TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM: Linh mục TRẦN TAM TỈNH (CHƯƠNG III A)


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Tieng Que Huong Radio.

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

 

Linh mục TRẦN TAM TỈNH

 

 

 

 

 

THẬP GIÁ VÀ LƯỠI GUƠM

 

 

 

  

 

 

 01

 

 

 

   

NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - 1978

 

  

 

 

Chương III A

 

7 ─ NỖI HĂM DỌA CỦA H̉A B̀NH

 

Các giám mục không chính thức lên án các tờ tạp chí kể trên, nhưng coi đó là tờ báo nguy hiểm, để cho Cộng sản lợi dụng khai thác. Tại Việt Nam, hễ phản đối Mỹ hay là ủng hộ việc đàm phán vời Mặt trận Giải phóng, là bị kết án thân cộng. Tháng 3 năm 1971, dư luận Công giáo rất xúc động trước những lời tuyên bố của linh mục Nguyễn Viết Khai: «Tôi xin nói rơ, tôi là một linh mục đă từng ở trong tầng lớp lănh đạo. Tôi đă chiến đấu chống lại Cộng sản một cách mù quáng. Kết quả là tôi bị kết án, do Cộng sản dĩ nhiên rồi, 23 tháng và 7 ngày tù ở… Sau 23 tháng và 7 ngày tù, tôi được tha và tôi cầm đầu một nhóm người di cư vào Nam

 

Từ đó, tôi có thể tự khoe là ḿnh đă chạy xuôi ngược khắp cả miền Nam… Chẳng có nơi nào có những người gốc Nghệ Tĩnh đang cầm súng chống lại Cộng sản mà tôi không tới thăm… Bất kỳ nghe nói ở đâu có Cộng sản là chúng tôi xốc tới, quyết đánh và tiêu diệt họ nếu cần. Đó là ư muốn minh bạch rơ ràng của chúng tôi."

 

Tuy nhiên, tôi đă sớm thấy ra rằng tôi làm một chuyện ngu xuẩn. Việc một linh mục được ông Diệm coi như một chiến sĩ chống Cộng tốt nhất, chẳng phải là do một cuộc tẩy năo của Cộng sản, mà là nhờ suy nghĩ chín chắn về thực tế. Ông Khai c̣n nói: «Tôi cảm thấy càng bối rối hơn, khi tôi phải đề cập đến khía cạnh «vô Tổ quốc» của người Cộng sản. Trước mắt các anh, ai là người vô Tổ quốc? Cần phải thú nhận rằng chính chúng ta, những người dân miền Nam, chúng ta mới thật là những con người «vô Tổ quốc»… Người ta có thể hỏi xem tại miền Nam có chăng một chút tự do trong việc quản lư xứ sở ḿnh? Từ chính quyền trung ương, xuống cho tận anh trưởng ấp, người miền Nam không được phép giải quyết vấn đề của ḿnh mà không có người nước ngoài xen vào».

 

Những lời tuyên bố trên của một kẻ hối cải chẳng làm vừa ḷng chính quyền, cũng như hàng giáo phẩm chút nào. Chín tháng sau đó, linh mục Khai đă được mời đi khỏi xứ đạo của ông. Nếu các lời tuyên bố trên đây đă không lay nỗi lập trường của đa số trong hàng giáo sĩ cũng như giáo dân, ít ra nó cũng buộc một số người Công giáo phải suy nghĩ lại

 

Tiếng nói phản kháng của Công giáo cũng vang lên tại Rôma, chẳng hạn trong bức thư đề ngày 12-8-70 có nói rơ rằng «chướng ngại chủ yếu cho nền ḥa b́nh tại Việt Nam là Giáo hội Công giáo». Bức thư bắt đầu bằng việc nói rơ những tàn phá khốc liệt của chiến tranh. «Cuộc chiến này ngày càng trở nên một cuộc chiến diệt chủng, chẳng những cuộc chiến giết hàng ngàn kẻ vô tội mỗi ngày, mà nhất là v́ nó đang phá hoại tận gốc rễ những giá trị căn bản nhất của một dân tộc».

 

… «Nhưng giai cấp lănh đạo Giáo hội th́ chống lại mọi nỗ lực chấm dứt chiến tranh, kể cả khi nỗ lực của chính Đức thánh Cha (Phaolô VI), bởi v́ họ sợ ḥa b́nh… Giáo hội hỗ trợ một cách hữu hiệu cho quân đội nước ngoài và chế độ hiện hành. Mọi người đều rơ, không những giữa ṭa đại sứ Mỹ và Khâm sứ Ṭa thánh Vatican có những liên hệ rất chặt chẽ mà c̣n có cả một đường dây điện thoại «đỏ» giữa ông đại sứ Mỹ và vị Khâm sứ Rôma. Chẳng phải là việc ǵ bí mật đối với bất cứ ai, việc các giám mục của chúng tôi có thể đến gặp tổng thống bất kỳ lúc nào, và ông không thể từ chối. Không ai biết rằng tại đây, số phận của quận trưởng, tỉnh trưởng tại các vùng đông Công giáo, không nhất thiết là đa số, cũng nằm trong tay các cha xứ. Ở mọi cấp chính quyền, người dân Công giáo lúc nào cũng được xuôi việc, anh nông dân có làm bậy ǵ đi nữa… có cha xứ can thiệp là việc ǵ cũng ổn thỏa. Một tay chủ hăng bị tố giác gian lận thuế, một vị bộ trưởng hoặc tướng tá bị tố cáo là tham ô hay buôn lậu, chỉ cần có sự can thiệp nhẹ nhàng của một Giám mục hay một vị tổng quản, là vụ việc được chôn vùi êm thắm. Giáo hội, Đức Kitô là tổ chức duy nhất c̣n lại để ủng hộ chế độ đó, sự ủng hộ rất thiết yếu và hiệu quả của Mỹ phần lớn cũng tùy vào thái độ của Giáo hội tại Việt Nam».

 

Những lời tố cáo mạnh mẽ trên đây phản ảnh một thực tế chẳng ai chối căi. Bởi v́ những người đang lợi dụng chế độ là Giám mục, Linh mục hay giáo dân, đều nghĩ rằng quân lính Mỹ là binh sĩ của Đức Kitô. Linh mục Phan Khắc Từ, Tuyên úy Thanh Lao công Sài G̣n, đă tuyên bố thẳng thừng ngày 20-9-1970 tại Firenxê rằng: «Kinh nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tin rằng Giáo hội tại Việt Nam hôm nay, là một công cụ hữu hiệu của người Mỹ». (Vị linh mục này đă có thời đi hốt rác tại Sài G̣n để chia sẽ đời sống với dân nghèo).

 

Trái lại, Giám mục Phạm Ngọc Chi, Phó chủ tịch Hội đồng Giám mục miền nam và coi sóc địa phận Đà Nẵng, trong một chuyến đi Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1969, đă tuyên bố với báo chí rằng «miền Nam đồng t́nh với chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của tổng thống Nichxơn». Ông tỏ «ḷng biết ơn về sự khen ngợi của nhân dân Viêt Nam… Việc ngưởi Mỹ đến dự lễ tại nhà thờ của ông là một gương sáng về đạo đức cho giáo dân của ông» (The Wanderer 1-1-1970). Tờ báo viết tiếp: «Giám mục nói rằng, ông chống lại một chính phủ liên hiệp với Việt cộng. Tại miền Bắc, chúng tôi đă thấy chuyện đó rồi. Sự liên hiệp chỉ được một lúc rồi Cộng sản gạt tất cả những người không Cộng sản ra khỏi chính phủ».

 

Những cách tố cáo lập trường đối nghịch nhau như thế, phản ảnh có sự mâu thuẫn sâu sắc giữa hàng giáo phẩm Công giáo và một thiểu số năng động. Thiểu số này tập họp trong «Phong trào công giáo v́ ḥa b́nh» của miền Nam, trong Phong trào công giáo phụng sự Tổ quốc (ở hải ngoại) hoặc Ủy ban đ̣i cải thiện chế độ lao tù tại miền Nam» – Ủy ban này cũng gồm cả những người không Công giáo – oán trách hàng Giáo phẩm cứ im lặng trước chính sách của Mỹ (như ném bom hàng loạt các nơi) và sự câm nín của chính quyền Sài G̣n (về tra tấn, giam giữ). Linh mục Trương Bá Cần, Tuyên úy Thanh lao công toàn quốc, bị cảnh sát bắt tháng 11 năm 1971 v́ đă tham gia vụ đ́nh công tại Nhà mát pin Con Ó nhằm hỗ trợ những người thợ đ́nh công, ông đă viết với giọng cay đắng rằng: «Được thiết lập và đào tạo để sống trong một xă hội b́nh thường (tư bản), Giáo hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền hành trong xă hội này… Giáo hội của tôi cũng đă biết lựa chọn nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ… Giáo hội của tôi đă được thiết lập và đào tạo để sống trong những t́nh h́nh b́nh thường, nhưng thế giới, trong đó Giáo hội tôi phải rao giảng Tin mừng, là một thế giới đầy tranh chấp… tranh chấp giữa những kẻ áp bức và những người áp bức, giữa những kẻ bóc lột và những người bị bóc lột."

 

H́nh ảnh Giáo hội c̣n trở nên khủng khiếp bởi hoạt động của một số linh mục, ông th́ lập đạo quân Công giáo khát máu (như linh mục Nguyễn Lạc Hon, người Trung quốc di tản, cựu trung tá, thiếu tá của quân đội Tưởng Giới Thạch), những ông khác th́ mang lon trung tá, thiếu tá, đại úy hoạt động với tư cách tuyên úy tại các trại giam hay tại nha tâm lư chiến, những ông khác nữa làm việc công khai hay bí mật cho CIA.

 

Hơn nữa, Giáo hội cơ cấu tại Việt Nam không chịu công nhận mục đích cuộc chiến đấu của Mặt trận Giải phóng và của Chính phủ lâm thời Miền Nam, là để chống lại chủ nghĩa thực dân kiễu mới của Mỹ và cuộc kháng chiến của Miền Bắc là do ư chí của nhân dân quyết liều đổ máu nhằm bảo vệ chủ quyền và sự tự do của ḿnh. Mặc dầu đă có việc lộ bí mật của Tài liệu Lầu năm góc, Giáo hội vẫn nhốt ḿnh trong lập trường chống cộng tận xương tủy và măi tin vào «cuộc chiến đấu tự vệ của thế giới tự do chống lại Cộng sản xăm lăng».

 

V́ thế, người Công giáo miền Nam phải kinh hoàng khi thấy báo chí phương tây đưa tin vào cuối tháng 10, bản thỏa hiệp bí mật giữa Kitxinhgiơ và Lê đức Thọ, tiên liệu về cấu trúc chính quyền ba thành phần để giải quyết vấn đề miền Nam. Đầu tháng 11 năm 1972, một số giáo dân vùng Sài G̣n hưởng ứng lời kêu gọi của chính quyền Thiệu, đă kéo nhau hàng loạt đi biểu t́nh, dưới sự điều khiển của các cha xứ, để phản đối việc thành lập chính phủ ba thành phần và phản đối việc ḥa giải với Cộng sản. Sự trở mặt của Nichxơn ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Pḥng tháng 11 và tháng chạp 1972, đă được các thành phần Công giáo hoan hô thỏa chí.

 

Cuối cùng, Nichxơn phải nhượng bộ. Bản Hiệp định ngày 2 tháng giêng 1973 đă được kư kết tại Paris, chấm dứt việc can thiệp quân sự cũa Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

 

8 ─ C̉N VATICAN TH̀ THẾ NÀO?

 

Trên đây, chúng tôi có nói đến nổ lực đáng khen ngợi của đức Phaolô. Ngài đă kêu gọi nhiều lần để hỗ trợ cho Ḥa b́nh và đàm phán. Tuy vậy, các nổ lực của Ngài đă bị lu mờ đi trong những năm thương thuyết tại Pari (1968-1972) bởi một thái độ hàm hồ, nếu không nói là pḥ Mỹ. H́nh như Ngài quá chăm chú nghe lời Cabốt Lốt, cựu đại sứ Mỹ tại Sài G̣n và là đặc sứ của Nichxơn bên cạnh Vatican, mặc dầu Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Ṭa thánh. Con người đă đào mồ chôn ông Diệm ấy làm ǵ bên cạnh giáo hoàng? Bóng ma của ông ta lại không lởn vởn trên đầu mấy văn pḥng của Quốc vụ khanh, liên quan tới những quyết định của Giáo hoàng về Việt Nam sao? Lời kêu gọi «nhân đạo» của Đức Phaolô VI hỗ trợ các tù binh Mỹ tại Bắc Việt, lại chẳng phản ảnh mối quan tâm một chiều của Giáo chủ đối với mấy trăm tên «tội phạm chiến tranh» và đồng thời việc Ngài lờ đi số phận của hàng trăm ngàn con người Việt Nam đang bị tra tấn, hành hạ tại các nhà tù được dựng lên và được điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp với bọ Mỹ sao? Những người thành tâm có lư và bỡ ngỡ trước sự lặng thinh của vị đứng đầu Kitô giáo đối với những lá thư ngỏ hoặc thư riêng đă được gửi đến cho Ngài do các tù nhân chính trị hoặc do cha mẹ, bạn bè họ.

 

Cabốt Lốt phải chăng đă đóng vai tṛ trấn an, khi các máy bay B-52 mỗi ngày trút xuống đầu nhân dân Việt Nam hàng ngàn tấn bom, khiến đức Giáo hoàng cứ im lặng khi đứng trước cảnh tàn sát cả triệu dân thường, bất kể nam nữ lăo ấu? Hay chỉ lâu lâu mới biểu lộ nỗi đau ḷng trước các nạn nhân của hai bên thôi? Cả đôi bên, tức là của bên bọn xâm lược và bên của những người bị xâm lược. Phải chăng Cabốt Lốt đă giật dây khi đức Phaolô VI từ chối không tiếp Bà Nguyễn thị B́nh, ngoại trưởng của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, khi Bà tới Rôma năm 1971? Theo các nguồn tin đáng tin cậy, Bà Nguyễn thị B́nh chỉ được một giám chức tiếp kiến cách bí mật và ông đă đường đột hỏi Bà: «Tại sao phía Bà không chịu chấp nhận những điều kiện do phía Mỹ đưa ra, mà đó là những điều rất rộng răi? ». Bà B́nh đă rất vất vả để giải thích cho ông ấy rằng, nhân dân miền Nam chẳng đ̣i hỏi ǵ ngoài nền độc lập của đất nước và sự rút lui toàn thể và vô điều kiện của quân đội Mỹ khỏi Việt Nam.

 

Người ta cũng biết rằng Đức Phaolô VI đă chỉ tiếp cách chính thức cụ Xuân Thủy, đặc mệnh toàn quyền của Bắc Việt và ông Nguyễn văn Hiếu, bộ trưởng của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam sau Hiệp định Pari, nghĩa là sau khi Oasinhtơn đă kư thỏa ước ḥa b́nh với các chính quyền đó.

 

Vatican luôn luôn tuyên bố ḿnh trung lập. Tại sao Nichxơn, Cabốt Lốt, Băngcơ... th́ được tự do ra vào nhà Giáo hoàng mỗi lần đi qua Rôma, c̣n các bộ trưởng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa hay của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, th́ lại không được như thế? Tại sao các bộ trưởng và nghị sĩ của Thiệu - và sau đó, chính bản thân Thiệu - được nhiều lần nhận phép lành của đức Giáo hoàng khi tiếp kiến thân mật, c̣n những người của Kháng chiến Việt Nam lại không hề được?

 

Bao nhiêu là thắc mắc và câu trả lời chỉ nằm kín đáo tại văn khố của Vatican thôi. Một phóng viên Mỹ nói rằng «trong vấn đề Việt Nam, Đức Giáo hoàng giữ trung lập mà thiên vị», có đúng chăng? Đức Giêsu có chu toàn được sứ mạng của Ngài chăng, nếu Ngài đă có những buổi tâm giao với Philat hay Hêrode? May thay cho nhân loại, Ngài đă được hai ông ấy tiếp có một lần, và người ta biết tiếp thế nào...

 

Thái độ của Đức Giáo hoàng, của Vatican và của một số hàng giám mục phương Tây, cũng thiếu trong sáng khi liên hệ với các tín hữu Kitô Việt Nam yêu ḥa b́nh, hoặc liên đới với người Việt Nam.

 

V́ hoàn toàn tin tưởng vào sự sáng suốt và tinh thần Phúc âm của vị lănh đạo Giáo hội, những người Việt Nam Công giáo yêu chuộng ḥa b́nh đă từng gửi đến Đức Giáo hoàng hàng trăm bức thư suốt thời gian chiến tranh, có bức thư dài tới 40 trang. Thế mà chẳng hề có sự hồi âm, không hề có một phúc đáp nào. Họ tự hỏi, phải chăng bộ máy kiểm duyệt của Ṭa thánh nghiêm nhặt đến độ tiếng nói yếu ớt của họ đă không bao giờ lọt qua được cái sân Damase và bị bàn chân đại sứ Mỹ dập tắt hết. Trong một thư gửi cho Hồng y Rossi ngày 18.8.1974, một linh mục đă phải dùng lời cứng cỏi mà kêu lên: «Đức Hồng y là ông trùm tối cao của viện loan tin mừng, ngự trị tại trung ương, c̣n chúng tôi, những người phụ trách tại cơ sở th́ măi chốn xa xăm này. Đức Hồng y không có dịp sang tận xứ chúng tôi th́ chúng tôi cũng không có cách ǵ sang gặp được Đức Hồng y tại Rôma: «ở giữa Đức Hồng y và chúng tôi, mặc dù đôi bên là những kẻ loan tin mừng, cả muôn ngàn thứ ngăn cách chúng ta với nhau. Không những cản trở bởi những bàn tay trung gian cứ ngoan cố che dấu sự thật, nói rơ ra là nước do chính đức Khâm sứ, cứ t́m hết cách ngăn cản không cho chúng tôi liên hệ được với Đứng Hồng y».

 

Có nên nhắc lại rằng vị khâm sứ cuối cùng, Giám mục Lemaitre, đă bị Linh mục Chân Tin công khai tố cáo là «một con người quan tâm đến các cuộc liên hoan ngoại giao, hơn là việc bênh vực quyền lợi con người»?

 

Cũng vị Khâm sứ này đă gọi cảnh sát Nam Việt đến xua đuổi một nhóm nam nữ tu sĩ và chủng sinh tới xin ông can thiệp giúp đỡ các tù nhân chính trị. Chính ông đă đánh điện sang ṭa Khâm mang tại Ôttaoa và Hội đồng Giám mục Canada, đề nghị hăy cảnh giác, đừng ủng hộ đại hội thứ hai của tổ chức Kitô hữu quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, nhóm tại Quebec những ngày 7.9.1972. Đó là cuộc tập họp của 285 tín hữu, thuộc nhiều danh nghĩa của trên 20 nước, thảo luận đề tài: giải phóng con người và giài phóng các dân tộc Việt, Lào và Campuchia.

 

Dĩ nhiên những người dự đại hội tố cáo các cuộc xăm lăng của Mỹ và các vụ ném bom vô nhân đạo tàn ác của cường quốc đó. Một số giám mục Việt Nam miền Bắc và miền Nam được mời dự, cũng như nhiều Giám mục khác tại các nước trên thế giới. Trong số các Giám mục có mặt tại đại hội này, đức cha Mátthêu, tổng Giám mục Anh giáo tại Quebec khi dự đại hội về đă viết như sau: «Điều đă đánh động tôi hơn cả, là sự quan tâm to lớn của Đại hội đối với các nhu cầu của những người khác, không phân biệt về tôn giáo, quốc tịch hoặc chủng tộc. Mối quan tâm này bao trùm tất cả các lục địa và đại dương. Đại hội này là thực tế lẽ ra Giáo hội phải như thế, nghĩa là có tinh thần quốc tế và đề cập tới những vấn đề chính trị và kinh tế của các dân tộc, bất kỳ ở phương trời nào. Đại hội dấn thân cách vô vị lợi, nhằm giúp cho các nước Thế giới thứ ba thoát khỏi cảnh thiếu thốn vốn đi liền với bóc lột, khỏi bị khinh dễ và khỏi nỗi lo sợ chiến tranh. Đại hội đă khẳng định quyền tự quyết, quyền tự do và được sống ḥa b́nh của nhân dân Việt Nam.”

 

C̣n Tổng Giám mục Công giáo Quebec, có lẽ chịu ảnh hưởng của bức điện ṭa Khâm sứ Sài G̣n, nên đă từ chối không tham dự và sau đó đă phát biểu ư kiến của ḿnh trong cuộc phỏng vấn của Đài tiếng nói Canada như sau: «Đại hội đó rơ ràng là do Bắc Việt tổ chức» và «chỉ ủng hộ, ngay lúc c̣n chiến tranh, một bên lâm chiến thôi. Phần tôi, với tư cách là Giám mục, tôi thấy ḿnh phải tránh đừng tham dự đại hội» (Radio Canada 10.1.1973).

 

Hiển nhiên là những người Canada trong Ban tổ chức Đại hội đă đáp lại rằng, những lời cáo buộc của Hồng y là không đúng với sự thật.

 

Một năm sau, cuộc họp thứ ba của Hội Kitô hữu đoàn kết với ba dân tộc Việt, Miên, Lào, được tổ chức tại Torinô, dưới sự bảo trợ của Ủy ban Pax Christi tại Ư, có 25 nước tới dự, có cả phái đoàn Bắc Việt Nam và của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam. Hội đồng Giám mục Ư, dưới áp lực của Vatican, muốn lên án ngay trước ngày họp, một cuộc tập họp quốc tế của những tín hữu Kitô, không những có các đại diện Công giáo, mà cả phái đoàn đại diện chính thức của Hội Đồng Đại kết các Giáo phái. Nhờ sự can thiệp cương quyết của Hồng y Pellagrino, địa phận Turino, và của đức cha Bettadi, chủ tịch Pax Christi tại Ư, 15 ngày trước cuộc họp, Hội đồng Giám mục Ư chỉ phổ biến một bản tin hàm hồ, nhằm gây ngờ vực về tính nghiêm túc của Hội nghị này. Cũng may, nhiều báo chí tại Ư (Sette Giorni, Rocca, Nuovo Tempi, II Giorno, la Stampa) và các nước khác (Le Monde, Témoignage chrétien, Công giáo và Dân tộc Pari v.v..) đă công bố các bản báo cáo, các bài tổng kết hội nghị, đánh bại mưu đồ ngược Tin mừng của mấy kẻ bài xích. Như tại Québec, tại Turino, các đại biểu đă chú tâm tới nhiều vấn đề của Giáo hội Việt Nam, về thái độ của Giáo hội đối với người nghèo, những kẻ bị áp bức, những tù nhân chính trị về thái độ của Giáo hội toàn cầu và các Giáo hội Tây Âu, đứng trước chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới.

 

Một sự cố không tốt lành xảy ra sau Hội nghị Turinô, càng làm mất sự tin tưởng của các tín hữu kitô đối với Vatican. Sau khi Hội nghị Turinô bế mạc, linh mục Trần Quang Nghiêm, đại biểu Việt Nam thuộc vùng Giải phóng đă ghé Rôma, gặp Đức ông Gremillion, thư kư của Ủy ban Ṭa thánh «Công lư và Ḥa b́nh» và trong một cuộc tiếp kiến chung, cha đă đến gần đức Giáo hoàng, thưa thốt với Ngài và trao cho Đức Giáo hoàng, một tài liệu về t́nh h́nh Việt Nam. Sự kiện đó được một ít tờ báo tại Rôma loan tin. Qua ngày sau, Vatican, với một giọng cứng rắn khác thường, đă công bố một thông tin phủ nhận thẳng thừng rằng không có chuyện Đức Giáo hoàng đă nói chuyện với Linh mục người Việt và Đức ông Gremillion cũng không co gặp Linh mục đó. Lời cải chính đó làm cho người tín hữu đâm ra vẩn vơ mơ màng, «Chẳng có ai nghĩ tới chuyện phải cải chính, khi Đức Giáo hoàng tiếp ông Thiệu với tất cả nghi thức long trọng. Thêm một bằng chứng nữa - nếu chúng ta cần thêm bằng chứng về những xu hướng lựa chọn của Vatican. (Nuovi Tempi, 11.11.1973).

 

Vatican xem ra chưa tách ḿnh khỏi Hoa Kỳ. Ngày 6 tháng 7 năm 1974, Kitxingiơ đến thăm Đức Giáo hoàng, có mặt Khâm sứ Sài G̣n Lemaitre, dĩ nhiên là không phải để xin cho được thi hành Hiệp định Pari (!).

 

9 ─ GIÁO HỘI SAU HIỆP ĐỊNH PARI

 

Hôm trước ngày kư hiệp định, tổng thống Nichxơn tuyên bố ông chỉ công nhận một chính phủ hợp pháp của Nam Việt là chính phủ Thiệu. Tuy nhiên, Hiệp định Pari công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam, là một trong hai bên của miền Nam Việt Nam. Hiệp định đ̣i phải lập ra một Hội đồng quốc gia gồm có chính quyền Sài G̣n, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam và Lực lượng thứ Ba, nhằm chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử tại miền Nam theo tinh thần hiệp nhất và ḥa giải. Hiệp định đ̣i phải thả tất cả tù chính trị, ngoài các tù binh của hai bên.

 

Ngày 19-9-1973, Tổng giám mục Sài G̣n đọc diễn văn khai mạc Năm thánh, bài diễn văn chẳng những được phổ biến khắp Sài G̣n, mà c̣n đưa ra khắp tỉnh các miền Nam, bài diễn văn nhấn mạnh về sự ḥa giải. Song tiếc thay, trong bài diễn văn ḥa giải đó; Đức Tổng giám mục chỉ nói đến ḥa giải giữa hai miền Bắc và Nam và im lặng chẳng nói ǵ tới một thực tế gấn gũi hơn, tức là Vùng do Mặt trận Giải phóng kiểm soát. Ngài nói: «Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời c̣n phân chia». Lẽ ra, thực tế hơn, th́ nên nói về sự ḥa giải giữa Sài G̣n và Chính phủ Cách mạng Lâm thời như Hiệp định Pari có tiên liệu. Tại sao Ngài không nói? Tại v́ không muốn mích ḷng Tổng thống Thiệu đang có mặt trong thánh lễ khai mạc năm thánh đó?

 

Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội nghị toàn thể hàng Giáo phẩm, các Giám mục miền Nam đă công bố một tài liệu có thể coi là tuyên ngôn của Giáo hội miền Nam sau Hiệp định Pari. Sau khi nhấn mạnh ước nguyện của các ngài là «xây dựng một nền ḥa b́nh công bằng và ḥa giải giữa những anh em cùng một dân tộc», các Giám mục tuyên bố:

 

«Sau việc kư kết Kiệp định Pari về ngưng bắn và lập lại ḥa b́nh tại Việt Nam, mọi người đă hy vọng được thấy hiệu quả tốt của Hiệp định đó. Nhưng, ngược với sự trông chờ của mọi người, chiến tranh vẫn tiếp tục. V́ thế, một lần nữa, chúng tôi tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, v́ t́nh thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau».

 

Một lần nữa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời lại bị bỏ sang một bên. Hay đúng hơn, hàng Giáo phẩm miền Nam cho nó đứng chỗ khác: «Chúng tôi cũng đề nghị Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa (miền nam) và các nhóm, hoặc đảng phái chính trị đối lập thuộc mọi xu hướng tại miền Nam, một đàng hăy đẩy mạnh việc dân chủ hóa các hoạt động chính trị và đàng khác, từ bỏ mọi cách chống đối có dùng vũ khí bạo động».

 

Bản tuyên ngôn của Hàng Giáo phẩm đă vấp phải sự phản đối đồng loạt, không những trong số tín hữu «Tiến bộ», mà cả nơi các chính trị gia Công giáo bảo thủ, xưa nay vẫn theo sát đường lối của Giáo hội. Người th́ bàng hoàng, kẻ th́ tức giận. Một nghị sĩ Công giáo bảo thủ lấy làm tiếc v́ các Giám mục đă không chịu bàn hỏi những người có sở trường, trước khi lên tiếng về lănh vực chính trị với những lời lẽ có thể gây lộn xộn và tác hại cho ước nguyện chung của dân tộc. Báo Chính Luận, một tờ báo cánh hữu, viết trong bài xă luận rằng «lời tuyên bố của các Giám mục là một món quà quí giá cho Chính phủ». Nguyễn Ngọc Lan trong Đối Diện nói thêm: «Giữa người lớn với nhau, người ta thường trao đổi quà cáp nhân dịp Tết nhứt. Các Giám mục ḿnh sẽ nhận lại món quà ǵ? ». Nhật báo Ḥa B́nh tự hỏi rằng, khi các Giám mục bỏ quên Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong bàn Tuyên bố có phải đó là một cách phá hoại Hiệp định Pari (như Thiệu làm) chăng? Một nhóm Công giáo cho phổ biến một tài liệu cho rằng hàng Giáo phẩm «không có thẩm quyền nhân danh Giáo hội mà phàt biểu về các vấn đề trần gian» và hy vọng rằng từ nay, khi các Giám mục bàn về các vấn đề chính trị, kinh tế, xă hội hoặc văn hóa, hăy hỏi anh em giáo dân có sở trường đang dấn thân và đang quan tâm các vấn đề đó. Tin Mừng Hôm Nay, tạp chí lậu được xuất bản thay thế Chọn đă bị chính quyền cấm tiếp tục, cho biết rằng một đàng các Giám mục không biết điều khoản số 10 Hiệp định Pari và đàng khác, các ngài vẫn đi theo một luận đề của Mỹ, đă bị chính quyền người Mỹ từ bỏ lâu ngày rồi, một luận đề hoàn toàn đối nghịch lại Hiệp định Pari, một bản Hiệp định mà toàn thể nhân dân Việt Nam coi là cơ sở khả dĩ có thể dẫn tới ḥa giải dân tộc.

 

Khi đọc bản văn trên của các Giám mục, người ta thấy ra được mối nợ c̣n đè nặng trên hàng Giáo phẩm Miền Nam. Quen thuộc với luận thuyết lẫn lộn «Cộng sản – Quốc gia», hàng Giáo phẩm chia dân Việt Nam ra hai loại: loại người dân sống trong chế độ «quốc gia» và loại người sống dưới chế độ «Cộng sản». Nói tới hai chế độ «Cộng sản» của Hà Nội và của Cách mạng Lâm thời, là xóa mất phạm trù truyền thống đó. Phải chăng hàng Giáo phẩm sợ sa vào «băy Cộng sản?». Tháng 11 năm 1969, hai đức cha Nguyển văn B́nh và Phạm ngọc Chi, chủ tịch Hội đồng Giám mục miền Nam, do áp lực của Vatican, đă xin được tới phát biểu tại bàn Hội nghị ḥa b́nh Pari. Các phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chù Cộng ḥa và của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đă phúc đáp sẵn sàng gặp các vị, nhưng không có mặt phái đoàn Mỹ và Sài G̣n. Các Giám mục đă nghĩ là không nên gặp hai phái đoàn đó như thế, lư do là «v́ không muốn bị Cộng sản lợi dụng khai thác. Lập tức sau đó, họ đă qua Mỹ. Người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời c̣n tuyên bố năm 1972 rằng, các Giám mục sẽ luôn được tiếp đón tại trụ sở của phái đoàn tại Pari.

 

Các phương cách thực hiện ḥa giải và lập lại ḥa b́nh tại miền Nam Việt Nam đă được tiên liệu trong bản Hiệp định Pari: lập ra Ủy ban Ḥa hợp và ḥa giải gồm 3 thành phần. Hôm sau ngày kư Hiệp định, Tổng thống Thiệu không chịu thừa nhận có lực lượng thứ Ba. Ông tuyên bố rơ: «Chỉ có Cộng sản và Quốc gia; ai không theo chúng tôi là kẻ thù của chúng tôi». Phải chăng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nếu trong tài liệu của Hội Đồng giám mục miền Nam chẳng nhắc ǵ đến lực lượng thứ Ba, Ủy ban Ḥa Hợp và ḥa giải?

 

Một điểm quan trọng khác của Hiệp định Pari là việc thả tù chính trị. Nhiều ủy ban điều tra đă được phái tới do các Giám mục Bắc Mỹ, chẳng hạn Giám mục Gămblơntơn (Gumbleton), Giám mục phụ tá Đitroy và Giám mục Bêlăngiê, địa phận Vanđêfiu. Hội Ân xá quốc tế và Ủy ban Nam Việt đ̣i cải thiện chế độ lao tù, đều đă đưa ra đầy đủ chứng cớ, rằng chế độ Sài G̣n c̣n giam giữ 200.000 tù nhân chính trị vào mùa hè 1973. Thiệu chỉ trả lời: Không có tù nhân chính trị, chỉ có những tội phạm Cộng sản thôi».

 

10 ─ GIÁO HỘI VÀ VẤN ĐỀ THAM NHŨNG

 

Một trong các vấn đề quan trọng của tài liệu hàng Giám mục liên quan đến miền Nam là vấn đề tham nhũng. «Chúng tôi yêu cầu chính quyền Việt Nam Cộng ḥa… hăy diệt tận gốc các tệ nạn xă hội, nhất là nạn hối lộ và tham nhũng trong chính quyền. Chúng tôi xem rằng đất nước này sẽ bị mất v́ nạn tham những, hối lộ, nhất là khi nó lại do các kẻ cầm quyền phạm lỗi».

 

Lời kêu gọi đó dấy lên một «Phong trào chống tham nhũng» được 301 linh mục bảo trợ bằng bản tuyên bố ra ngày 18-6-1974. Các linh mục này nêu rơ rằng «nền tảng của cơ quan lănh đạo đất nước chính là sự tham nhũng».

 

«Nạn mua bán các chức vụ trong chính quyển và quân đội đă biến đời sống xă hội thành một trận địa không c̣n t́nh thương, không c̣n ngơi nghĩ… Dưới sự bao che của những kẻ thế lực, việc buôn bán ma túy, các tổ chức ăn cướp, cờ bạc, đĩ điếm và chợ đen đă xô cả xă hội vào một cảnh sa đọa khiến cho nạn trộm cướp, hăm hiếp… lan tràn khắp nơi… như chưa từng xảy ra trong lịch sử.

 

«Hai chữ «chống Cộng»: đă được những kẽ tham ô lợi dụng như các nút thần đế trám miệng dân chúng, v́ bất kỳ ai mà không được nâng đỡ về mặt chính trị, đều có thể bị kết án là có liên lạc hoặc buôn bán với Việt Cộng».

 

Trong một thư gửi Tổng thống Thiệu, linh mục Trần hữu Thanh, người chủ xướng phong trào chống tham nhũng, phê phán chế độ một cách không c̣n tiếc lời.

 

1. Báo chí không được quyền tự do ngôn luận…

2. Dân chúng th́ chỉ c̣n Quốc hội và Thượng viện… Khốn thay, với tiền bạc và áp lực, ông đă mua đứt phần lớn các nghị sĩ và dân biểu để biến họ thành một lũ nô dịch… C̣n nghị sĩ và dân biểu nào t́m cách bảo vệ sự liêm chính, th́ tiếng nói của họ chỉ là tiếng kêu trong sa mạc, nếu không bị coi là Cộng sản…

3. Các tôn giáo qui tụ hàng triệu tín đồ không được tự do hành đạo và không được phép nói lên ư kiến xây dựng của ḿnh…». Sau khi đă nêu ra các trường hợp tham nhũng, bức thư kết luận: «Ông biết rơ hơn ai hết, tội lỗi đó đổ lên kẻ cầm đầu. Tiếng kêu than của dân chúng vang thấu trời, v́ nạn tham nhũng là lưỡi kiếm giết họ từ từ».

 

Xem bề ngoài, phong trào này gây vài khó khăn cho chính quyền, nhưng chính quyền chẳng sợ bao nhiêu, từ 25 năm nay, tham những luôn gắn chặt với các chính quyền «quốc gia» vốn lệ thuộc một cường quốc ngoại bang, là Pháp rồi tới Mỹ. Không nên quên rằng chừng 10.000 cố vấn Mỹ lúc này vẫn c̣n ở Sài G̣n. Đàng khác, chính quyền có một con bài rất gớm: Giáo hội th́ giàu có và Giáo hội cũng đâu có thoát khỏi tham nhũng. Người ta đọc thấy trong một báo cáo cuối tháng 5-1974 do một cơ quan viện trợ quốc tế biên soạn như sau: «Giáo hội Công giáo tại miền Nam có một ngân hàng lớn tại Sài G̣n (Đại Nam), những cách sạn hạng nhất (Caravelle), những nhà hàng (Kim Đô), những dăy nhà cho thuê (Lam Sơn, bin-đinh Tax) v.v… kỹ nghệ từ việc mai táng cho tới nhả máy giấy. Điều dân chúng thường nói cho thấy thực tế đó, đất nước chúng tôi nằm trong tay Ba Tàu và Giáo Hội…»

 

Từ Hiệp định Pari, các tổ chức từ thiện quốc tế như Caritas, Corev đă cấp cho các Giám mục hàng triệu đô la để tái thiết. Tiền bạc xem ra được xử dụng trong việc thiết lập các trại tị nạn, nhiều khi có sự hơp tác của chính quyền, nhằm ngăn cản họ khỏi trở về quê cũ trồng trọt đất đai tổ tiên, bởi v́ các vùng đất ấy nằm trong vùng do Chính phủ Cách mạng Lâm thời kiểm soát. Hiệp định Pari bảo đảm cho họ quyền tự do trở về quê cũ, Thiệu đă thành công ngăn cản họ nhờ các trại nói trên, có binh lính canh giữ cẩn thận. ‘Viện trợ tài chánh được cấp rộng răi và không cân nhắc, tạo ra một thái độ quan liên tiêu biểu nơi các lănh tụ tôn giáo tại Nam Việt. ». Bản báo cáo trên c̣n nói như vậy.

 

Tất cả các nhà quan sát nước ngoài có chú ư một tí, tất cả người dân Việt nam đều công nhận rằng «Giáo hội là một ḥn đảo trù phú giữa đại dương nghèo đói» của Nam Việt. Linh mục Gheddo, chủ nhiệm tờ Mondo e Missione, vốn công khai bênh vực thái độ Giáo hội miền Nam, đă phải viết trong một bản phúc tŕnh bí mật gửi cho Vatican ngày 30-1-173 như sau: «Thật là gương mù gương xấu, khi thấy Giáo hội cứ tiếp tục xây cất những kiến trúc to lớn như nhà thờ, ṭa Giám mục, chủng viện, ḍng tu… đang khi 80-85% dân chúng miền Nam hiện c̣n phải sống trong các lều tranh vách ván… Vấn đề tiền bạc đ̣i phải viết trang này sang trang khác về các chuyện cụ thể tôi đă được nghe kể lại và lặp đi lặp lại khắp mọi nơi! Không nên tin tất cả những «lời» đó, nhưng điều chắc là ai cũng cả quyết rằng «Giáo hội tại Việt Nam đặt nền tảng trên tiền bạc, trên chuyện xoay sở tiền bạc, trên chuyện đầu tư tiền bạc... Phải nói rằng Việt Nam là biển tham nhũng (...). Tóm lại, lư do mà tất cả mọi người, linh mục, giám mục, tu sĩ nam nữ nói đến nhiều hơn hết là tiền bạc: chúng tôi thiếu vốn, chúng tôi thiếu sự giúp đỡ, thiếu của viện trợ v.v.. (...). Điều c̣n tệ hơn nữa là những trường hợp lừa đảo: các tu sĩ Biển Đức tại Ban mê Thuột có xưởng cưa, họ lường gạt dân miền núi khi mua rẻ cây cối dân Thượng chở tới, rồi lại đem bán giá cao và lừa dối người mua cả về phẩm chất của cây gỗ. Các tu sĩ Xalêdiêng mua xi măng rẻ tiển về Sài G̣n, đem chở đi với hai linh mục áp tải để tránh thuế vụ (tại Việt Nam, các linh mục tự do làm mưa làm gió) và bán lại giá cao tại Đà Lạt. Một viên đồn điền người Ư tại Ban mê Thuột đă có tuổi và đáng tin cậy, đă khẳng định với tôi rằng, khắp đó đây tại Việt Nam, Giáo hội bỏ tiền ra mua các vùng đất bị bỏ hoang v́ chiến tranh: mua với giá rẻ mạt mà lại khỏi đóng thuế sang tên. Khi vùng này trở lại cuộc sống b́nh thường (hoặc nay mai sẽ b́nh thường), th́ các đám đất ngon nhất đă nằm trong tay các Giám mục, Linh mục, Hội đồng... Người ta có cảm giác rằng, Giáo hội mắc phải chứng «bịnh xây cất và kiếm tiền' và có thể cả quyết rằng, trong cảnh nghèo đói chung và cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay, Giáo hội là cơ quan duy nhất có tầm cỡ quốc gia, vẫn tiếp tục xây cất mở mang, có những phương tiện lớn lao và những con người được chuẩn bị cho việc đó. Một linh mục (giám đốc tờ nhật báo Thắng Tiến) đă nói với tôi rằng đó là dấu hiệu phúc lành Chúa ban.”

 

Chúng tôi đă trích cả một đoạn dài của bản phúc tŕnh mật nói trên. Các sự kiện do tác giả ghi nhận, không phải lá quần chúng Việt Nam không hay biết. Tin mừng hôm nay, cũng đầy dẫy các mẫu chuyện loại đó, thậm chí, c̣n tăm tối hơn. Có những nhà quan sát từ Việt Nam về đă nhận xét tương tự tại Ư, Pháp, Mỹ, nhưng Giáo hội vẫn bịt tai làm ngơ. Người ta c̣n dám cho rằng «những tiết lộ đó về sự giàu có và các phương tiện không chính đáng của Giáo miền Nam gây thiệt hại cho Giáo hội.”

 

Có thể có xu hướng nghĩ rằng sự dính bén Mammon đó chỉ tiêu biểu những lúc yếu đuối nhất thời của Giáo hội Chúa Kitô tại miền Nam. nhưng người ta sẻ bỡ ngỡ khi đọc một bài giải thích của Thư kư thường trực Hội đồng Giám mục châu Á năm 1970 như sau: «Phải công nhận rằng Hội nghị Giám mục châu Á, bị lung lay bởi t́nh h́nh hiện nay ở châu Á và quá say sưa với những chương tŕnh phải thực hiện không thoát khỏi những kiểu công thức một chiều và mị dân khi tuyên bố «chúng tôi phải là Giáo hội của người nghèo» hoặc «chúng tôi phải trở nên Giáo hội của giới trẻ», bởi v́ «Giáo hội là của mọi người». (Thắng Tiến, 17-2-1974).

 

Giáo hội trở nên giàu có, một phần nhờ thỏa thuận hiệp với Nhà nước. «Đây là sự thật: tôi có nghe những lời phê b́nh đó nhắm vào chế độ Thiệu, kể cả những người của chính quyền...: trái lại, nói chuyện với linh mục và giám mục, tôi chỉ nghe họ bênh vực Thiệu như bức lũy cuối cùng chống lại Cộng sản». Cha Gheddo c̣n nói: «người ta biết rằng tháng 9-1971, trong cuộc bầu cử độc diễn nổi tiếng, nhiều người thuộc nhiều xu hướng và tôn giáo khác nhau đă kêu gọi dân chúng tẩy chay «cái tṛ bầu cử» đó. Nhưng Hội đồng Giám mục đă công bố một thư chung bắt buộc người Công giáo phải đi bỏ phiếu cho Thiệu».

 

Đường lối một chiều đó, được nhiều sự kiện cụ thể minh chứng, vẫn không được sửa đổi, mặc dù có bức thư của 301 vị linh mục chống tham nhũng.

 

Dẫu sao, dầu công việc sẽ kết thúc thế nào đi chăng nữa, Giáo hội Công giáo vẫn c̣n là một trong những rường cột của chế độ Sài G̣n và hầu như chẳng đem lại một đóng góp nào cho việc giải quyết tấm thảm kịch Việt Nam theo Hiệp định Pari.

 

Đàng khác, dưới con mắt của chính quyền và dư luận quần chúng, những người duy nhất có thẩm quyền để phát biểu «nhân danh Giáo hội» là các Giám mục, chứ không phải cá Linh mục hay Giáo dân.

 

11 ─ GIÁO HỘI TRONG VÙNG GIẢI PHÓNG

 

T́nh h́nh hoàn toàn khác tại Vùng doo chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam kiểm soát. Người ta biết rằng Mặt trận Giải phóng được thành lập từ năm 1960 dưới sự lănh đạo của ông Nguyễn Hữu Thọ, một trong những người tù thoát khỏi ngục Ngô Đ́nh Diệm. Được tổ chức trong bưng hiền, đứng ra đấu tranh chống nạn độc tài của Diệm và sự xâm chiếm của Mỹ. Mặt trận Giải phóng cũng như Việt Minh, bao gồm mọi thành phần dân miền Nam, không phân biệt đảng phái, xu hướng chính trị và tôn giáo. Trong ban lănh đạo, có người Công giáo ngồi bên cạnh Phật tử; có người Tin lành với người Cộng sản. Theo chiến thuật «tát nước bắt cá», quân đội Mỹ đă t́m cách đuổi dân chúng khỏi vùng nông thôn, để quân du kích không c̣n sự giúp đỡ của quần chúng nhân dân nữa. Mặt trân Giải phóng v́ thế, kiểm soát được nhiều đất, nhưng chỉ có ít dân. Theo lời của cha Trần Quang Nghiêm, một trong số ít ỏi linh mục đă ở lại trong vùng giải phóng, nhiều Giám mục đă ra lệnh cho các Linh mục phải rời khỏi các làng bị Mặt trận chiếm đóng và t́m cách tập trung giáo dân lại trong cái trại tị nạn do Mỹ dựng nên. Làm như thế là để bảo vệ đức tin. Tháng 4 năm 1974, trong lúc Quăng Trị bị tấn công, Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền đă khuyên các Linh mục nên ở lại với giáo dân. Có vài Giám mục đă trách đức cha về việc làm đó.

 

Trong những giai đoạn thăng trầm bi thảm của cuộc chiến Việt Nam, Giáo hội cơ cấu, tức hàng Giáo phẩm, thường nói về người của Mặt trận Giải phóng với những từ ngữ khinh dễ và kết án, cho là «Việt Cộng» phản loạn, Cộng sản xâm lăng, quân khủng bố, gian ác. Người ta đă thấy vai tṛ của nó trong chiến tranh. Và cả sau Hiệp định Pari, hàng Giáo phẩm vẫn làm như không biết ǵ tới chính phủ Cách mạng Lâm thời - một trong những bên đă kư vào Hiệp Định - hoặc chỉ gọi đó là «tay chân của Hà Nội» thôi. Và chính trong môi trường Công giáo, người ta nói nhiều nhất về những vụ hạ sát linh mục, bắt bớ tôn giáo tại vùng đất của chính phủ Cách mạng Lâm thời, cũng như «cuộc tắm máu» phải xảy ra nếu Mặt trận Giải phóng thắng được chính quyền Sài G̣n.

 

Trong vùng do chính phủ Cách mạng Lâm thời quản lư - một vùng ranh giới không rơ ràng, cứ thay đổi thường - ban đêm th́ mở ra rất rộng, c̣n ban ngày th́ thu hẹp lại - đời sống của giáo dân chẳng khác ǵ của những tầng lớp quần chúng, nghĩa là vừa kháng chiến vừa sản xuất, và lúc máy bay địch ném bom th́ phải xuống hầm trú ẩn. Dỉ nhiên cuộc sống ở đó chẳng yên ổn ǵ. Và những giới hạn hy sinh th́ vô kể. Như trong mọi cuộc kháng chiến trên thế giới, có xảy ra những vụ bắt giữ và t́nh nghi, những vụ thanh toán bọn làm tay sai cho giặc, bọn phá hoại hoặc do thám, phải huy động dân chúng để lo việc pḥng vệ. Nhưng không thể đưa ra chứng cớ cụ thể tàn sát linh mục hoặc giáo dân v́ lư do tôn giáo, hoặc cố t́nh vi phạm tự do tín ngưỡng.

 

Nhằm phá hoại uy tín của Mặt trận Giải phóng và nhất là nhằm biện hộ trên dư luận quốc tế cho cuộc thánh chiến chống Cộng, bộ tuyên truyền Việt - Mỹ rất nham hiểm đă loan tin rằng Mặt trận Giải phóng tàn sát hàng loạt linh mục. Thực ra, một đàng, con số các linh mục Việt Nam bị giết, v́ bom đạn của Mỹ hoặc do CIA ám sát, vượt xa con số các linh mục bị coi như do Việt Cộng sát hại. Đàng khác, nhiều vụ được thuật lại như là do Việt Cộng tàn sát, thực ra chẳng có bằng cớ nào cụ thể cả. Chẳng hạn vụ thảm sát tại Huế trong dịp tết 1968. Tại vùng Gia Hội, quân của Mặt trận Giải phóng củng đóng tại tu viện Biển Đức Thiên An mà không có một linh mục nào ở đó bị ngược đăi. Có hai tu sĩ người Pháp là Guy và Uyrbanh (Urbain), khi quân của Mặt trận Giải phóng rút lui khỏi tu viện trước sự phản công của Mỹ, th́ họ c̣n sống, rồi sau đó người ta gặp thấy xác chết hai ông nằm bên ngoài tu viện. Báo chí Sài G̣n cho rằng đó là do Việt Cộng giết: những người khác th́ lại nghĩ rằng bọ bị trúng bom Mỹ mà chết thôi.

 

Linh mục Gheddo, một người chẳng dịu dàng với Mặt trận Giải phóng, thuật lại một vị thừa sai Pháp đă từng sống tại vùng giải phóng 18 tháng như sau:

 

«Bản thân tôi, tôi chẳng có ǵ để phàn nàn cả: họ đă đối xử tử tế với tôi và ít ra giai đoạn đầu, tôi được tương đối tự do đi lại và chu toàn sứ vụ linh mục của ḿnh. Và nếu cha mẹ tôi đă không nhờ trung gian sứ quán Pháp tại Hà Nội để đ̣i cho tôi được về, th́ chắc tôi đă ở lại An Lộc, bởi v́ ở đó tôi sẽ làm được rất nhiều điều hay. Đàng khác, một số niềm an ủi to lớn về mặt thiêng liêng cho đời thừa sai của tôi, tôi đă gặp được trong thời gian tôi chung sống giữa bà con giáo hữu và những người ngoại đạo và cả với những người bộ đội Bắc Việt từng tỏ t́nh tâm sự với tôi và đôi khi có đến xưng tội với tôi. Tôi đă không nghĩ tới chuyện trở về vùng đất thuộc Sài G̣n, nhưng khi họ cho tôi giấy phép để về, tôi đă xử dụng, bởi v́ ngay cả đối với tôi, t́nh h́nh bắt đầu xoay chiều không có lợi: nghĩa là họ bắt đầu hăm phanh, kiểm soát tôi nghiêm nhặt hơn và sớm muộn e rằng rồi tôi cũng sẽ rơi vào một cái băy nào đó, hoặc có ai sẽ tố cáo tôi chuyện này chuyện kia. Tôi phải nói rằng, cho tới ngày tôi ra, họ muốn t́m cách tố cáo tôi, song chẳng thấy ai, dầu ngoại đạo, hay giáo dân, chẳng chịu nói điều ǵ chống lại tôi cả».

 

Lời tuyên bố đó của một vị thừa sai Công giáo, phản ảnh đúng tâm năo của Giáo sĩ đối với phong trào giải phóng. Một cách vô ư thức, họ cứ sợ rằng những người cách mạng này, đă cam chịu tất cả hy sinh trong đời, đă phải chấp nhận chiến đấu với vũ khí hết sức không cân đối chống lại một đại cường quốc như Mỹ, mà cứ ŕnh chực hễ có lúc nào thuận tiện, là ra tay bách hại đồng bào Công giáo của họ và hành hạ các linh mục. Và chẳng bao giờ có chuyện họ làm hại các nhà sư Phật giáo! Tại sao vậy, thử hỏi xem...!

 

Một tiếng chuông khác của linh mục Việt Nam mà chúng ta thiết tưởng cũng là người đáng tin cậy: «Trong những năm 40, tôi là cha phó của một họ đạo thuộc vùng vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long, đó là họ đạo Cổ C̣, tỉnh Sóc Trăng: Tôi chăm sóc cho 400 gia đ́nh nông dân lúc đó sống lây lất trong cảnh đói khổ: thiếu cơm gạo, thuốc men, mang nợ nần triền miên. Có những gia đ́nh thiếu thốn độ hai người chỉ có một cái quần... tôi làm hết cách để giúp đỡ họ, nhưng thân phận họ vẫn không khá lên bao nhiêu. Xảy ra cuộc Cách mang tháng 8-1945. Chính phủ ban hành cải cách ruộng đất, giao đất cho người chưa có, và giảm tô cho các tá điền. Nhưng cuộc sống bà con giáo dân của tôi vừa mới kha khá một chút th́ chiến tranh đă nổ ra. Quân đội Pháp, nhất là lính lê dương, đàn áp dân chúng rất dă man và bất cứ đi tới đâu là gieo rắc tàn phá và tang thương. Ngay các nhà thờ cũng không được chúng tha cho.

 

«Bấy giờ tôi nhận được lệnh (của Đức cha) phải rời khỏi vùng kháng chiến, ra vùng có quân lính Pháp chiếm đóng. Biết làm sao? Sự lựa chọn lúc này rất quan trọng. Giáo dân đang năn nỉ tôi đừng bỏ họ, tôi đă quyết định ở lại nơi tôi đang ở bấy lâu...

 

«Tại vùng giải phóng, khi nh́n thấy các chiến sĩ cách mạng không có đạo mà xả thân bất kể sự ǵ, để chăm lo cho kẻ khác, người Công giáo không thể không hồi tưởng lại câu chuyện thánh Mactin, đă từng chia áo choàng của ḿnh cho người hành khất. Trong những lúc khó khăn, người ngoài Công giáo không bao giờ khước từ giúp đỡ chúng tôi một sự ǵ: săn sóc người ốm, sửa chữa nhà thờ v.v.. Thái độ đó khiến chúng tôi đoàn kết với nhau giữa mọi người, ngoài Công giáo với Công giáo, trong sự tôn trọng lẫn nhau. Chính trong bầu không khí đó mà đức tin Kitô giáo, chẳng những không sút giảm, trái lại không ngừng được tăng trưởng trong vùng giải phóng. Chúng tôi không có những thánh đường tráng lệ, không có những cuộc rước kiệu long trọng hùng vĩ, nhưng xuyên qua t́nh yêu thương tha nhân và sống công bằng chúng tôi làm chứng cho Đức Kitô».

 

Vị linh mục cao niên đó là cha Trần Quang Nghiêm vẫn sống tại vùng giải phóng dưới quyền kiểm soát của chính phủ Cách mạng Lâm thời. Năm 1973-1974; theo chỗ chúng tôi biết, có độ nửa tá linh mục và mấy chục ngàn giáo dân, tạo nên một cộng đồng giáo hội sống động trong vùng giải phóng, ở đó chẳng phải là thiên đàng cũng không phải là địa ngục, nhưng đơn giản là một nửa phần đất Nam Việt nam, bị bom đạn Mỹ và thuốc độc hóa học tàn phá.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend