đời mà thôi (Luke 1: 33: And He will reign over the house of Jacob for ever). Ngoài ra chúng ta cũng c̣n thấy là Giê-su rất ghét những người không phải là Do Thái (Matthew 15: 21-28). Và Thánh Paul khẳng định, Hebrew 13: 8: “Giê-su Ki Tô luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới măi măi.” (Jesus Christ is the same yesterday, today, and forever). Điều này có nghĩa là Giê-su sinh ra đời chủ trương chỉ cứu chuộc người Do Thái mà thôi v.. v.., và thái độ bộc lộ ghét người phi-Do Thái của Giê-su, không bao giờ thay đổi. Vậy th́ những sắc dân phi – Do Thái, trong đó có Việt Nam, mong cái ǵ ở Giê-su? Tôi không hiểu các trí thức theo Công giáo Rô-ma ở Việt Nam có đọc Tân ước không và có biết đến những điều này hay không. Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho ḿnh một cuộc sống đời đời trên một Thiên Đường mà chính giáo hoàng John Paul II đă phủ nhận sự hiện hữu.

   Thật vậy, câu chuyện sau đây trong Tân Ước sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su cứu rỗi đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hăy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:

  "Thế rồi Giê-Su đi tới vùng TyreSidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su "Hăy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng." Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: "Hăy đưổi bà ta đi, v́ bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta." Nhưng Giê-Su trả lời: "Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi." Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: "Chúa ơi, hăy giúp tôi." Nhưng Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn th́ thật là chẳng tốt tí nào." Và người đàn bà kia nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ th́ chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi văi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ." Rồi Giê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Ḷng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ư bà." Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ ǵờ phút đó." [8]

   Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ Madalyn O'Hair b́nh luận như sau:

  Trừ phi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học.

(Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion. For someone who really "truly feels in his heart that Jesus is his Savior" I would recommend a psychiatrist.)

   Và, Frederick Heese Eaton b́nh luận như sau trong cuốn Scandalous Saints, trang 214:

   Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, th́ Giê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ ǵ cho ngươi?" Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của ḷng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút ǵ là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

   Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc khải của Thiên Chúa, "Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới măi măi, không bao giờ thay đổi." (Hebrew 13:8) Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy t́nh thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi th́ vừa. [9]

   Tôi xin để cho các độc giả tùy ư nhận định về tư cách, đạo đức và ḷng vị tha của Giê-Su trong những câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Ki-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng cho ḿnh có cùng một thân phận và ḷng tin mănh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không c̣n trên thế gian nữa. Nhưng hi vọng của họ được Giê-su cứu rỗi có thể thể thành tựu được không?  Nếu c̣n đầu óc th́ hăy suy nghĩ cho kỹ chuyện này và mang ra hỏi các bậc chăn chiên của ḿnh là dựa vào đâu trong Tân Ước mà cho rằng người Việt Nam sẽ được Giê-su cứu rỗi.

   Nhưng thực ra, Giê-su có phải là Thiên Chúa hay không, và dù có là Thiên Chúa đi nữa th́ trí tuệ và tư cách của ông ta có đáng để cho chúng ta hi vọng vào một ơn “cứu rỗi” của ông ta hay không?   Đọc Tân Ước, chúng ta đă thấy rằng, cũng giống như Cha ông ta trong Cựu Ước,  Giê-su là một người có những đặc tính tiêu biểu là: tính t́nh độc ác, dễ nổi nóng, tự phụ, nhỏ nhen, thích nguyền rủa, lời nói không đi đôi với việc làm, tiền hậu bất nhất, khi nói suôi, khi nói ngược, và phần lớn là về “cái Ta” của ông ta. Rất rơ ràng trong Tân Ước, chẳng cần phải chứng minh.

   Những tín đồ Ki Tô Giáo cuồng tín thường cho là ḿnh có nhiệm vụ đi rao giảng “Tin Mừng Phúc Âm” cho mọi người trên thế giới. Họ thành công phần nào v́ họ chỉ rao truyền tin mừng cho những người thấp kém, ít học trong xă hội, và v́ vậy không có ai đặt câu hỏi hay chất vấn họ khi họ giảng những điều láo lếu, không đúng sự thực, về Chúa Giê-su của họ. Nhưng Giê-su sinh ra có phải là để mang tin mừng cho nhân loại không? Ông ta nói:

 

Matthew 10: 34-36: “Đừng tưởng rằng ta xuống đây để mang lại ḥa b́nh trên trái đất. Ta không tới để mang lại ḥa b́nh mà là gươm giáo. V́ ta tới để làm cho con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.”

 

Luke 12: 51-53 : Đừng tưởng Ta đến để đem ḥa b́nh cho thế giới. Không, Ta đến để chia loài người làm hai. Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.

 

   Đó có phải là những “tin mừng” cho gia đ́nh và xă hội không? Người nào bảo phải, xin mời lên tiếng. Hơn nữa, Giê-su c̣n thường nguyền rủa những người không tin ông ta:

 

“Hăy mang những kẻ thù của ta, những người không muốn ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta” [Luke 19: 27: But bring here those enemies of mine, who did not want me to reign over them, and slay them before me], cùng đe dọa những người rời bỏ ông ta phải được gom lại như cành củi, làm cho khô héo và mang đi đốt, làm tiền lệ cho giáo hội Công giáo đi tra tấn rồi thiêu sống những kẻ mà giáo hội cho là lạc đạo. [John 15: 6: If anyone does not abide in me, he is cast out as a branch and is withered; and they gather them and throw them into the fire, and they are burned]

 

   Ông ta cũng c̣n dọa những người không tin ông ta sẽ bị đầy đọa xuống hỏa ngục để cho ngọn lửa thiêu đốt vĩnh viễn. Chúng ta hăy đọc lời ông phán trong ngày phán xét, ngày mà các tín đồ Ki Tô Giáo hi vọng được Giê-su họp hồn với xác và cho họ lên Thiên đường (mù):

 

   “Rồi ta sẽ nói với những kẻ ở phía bên tay trái: “Hăy cút đi cho khuất mắt ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, để đi vào ngọn lửa vĩnh hằng nhúm sẵn cho quỷ và những thiên thần của nó”

   [Tiếng Anh nguyên văn là, Matthew 25: 41: “Depart from me, you cursed, into the everlasting fire prepared for the devil and his angels” nhưng Kinh Thánh Tin Lành tiếng Việt đă dịch “devil and his angels” là “ma quỉ và những quỉ sứ (của) nó”. Dịch angel là quỉ sứ chắc là để tránh một điều hiển nhiên trong Kinh Thánh là Quỷ cũng có những thiên thần làm tay sai y như Thượng đế. TCN]

 

   Những kẻ ở phía bên tay trái là những ai? Đó là những người không phải thuộc 12 bộ lạc Do Thái, như sách Khải Huyền đă viết rơ:

 

   Khải Huyền 7: Sau đó tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn góc địa cầu [nguyên văn từ Kinh Thánh Việt Nam, quả địa cầu của Ki Tô Giáo có h́nh tứ giác, có bốn góc] cầm giữ gió bốn phương trên đất, khiến cho khắp đất, biển và cây cối đều bất động. Tôi lại thấy một thiên sứ khác đến từ phương Đông, cầm con dấu (seal) của Thượng đế hằng sống. Thiên sứ này lớn tiếng kêu gọi bốn thiên sứ đă được Thương đế ban quyền cho làm hại đất và biển (who had been given power to harm the land and the sea): Đừng làm hại đất, biển và cây cối cho đến khi chúng ta đóng dấu ấn lên trán của những tôi tớ Chúa. Rồi tôi nghe thấy số người được đóng dấu ấn trên trán, tất cả là 144000 (một trăm bốn mươi bốn ngàn) thuộc 12 bộ lạc của Israel, mỗi bộ lạc là 12000 người.  Những người được đóng dấu ấn của Thượng đế trên trán là những người được Chúa chọn để cho lên thiên đường sống một cuộc sống đời đời với Chúa, v́ Kinh Thánh viết rơ Nhiều người được kêu gọi nhưng chỉ có ít người được chọn và Chúa cũng đă phán, Matthew 7: 21-23: Không phải người nào gọi Ta là Chúa cũng được vào nước trời... Trong ngày phán xét sẽ có nhiều người kêu nài: “Thưa Chúa, chúng tôi đă giới thiệu Chúa cho nhiều người, đă dùng danh Chúa để đuổi quỷ và làm nhiều phép lạ [Công giáo đă ngụy tạo ra nhiều phép lạ như ở  Fatima, Lourdes, La Vang v…v…] . Nhưng ta sẽ đáp: “Ta không hề biết các ngươi! Hăy cút đi cho khuất mắt ta, v́ các ngươi chỉ làm việc gian ác[Many will say to Me in that day “Lord, Lord, have we not prophesied in Your name, cast out demons in your name, and done many wonders in your name?”  And then I will declare to them “I  never knew you; depart from Me, you whopractice lawlessness!”]

   Bịp bợm, dối trá, lợi dụng ḷng mê tín của tín đồ để vơ vét của cải, tiền bạc, loạn dâm, đạo đức giả v..v.. có phải là việc gian ác hay không? Ngụy tạo phép lạ, tín lư, bí tích để tạo quyền lực thế tục cho giới giáo sĩ v..v.. có phải là việc gian ác hay không? Cưỡng bách cải đạo, giết người ngoại đạo, tra tấn, thiêu sống người lạc đạo v..v.. có phải là việc gian ác không? Ai trả lời không, xin lên tiếng. Các “hội thánh” Ki-tô, trong 2000 năm nay đă làm những ǵ? Có làm điều ǵ gian ác không? Và ai lên thiên đường? Ai xuống hỏa ngục?

   Chúng ta để ư, Chúa chỉ chọn 144000 người trong 12 bộ lạc Do Thái, không thấy Chúa nói đến các bộ lạc Bùi Chu, Phát Diệm hay Hố Nai, Gia Kiệm, hay Bolsa, San Jose, Sydney.  Dân Do Thái là dân được Chúa chọn (chosen people) nhưng Chúa cũng chỉ chọn có 144000 người mà thôi.   Các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam hăy ngẫm nghĩ kỹ điều này và hăy tỉnh giấc mộng kê vàng. [Không những thế, trong Khải Huyền 9: 4, Thiên Chúa c̣n ra lệnh cho những con quái vật châu chấu giống như những con chiến mă, có khả năng châm chích như bọ cạp, không được phá hại cây cỏ mà chỉ nhắm vào những người không có dấu ấn của Thượng đế đóng trên trán. (They were told not to harm the grass of the earth or any plant or tree, but only those people who did not have the seal of God on their forefronts)]

   Quư vị tín đồ Ki-tô Việt Nam, nhất là các tín đồ tân ṭng Tin Lành, những người tin vào những lời  truyền đạo gian manh của giới giáo sĩ, nghĩ sao về chuyện này. Quư vị có thấy rằng ḿnh đă bị đám mục sư, linh mục lừa bịp quư vị bằng một cái bánh vẽ trên trời mà dù có thật quư vị cũng không bao giờ có thể được hưởng theo như những lời không thể sai lầm của Chúa Tân Ước, nhất là trong sách Khải Huyền hay không?   Quư vị có bao giờ nghĩ đến điều này hay không? Quư vị có bao nhiêu hi vọng được Chúa “cứu rỗi”, bốc cái xác chết đă rũa nát của quư vị (chắc chắn là ngày tận thế sẽ không xảy ra trong đời này của quư vị) lên thiên đường?  Quư vị hăy dùng đến đầu óc một chút đi, và hăy cất bỏ gánh nặng thiên chúa trên vai của quư vị (đề nghị của mục sư Harry Wilson), đúng ra là gánh nặng giáo hoàng và các “bề trên” Công giáo hay gánh nặng Kinh Thánh Tin Lành. Hơn nữa, Giê-su là người như thế nào, có đáng để cho chúng ta trông mong vào sự “cứu rỗi” của ông ta không?

  Về những chuyện trong Tân Ước chứng tỏ đạo đức thấp kém của Giê-su, Giám Mục John Shelby Spong đă nhận định:

   Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa [Giê-su] phải giết cả một bày heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng ta có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đă nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa không?...

   Cuốn Thánh Kinh đă làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.

   Có những đoạn trong 4 Phúc Âm mô tả Giê-su ở Nazareth như là một con người thiển cận, đầy hận thù, và ngay cả đạo đức giả. [10]

 

Về vấn đề đạo đức và trí tuệ của Giê-su th́ không một người nào trong giới trí thức không biết đến nhận định của Bertrand Russell, một triết gia và khoa học gia nổi tiếng trên thế giới trong thế kỷ 20 với hai giải Nobel:

 

Riêng tôi, tôi thấy trong cả hai lănh vực trí tuệ và đạo đức, Đức KiTô [Giê-su] không thể đứng ngang hàng với một số vĩ nhân khác trong lịch sử. Tôi nghĩ rằng tôi nên đặt Đức Phật và Socrates ở trên Giê-su trong hai lănh vực này. [11]

 

 

Trong cuốn Tân Ước có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách, đạo đức và trí tuệ thấp kém của Giê-su, nhưng thảm thay, trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn được dạy và tin là "Chúa toàn hảo", "T́nh Yêu của Chúa" bao trùm thế gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và hăy hănh diện là "đầy tớ hầu hạ Chúa", "thờ phụng Chúa". Người Việt Nam không phải là người Do Thái, ai cũng biết vậy, nhưng vẫn cần phải nhắc lại ở đây. Tuy nhiên chẳng có ai cấm người Việt nam tin rằng ḿnh sẽ được Giê-su cứu chuộc như cứu chuộc người Do Thái, dù rằng Tân Ước đă viết rơ, không làm ǵ có chuyện cứu chuộc người phi-Do Thái.  Nhưng chẳng có ai nghĩ đến chuyện là chính người Do Thái lại không tin Giê-su là đấng cứu tinh của họ và do đó đă từ chối không chấp nhận vai tṛ cứu chuộc của Giê-su.

 

2.  Thuần hóa tín đồ bằng những tín lư độc tài, ngụy tạo

 

Sau khi đưa ra một cái bánh vẽ cứu rỗi trên trời làm cho tín đồ mê hoặc về một cuộc sống đời đời trên một thiên đường mà giáo hoàng John Paul II đă phủ nhận, Giáo hội bèn sử dụng mọi xảo thuật để nô lệ hóa đầu óc con người bằng những tín lư, tín điều ngụy tạo để tạo quyền lực cho giới chăn chiên. Bánh vẽ “cứu rỗi” có đó ở trên các tầng mây, nhưng tín đồ muốn được ơn cứu rỗi đó th́ không thể tự ḿnh hưởng ơn đó mà phải qua ngả các “bề trên”, nghĩa là phải tin tất cả những ǵ bề trên dạy, thường là những điều láo lếu nhưng những đầu óc thấp kém, cả tin nhắm mắt tin mà không cần hiểu. Một mặt, để nhốt tín đồ vào ngục tù trí thức, theo sách lược “ngu dân dễ trị”, Giáo hội cấm tín đồ tự đọc cuốn Kinh Thánh, sợ rằng họ sẽ nhận ra những điều sai trái về thần học cũng như về khoa học trong đó.  Từ 1559, Giáo hội đă đưa ra danh sách những sách cấm tín đồ đọc, vi phạm “luật thánh” này sẽ bị vạ tuyệt thông.  Theo Wikipedia th́ đó là danh sách những ấn phẩm mà Giáo hội Công giáo kiểm duyệt v́ nguy hiểm đến chính Giáo hội và đức tin của các tín đồ [The Index Librorum Prohibitorum ("List of Prohibited Books" or “Index of Forbidden Books”) is a list of publications which the Catholic Church censored for being a danger to itself and the faith of its members.]   Trong danh sách những cuốn sách cấm đọc, với 32 ấn bản trong hơn 400 năm, từ 1559 đến 1966, chúng ta có thể đếm được 6892 đầu sách cấm tín đồ đọc, và trong mỗi ấn bản đều chứa những luật của Giáo hội về vấn đề đọc sách, bán sách và kiểm duyệt sách. [The various editions also contain the rules of the Church relating to the reading, selling and censorship of books.]  V́ mơ tưởng ở một cái bánh vẽ trên trời nên các tín đồ cứ nhắm mắt tuân theo những luật quái gở phi trí thức này.  Bởi vậy chúng ta không lấy ǵ làm lạ khi thấy kiến thức của tuyệt đại đa số tín đồ Công giáo các cấp quá thiếu sót, nghèo nàn, cho nên thường không đủ khả năng để đối thoại một cách nghiêm chỉnh, khoan nói đến chuyện thành công trong xă hội bên ngoài. 

 

   Giáo hội Công giáo giữ độc quyền diễn giải Kinh Thánh và hầu hết các tín đồ, kể cả các “bề trên”, cũng chỉ được biết đến những đoạn vụn vặt mà Giáo hội chọn lọc để mê hoặc tín đồ, và lẽ dĩ nhiên, diễn giải những đoạn chọn lọc trong Thánh Kinh theo ư giáo hội bất kể sự thật, và cũng lẽ dĩ nhiên tuyệt đại đa số tín đồ cũng chỉ biết về đạo của họ qua những lời diễn giảng một chiều này.  Điều này chúng ta có thể thấy rơ trong những bài viết của một số Tổng Giám mục, Giám mục, Linh mục Việt Nam.  Giáo lư nô lệ hóa tín đồ của Giáo hội đặt nặng trên truyền thống của Giáo hội, nghĩa là đặt nặng trên những điều “Giáo hội dạy rằng..” dù rằng những điều này không hề có trong Thánh Kinh.  Thật vậy, chúng ta có thể đọc câu sau đây trong cuốn Giáo Lư Của Giáo Hoàng (The Pope's Catechism) của J. Sheatsley, trang 80:

 

   Tín đồ Công giáo phải tin tất cả những ǵ Thiên Chúa đă mạc khải và tất cả những ǵ Giáo hội Công giáo dạy, bất kể là những điều đó có hay không có trong Thánh Kinh.  V́ Truyền Thống Công giáo (nghĩa là những ǵ giáo hội dạy) và Thánh Kinh đều do Thiên Chúa mạc khải.

   [A Catholic must believe all that God has revealed and the Catholic Church teaches, whether it is contained in Holy Scripture or not.  Because Catholic Tradition and Holy Scripture were alike revealed by God]

 

   Giáo hội Công giáo đă viện cái gọi là “mạc khải của Thiên Chúa” để tự tạo quyền lực cho ḿnh.  Nhưng điều này chỉ có thể thuyết phục được đám tín đồ mà tuyệt đại đa số thuộc loại thất học trong thời bán khai và Trung Cổ, nhất là trong những thời đại mà Giáo hội giữ độc quyền đọc và diễn giảng Thánh Kinh.  Nhưng từ thế kỷ 16, khi mà cuốn Thánh Kinh được dịch ra các tiếng địa phương và người dân được tự do đọc Thánh Kinh th́ người ta đă khám phá ra rằng cuốn Thánh Kinh chứa rất nhiều điều sai lầm về khoa học và thần học, do đó, tuyệt đối không phải là sản phẩm “mạc khải” của một Thiên chúa toàn năng, toàn trí….

 

   Thật vậy, về truyền thống giáo dục của Giáo hội Công Giáo do Thiên Chúa mạc khải, theo lời tự nhận của giáo hội, th́ như thế nào?  Chúng ta không thể không nhắc lại câu nói thời danh của Thánh Ignatius of Loyola (1491-1536), người sáng lập ḍng Tên:

 

    Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng thực sự là đen, nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội [Công Giáo] quyết định như vậy [do sự mạc khải của Thiên Chúa].

   [We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides].

 

    Giáo hội luôn luôn cho rằng có Thánh Linh hướng dẫn trong mọi sự việc, cho nên quyết định trắng thành đen có thể cũng là sự mạc khải của một Thiên Chúa toàn năng toàn trí của Giáo hội Công Giáo.  

 

    Nhưng chúng ta phải công nhận là, làm cho tín đồ phải tin như trên, đi kèm với sách lược cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, cùng cấm đọc những tác phẩm, báo chí v..v.. mà giáo hội không cho phép để nhốt đầu óc của các tín đồ vào cái ngục tù tâm linh của giáo hội là sự thành công lớn nhất của Giáo hội Công giáo. 

 

  Để nhốt tín đồ vào ṿng nô lệ, Giáo hội đặt nặng giáo điều về “Đức Vâng Lời”, nghĩa là tín đồ phải tuyệt đối vâng lời các bề trên, v́ Giáo hội hù dọa tín đồ: không vâng lời “bề trên” th́ sẽ bị “Chúa phán xét”, linh hồn không được “cứu rỗi”.  Đây là giáo lư đă làm cho những tín đồ Công giáo thường là chỉ biết đến Nước Chúa, chứ không quan tâm đến đất nước của tổ tiên, ông bà.

   Điều này rơ ràng hơn ǵ hết trong nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Trung, một tín đồ Công giáo, về Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam: Ṭa Thánh có đánh r… cũng khen thơm”. Điều này đă nói lên sự thực về bản chất nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam và cùng lúc, sự thành công của Giáo hội hoàn vũ đối với tuyệt đại đa số người Công giáo Việt Nam, một sự thực khá đau ḷng đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam trước sự bất hạnh của 7% dân số theo đạo, nạn nhân của sách lược “ngu dân dễ trị’ của một định chế tôn giáo

   Charlie Nguyễn, một trí thức Công giáo đạo gốc, trong một gia đ́nh theo đạo từ thế kỷ 16, đă phải đau ḷng mà viết rằng: “Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam phải gánh phần lớn trách nhiệm trong việc nhốt những con chiên của ḿnh vào những chuồng tâm linh tăm tối”.  Nhưng trách như vậy là Charlie Nguyễn đă lầm, v́ đó là chính sách của Giáo hội Công Giáo, và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam chẳng qua chỉ gồm những thuộc hạ của Giáo hoàng và của tập đoàn chỉ đạo ở Vatican, và v́ chính quyền lợi thế tục của họ mà họ phải duy tŕ chính sách này.  Bởi vậy mà cho đến ngày nay mà tuyệt đại đa số tín đồ Công Giáo Việt Nam, kể cả một số trí thức Công Giáo, vẫn c̣n tin Giáo hoàng là đại diện của Chúa Giê-su trên trần, có quyền cho họ lên thiên đường hay tuyệt thông họ, và vẫn có những ông Linh mục như Linh mục Vũ Đức ở Detroit rao giảng: “Linh Mục là Chúa thứ hai” (alter Christus) v..v.., trong khi đối với giới hiểu biết th́ chẳng làm ǵ có Chúa thứ nhất, khoan nói đến trên 5000  “Chúa thứ hai” đă từng đi cưỡng bách t́nh dục các nữ tu và trẻ con, cùng ăn cắp tiền của nhà thờ như tuần báo Time, số ngày 26 tháng 2, 2007, mới phanh phui, và phạm đủ mọi thứ tội như lịch sử đă ghi rơ.

 

   Về “Đức Vâng Lời” th́ phải nói Công giáo Việt Nam tuân thủ vào hạng nhất.  Gần đây khi phóng viên Thanh Trúc hỏi ư kiến của Giám mục Nguyễn Chí Linh về việc Giáo hoàng bổ nhiệm Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng Giám Mục phó tổng giáo phận Hà Nội th́ được Giám mục Linh trả lời:

Nhưng đối với chúng tôi là giám mục, điều quan trọng nhất là dù Đức Giáo Hoàng có bổ nhiệm ai đi nữa th́ chúng tôi cũng có nghĩa vụ phải duy tŕ t́nh hiệp thông trong giáo hội. Cho nên tôi nghĩ cần phân biệt dư luận, truyền thông và tinh thần. Chúng tôi quan tâm nhất tới vấn đề tinh thần. Truyền thống lâu đời của giáo hội Công giáo là tuân phục sự bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng. Trên hết mọi sự, đối với chúng tôi, ư kiến riêng phải nhường chỗ cho tinh thần vâng phục và t́nh hiệp thông.

   Giám mục Linh không nhận thức được rằng, tinh thần vâng phục mù quáng chẳng qua chỉ là “tinh thần nô lệ”, và từ cái “tinh thần nô lệ” này, người Công giáo có thể làm tất cả những ǵ Vatican muốn, kể phản bội quốc gia như trong quá khứ.  Mặt khác, một con người vô đạo đức như Giáo hoàng Benedict XVI th́ vâng phục ông ta có nghĩa ǵ và có giá trị ǵ.

 

   Để nắm giữ đầu óc tín đồ từ ngày sinh ra đời đến ngày chết, và để tạo quyền lực cho giới chăn chiên trước đàn con chiên thấp kém, Giáo hội Công Giáo c̣n dựng lên những màn ảo thuật gọi là "bí tích" [sacraments], những lễ tiết tín đồ bắt buộc phải tin hiệu năng huyền nhiệm của chúng theo như những lời "giáo hội dạy rằng", dù giáo hội "bí đặc", không làm sao giải thích được tại sao lại phải tin như vậy, v́ bản chất những "bí tích" này thuộc loại mê tín dị đoan. Giáo hội dạy rằng mọi “bí tích” này là do Chúa Giê-su lập ra, và con chiên nghe đến Chúa là mất hết lư trí, chỉ việc nhắm mắt tin theo. Trong cuộc thảo luận sau khi tŕnh chiếu cuốn phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus của đài Discovery, khi được hỏi ư kiến về những sự kiện khoa học khám phá ra trong phim, một ông linh mục đă thản nhiên trả lời: “Đức tin là về sự huyền nhiệm, không về khoa học” [Faith deals with mystery, not science]

 

   Tôi đă phân tích thực chất các “bí tích” trong Công giáo qua những tài liệu của những bậc chăn chiên trong Công giáo: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/DuctinCG/DuctinCG03.php cho nên không cần phải nhắc lại ở đây nữa, mà chỉ nói về “Bí tích” then chốt trong Công giáo để nắm giữ đầu óc tín đồ là “bí tích” Truyền Chức Linh Mục.   Đây là mánh mưu then chốt của Giáo hội để tạo quyền lực thần thánh cho một người học nghề Linh mục, đột nhiên biến một người học nghề linh mục trong vài năm thành một người có quyền thay Chúa, thực ra là hơn Chúa v́ Chúa chưa từng bao giờ làm, để thực hiện những phép quỷ thuật trong 6 "bí tích" c̣n lại. Với quyền năng tự tạo này của giới chăn chiên như linh mục, giám mục v..v.. , giáo hội có thể dùng 6 bí tích kia: rửa tội, thêm sức, xưng tội, truyền thánh thể, hôn phối và xức dầu thánh, để ngự trị, kiểm soát, và mê hoặc tín đồ từ ngày sinh, bắt đầu bằng bí tích rửa tội, cho đến ngày chết, bằng bí tích xức dầu..  Tôi sẽ không đi vào chi tiết 6 bí tích này, bài nhận định về các bí tích của Công giáo đă được đăng trên trang nhà Giao Điểm trước đây.  V́ bí tích “truyền chức linh mục” là bí tích then chốt để nắm giữ đầu óc tín đồ, cho nên, tôi xin được đi vào khá nhiều chi tiết về chủ đề này.  Trước hết, chúng ta hăy đọc một đoạn trong Sách Giáo Lư Công Giáo (Katholischer Katechismus), bản dịch của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên, nhà in Zieleks, Texas, xuất bản năm 1991, viết về nghi thức Truyền Chức Linh Mục như sau, trang 231:

 

   “Khi phong chức linh mục, đức giám mục im lặng đặt tay trên đầu mỗi vị phụ tế và cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trên họ.  Các vị linh mục dự lễ cùng đặt tay trên đầu họ như vậy.  Bấy giờ đức giám mục mới hát kinh tiền tụng để phong chức linh mục.  Giám mục lại cho các vị đeo khăn vai quàng qua ngực và mặc áo lễ để chỉ dấu hiệu linh mục.  Đoạn xức dầu thánh vào hai bàn tay và trao chén thánh đựng rượu nước, như dấu chỉ từ nay các vị có thể dâng thánh lễ.  Đoạn giám mục cử hành thánh lễ cùng với các vị tân linh mục.  Sau cùng, giám mục c̣n đặt tay lần nữa trên đầu các vị tân linh mục mà đọc rằng: “Hăy nhận lấy Chúa Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai th́ họ được tha, cầm giữ ai th́ họ bị cầm giữ”.

 

   Đọc đoạn trên, nếu ngày nay c̣n có người nào tin tất cả những điều trong đó th́ gơ vào đầu họ ta sẽ nghe được một tiếng vang lớn.    Thực chất của bí tích truyền chức linh mục ra sao? Không ai biết rơ hơn linh mục Joseph McCabe, một người đă hành nghề linh mục hơn 20 năm, khi ông viết:

 

  “Bí tích”, lẽ dĩ nhiên, chỉ là một phần của hệ thống nâng cao giới linh mục, cho họ những lợi ích cá nhân to lớn trên đám tín đồ thông thường.

 

   Nó đúng là như vậy trong bí tích “ḍng thánh” hay là phong chức linh mục..  Nghi thức (truyền chức linh mục) chỉ là một tập hợp những hành động huyền bí với những lời cầu nguyện cổ lỗ có tính cách rối răm, mê hoặc và lạ lùng đối với khán giả bên ngoài.  Người ta cho là nó có hiệu lực đến độ sau đó ông linh mục có thể có quyền ra lệnh cho quỷ đi đâu th́ đi, tha tội, và biến mẩu bánh thành Chúa Ki-Tô.  Đó là điều người láng giềng Công giáo của bạn tin thật như vậy. [12]

  

   Tại sao một linh mục đă hành nghề trong nhiều năm lại có thể viết như vậy?  Bởi v́ ông ta là người có đầu óc, là người không thể bán rẻ lương tâm để truyền bá những điều chính ḿnh không tin.  Ông ta là một học giả rất nổi tiếng của Mỹ, đă nhận ra những điều hoang đường lừa dối đám tín đồ thấp kém trong các bí tích.  Ông ta không c̣n tin vào hiệu lực của các bí tích, v́ thật ra không có ǵ có thể dựa vào đó mà tin.  Rơ ràng là những bí tích đă được bày đặt ra để lừa dối những kẻ nhẹ dạ, cả tin, và những quyền lực mà tín đồ Công giáo tin rằng nằm trong tay linh mục thật ra chỉ là những ngụy quyền tự tạo. 

 

   Cũng theo Linh mục Joseph McCabe th́ 7 “bí tích” trong Công giáo là hệ thống tỉ mỉ nhất về ảo thuật mà xưa nay chưa hề có một tôn giáo văn minh nào phát minh ra được.  Từ bí tích đầu cho đến bí tích cuối, chúng được thiết kế để tăng thêm quyền lực và uy tín của giới giáo sĩ.”    [The most elaborate system of magic which any civilized religion ever invented.  From first to last they are designed to enhance  the power and prestige of the clergy.]

 

   Thật vậy, tất cả chỉ là một mớ luận điệu thần học mê tín, huyễn hoặc, hoàn toàn không có một căn bản hay bằng chứng thuyết phục nào, của giáo hội phát minh ra và nhét vào đầu tín đồ từ khi c̣n nhỏ.  V́ bị nhồi sọ từ nhỏ nên các tín đồ đặt tất cả những niềm tin của ḿnh vào những lời có tính cách lừa dối của giới chăn chiên mà không hề nhận ra những sự vô lư và mâu thuẫn cùng cực trong những nghi thức lễ tiết được gọi là “bí tích” này.

 

   V́ nắm trong tay quyền hành tuyệt đối đối với đám con chiên thấp kém ở dưới, nên trong lịch sử, giới  linh mục đă gây tác hại nhiều cho nhân loại.  Lẽ dĩ nhiên các tín đồ Công Giáo không hề biết đến những tác hại này, và v́ được nhồi sọ từ nhỏ, họ luôn luôn tin tưởng Linh mục phải là người thay Chúa để dạy dỗ họ và cho họ lên thiên đường.  Sau đây chúng ta hăy điểm qua vài nhận định và ngay cả những hành động để đối phó với giới linh mục để thấy rằng bản chất của tập đoàn linh mục là như thế nào..

 

   Sự tác hại rơ rệt nhất của giới linh mục là ngay trong nước Pháp, được coi là Trưởng Nữ của Giáo hội Công giáo La Mă.  Nếu không th́ tại sao, trong cuộc Cách Mạng 1789, người dân Pháp đă chính thức đưa Lư Trí lên bàn thờ Chúa, đă tàn sát trên 17000 Linh Mục,  30000 Nữ Tu và 47 Giám Mục, và đă dẹp mọi Trường Ḍng, Trường Học Công Giáo, những Ḍng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện của Giáo hội v..v.. [Xin đọc The Decline and Fall of  The Roman Church của Linh mục Ḍng Tên Malachi Martin, Giáo sư tại Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng, và đă phục vụ trong Vatican dưới triều Giáo hoàng John XXIII, trang 196: “France, “eldest daughter of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and libraries...”] 

 

   Và năm 1877, khi Giáo hội Công giáo vận động phục hồi quyền năng của giới Linh mục th́ Thủ Tướng Pháp Léon Gambetta đă tuyên bố trong Hội Trường: “Giáo quyền Linh Mục:  Đó là kẻ thù” [Le Cléricalisme: voilà l’ennemi!].  Ở Mễ Tây Cơ trước đây có luật cấm các Linh mục không được mặc áo chùng thâm ra đường và không được lập các trường học.  Trong cuốn  Freedom’s Foe – The Vatican, The Pioneer Press, London, Adrian Pigott, viết, trang 51:  “Giáo sư đại học W. K. Clifford khuyến cáo: “Nếu có một bài học lịch sử nào cho chúng ta th́ đó là – Hăy giữ con cái tránh xa ông Linh mục – nếu không hắn sẽ làm cho chúng thành những kẻ thù của Nhân Loại.” [If there is one lesson which History forces upon us, it is this – Keep your children away from the Priest – or he will make them the enemies of Mankind] và đưa ra vài nhận định về linh mục như sau, trang 52:

 

   “Linh mục Công giáo La Mă chủ yếu là một điệp viên của Vatican,  và bắt buộc phải chỉ đạo đàn chiên theo lệnh mà hắn ta nhận được từ những cố vấn chính trị của giáo hoàng.  Hắn ta là cảnh sát của giáo hoàng – và cũng là người thu thuế của giáo hoàng…

   Thật là sai lầm đối với chúng ta khi qui trách quá đáng cho chính các linh mục, v́ nhiều người trong họ là những người đáng kính mà có thể trong thâm tâm không thích phải thi hành nhiều hoạt động mà Vatican ra lệnh.  [Theo lệnh của Vatican, giới giáo sĩ ở Đức, Ư và Pháp phải đứng ra ca tụng Hitler, Mussolinilinh và Pétain (Pháp gian). Hông Y Tổng Giám Mục ở Florence (Ư) c̣n hôn Mussolini trước quần chúng.]  Nhưng kỷ luật sắt có thừa của Công giáo đến độ ảnh hưởng của linh mục Công giáo La Mă trên đàn chiên thường đưa đến cảnh khốn khổ “kẻ mù dẫn dắt người mù”.  Là người Anh, người Mỹ, Peru, Ba Lan hay Cuba, [Việt Nam nữa chứ] giám mục và linh mục Công giáo đă hoàn toàn lệ thuộc Vatican để thi hành những huấn thị của những người ở trong cái Pḥng Kín ở La Mă – ngay cả khi những lệnh đó có hại cho chính quốc gia của họ hay xúc phạm đến lư trí của họ[Phát biểu của Giám mục Nguyễn Chí Linh cho chúng ta thấy đúng như vậy].  Nói cách khác, họ như là nô lệ trong hệ thống chính trị của Vatican.  Không lạ ǵ, Công Giáo La Mă thành công nhất ở trong những nước thuộc Châu Mỹ La-Tinh, nơi đây người dân cả tin và mê tín; trong khi ở những nước miền Bắc, dân chúng có đầu óc độc lập, Công giáo chỉ là thiểu số.” [13]

 

   Những điều Adrian Pigott viết ở trên không phải là không có cơ sở nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu xa về Công giáo.  Một trí thức Công giáo đạo gốc Việt Nam, Charlie Nguyễn, đă từng viết:

 

    Bảy triệu tín đồ Công giáo tại quốc nội là đạo quân thứ năm bản địa dưới sự lănh đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng này do Vatican tuyển chọn và phong chức nên. Hội đồng Giám mục Việt Nam hiện nay gồm toàn những cán bộ tuyệt đối trung thành với Vatican. Họ sẵn sàng phản bội tổ quốc Việt Nam v́ tổ quốc thật của họ là “nước Chúa Vatican”!.

 

   Như trên đă nói, giới linh mục dựa vào quyền năng thần thánh tự tạo của ḿnh để làm phép quỷ thuật trong 6 bí tích của Công giáo, khai thác đầu óc yếu kém của tín đồ, và từ đó nắm giữ đầu óc tín đồ, chỉ đạo họ đi theo con đường “quên ḿnh trong vâng phục” Vatican.  Giáo hội Công giáo đă nhồi vào đầu óc tín đồ từ khi c̣n nhỏ, rằng tất cả những ǵ giáo hội bày đặt ra và bắt tín đồ phải tin đều là thật, và đó là những "bí tích" hay "nhiệm tích", nghĩa là những tích bí mật và màu nhiệm do Chúa đặt ra, cho nên tín đồ chỉ việc tin, không cần hiểu, dù rằng,  hầu hết những tín lư và bí tích trong Công Giáo không có căn bản trong Thánh Kinh, và nhất là Giê-su tin rằng ngày tận thế đă gần kề, ngay khi một số đệ tử của ông c̣n sống, như được viết rơ trong Tân Ước, cho nên chuyện Giê-su bày đặt ra những bí tích chỉ là chuyện tiếu lâm thời đại.. 

 

   Khi trí tuệ nhân loại chưa mở mang th́ những cái gọi là "bí tích" hay “tín lư” (dogma) đó được tín đồ tin theo, không bàn căi.  Nhưng tiến hóa là một định luật của vũ trụ trong đó có con người, cho nên, với tŕnh độ hiểu biết của con người ngày nay, những niềm tin mù quáng, vô căn cứ, hoang đường, phi lôgic, phản lư trí, phản khoa học v..v.. vào những "bí tích" trong Công Giáo không c̣n chỗ đứng nữa, ít ra là trong giới có học, trí thức và khoa học, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội.  Trong những xă hội Âu Mỹ, số người đi lễ nhà thờ giảm sút một cách rơ rệt.  Điều này chứng tỏ những "bí tích" không c̣n hấp dẫn đối với những tín đồ có tŕnh độ hiểu biết cao.  Hiện tượng  nhà thờ vắng khách ở Âu Châu là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.  Trong khi đó, tại những nước chậm tiến như Phi Châu, Nam Mỹ, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam cũng như trong những cộng đồng đông đảo người Việt di cư, tŕnh độ dân trí c̣n thấp, cho nên tín đồ Công giáo vẫn c̣n đi lễ nhà thờ đông đảo và tin vào những cái gọi là "bí tích" mà Giáo hội dạy các tín đồ là do Chúa đặt ra, nhưng thực ra chỉ là Giáo hội đặt ra để tạo quyền lực tự ban cho giới chăn chiên trong việc kiểm soát và nắm giữ đầu óc tín đồ.  Tuy nhiên, ngày nay có nhiều dấu hiệu cho thấy các quốc gia Phi Châu, Nam Mỹ và ngay cả trong những ốc đảo Công giáo ở Việt Nam, con người đă bắt đầu thức tỉnh, song song với sự mở mang dân trí trong những quốc gia này.  Người Công giáo Việt Nam cần phải biết rơ nhiều hơn nữa về chính tôn giáo của ḿnh để có thể thấy rằng, lệ thuộc Vatican, dù là về tâm linh là chuyện phi lư, không có cơ sở trong Thánh Kinh, khoan kể như vậy là tự đặt ḿnh ra khỏi cộng đồng dân tộc, v́ Vatican, như một quốc gia, là một ngoại bang, và như một tôn giáo, đă có một lịch sử đẫm máu hàng triệu người vô tội và một lịch sử không mấy tốt đẹp khi truyền vào Việt Nam, biến các tín đồ Công giáo Việt Nam thành tập đoàn những kẻ phản bội quốc gia, và gây nên sự bất ḥa giữa Lương và Giáo mà theo Linh Mục Lương Kim Định, xem ra không sao xóa sạch được.  Ngày nay, người Công giáo Việt Nam có khuynh hướng trở về với Dân Tộc, ít nhất là theo sự tuyên truyền của Giáo hội Công giáo, nhưng nếu c̣n lệ thuộc Vatican, th́ con đường này khó có thể thực hiện với thành tâm.  Đây là một vấn nạn mà người Công giáo Việt Nam nên để tâm suy nghĩ kỹ.

 

   Có cái ǵ có thể hoang đường và lố bịch hơn là một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời??  Nhưng trong thời Trung Cổ ở Âu Châu,  thời đại của đức tin (The ages of faith), tuyệt đại đa số người dân thuộc lớp người ít học hoặc vô học, mù chữ, cho nên những luận điệu thần học  hoang đường, lố bịch như vậy không thành vấn đề đối với họ, v́ giáo hội hứa hẹn với họ một chỗ trên thiên đường, do đó họ có thể tin bất cứ điều ǵ.  Nhưng bất hạnh thay, ngày nay có vẻ như vẫn c̣n có nhiều người, hầu hết ở trong những ốc đảo dân trí thấp kém nhất trong xă hội ở một số nước nghèo, nhỏ, kém phát triển,  thực sự tin như vậy, và chẳng cần nói chúng ta cũng biết họ thuộc lớp người nào. Chắc quư độc giả không tin v́ vượt ngoài sự tưởng tượng của con người trong thời đại ngày nay.  Không hẳn vậy, một thí dụ điển h́nh là ở Việt Nam:  trong một thư của 12 môn đồ của linh mục Nguyễn Hữu Trọng đệ lên Giáo hoàng John Paul II và Hồng Y Phạm Đ́nh Tụng năm 1998, có nói đến một số vấn nạn trong nội bộ Công giáo Việt Nam trong đó chúng ta có thể đọc được đoạn điển h́nh sau đây:

 

   “Các Giám Mục, Linh Mục của chúng ta thường làm ngược lời Chúa, tranh thủ quyền lực, tiền tài, cấu kết với các thế lực để mở mang nước Chúa, nên đă sa vào con đường sắc dục một cách bệnh hoạn, quấy rối t́nh dục bừa băi, trẻ không tha, già không thương, làm cho Linh Mục sao nhăng việc truyền giáo và ham mê việc truyền giống.… Giáo phận Saigon có một số giáo xứ nổi tiếng về truyền thống có các linh mục truyền giống như Xóm Chiếu, Thị Nghè, Vườn Xoài, Tân Định... Hội đồng giáo xứ Tân Định biết rơ các LM bê bối của ḿnh, nhưng không dám làm ǵ cả, sợ mang tiếng.

   Các cha đẹp trai, "cơm Đức Chúa Trời ngon, con Đức Chúa Trời đẹp", lắm tiền, nhiều quyền, no cơm ấm cật, không ai kiểm soát được…“tối làm t́nh sáng làm lễ”;  “Khi Giáo dân tŕnh lên Bề trên những yếu đuối của các Linh Mục th́ thường được dạy bảo rằng: "các con đừng nói hành các cha kẻo mắc tội với Chúa, đừng xét đoán các cha kẻo bị Chúa phán xét."  Nghe dạy như thế, nhiều giáo dân sợ hăi vô cùng, phải nhắm mắt làm ngơ trước những đồi bại của các Linh Mục ma giáo, khéo che đậy và nịnh bợ các Đấng Bề trên!”

 

   Đây là một tài liệu quư giá xuất phát từ nội bộ Công Giáo Việt Nam, đă được đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tuyển Tập 2, trang 154-171, Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo phát hành, Texas, 1998.  Các “bề trên” ở Việt Nam vẫn c̣n luôn luôn đưa Chúa ra làm con ngoáo ộp để đe dọa tín đồ, nhốt các tín đồ thấp kém vào trong khuôn phép, và cũng cho thấy tŕnh độ của giáo dân ra sao mà không dám nói đụng đến các cha v́ sợ mắc tội với Chúa, bị Chúa phán xét không cho lên thiên đường.  Quả thật là tội nghiệp.  Nhưng ngày nay, nếu mang sắc lệnh trên đọc cho dân Mỹ nghe th́ họ sẽ cười bể bụng, v́ nguyên trên đất Mỹ đă có trên 5000 Linh mục bị truy tố ra ṭa v́ tội loạn dâm, một số nằm bóc lịch trong tù, và giáo hội Công giáo đă phải bỏ ra hơn 2 tỷ đô la để bồi thường cho các nạn nhân t́nh dục của các cha..

 

   Tin trên VietCatholic News (Thứ Bảy 31/05/2008 06:46) cho biết:

 

VATICAN (Zenit.org).- Văn kiện 50 trang do Ṭa ThánhVatican phát hành khẳng định Đức vâng lời trong đời sống tu sĩ là một cuộc hành tŕnh trong sự t́m kiếm Chúa, nhắm trở nên ư thức về ư định t́nh yêu của Người…

   Một thông cáo do bộ phổ biến tường thuật: “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự t́m kiếm Chúa và ư muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu. […] Đức vâng lời Kitô hữu và tu sĩ, như vậy, không xuất hiện đơn giản như sự thực hiện những luật và những quyết định giáo hội hay tu sĩ, nhưng như động lượng của một cuộc hành tŕnh trong sự t́m kiếm Chúa, tức là nghe Lời Người và trở nên ư thức đối với quyết định của Người về t́nh yêu—sự kinh nghiệm căn bản của Chúa Kitô, Đấng, v́ t́nh yêu, đă vâng lời cho tới chết trên thập giá.

 

   Chúa đă chết cách đây gần 2000 năm rồi, với bờ môi khép kín.  Những lời mà Giáo hội cho là “Lời Chúa” chẳng qua chỉ là những lời của Giáo hội đưa ra và bảo đó là “Lời Chúa”.  Đoạn văn trên cho thấy Chúa chỉ là cái bung xung để Giáo hội nấp sau đó, tự tạo quyền lực cho giới chăn chiên trong hệ thống quyền lực của Giáo hội: Giáo dân phải vâng lời Linh mục, Linh mục phải vâng lời Giám mục, Giám mục phải vâng lời Tổng Giám mục , và cứ thế vâng lời lên đến Giáo hoàng là người chủ chăn tuyệt đối, không thể sai lầm.


  Thực chất “Đức vâng lời” hay “Quên ḿnh trong vâng phục” nằm trong sách lược nhồi sọ chủ yếu của giáo hội để nhốt tín đồ vào trong một ngục tù tâm linh, suốt đời làm nô lệ cho các bề trên.  Chúng ta nhớ rằng, căn bản “đức vâng lời” trong Ca-Tô Giáo Rô-ma đă được khẳng định bởi Thánh Ignatius of Loyola, người sáng lập ḍng Tên, như sau:

 

   Chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng tin rằng cái mà chúng ta thấy là trắng th́ thực sự là đen, [hoặc thấy là đen th́ thực sự là trắng, v́ Giáo hội Ca-Tô đen ng̣m nhưng vẫn tự nhận là trắng. TCN] nếu hàng giáo phẩm trong Giáo hội quyết định như vậy.

   [John Dollison, Pope-Pourri, p. 174: Ignatius of Loyola: We should always be disposed to believe that which appears white is really black, if the hierarchy of the Church so decides.]

  Chúng ta cũng nên nhớ, Công Giáo Rô-ma không phải là một tôn giáo thuần túy về đạo lư và tâm linh, mà là một định chế độc tài và có rất nhiều hoạt động thế tục trong xă hội như chính trị, giáo dục, kinh tài v..v.., và “đức vâng lời” của tín đồ không chỉ áp dụng trong phạm vi tín ngưỡng mà c̣n trong mọi quyết định của giáo hội trong mọi lănh vực trong xă hội.  Vụ cầu nguyện ở Ṭa Khâm Sứ ở Hà Nội vừa qua cho chúng ta thấy rơ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đă sử dụng “đức vâng lời” huy động giáo dân, kể cả trẻ con, vác búa, ḱm, và xà beng đi cầu nguyện và phá sập cổng sắt Ṭa Khâm Sứ, với những hành động sặc mùi xách động chính trị chứ không phải là thuần túy tôn giáo.  Đó là sự nguy hại của “đức vâng lời” trong Công Giáo.  Cũng v́ cái “đức vâng lời” này mà khi xưa giáo dân đă vâng lời các giáo sĩ ngoại quốc và linh mục bản địa đi phá hủy, cướp bóc chùa chiền, cùng giúp thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, như vụ Linh Mục Trần Lục được giám mục Puginier ban phúc lành để dẫn 5000 giáo dân cùng với quân đội Pháp triệt hạ trung tâm kháng chiến Ba Đ́nh của Đinh Công Tráng.

   Giáo hội luôn luôn mang Chúa ra làm bung xung để đạt những mục đích thế tục của ḿnh.  Điều này rơ ràng nhất trong vài câu sau đây trong bản văn của Vatican:

  Bản tiếng Việt:  “Trước hết, bản văn xem xét chủ đề đức vâng lời tu sĩ, gốc của nó được thấy trong sự t́m kiếm Chúa và ư muốn của Chúa là điều đặc biệt đối với những tín hữu”

 

  Bản tiếng Anh:  “Đức vâng lời”, tài liệu của Vatican nói rằng, phải nên hiểu bởi tín hữu như là “một con đường để giúp cho cộng đồng và tổ chức t́m kiếm Chúa và hoàn thành ư muốn của Chúa  

     [Obedience, the Vatican document says, should be understood by religious as "a way to help the community or institute to seek and achieve the will of God.]

 

   Nhưng Chúa đă chết cách đây gần 2000 năm rồi, vậy những vấn nạn thế tục ngày nay mà giáo hội luôn luôn dự phần vào th́ Chúa có biết ǵ không, thí dụ như cuộc tranh luận giữa “Thuyết Tiến Hóa” và “Thuyết Sáng Tạo” của Chúa?  Vậy ai giám khẳng định là “ư Chúa” là như thế nào?  Mặt khác, giáo lư Công Giáo dạy rằng Chúa có 23 thuộc tính, trong đó có 3 thuộc tính sau đây: “không ai thấy được” [invisible], “không ai biết được” [unknown], và “không ai hiểu được” [incomprehensible], và chúng ta cũng biết, giáo hoàng, linh mục v..v.. cũng chỉ là người thường như chúng ta, có khi c̣n tệ hại hơn nhiều, làm đủ mọi tội ác, vậy làm sao biết được ư Chúa là như thế nào.  Do đó, sự thật là, những điều giáo hội dạy là ư Chúa, chẳng qua đó chỉ là những thủ đoạn bịp bợm, dùng Chúa để mê hoặc đám tín đồ dốt nát mà thôi, v́ có ai biết ư Chúa là như thế nào.

   Nhưng tại sao ngày nay mà Vatican lại phải kêu gọi giáo dân phải tuân phục “đức vâng lời”.  Điều này rất dễ hiểu.  Bởi v́ ngày nay trong thế giới Âu Mỹ chẳng c̣n mấy người c̣n vâng lời Vatican nữa, ngoại trừ đám dân ngu dốt t́nh nguyện làm nô lệ cho Vatican v́ một cái bánh vẽ trên trời.  Suy thoái ở Âu Mỹ, giáo hội dùng Chúa để mê hoặc đám dân ngu dốt ở những nước kém mở mang ở Châu Á, trong đó có Việt Nam. Đă từ lâu, trong thế giới Tây phương có cụm từ “Catholic Cafeteria”, có nghĩa là: Ca-tô giáo là một tôn giáo trong đó có những món ăn tự chọn, ai thích ăn món nào th́ chọn món đó.  Tín đồ không c̣n nhắm mắt “vâng lời” bề trên nữa, mà làm theo ư ḿnh, coi những điều “giáo hội dạy rằng…” như là không có.  Vài con số thống kê sau đây trên Internet cho chúng ta biết thực trạng của vấn nạn này.

   1. Về các cuộc hôn phối trong Công Giáo.  Giáo hội thường dạy hôn phối là một bí tích của Chúa thành lập nên một khi đă kết thành vợ chồng th́ không thể ly dị trừ trường hợp đặc biệt phải có sự cho phép của Ṭa Thánh.  Thực tế ra sao?

   Những cuộc hôn phối Công Giáo từ 1965 giảm đi 1/3.

   Hàng năm số hủy bỏ hay vô hiệu hóa bí tích hôn phối tăng từ 338 năm 1968 tới 50,000 năm

   2002.

      [Catholic Marriage.   Catholic marriages have fallen in number by one-third since 1965.
   The annual number of annulments has soared from 338 in 1968 to 50,000 in 2002. ]

   2. Giáo hội dạy rằng đi lễ nhà thờ là một tín điều, không đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là một tội trọng nhưng thực tế chúng ta đă biết ở Âu Châu, có nơi số tín đồ đi xem lễ ngày chủ nhật chỉ là khoảng 2%.  Riêng ở nước Mỹ th́ chúng ta có vài con số thống kê sau đây.

   Năm 1958 có 74% tín đồ Ca-tô đi xem lễ ngày chủ nhật.

   Năm 1965 c̣n có 65%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Fordham

   Năm 1994, con số này tụt xuống 27%, theo cuộc nghiên cứu của đại học Notre Dame.

   Năm 2000, con số đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật là 25%, theo đại học Fordham.

 

   [Attendance at Mass.

   In 1958, a Gallup Poll reported that 74% of Catholics then attended church on Sundays.

   In 1965, it seems that 65% attended, according to a recent Fordham University study.

   In 1994, it seems that 27% attended church, according to study by the University of Notre  Dame.
   In 2000, the rate was 25%, according to the Fordham study
.]

 

   3.  Về các bí tích và các giáo luật của Công Giáo Rô-ma:

70% tín đồ Công Giáo trong lớp tuổi từ 18 đến 44 tin rằng “bí tích ban thánh thê”, nghĩa là ăn bánh thánh, là một biểu tượng để nhớ lại Giê-su mà thôi [chứ không phải là ăn thịt uống máu Chúa như giáo dân Việt Nam thường tin]

90% giáo sư thường dân dạy về tôn giáo bác bỏ giáo điều của Giáo hội dạy về ngừa thai.

53% tin rằng một tín đồ Công giáo có thể phá thai và vẫn là một tín đồ Công giáo ngoan đạo.

65% tin rằng người Công giáo có thể ly dị và tái hôn.

75% tin rằng một tín đồ Công giáo ngoan đạo không cần phải đi xem lễ ngày chủ nhật.

 

[Indicative beliefs

70% of all Catholics in the age group 18 to 44 believe the Eucharist is a "symbolic reminder" of Jesus.
90% of lay religious teachers reject church teaching on contraception.

53% believe a Catholic can have an abortion and remain a good Catholic.

65% believe that Catholics may divorce and remarry.

75% believe one can be a good Catholic without attending mass on Sundays.]

 

   Để bảo vệ quyền năng tuyệt đối của linh mục đối với giáo dân, Công Đồng Trent c̣n tuyên bố: Ngay cả đối với những linh mục đang sống trong tội lỗi nghiêm trọng [mortal sins là những tội trọng mà sau khi chết linh hồn sẽ bị đọa đầy xuống hỏa ngục vĩnh hằng, theo giáo lư Công giáo], cũng vẫn có cùng nhiệm vụ tha tội như  là các giáo sĩ của Chúa Ki-Tô.” (Even those priests who are living in mortal sin exercice the same function of forgiving sins as ministers of Christ.)  V́ thế cho nên tới ngày nay, đặc biệt trên đất Mỹ, vẫn có những linh mục tối loạn dâm, ngày tha tội, hay theo t́nh h́nh ở Việt Nam ở trên, “tối làm t́nh sáng làm lễ”, và lẽ dĩ nhiên, vẫn có quyền  tha tội cho các con chiên.

 

   Qua những sắc lệnh và chính sách mê hoặc nhồi sọ của Giáo hội về một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời, Giáo hội Công Giáo đă thành công dựng lên chức vụ linh mục như là một nhà độc tài trong cái gọi là “hội thánh”, ngự trị trên đám giáo dân thấp kém.  Sự thành công này thực hiện được là nhờ giới linh mục đă cấy vào đầu óc tín đồ từ khi c̣n nhỏ những giáo lư phi thực tế như “Cha cũng như Chúa”, “Cha có quyền tha tội”, “Cha giữ ch́a khóa thiên đường”, “Đụng đến Cha là bị Chúa phạt”, “hỏa ngục” v..v..  Thực tế cho cho chúng ta thấy rằng trong những ốc đảo Công Giáo dân trí c̣n thấp kém, giáo dân đă được đưa vào khuôn đúc phải hoàn toàn tuân phục ông linh mục.  Linh mục kiểm soát và quyết định mọi việc cho giáo dân, từ việc đi lễ nhà thờ, học trường học nào, lập gia đ́nh ra sao, nuôi nấng con cái như thế nào, đọc cái ǵ, và nếu tham dự chính trị th́ phải theo sự chỉ đạo của linh mục.  Tất cả những điều này đều liên hệ đến “bí tích” xưng tội, v́ với “bí tích” này linh mục có thể biết rơ về nội tâm, những khao khát của tín đồ và gia đ́nh họ.  Thật vậy, một tín đồ Công giáo tỉnh ngộ, John Carrara, đă viết trong cuốn Romanism Under The Searchlight, trang 70, như sau:

 

   Pḥng xưng tội là là một hệ thống gián điệp – một hệ thống về chế độ nô lệ.  Linh mục là một gián điệp trong mọi nhà.  Nhiều tín đồ Công giáo bị “sốc” v́ những câu hỏi đặt cho họ.  Chúng ta hiểu ngay tại sao hầu hết các tín đồ Công giáo đều nhút nhát, sợ ông linh mục và tuyệt đối tuân phục những ư muốn của ông ta v́ họ biết rằng, qua pḥng xưng tội, ông linh mục đă nắm chắc những thói quen và đời sống của họ mà không có ai khác biết được.[14]

 

   Nói tóm lại, với vai tṛ linh mục được giáo hội dựng lên, ảnh hưởng của linh mục trên giáo dân thật là to lớn, và những giáo dân thấp kém không có khả năng trí thức để đặt nghi vấn, đừng nói đến thay đổi. Ảnh hưởng này đặt nặng trên bờ vai của giáo dân từ ngày sinh cho đến ngày chết.   

 

   Một nữ nhân Công Giáo ở miền Nam Ái Nhĩ Lan (miền Công giáo) tỉnh ngộ đă viết:

 

   “Những người nào chưa từng bị ở dưới cái ảnh hưởng này, mà từ nhỏ đă được cho phép tự do ngôn luận, tự do tri thức, và không thấy sự phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân, th́ không thể, không bao giờ có thể hiểu được ảnh hưởng của các linh mục Công giáo La mă trên những giáo dân trong quốc gia của họ.” [15]

 

   Đúng vậy, nếu không có loại ảnh hưởng này, th́ ở Việt Nam, năm 1954, Lansdale không thể thành công kéo 700000 giáo dân Công Giáo miền Bắc đi theo Chúa và Đức Mẹ chạy trước, cha con kéo nhau chạy sau, di cư vào Nam để tránh Cộng Sản, và ở trong Nam, không thể có cảnh giáo dân Hố Nai, Gia Kiệm vác gậy gộc đi theo linh mục Hoàng Quỳnh làm loạn ở Saigon, hô to khẩu hiệu: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”. 

 

   Nh́n vào hệ thống quyền lực của Công Giáo, chúng ta không thấy Chúa Giê-su ở đâu.  Ông ta bị đưa vào hậu trường, lẩn khuất đâu đó đàng sau ông linh mục, đàng sau Đức Mẹ, và đàng sau giáo hội.  “Cha tha tội cho con” chứ không phải là “Chúa tha tội cho con”.  Cha cho con ăn bánh thánh để hiệp thông với Chúa chứ con không thể đến thẳng với Chúa.  Con muốn lên thiên đường th́ cầu với Đức Mẹ chứ không cầu với Chúa, và tất nhiên phải qua ngả Vatican, v́ thánh Phê-rô c̣n ngồi yên vị, nắm chắc trong tay cái ch́a khóa thiên đường đen ś, ở trong thánh đường Phê-rô, Vatican

 

   Qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng, sở dĩ Giáo hội Công giáo có thể làm tất cả những tội ác, các linh mục và cả nữ tu có thể loạn dâm đến mức độ như vậy, là v́ tín đồ Công giáo bị mê hoặc bởi một cái bánh vẽ cứu rỗi trên trời, một sản phẩm lừa dối của Giáo hội trước đám con chiên thấp kém, cả tin, cho nên mù quáng tuân hành “đức vâng lời” của Công giáo.  Nhưng ngày nay, vấn nạn linh mục, và cả giám mục, loạn dâm đă nổ ra như bom trên khắp thế giới.  Tín đồ trong thế giới Tây phương không c̣n mù quáng tin theo và vâng phục một Giáo hội mà họ cảm thấy ngượng ngùng và xấu hổ trước những chuyện đồi bại của giới chăn chiên mà từ trước tới nay họ thường coi như là những “Chúa thứ hai”.  Công giáo đă phá sản, hiện nguyên h́nh là một tổ chức thế tục đồi bại nấp sau bộ mặt tôn giáo.  Mặt mũi giáo hoàng và uy tín của Giáo hội đă nhem nhuốc trước thế giới.  Người dân Tây phương đă nhận ra bộ mặt thật của Công giáo, đưa đến t́nh trạng suy thoái thê thảm của Công giáo trong phương trời Âu Mỹ.  Than ôi!  Biết đến bao giờ các tín đồ Công giáo Việt Nam mới có thể theo kịp người dân Tây phương để mà thoát xác con chiên, trở lại làm con người đúng nghĩa của con người, và can đảm từ bỏ hi vọng, thật ra chỉ là một ảo vọng, về một cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời.

 

   Tôi thành thực ước mong người Công Giáo cũng như Tin Lành Việt Nam hăy nhận thức được những sự thật bất khả phủ bác như sau:

   1. Đọc Tân ước, chúng ta thấy Giê-su tin rằng ngày tận thế đă gần kề và hoang tưởng rằng ông ta sẽ trở lại trần trong vinh quang và trong một tương lai rất gần, ngay khi một số người theo ông ta vẫn c̣n sống. Do đó, Giê-su không hề có ư thành lập một giáo hội để truyền đạo của ông ta như Giáo hội Công giáo thường ngụy nhận như vậy. Đây là điểm đồng thuận của các học giả ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo. Điều này cho thấy tất cả những giáo hội như Công giáo và Tin lành đều là các ngụy giáo hội, và các giáo hoàng của Công giáo chỉ là ngụy giáo hoàng, vai tṛ “đại diện của Chúa” (Vicard of Christ) chẳng qua chỉ là vai tṛ tự nhận để lừa dối đầu óc của những người đầu óc yếu kém, cả tin, và tất nhiên không thể có quyền thay Chúa để cho con chiên lên thiên đường, v́ chính Chúa cũng không có khả năng như vậy.

2. Chương tŕnh “cứu rỗi” của Giê-su, do sự hoang tưởng của Giê-su, chỉ để cứu người Do Thái, tuyệt đối không để cứu người Việt mà chắc chắn vào thời cách đây 2000 năm, Giê-su cũng như phần lớn các dân tộc trên hoàn cầu không hề biết người dân Việt là ai. Cho nên thực chất công cuộc cứu chuộc và cứu rỗi của Giê-su mà Giáo hội hứa hẹn với tín đồ chỉ là một cái bánh vẽ trên trời.

3. Một Thượng đế như được viết rơ trong Thánh Kinh với những thuộc tính như:  ghen tuông đố kỵ và hănh diện v́ thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những tṛ tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường th́ có đáng để cho con người kính trọng và thờ phụng không?  Cho nên con người không cần  phải sợ hăi và hi vọng ở một sự tha tội của một Thượng đế ác ôn như vậy mà bản chất c̣n tàn bạo và độc ác hơn con người nhiều?

4. Những ǵ Giáo hội nói về ơn cứu rỗi của Giê-su cũng như vai tṛ “đồng công cứu chuộc” của Maria, mẹ của ông ta,  chỉ là những luận điệu thần học ngụy tạo không hề có một căn bản nào trong Kinh Thánh và không thể có giá trị ǵ đối với những người không phải là dân Do Thái.  Nếu chúng ta cứ tự giam ḿnh trong sự lừa dối thần học của của Ki Tô Giáo th́ thật ra chúng ta chỉ sống trong một niềm hi vọng hăo huyền, không bao giờ có thể thành tựu

5. Các bậc lănh đạo trong Công Giáo, từ Giáo hoàng trở xuống tới các Linh mục, đă từ bỏ niềm tin về “tội tổ tông” và về “thiên đường” và “hỏa ngục”, c̣n chúng ta th́ sao, vẫn c̣n tin vào những bí tích bịp bợm như “rửa tội”, “xưng tội” và hi vọng vào một cuộc sống đời đời ở trên một thiên đường giả tưởng?

   Người Ki Tô Giáo nói chung, Công giáo nói riêng, có quyền không tin những ǵ tôi viết ở trên, những điều bất khả phủ bác, và tiếp tục tin vào cái huyền thoại “cứu rỗi” của Giê-su, một huyền thoại cổ xưa của người Do Thái được tóm tắt như sau theo nhận định của một người trên Internet:

 

   Có một huyền thoại cổ lỗ sĩ về một Thiên Chúa làm t́nh với người mẹ trên thế gian của hắn để đẻ ra chính hắn [theo thuyết Ba Ngôi Thiên Chúa] để rồi lớn lên th́ bị giết [nhưng không hẳn vậy], và sự hi sinh chẳng có giá trị ǵ đó bằng cách nào lại có nghĩa là mọi người khi chết sẽ lên thiên đường, nghĩa là, nếu họ tin vậy; bằng không th́ họ sẽ phải xuống hỏa ngục và chịu khổ vĩnh viễn. [16]

 

   Những đây chính lại là vấn nạn của một đức tin mù quáng.

 

Trần Chung Ngọc


 


[1] The Times, April 2, 2010: The Vatican has moved to block an attempt to force the Pope to appear in court in the United States, after a lawyer filed a motion seeking his sworn testimony on what the Vatican knew about paedophile scandals.  Giuseppe dalla Torre, head of the Vatican City Tribunal, said that Benedict XVI had diplomatic immunity as a head of state.]

 

[2] Roman Catholicism, p. 27:  The Roman Catholic Church applies to herself the term “holy”, but the fact is that through the ages and in he official capacity the Roman Church has been guilty of the most atrocious crimes, practiced in the name of religion, including murder, robbery, persecution of all kinds, bribery, fraud, deception, and practically every other crime known to man.  Such crimes have been practiced not merely by church members, but by popes, cardinals, bishops, and priests who, as a study of church history will show, undeniably were evil men…

   John Calvin called the church of Rome in his day a foul harlot rather than the spouse of Christ, because of the low moral standard practiced and tolerated by her priests.

[3] Shorto, Russell, Gospel Truth, Riverhead Books, New York, 1997 : The Last Supper, the Virgin Birth, the Resurrection: one by one the great beams of Christianity are being tested. Biblical scholars – once the guardians of Christian theology – are now using the tools of archaeology, anthropology, linguistics, computer science, and even particle physics to probe the question “Who was Jesus?” The result is a radical revision of the Gospel story that is both surprisingly vivid and to some people, deeply shocking... Most important, the impact of the scientific perspective is having now that even scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that much of what we know of Jesus is myth... Scholars have known the truth – that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the only ones left in the dark are ordinary Christians.

[4]  [Christians believe that mankind was created specifically to have a relationship with God, but that sin separates all men from God (Romans 5:12, Romans 3:23). Christians believe that after His death on the cross, Christ was buried, He rose again, and now lives at the right hand of the Father, making intercession for the believers forever (Hebrews 7:25). Christianity proclaims that Jesus’ death on the cross was sufficient to completely pay the sin debt owed by all men and this is what restores the broken relationship between God and man (Hebrews 9:11-14, Hebrews 10:10, Romans 6:23, Romans 5:8).]

[5] Martin, Malachi, The Decline and Fall of the Roman Church, p. 230: Pope John XXIII told the opening session of his council on October 11, 1962, that “false doctrines and opinions still abound,” but that “today men spontaneously reject” them… But if Roncalli did not see where his new teaching was leading, hundreds of theologians and bishops did. In the sixties and the seventies after Roncalli’s death, they drew these conclusions and abandoned belief in original sin, in the Devil, and in many other fundamental doctrines.

[6] The theory of evolution made Adam and Eve legendary at best. Evolution was not easy for the religious establishment to accept, and still voices are raised today in remote areas of the world to resit it. Those voices will never succeed. Human life clearly evolved over a four-and-a-half-to-five-billion-year process. There were no first parents, and so the primeval act of disobedience on the part of first parents could not possibly have affected the whole human race. The myth was thus dealt a blow, and the monolithic story of salvation built by Christian apologists over the age began to totter.

[7]    The God of the Old Testament is arguably the most unpleasant character in all fiction: jealous and proud of it; a petty, unjust, unforgiving control-freak; a vindictive, bloodthirsty ethnic cleanser; a misogynistic, homophobic, racist, infanticidal, genocidal, filicidal, pestilential, megalomaniacal, sadomasochistic, capriciously malevolent bully.

[8] When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon. And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, "Have mercy on me, O Lord, Son of David! My daughter is severely demon-possessed." But He answered not a word. And His disciples came and urged Him, saying, "Send her away, for she cries out after us.". But He answered and said, "I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel." Then she came and worshipped Him saying, "Lord, Help me!" But He answered and said, " It is not good to take the children's bread and throw it to the little dogs." And she said, "True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters' table." Then Jesus answered and said to her, "O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire." And her daughter was healed from that very hour.

[9] Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214: Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, "It is not fit to take the children (of Israel's) bread and to cast it to dogs." (Matthew 15:26) In other words he said, "You non-Jews are dogs. Why should I do anything for you?" How would you like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love. Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog. So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all. The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.

Saint Paul writes, allegedly under inspiration of God, "Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever." (Hebrew 13:8) So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had better think it over again.

[10] John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp. 21, 24: Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs in order to exorcise a demon? Are we impressed when the one we call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of season?...

A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.  There are passages in the Gospels that portray Jesus of Nazareth as narrow-minded, vindictive, and even hypocritical.

[11]  Russell, Bertrand, Why I Am Not A Christian, p. 19: I cannot myself feel that either in the matter of wisdom or in the manner of virtue Christ stands quite as high as some other people known to history. I think I should put Buddha and Socrates above Him in those respects.

 

[12] Joseph McCabe, The Truth About The Catholic Church, p.70: The “sacrament” is, of course, merely a part of the system which raises a priestly caste, to their great advantage, above the common crowd.  So it is with the sacrament of “holy orders” or the ordination of the clergy.  The ritual is a maze, a stupendous collection of archaic prayers and mysic actions, to the onlooker.  It is supposed to be so potent that henceforward the priest can order devils about, forgive sins, and turn bread into Christ.  This your Catholic neighbor literally believes.

[13]   The Romanist priest is primarily a Vatican agent, and is compelled to direct his flock in accordance with the commands which he receives from the Pope’s political advisers.  He is the pope’s policeman – and also his tax collector as well…

 

It would be wrong of us to blame unduly the priests themselves, because many of them are worthy men who probably (in their heart of hearts), dislike having to carry out many of the actions which the Vatican ordains. [Under Vatican orders, the clergy in Germany, Italy and France had to come out with fulsome praises of Hitler, Mussolini and Pétain.  The Cardinal Archbishop of Florence even kissed Mussolini in public]  But the iron discipline abounding is such that the impact of the Romanist priest on his flock often amounts to the distressing one of “the blind leading the blind”.  Whether he is English, American, Peruvian, Polish or Cuban, the Romanist bishop or priest has servilely to carry out orders which he receives from the Back Room Boys in Rome – even when the orders are detrimental to the interests of his own country or if they offend his own powers of Reason.  In other words, he is a sort of slave in the Vatican political network.  It is small wonder that Roman Catholicism flourishes chiefly in Latin countries with their credulous, superstitious people; while in northern countries, whose people are independently-minded, it is in a minority.

[14]    Loraine Boettner, Ibid., p. 214: The confessional is a system of espionage – a system of slavery.  The priest is the spy in every home.  Many Catholics are shocked by the character of the question put to them…One can readily understand why most Catholics are timid and afraid of the priest and are obedient to the letter of his wishes because they know that through the confessional the priest has secured a knowledge of their habits and life that no one else knows anything about.

[15]  Margaret Shepherd from South Ireland, My Life in the Convent, p. 46:  You who have never been under this influence, who have from childhood been allowed freedom of speech, liberty of conscience, and who see no distinction between your clergy and laity, you cannot, you never will understand the influence that RC priests have over the laity of their own nationality

[16]     There is this old myth about a god who has sex with his human mother to give birth to himself, who grows up to be killed (but not really), and this depreciated sacrifice somehow means everyone else gets to go to heaven when they die. If they believe it, that is; otherwise they go to hell and suffer for eternity.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend