TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

12 câu hỏi gởi tác giả cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 
 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

 

 

 

 

12 câu hỏi gởi tác giả cuốn

Tâm Tư Tổng Thống Thiệu

 

 

Đôi Ḍng Người Viết: Trước năm 1975, NgyThanh là “lính cậu” chịu trách nhiệm pḥng tối đơn vị ở Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 10 CTCT đóng ở Đà Nẵng. Được trời đất đăi ngộ, nằm ở hậu phương, và ngồi pḥng tối để được trắng da dài tóc không chịu, lại xin đi làm phóng viên chiến trường.

 

Từ giữa năm 1972, NgyThanh một tay làm phóng viên tiền tuyến cho đơn vị, tay kia cầm máy ảnh cho nhật báo Sóng Thần, và là cộng tác viên của thông tấn xă Associated Press của Mỹ. Một lần vào đầu năm 1973, để tuyên truyền, Việt Cộng cho phép các phóng viên của hảng ngoại quốc, mỗi hảng một người, vào thăm “vùng giải phóng”. Đề nghị của đối phương đưa ra bất ngờ, đúng hôm hảng AP không c̣n ai đang hiện diện tại mặt trận Quảng Trị, thế là NgyThanh được đi. Trở về, chàng “lính cậu” bị an ninh quân đội “hốt xác” để điều tra. Sau đó bị giam lỏng tại đơn vị gốc ở Đà Nẵng, nhưng những khi đi phép, anh chàng vẫn trốn thành phố chạy tới các mặt trận như Vĩnh Điện, Thường Đức…

 

Đầu tháng 3-1975, NgyThanh đang đi công tác ở Cục Tâm Lư Chiến tại Sài G̣n, vào đúng thời điểm mà Huế, Ban Mê Thuột đă thất thủ, và Đà Nẵng đang bị vây khốn, chiếc Boeing 727 c̣n lại duy nhất của Air Vietnam không đủ chỗ cho hàng triệu người muốn t́m sự sống. Nổi máu nghề nghiệp, anh chàng ra phi trường Tân Sơn Nhất quá giang C-130 về. Đúng một tuần sau, Đà Nẵng mất, anh nhà báo “ngụy” không bị đi học tập cải tạo v́ cấp bậc quá nhỏ, nhưng bị đấu tố ở ṭa án nhân dân địa phương, và được lên danh sách đi gỡ ḿn ở phi trường Đà Nẵng, rồi kẹt lại 15 năm rưỡi, trước khi được tổng giám đốc AP gởi thỉnh nguyện thư cho phó thủ tướng Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch, xin đích danh cho đi định cư. Qua Mỹ, anh chàng bẻ bút trùm chăn thêm 17 năm nữa. Hai năm gần đây, NgyThanh t́nh cờ gặp anh Nguyễn Đạt Thịnh, Chủ Bút ấn bản Houston của Thời Báo, bèn ngứa ngáy tay chân, mang lại nghiệp vào thân. Hiện NgyThanh là cộng tác viên thường trực của hệ thống Thời Báo, có ṭa soạn ở Toronto, Canada. 

 

 

Ông Nguyễn Tiến Hưng

Cựu Tổng trưởng Bộ Kế hoạch và Phát triển VNCH

Tác giả cuốn ‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu’

 

Thưa ông:

Được sự đồng ư của ông, tôi xin phép tŕnh bày một số câu hỏi thô thiễn của một người chỉ mới được nh́n thấy tổng thống Thiệu một lần duy nhất, từ khoảng cách xa vài mét, trong cuộc họp báo chớp nhoáng ở phi trường Phú Bài năm 1972.

Là một người hậu sinh, những băn khoăn và ṭ ṃ của tôi không ít sau bấy nhiêu năm thao thức, nhưng chỉ xin gom gọn trong 12 cụm, như sau:

1.- Về đề tựa cuốn sách: ngay đầu trang b́a 2, ông viết (hay nhà xuất bản Hứa Chấn Minh viết và tự xưng là ‘chúng tôi’), “Ông là người rất khép kín trong việc biểu lộ các suy tư của ḿnh…” “… ít ai biết đến khía cạnh ‘con người’ và những suy nghĩ thầm kín trong tâm trí ông”. Xin ông cho biết cuốn TTTTT (In the mind of President Thieu) có thể được coi là một sử liệu và là một hồ sơ phân tích tâm lư của cá nhân ông Nguyễn Văn Thiệu, hay chỉ là những suy diễn chủ quan của ông về tâm lư cố tổng thống, do đó, đề tựa có thể sửa thành ‘Tâm Tư Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng’?

2.- Về quyết định rút khỏi Pleiku, sách TTTTT của ông ghi:

“Chúng tôi đă hỏi thẳng tại sao ông ra lệnh rút Pleiku, TT Thiệu giải thích: Thứ nhất, nếu lấy lại Ban Mê Thuột, th́ việc tái chiếm Pleiku và Kontum sẽ dễ dàng. BMT như là một nút chặn đường quân đội BV đổ xuống miền bờ biển và Sàig̣n. BMT là điểm then chốt nối liền con đường ngắn nhất từ biên giới Lào tới vùng bờ biển VN.” (trang 56 và 57)

Đây là một đoạn văn làm tối và làm rối hơn câu chuyện lịch sử, thay v́ làm sáng tỏ vấn đề. Xin ông xác nhận là TT Thiệu nói “nếu lấy lại BMT” hay “nếu lấy lại được Ban Mê Thuột”, v́ hai việc đó hoàn toàn khác nhau, một bên là giả thiết, giá trị chỉ ngang với kế “điệu hổ ly sơn” trong “tam thập lục kế”, một bên là điều kiện tất yếu về mặt quân sự.

Về mặt địa lư, khoảng cách từ BMT tới Ninh Ḥa trên QL1 (33 km phía bắc Nha Trang và 27 km phía nam Vạn Giă) là 162 km, trong khi khoảng cách từ Pleiku tới ngă ba Phú Tài trên QL1 (6 km bắc Qui Nhơn) là 170 km. Nếu binh sĩ tái chiếm được không vận, ông thừa biết khoảng cách khác biệt 8 km không là bao nhiêu so với tốc độ máy bay. “BMT như là một nút chặn đường quân đội BV đổ xuống miền bờ biển và Sàig̣n”: đă mất BMT, rồi tái chiếm (nếu được) BMT, vậy sao c̣n phải chặn đường quân BV đổ xuống miền biển? Lực lượng Cộng sản sau khi chiếm được Phước Long vẫn c̣n đó, nếu muốn đổ xuống Sài G̣n, không lư ǵ họ phải ṿng về BMT, đổ xuống Ninh Ḥa, rồi… đi ngược vào Long Khánh? Nếu ông diễn tả suy nghĩ của TT Thiệu là tái chiếm BMT để lực lượng ở đó không đánh xuống Ninh Ḥa, Nha Trang để tiến về Sài G̣n, th́ càng khó hiểu hơn cho người đọc. Khi phải lấy bộ đội từ BMT để đánh Sài G̣n, không riêng ǵ trung tướng Hoàng Minh Thảo, tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên hay đại tá Đặng Vũ Hiệp, chính ủy chiến dịch, mà bất cứ anh lơ xe đ̣ nào ở Việt Nam cũng biết từ BMT theo Quốc lộ 14 qua Dak Mil, Núi Lửa đổ xuống Gia Nghĩa, Kiến Đức ráp với QL 13 ở Chơn Thành, là đường ngắn nhất để tới Sài G̣n.

Tương quan quân số của chiến trường Tây Nguyên trong tháng 3-1975:

Phía VNCH, theo tác giả Hà Mai Việt, chúng ta có 9 tiểu đoàn bộ binh thuộc SĐ23BB của chuẩn tướng Lê Trung Tường, 21 tiểu đoàn BĐQ do đại tá Phạm Duy Tất chỉ huy, SĐ 6 Không Quân tại Cù Hanh và Phù Cát, SĐ2KQ tại Nha Trang và Phan Rang, cộng với Lữ đoàn 2 Kỵ Binh của đại tá Nguyễn Văn Đồng, và SĐ22BB của chuẩn tướng Phan Đ́nh Niệm có nhiệm vụ bảo vệ và khai thông QL 19 từ Pleiku xuống ngă ba Phú Tài nhưng bị địch cầm chân ở B́nh Khê (Thép và Máu, trang 170, 171).

Phía đối phương, họ cho biết: “Lực lượng tham gia chiến dịch gồm năm sư đoàn (10, 320A, 316, 968, 3), bốn trung đoàn bộ binh (95A, 95B, 25, 271), hai trung đoàn pháo binh (40 và 675), ba trung đoàn pháo cao xạ (232, 234, 593), trung đoàn xe tăng thiết giáp 273, trung đoàn 198 và hai tiểu đoàn đặc công (14, 27), hai trung đoàn công binh (7 và 575), trung đoàn thông tin 29 và các đơn vị hậu cần, vận tải”. (’55 năm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam’, nhà xuất bản QĐND Hà Nội 1999, trang 360). Tất cả 5 sư đoàn ghi trên đều được đại tá Hà Mai Việt xác nhận trong Thép và Máu, trang 171.

Ở trang 57, ông viết, “Ông (Thiệu) cho rằng phải tiết kiệm số quân của các sư đoàn tinh nhuệ, ṇng cốt bằng cách rút những sư đoàn nầy ra khỏi vùng hiểm trở ở Cao nguyên… Tập trung lại để tái chiếm BMT xong rồi, tùy t́nh h́nh ngoài Vùng I, ta có thể quyết định: một là lấy lại Pleiku, Kontum; hai là tăng viện cho tướng Trưởng”. Diễn dịch ra, sau khi mất BMT, ta rút quân ra khỏi và bỏ ngơ Pleiku, bằng tuyệt lộ 7B, để ṿng lại tái chiếm BMT; lấy lại BMT xong, ta sẽ tái chiếm luôn Pleiku, Kontum, hoặc nếu không tái chiếm được, th́ thẩy ra Vùng I cho tướng Trưởng. Những người cần tra cứu lịch sử sau nầy sẽ bị lạc lối, và nghĩ rằng ông tư lệnh quân đội Nguyễn Văn Thiệu đă điều binh, cho di tản chiến thuật từ chợ Bến Thành qua chợ Bà Chiểu để tái chiếm chợ An Đông, nếu không “ăn”, sẽ tùy t́nh h́nh ngoài Huế, để gởi ra tăng viện cho chợ Đông Ba. Thưa ông, để khỏi tẩu hỏa nhập ma khi đọc cuốn TTTTT, xin ông thứ lỗi và cho phép tôi đọc như đọc một truyện giả tưởng, bởi v́, chừng như lời khuyên của TT Thiệu dành riêng cho ông đă mất hiệu ứng theo thời gian, sau khi ông đă viết xong những hai cuốn sách liên quan tới lịch sử. Dù sao cũng xin cảm ơn ông đă nói thật: “Anh phải cẩn thận từ cái chấm cái phẩy.”(‘TTTTT’ , trang 370)

Về trách nhiệm, sách TTTTT nhắc câu nói của TT Thiệu, nhưng không trưng dẫn bằng chứng, về cuộc họp Cam Ranh: “Tôi ra hai chứ không phải một lệnh: đó là thứ nhất, rút quân khỏi Pleiku để tái chiếm BMT; và thứ hai, BTTT theo dơi và giám sát cuộc triệt thoái nầy”. Đọc đi đọc lại hơn một lần, tôi vẫn thấy khi quân rút khỏi Pleiku hà tất không cần bị ra lệnh, Bộ Tổng Tham Mưu cũng phải ‘suivre et surveiller’, vậy trước sau vẫn chỉ một lệnh. Ngay giả thiết TT Thiệu có nói với ông “Tôi ra chỉ một lệnh, chứ không phải là hai”, th́ độc giả vẫn thấy đó là chuyện khẩu thuyết vô bằng.

Về chuyện chọn tuyệt lộ 7B, sách TTTTT gắn tội lỗi cho tướng Phú ở trang 52: “Tướng Phú chọn tỉnh lộ 7B làm đường rút quân v́ ông đặt nặng yếu tố bất ngờ đối với quân đội BV”. Nhưng chỉ qua tới trang 59, ông lại viết: “TT Thiệu nói là ông vẫn c̣n thắc mắc tại sao Công binh đă không làm xong cái cầu nổi nầy trong vài ngày như đă nói với ông?” Như thế, chính ông đă giải oan cho tướng Phú trước lời bán cái trách nhiệm cho ông tướng từ miệng tổng thống. Bên cạnh đó, vào thời điểm giữa tháng 3-1975, ai cũng biết hai quốc lộ 19 và 21 từ Pleiku và BMT xuống đồng bằng đă bị Việt cộng kiểm soát, và con đường c̣n lại duy nhất, là liên tỉnh lộ 7B để thoát khỏi Pleiku, dù sống hay chết dọc đường, dù qua được hay không được đầu nguồn sông Đà Rằng (hay Ea Rarang theo tiếng Champa, mà ông gọi là sông Ea Pha). Như thế, TT Thiệu thừa biết, hay đă phê chuẩn kế hoạch làm chết quân và dân khi dùng ‘tỉnh lộ 7B’ – một địa danh quân sự và lịch sử nhuộm máu rất quan trọng mà các tác giả ngoại quốc c̣n nhớ để ghi ở phần index cuối sách – trừ sách của ông – để giúp những ai cần tra cứu về đại lộ kinh hoàng và nhuộm máu nầy.

           Hàng trăm ngàn đồng bào và binh sĩ ‘di tản chiến thuật’ theo lệnh của tổng tư lệnh quân đội VNCH

           Nguyễn Văn Thiệu bị nghẽn đường tại đầu nguồn Sông Ba (Sông Đà Rằng) v́ không có cầu qua sông,

           trên tỉnh lộ 7B từ Pleiku đi Tuy Ḥa.

Xin chép lại tặng ông và linh hồn tổng thống một đoạn trong bài phóng sự của Nguyễn Tú, phóng viên báo Chính Luận, người đă lội bộ theo đoàn người từ Pleiku về Tuy Ḥa và tường thuật tại chỗ bằng điện thoại:

“Dân chúng nghèo cũng ra đi bằng phương tiện thiên nhiên, trời đă phú cho họ là đôi chân của chính họ. Họ đây là gồm cả già, trẻ, lớn, bé, con nít c̣n bồng trên tay, đàn bà đang mang bầu, tay xách, nách mang một vài manh chiếu, một vài bọc quần áo, buồn tủi, lo âu, gia đ́nh nọ nối tiếp gia đ́nh kia đi hàng một sát bên lề đường để tránh đoàn xe. Đèn pha của đoàn xe lần lượt chiếu các bóng lưng c̣ng xuống của người lớn, những bóng nhỏ hơn của các trẻ em tay níu vạt áo hoặc ống quần của người bố hay người mẹ. Họ lặng lẻ thất thểu bước nọ trước bước kia trong đêm tối của tâm hồn.”

Trong cuốn ‘Nixon, Ford và việc bỏ rơi Nam Việt Nam’, hai tác giả J. Edward Lee và H.C. Haynsworth viết ở trang 91:

“Cuộc họp hôm thứ Sáu ấy chỉ có năm người tham dự: TT Thiệu, tướng Phú, tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, thủ tướng Trần Thiện Khiêm và trung tướng Đặng Văn Quang, cố vấn tổng thống về an ninh. Chỉ trong ṿng nửa tiếng đồng hồ, bốn quyết định cơ bản đă h́nh thành: (1) quân đội chính quy của VNCH ở Pleiku và Kontum triệt thoái khỏi cao nguyên; (2) Địa phương quân, Nghĩa quân, gồm tuyệt đại đa số là người Thượng thiểu số cùng với thân nhân họ, cũng như thường dân và các viên chức chính quyền tại Pleiku và Kontum sẽ không được biết về cuộc di tản và cũng không được triệt thoái; (3) việc tái phối trí sẽ tiến hành trong ṿng bí mật vài ngày sau; và (4) con đường rút quân sẽ là tỉnh lộ 7B hoang phế từ lâu.

Nói về quyết định dùng Tỉnh lộ 7B, đại tá Lư căi rằng Quốc Lộ 19 vẫn hơn: ‘đường 7b cần có nhiều lính công binh mở đường, v́ ḿn bẫy: ḿn của địch gài, ḿn của bạn gài, ḿn của Lực Lượng Đặc Biệt để lại. Cầu cống trên đường đă đổ nát và con đường nầy từ lâu nay không c̣n dùng tới. Như thế chúng ta phải làm cầu lại, và sẽ tốn thời gian và vật liệu. Đồ quân cụ. Chúng ta có đủ không? Chúng ta có di chuyển được không? Nếu lính Mỹ có ở đây, họ có thể dùng cần cẩu lớn để lắp ráp cầu. Như thế dễ hơn. Nhưng bây giờ, QLVNCH c̣n một ḿnh, liệu chúng ta có đủ phương tiện để vận chuyển trang thiết bị nặng tới các vị trí ta cần? Đó là vấn đề. Bất ngờ là yếu tố tốt. Tôi đồng ư. Vâng, bất ngờ. Muốn tới đấy để đánh ta, địch sẽ mất th́ giờ. Nhưng chúng ta cần phải làm cầu, làm đường, thật quá dễ để chúng xé xác chúng ta. Địch quân sẽ có đủ th́ giờ để hoàn hồn sau cú bất ngờ. Nhưng ông ấy không nghe lời tôi. Ông nói Tổng thống đă ban hành quyết định’…

Khoảng 400 ngàn thường dân, 60 ngàn lính chính quy, và 7 ngàn lính Biệt động quân bắt đầu t́m đường xuống biển. Tới trưa ngày 16-3, một đoàn người khổng lồ gồm lính tráng, thân nhân của họ, dân thường, và lính đào ngũ bị nghẽn lại trên con đường cũ. Khi nhóm người cuối cùng vừa đàn ông đàn bà vừa con trẻ thất thểu tiến vào thị trấn Tuy Ḥa, con số người mất tích không bao giờ c̣n t́m ra gồm 300 ngàn thường dân, 40 ngàn lính chính quy, và 6 ngàn 3 trăm lính Biệt động quân.”

(http://faculty.winthrop.edu/haynsworthh/Invasion%20of%20South%20Vietnam.htm)

Lướt nhanh qua cuốn sách, người đọc sẽ khám phá ra một điều khả tín khi ông nhận xét về ông Thiệu: đa nghi như Tào Tháo. Ông không tin nhân dân. Ông không tin quân đội, và luôn lo sợ ḿnh bị quân đội giết như ông Diệm. Ông không tin người Mỹ. Ông không tin vợ con, không tin cả người thân cận nhất là ông Nguyễn Văn Ngân – chỉ một ḿnh ông, để kư thác tất cả tâm tư, nguyện vọng. Bản chất đa nghi ấy đă tự tố cáo tổng thống là người ra lệnh cho tướng Phú rút bỏ Pleiku, mặc dù khi họp ở Cam Ranh ngày 14-3 có mặt tướng Quang và tướng Viên, nhưng thời điểm thi hành triệt thoái, tướng Quang và tướng Viên vẫn bị ông Thiệu cho trễ tàu chẳng khác ǵ tướng Việt cộng Văn Tiến Dũng.

Chi tiết đa nghi và giữ kín chuyện rút quân khỏi Pleiku bằng đường 7B ấy, ngay cả Mỹ cũng ngớ ra:

“Thứ Bảy, ngày 15-3-1975, 10 giờ sáng: Polgar đang ngồi ở văn pḥng của ông ở Sứ Quán Mỹ. Một nhân viên t́nh báo gọi về từ Pleiku: ‘Quân đoàn II đang rút.’

Xưa nay, trùm CIA vẫn tự hào là biết trước mọi cuộc động binh của Nam Việt Nam. Sững sờ, ông gởi ngay một phụ tá qua Dinh Độc Lập, và một người nữa tới Bộ Tổng Tham Mưu.

Ở Dinh Độc Lập, tướng Quang thẳng thừng, ‘Không có ǵ xảy ra ở Pleiku cả’. (‘Cruel April’ của Olivier Todd, trang 154)

Tại Sài G̣n thủ tướng chủ tọa buổi họp nội các. Một vị tổng trưởng nói xa xa gần gần đến t́nh h́nh Cao nguyên, bằng giọng khó chịu: ‘Tôi có nghe bản tin của ngoại quốc, đài BBC và đài VOA.’

Ngồi bên cạnh thủ tướng, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên nghe ông Khiêm th́ thào:

‘Tôi cũng thế’.

‘Cái ǵ? Ông mà cũng thế?’

‘Thật mà,’ ông Khiêm thở ra. ‘Tôi không được cho hay’.

‘Rồi, vậy th́ ai là người có những quyết định nầy?’

‘Họ làm quyết định dưới kia ḱa,’ ông Khiêm trỏ một ngón tay về phía Dinh Độc Lập. ‘Có ba người biết chuyện nầy.’

‘Những ai?’

‘Ông tổng thống, tướng Viên và tướng Phú.’” (‘Cruel April’ của Olivier Todd, trang 155)

Với bản chất đa nghi và độc đoán của TT Thiệu như thế, làm sao ông bói được tâm tư hay mưu kế chính trị của nguyên thủ quốc gia?

3.- Về quyết định rút khỏi Huế qua cửa Tư Hiền, ông viết “Nếu như tướng Phú đă cho rằng con đường 7B là lối duy nhất để rút về Tuy Ḥa th́ tướng Trưởng cũng chỉ c̣n một đường bộ qua cửa Tư Hiền để dùng phương tiện Hải quân rút về Đà Nẵng” (trang 95).

Cửa Tư Hiền là cửa biển nằm giữa phần đất xă Vinh Hiền của quận Vinh Lộc nh́n qua mũi núi Vĩnh Phong của xă Lộc Thủy, quận Phú Lộc. Khi Huế thất thủ, binh sĩ các binh chủng và phần lớn TQLC c̣n lại được lệnh rút ra ‘đảo’ Vinh Lộc – nằm giữa Thái B́nh Dương và đầm Cầu Hai, với hai đầu là hai cửa biển Thuận An và Tư Hiền – là một quyết định vừa đúng vừa duy nhất, sau khi quốc lộ 1 đă bị cắt ở Truồi, ở đèo Hải Vân và đèo Phú Gia. Tuy nhiên, rút qua ‘đảo’ Vinh Lộc chỉ đúng về chiến thuật, như một đầu cầu, để sau đó thoát ra biển bằng tàu hải quân vào Đà Nẵng. Những cửa biển trong điều kiện chiến tranh VN, vừa là nơi không có đường sá lưu thông, không phải là nơi để bắt “một cái cầu nữa” như ông viết. Cho dù vượt qua được cửa Tư Hiền, từ núi Vĩnh Phong không có đường lộ để xuôi nam, trừ phi kéo nhau đi dọc bờ biển để làm mồi cho súng đạn địch, rồi c̣n phải qua một cửa sông ở mũi Chân Mây (xă Lộc Tụ) và lội một cửa đầm Lang Cô ở xă Lộc Hải, trước khi bị núi Hải Vân với đường đèo dài 21 km chắn ngang, đă bị cộng sản cắt đứt. Nếu quân lính có vượt được cửa Tư Hiền sang bờ phía nam, trong trường hợp bị đánh, cánh đồng cát trống rỗng khoảng 100 cây số vuông giữa đèo Phước Tượng và đèo Phú Gia là nơi bất quá có thể dàn mỏng quân để tránh tổn thất thay v́ bị nhốt cứng trên ‘đảo’ Vinh Lộc quanh núi Túy Vân, nhưng vẫn c̣n cách Đà Nẵng tới một khoảng cách 60 km với hai đèo Phú Gia và Hải Vân. Do đó, mục đích rút quân xuống dăi cát Vinh Lộc là để lập đầu cầu, chờ các dương vận hạm ủi băi, bốc ra biển. Nói rút quân về ‘cửa Tư Hiền để dùng phương tiện Hải quân rút về Đà nẵng’ là đúng, nhưng coi cửa Tư Hiền như một trở ngại v́ không có cầu để xuôi nam, để đổ lỗi cho tướng Trưởng và tướng Thoại th́ không. Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại viết:

“Ngày 26-3-1975, hai ponton (cầu nổi) do BTL Vùng I Duyên Hải chỉ thị kéo ra và một pontoon do BCH Chuyển Vận (tôi nghĩ là tác giả muốn nói BCH1Tiếp Vận đóng ở căn cứ do XXIV Corps của TQLC Mỹ bàn giao lại, đối diện với Ṭa Thị Chính Đà Nẵng, cách con sông Hàn) đưa tới Cửa Tư Hiền, nhưng v́ sóng gió ngầm gần bờ mạnh nên cả 3 ponton nầy không thể kéo tới gần cửa và phải cho thả trôi từ xa vào nên không nằm đúng chỗ cửa biển.

Tại phía Bắc cửa Tư Hiền, cách khoảng 2 cây số, trong buổi sáng đă có 6 LCU (giang vận hạm) và 18 LCM (hải vận hạm) sẵn sàng ủi băi. Nhưng trong suốt ngày 26-3, không một chiến đỉnh nào của Quân vận có thể ủi băi v́ sóng ngầm gần bờ quá mạnh.

Sáng hôm đó đại tá Nguyễn Hữu Duệ, tỉnh trưởng Thừa Thiên đă có mặt tại BTLQĐ1 tại Đà Nẵng, trung tướng Ngô Quang trưởng gọi điện thoại cho tôi từ BTLQĐ1 nói là hiện có đại tá Duệ trong văn pḥng, và hỏi tôi v́ sao các đơn vị bộ binh không băng ngang Cửa Tư Hiền được. Tôi cho biết là v́ biển động nên việc sử dụng ponton không thể thực hiện được.

Liền sau đó tôi lên ngay trực thăng và bay thẳng ra Cửa Tư Hiền và Đầm Cầu Hai. Khi đến nơi tôi thấy tất cả chiến thuyền của Duyên Đoàn 13 đều ở ngoài khơi cửa Tư Hiền gồm 7 Yabuta và 6 PBR. Trên đường ra biển, đoàn chiến thuyền nầy đă bị VC phục kích suốt 5 cây số dọc núi Vĩnh Phong, khiến một nhân viên chết.

Tôi gọi máy từ trực thăng xuống đoàn chiến thuyền của Duyên Đoàn 13, hỏi thiếu tá Phương v́ sao không giúp đỡ các đơn vị bộ binh băng ngang Cửa Tư Hiền. Thiếu tá Phương cho biết là khi sáng sớm, một sĩ quan thuộc Trung Đoàn 54 SĐ1 vào căn cứ Duyên Đoàn đă túm áo và chỉa súng lục vào người thiếu tá Phương và dùng lời lẽ hăm dọa, do đó thiếu tá Phương quyết định rút hết các chiến thuyền ra khơi.

Lúc 12 giờ 30, tôi nhận thấy t́nh h́nh rất khó khăn nên quyết định dùng biện pháp bất khả kháng. Tôi chỉ thị cho thiếu tá Phương mang 3 chiến thuyền đến sát bờ, nhận ch́m để có thể thay thế cầu tàu cho các đơn vị bộ binh lên các chiến hạm đổ bộ.

Duyên đoàn 13 cho chiến thuyền đến cách bờ khoảng 300 thước nhưng v́ sóng quá mạnh nên công tác trên không thực hiện được.” (‘Can Trường Trong Chiến Bại’, trang 209, 210)

Ngoài ra, trong chỗ trao đổi riêng tư gần đây, tác giả Hồ Văn Kỳ Thoại cho tôi hay rằng “Cho dù có đưa quân sang được bên kia Cửa Tư Hiền nhưng nếu TQLC chưa chiếm được núi Vĩnh Phong th́ coi như đem quân nạp mạng cho địch. Biết trước tai họa như thế, tướng Lân và tôi đề nghị tướng Trưởng cho vừa đánh vừa rút về hướng QL1, hoặc đánh bọc hậu phía tây núi Hải Vân nhưng không được tướng Trưởng chấp thuận.”

Xin được dùng phần tŕnh bày trên đây thay câu trả lời cho ông: “bây giờ trên đường triệt thoái từ Huế (ngày 25-3) về Đà Nẵng th́ lại một cái cầu nổi khác gây thảm họa. Đó là cái cầu nổi giữa cửa Tư Hiền và đường bộ.” Thưa ông, Vinh Lộc là nơi mai táng mẹ tôi và là nguyên quán của bố tôi. Nếu ông cho phép một cuộc diện kiến trong dịp ông ra mắt sách tại Houston vào cuối tuần nầy, tôi sẽ mang theo bản đồ quân sự của toàn khu vực nầy, để giải thích sự khác biệt giữa việc có hay không có chiếc cầu nổi mà ông mô tả là tội ác tương đương với tội ác làm chết hàng trăm ngàn sinh linh trên tỉnh lộ 7B.

Phần trả lời của Phó Đề Đốc Thoại cũng xin dùng làm câu trả lời cho lời cáo buộc của tướng Lâm Quang Thi trong thư trả lời y sĩ TQLC Phạm Vũ Bằng, đăng trên mạng:

“Kế hoạch triệt thoái của tôi là SĐ1 sẽ di chuyển qua ngả Tư Hiền và LĐ147 sẽ được lực lượng đặc nhiệm HQ – do Sài G̣n gởi ra tăng cường QĐI và gồm nhiều chiếc LST (Landing Ship, Tank) bốc lên ở phía nam Thuận An. Tôi nhấn mạnh với Tướng Trưởng rằng sự triệt thoái SĐ1 chỉ có thể thực hiện với hai điều kiện: (1) một cây cầu nổi phải được bắt ngang Đầm Cửa Tư Hiền và (2) Núi Vĩnh Phong, cao điểm phía nam cửa Tư Hiền, phải do một đơn vị TQLC chiếm đóng. Tướng Trưởng hỏi ư kiến của BTM của ông và họ cho là hai điều kiện này có thể thoả măn được. Chiều ngày 23, Tướng Trưởng họp với Tướng Lân, TL/SĐTQLC, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, TL/HQVICT, và trung tá chỉ huy trưởng Lữ Đoàn 10 Công Binh. Ông Thoại bảo đảm với Tướng Trưởng rằng ông sẽ cho đánh ch́m một chiếc tàu HQ ở giữa Cửa Tư Hiền để cho SĐ1 đi qua và Tướng Lân cũng bảo đảm rằng ông sẽ cho chiếm đóng các cao điểm phía nam cửa Tư Hiền. Nhưng cuối cùng hai nhiệm vụ này cũng không được thực hiện, và điều này đă gây nhiều tổn thất cho các đơn vị rút quân qua ngả Tư Hiền.” [http://nguoithathoc1959.multiply.com/journal/item/13860]

*Xin xem thêm h́nh chụp dăi cát Vinh Lộc, đầm Cầu Hai, cửa Thuận An và Cửa Tư Hiền từ vệ tinh, đính kèm

4.- Theo ông, tất cả sự thất thủ của miền Nam Việt Nam là tội lỗi của người Mỹ. Xin được đặt câu hỏi ngược lại: nếu tổng thống từ chức, nhưng trung tướng Thiệu không đào ngũ, ở lại chiến đấu với quân dân miền Nam, hay cuối cùng sẽ tuẫn tiết như các tướng và các sĩ quan khác (như tấm h́nh chụp ở chân tượng TQLC trước Quốc Hội, đính kèm), t́nh h́nh miền Nam và ḷng người miền Nam có khác hơn so với hôm nay? Từ ngày trốn thoát khỏi Việt Nam 25-4-1975 đến ngày 29-9-2009, quân nhân Nguyễn Văn Thiệu đă nói ǵ với ông về Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê văn Hưng và Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ?

Là người biết được tâm tư của TT Thiệu, xin ông cho biết trước khi chết, tổng thống của chúng ta có biết tướng Phạm Văn Phú nói ǵ về ông ấy không? Hai tuần sau khi bị ‘lột chức’ tư lệnh Quân Đoàn II tại đồi “Lầu Ông Hoàng”, tướng Phú vào điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa. Ngày 15-4-1975, đại tá Phạm Văn Chung, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 369/TQLC đă vào thăm tướng Trưởng và tướng Phú đang dưỡng bệnh và đă nghe tướng Phú trăn trối. Ông Chung kể:

“Rời pḥng Trung Tướng Trưởng, tôi (đại tá Chung) qua pḥng kế bên cạnh là pḥng của Thiếu Tướng Phú, cũng đang nằm dưỡng bệnh kế đó. Bước vào pḥng tôi thấy Thiếu Tướng Phú đứng dậy ngay và bắt tay tôi bằng một giọng hằn học, tức tối:

‘Anh Chung, anh từng hành quân với tôi đă lâu…’

Nói đến đây Thiếu Tướng Phú ôm tôi và khóc tiếp với giọng nghẹn ngào, tức tối:

‘…mà đêm qua, TT Thiệu lên đài nói chuyện và đổ tội cho các tướng lănh là hèn nhát bỏ chạy. Anh cứ về hỏi Trung Tướng Trưởng xem, trong buổi họp hôm trước, có cả Trung Tướng của anh nữa đấy, tôi đă xin Tổng Thống cho tôi giữ Pleiku bằng mọi giá, Tổng Thống không chịu, bắt tôi phải rút… có cả Đại Tướng Viên và Đại Tướng Khiêm nghe nữa mà bây giờ Tổng Thống nói chuyện với toàn dân đổ tội cho chúng tôi, thật cái nhục này tôi không biết tỏ cùng ai, không biết đồng bào có hiểu không, chỉ có cách chết mới hết nhục’.

Ông đă làm thật. Tại căn nhà riêng trên đường Gia Long, trong khi vợ và các con vắng nhà để đi t́m phương tiện di tản, tướng Phú đă uống một liều thuốc cực mạnh để tự kết liễu đời ḿnh, một ngày trước khi xe tăng cộng sản húc cổng sắt Dinh Độc Lập để nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

5.- Lịch sử vẫn nhắc đi nhắc lại cụm từ “gia đ́nh trị” của chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Trong khi cầm quyền, ông Thiệu bổ nhiệm ông anh Nguyễn Văn Hiếu làm đại sứ ở Ư, và ông anh Nguyễn Văn Kiểu làm đại sứ ở Đài Loan, cộng thêm người anh em bà con cô cậu là Hoàng Đức Nhă làm Tổng Ủy Trưởng Phủ Tổng Ủy Dân Vận. Ông nghĩ sao nếu người khác cũng gọi tổng thống Thiệu “gia đ́nh trị”? Khi ghi lại suy diễn của ông về năo trạng của người khác nhằm biện hộ cho người ấy, ông có tự nhận ḿnh là một Lê Lai ra tay dù muộn để cứu chúa, hay chỉ viết v́ sự thôi thúc của tài năng thiên phú về chuyên đề “làm kinh tế” mà trời ban cho tiến sĩ?

6.- Vào ngày 8-8-2004, thông tấn xă AP đánh đi một bản tin ngắn tiết lộ một cuộc đối thoại giữa Nixon và Kissinger hôm 3-8-1972, xin được trích lại nguyên văn như sau:

CHRIS KAHN, Associated Press Writer

AP Worldstrea

08-08-2004
Dateline: ROANOKE, Virginia


Three months before the 1972 presidential election, President Richard Nixon and Henry Kissinger huddled together in the Oval Office to discuss when and how to get out of Vietnam.
Despite a massive bombing campaign during the spring and summer in the north of that country, the Republican president had concluded that U.S.-backed “South Vietnam probably can never even survive anyway.” (Nam Việt Nam có thể không bao giờ c̣n tồn tại dù bất cứ cách nào).

“We also have to realize, Henry, that winning an election is terribly important,” Nixon told his national security adviser. “It’s terribly important this year, but can we have a viable foreign policy if a year from now or two years from now, North Vietnam gobbles up South Vietnam? That’s the real question.” (Nixon bảo người cố vấn an ninh quốc gia của ḿnh: “Henry, chúng ta cũng phải nhận thức rằng thắng cử là điều tối quan trọng. Nó vô cùng quan trọng trong năm nay, nhưng liệu chúng ta vẫn có thể có một chính sách ngoại giao sống c̣n không nếu một năm hay hai năm nữa, Bắc Việt nuốt chững Nam Việt Nam? Đó mới là vấn đề.”)

The conversation, recorded by Nixon’s taping system, was transcribed by the University of Virginia Miller Center of Public Affairs to be released today, the 30th anniversary of Nixon’s resignation.

Some historians, including biographer Jeffrey Kimball, consider it evidence that Nixon sacrificed American forces in his quest for a second term, keeping them engaged to ensure that the South Vietnamese government wouldn’t collapse before the election.

“It became increasingly apparent to them by 1972, if not before, that they couldn’t win the war and they’d have to end it,” said Kimball.

Kissinger, now a foreign-policy consultant, said in an interview with The Associated Press that Kimball and other historians are focusing too much on an informal conversation that he said did not reflect Nixon’s policies.

“Every once in a while he got discouraged and said, ‘Chuck the whole thing,’ but that was never his policy,” Kissinger said.

Historians said the conversation reflected Nixon’s “decent interval” exit strategy in Vietnam.

By propping up Saigon, the theory goes, the government could survive at least a few years on its own, and Nixon would be able to distance himself from any political fallout when it collapsed.

The Aug. 3, 1972, conversation, which was released in December by the National Archives, shows that Nixon worried about how his administration would be viewed if South Vietnam fell.

Kissinger, who would share the Nobel Peace Prize the following year with North Vietnam’s Le Duc Tho for brokering a peace agreement, advised the president that they could avoid being seen as failures as long as South Vietnam held on for a few years.

“If a year or two years from now, North Vietnam gobbles up South Vietnam, we can have a viable foreign policy if it looks as if it’s the result of South Vietnamese incompetence,” Kissinger said. (Kissinger nói: “Nếu tới một hay hai năm nữa, Bắc Việt nuốt chững Nam Việt Nam, chúng ta vẫn có thể có một chính sách ngoại giao sống c̣n, nếu như t́nh h́nh được coi là bởi sự bất tài của người Nam Việt Nam”).

http://mtracy9.tripod.com/nixon-vietnam.htm ]

Mẩu đối thoại trên xảy ra ngày 3-8-1972, được tác giả Rick Perlstein lặp lại ở trang 708 cuốn ‘Nixonland’, đính kèm. Vào ngày 31-10-1972 cả thành phố Sài G̣n bừng bừng nghẹt thở, về tin Hiệp Định Ba Lê mà chính quyền Việt Nam bị Mỹ ép buộc phải kư ngay hôm ấy. Cuối cùng, ông Trần văn Lắm ngồi sẵn ở Paris nhưng tránh khỏi chưa phải kư, và ông Thiệu đă tŕ trệ được 3 tháng. Xin ông cho biết suy nghĩ của tổng thống Thiệu về người Mỹ vào thời điểm 31-10-1972 và vào ngày ngưng bắn 28-1-1973. Tại sao dạo ấy TT Thiệu nói công khai “Một tên Việt Cộng giao liên địa phương c̣n biết nhiều về những chi tiết thương lượng ở Ba Lê hơn tôi”, mà vẫn kư?

Ngoài ra, Hiệp Định Ba Lê mang chữ kư Ngoại trưởng William P. Rogers là một thỏa thuận giữa chính phủ đương quyền Hoa Kỳ (Richard Nixon), Việt Nam Cộng Ḥa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, và Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam; hiệp định ấy chưa bao giờ được quốc hội Hoa Kỳ phể chuẩn, nên giá trị pháp lư chỉ ràng buộc riêng tổng thống Nixon. Sau khi Nixon từ chức ngày 9-8-1974, ràng buộc ấy chấm dứt. Như thế, tại sao nỗ lực của ông qua 3 cuốn sách luôn nhắm vào 2 việc: đổ tội thất bại tại Việt Nam cho chính quyền Mỹ (hành pháp, tư pháp và lập pháp) và bào chữa cho tổng thống Thiệu, thay v́ đặt vấn đề một vị nguyên thủ quốc gia mà lại cả tin vào cá nhân một ông tổng thống khác. Để mang lại tính chất thuyết phục cho cung cách cải quản quốc gia của tổng thống Thiệu, xin được hỏi, nếu giao cho ông tiến sĩ kinh tế làm tổng thống VNCH, và giao trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm tổng trưởng Bộ Kế hoạch và Phát triển, ông sẽ làm khác hơn, hay lặp lại vết xe lịch sử của tổng thống Thiệu?

Bên cạnh đó, có người cho rằng chuyện Nixon mưu đồ với Kissinger để bỏ rơi Nam Việt Nam đă được giải mă năm 2004, nhưng cuốn sách thứ nh́ của ông đặt tựa và vẫn gọi hành động bỏ rơi Việt Nam vào ba năm sau của Mỹ là ‘Khi Đồng Minh Tháo Chạy’, nghe có vẻ như có sự lẫn lộn giữa một chiến lược hay một chính sách với một chiến thuật. Phần khác, có nhiều người ở Việt Nam cho rằng cuốn thứ nh́ của ông rất ăn khách, là nhờ tựa đề ấy tựa vào tựa đề ‘Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn’ mà dịch giả Ngô Dư và Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh đă dùng để cay cú đặt cho bản tiếng Việt cuốn ‘Decent Interval’ của Frank Snepp. V́ ông nhắc lại nhắc đi rất nhiều lần rằng ông không phải là nhà viết sử, vậy khi cho cuốn sách thứ nh́ chào đời, ông có nghĩ rằng ḿnh đang đóng góp rất tích cực cho bộ máy tuyên truyền của cộng sản trong việc bôi lọ quân dân miền Nam, những kẻ mà họ miệt thị là ‘liếm gót giày của Mỹ’?

7.- Sau đây là một câu hỏi của đài BBC năm 1973, và câu trả lời của tổng thống Thiệu:

BBC: ‘Thưa ông giá tỷ như ông thắng cuộc bầu cử này, mà tôi tin chắc là thế nào ông cũng cho rằng ông thắng lớn, th́ ông có nghĩ rằng ông nhận được đầy đủ sự ủy nhiệm của dân chúng để dẹp bằng vơ lực tất cả các lực lượng cộng sản ra khỏi Miền Nam Việt Nam hay không?

Nguyễn Văn Thiệu: ‘Tôi không biết là sẽ có bầu cử theo kiểu nào tại miền Nam Việt Nam, nhưng có bầu cử theo kiểu ǵ đi chăng nữa, th́ tôi tin chắc rằng dân chúng ở miền nam sẽ vẫn tôn trọng luật lệ xuất phát từ ư nguyện của dân chúng. Nếu như cộng sản thắng, th́ chúng tôi chấp nhận sống dưới sự cai trị của họ ngược lại nếu chúng tôi thắng, th́ họ cũng phải chấp nhận sống dưới một thể chế dân chủ. Dân chúng quyết định tương lai.’

[ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/04/050422_nguyenvanthieu_transcripts.shtml ]

Thưa ông, trong tâm tư của tổng thống mà ông nắm vững được, đó chỉ là một câu trả lời dối trá đầy thủ đoạn và kịch tính, hay của một TT Thiệu quân tử đă chuẩn bị để chấp nhận sống dưới sự cai trị của Cộng sản? Như vậy, tại sao đêm 25 tháng 4 năm 1975, tổng thống của chúng ta phải lén lút rời Việt Nam với tư cách là đặc sứ của VNCH đến Đài Bắc để phúng điếu tổng thống Tưởng Giới Thạch?

8.- Sau khi ban hành lệnh thiết quân luật vào ngày 11-5-1972 vào thời điểm quyền lực của tổng thống Thiệu được củng cố mạnh mẽ nhất, tổng thống ban hành tiếp sắc luật 007/72 để thanh toán quyền tự do ngôn luận ở Nam Việt Nam, buộc mỗi tờ nhật báo phải đóng kư quỹ 20 triệu đồng (thời giá lúc ấy bằng 47.000 đô), c̣n báo định kỳ phải đóng 10 triệu – để nếu tờ báo nào vi phạm luật do ông Nhă sáng chế ra, th́ tiền kư quỹ bị sai áp. Báo nào không nạp đủ số tiền đó liền bị rút giấy phép. Đây là sáng kiến góp phần tiêu diệt làng báo miền Nam một cách có hiệu quả của Hoàng Đức Nhă, được chuẩn thuận của tổng thống Thiệu. Kết quả, trừ những tờ quốc doanh như nhật báo Dân Chủ của ông Nhă, hầu hết làng báo miền Nam vào ngơ cụt, không c̣n sinh kế, và không c̣n phương tiện đấu tranh cho tự do. Họ cùng đường, nên, trừ các kư giả giả mạo, kư giả chỉ điểm, kư giả ăn lương CIA – đă tổ chức cuộc xuống đường lớn nhất và được quần chúng công khai ủng hộ đông nhất, mang tên “Ngày Kư Giả Đi Ăn Mày”. Vào ngày 10-10-1974, lịch sử báo chí thế giới ghi nhận kư giả miền Nam Việt Nam của tổng thống Thiệu đội nón lá rách, cổ đeo bị đệm của người ăn xin và tay chống một cây gậy, thực sự ăn mày quyền tự do mà TT Thiệu thường đem ra khoe với thế giới.

Dưới con mắt một chuyên gia về kinh tế, xin ông cho biết tổng thống đă nói ǵ với ông cháu Hoàng Đức Nhă, và ông ấy đă nghĩ ǵ về việc anh em ông ấy đă gây ra cho làng văn làng báo miền Nam Việt Nam?

9.- Người ta thường bảo ‘Thầy thuốc sai lầm làm chết một bệnh nhân, phi công sai lầm làm chết một làng, chính trị gia sai lầm làm chết một nước’. Nếu chúng tôi kết luận rằng việc mất miền Nam Việt Nam là do sự phản trắc của người Mỹ, do sự hiếu chiến của miền Bắc Việt Nam và do sự bạc nhược của tất cả quân dân cán chính miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975 – riêng TT Thiệu không có lỗi ǵ cả, th́ TT Thiệu nơi chín suối có đồng ư không? Bên cạnh sự cưỡng bức của người Mỹ buộc tổng thống Thiệu phải rời Việt Nam như ông đang biện hộ, ông có nghĩ rằng bất cứ cử tri nào đă bỏ phiếu bầu ông Thiệu vào chức vụ tổng thống – dù là một cuộc bầu bán độc diễn và gian lận – cũng đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về lá phiếu của ḿnh dành cho TT Thiệu? Viết thêm cuốn sách thứ ba để cho rằng TT Thiệu phải đào ngũ trốn khỏi Việt Nam là do thúc ép của Mỹ, vậy cáo buộc mà phía Cộng sản gọi QLVNCH trong đó có TT Thiệu nhưng không có ông tiến sĩ kinh tế – là lính đánh thuê của Mỹ vừa là chính quyền bù nh́n của Mỹ – là đúng?

10.- Ở trang 262 của cuốn ‘Những Ngày Cuối của VNCH’ mà ông có nh́n nhận đă trích dẫn cả 2 bản tiếng Anh và tiếng Việt (TTTTT, trang 699), cố đại tướng Cao Văn Viên viết:

“Năm 1973-1975. Khi Hiệp định Ba Lê được kư kết và quốc sách ‘Bốn không’ ra đời…  … Ông Thiệu ra lệnh thẳng cho các tư lệnh quân đoàn, Không quân và Hải quân, và liên lạc thẳng với Tham Mưu Trưởng liên quân BTTM.”

Điều nầy được tác giả Nguyễn Kỳ Phong chi tiết hóa trong phần nhận định sau:

“…Từ năm 1969 trở đi, TTT vấp phải một lỗi lầm về liên hệ trong hệ thống quân giai, về chiến lược và chiến thuật, khiến các sĩ quan tuớng lănh không c̣n kính trọng ông như là một thủ lănh. Để củng cố thế lực, năm 1968 TTT triệu hồi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm về nước, bổ nhiệm làm phó thủ tướng kiêm tổng trưởng nội vụ, rồi thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc pḥng sau khi Thủ Tướng Trần Văn Hương từ chức. Cùng năm, ông đưa tướng Đỗ Cao Trí về làm Tư Lệnh Vùng III. Tháng 7-1970 ông ban hành một sắc lệnh, thay đổi cơ cấu quân sự trong tương quan giữa Bộ Tổng Tham Mưu và Quân Đoàn/Quân Khu. Nói một cách khác, đến cuối năm 1970, các tướng lănh đă “vào hàng” theo lệnh TTT. Nhưng để bảo vệ quyền lực và pḥng hờ những biến động có thể xảy ra, TTT tập trung quyền lực trong tay – về hành chánh cũng như về quân sự – hành động này đă gây những phẫn nộ ngấm ngầm trong giới quân đội. Sự lo sợ đảo chánh khiến cho TTT giữ lại một số tướng lănh lẽ ra ông phải cho họ giải ngũ từ lâu. Cũng v́ sợ đảo chánh, ông có những liên hệ với một số tướng lănh mà qua sự quan sát bên ngoài, không hợp với quân phong, quân kỷ.  Rất nhiều thí dụ cho thấy TTT bất cần hệ thống quân giai và chỉ huy quân đội thẳng từ Dinh Độc Lập: Trong cao điểm của cuộc hành quân Lam Sơn 719, Trung Tướng Lăm xin được từ chức v́ ông không đủ quyền lực và sự ủng hộ của TTT để ra lệnh cho hai tướng Dư Quốc Đống và Lê Nguyên Khang. Cũng trong buổi họp đó, tướng Viên một lần nữa xin từ chức.”

Ông b́nh luận thế nào về sự độc tài và lạm quyền của TT Thiệu mà hai người nói trên ghi nhận? Sự độc tài và lạm quyền ấy có lợi hay hại trong vấn đề bảo vệ miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản?

11.- Khi được cựu trung tá Nguyễn Đạt Thịnh hỏi trên đài phát thanh vào ngày 27-5-2010, “ngồi đối diện với thiếu tướng Phú trên bàn hội nghị Cam Ranh là hai vị trung tướng, và hai vị đại tướng, mà không vị nào thấy việc không tăng viện cho thiếu tướng Phú là chấp nhận mất Ban Mê Thuột, và bỏ trống Cao Nguyên cho địch hay sao?”, ông đă tự thú, “địa bàn quân sự không phải là sở trường của tôi.” Câu hỏi tiếp theo, “tiến sĩ có nghĩ như tôi nghĩ là câu ‘nếu lấy lại Ban Mê Thuột th́ việc tái chiếm Pleiku và Kontum sẽ dễ dàng…’ giống như một điều ao ước hơn là một kế hoạch chiến lược không?”, ông lại khẳng định lần nữa, “Tôi đă nói là tôi không biết nhiều về những vấn đề quân sự.”

Trong phần cuối của cuốn ‘Những Ngày Cuối của VNCH’, cố đại tướng Cao Văn Viên dùng nhiều cụm từ và câu không bọc đường như: ‘Tác giả Nguyễn Tấn Hưng, trong sách của ông, nói BTTM không biết việc nầy, là hoàn toàn sai.’ (trang 263), ‘Cho nên khi có người viết là một viên chức nào đó gọi điện thoại vào BTTM lúc 4 giờ rưỡi chiều mà không có ai trả lời, là hoàn toàn bịa đặt.’ (trang 263), ‘Dựa vào những sự kiện đă nói trên, ta thấy tác giả Nguyễn Tiến Hưng trong tác phẩm The Palace File, đă xuyên tạc là BTTM không làm tṛn nhiệm vụ, và tác giả (đại tướng Viên) chỉ là một tướng tầm thường, thiếu khả năng và sáng kiến… Những lư do ông Hưng nêu ra có khi mâu thuẫn với nhau, nhỏ mọn, toàn là khẳng định không có chứng minh, hay chỉ dựa theo lư thuyết nên không thực tế.’ (trang 264), ‘Trong các buổi họp quân sự với tổng thống Thiệu, tác giả (đại tướng Viên) không thấy ông Hưng. Chỉ sau nầy, khi phái đoàn tướng Weyand đến Saigon và họp trong Dinh Độc Lập mới thấy ông ta tham dự. Nhưng trong sách, khi nào có nói đến các buổi họp, ông ta đều chỉ trích.’ (trang 265), ‘Ngoài ra, ông Hưng lầm lẫn giữa thiết kế và phản ứng.’ (trang 265), ‘Ông Hưng nói các sĩ quan VNCH chỉ biết sử dụng trực thăng hay gọi pháo binh và không quân yểm trợ khi đi hành quân với quân đội Mỹ là sai.’ (trang 267), ‘Có thể tin được những ǵ ông Hưng viết và nhớ trong sách hay không? Do một sự t́nh cờ, một nguồn tin cho hay ông Hưng không có tuyên thệ nhập đảng Dân Chủ. Như vậy ông Hưng đă không nói sự thật về một vấn đề liên quan mật thiết với ông ta.’ (trang 268), ‘Tóm lại, một vài phần trong cuốn The Palace File – ở những phần viết về Quân Lực VNCH; Bộ Tổng Tham Mưu; và về cá nhân tác giả (đại tướng Viên) – chỉ là những tiểu thuyết có luận đề, và chỉ có giá trị như những tiểu thuyết không hơn không kém.’ (trang 268).

Đại tướng Viên đă chết, nên ông đại tướng thua ông ở chỗ ông c̣n sống, và c̣n tiếp tục in thêm sách. Nhưng trung tá Thịnh cũng c̣n sống. Ông ấy nói rất nhẹ nhàng, lễ phép với người mà đại tướng Viên gọi bằng chữ ‘bịa đặt’: “Tôi không tin ông Hưng có thể thành công trong nỗ lực vinh danh ông Thiệu bằng cách hạ nhục những vị anh hùng tiết tháo, sống chết theo sự mất hay c̣n của đất nước.” Xin ông lên tiếng về hành động “hạ nhục” mà ông Thịnh nhận xét.

12.- Nh́n nhận với nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh rằng “địa bàn quân sự không phải là sở trường của tôi”“tôi đă nói là tôi không biết nhiều về những vấn đề quân sự”, mà ông lại viết về vấn đề tái chiếm BMT và ‘di tản chiến thuật’ (chữ của TT Thiệu mỗi khi bị thất trận), lại viết sách lịch sử bằng những câu khuất lấp như thượng dẫn, ông có nghĩ là ông đă giải oan thành công cho linh hồn của TT Thiệu cần nghỉ yên ở nơi nào đó bên ngoài cửa thiên đàng? Nếu giờ nầy tổng thống Thiệu c̣n sống, ông ấy sẽ nghĩ ǵ khi cầm cuốn ‘Tâm Tư TT Thiệu’ trên tay do người khác viết về suy nghĩ của ḿnh?

*******

Xin cảm ơn tiến sĩ đă nhẫn nại đọc tới cuối bức thư lẩm cẩm và u tối của một người trong chiến tranh, tuy cầm súng, nhưng chỉ chiến đấu ở cương vị một binh nhất. Tôi tin phần trả lời của ông sẽ soi rọi cho những phần tăm tối mà một kẻ thấp cổ bé miệng như tôi, nếu chiến tranh c̣n tiếp diễn, sẽ không bao giờ dám thất lễ đặt vấn đề đúng sai với một vị tổng trưởng trong nội các chính phủ, về trách nhiệm của một vị tư lệnh quân đội.

Kính,

NgyThanh

Cựu quân nhân, Số quân 72/208.269

Tiểu đoàn 10 CTCT, KBC 3463

Nhân tiện, xin giới thiệu cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu với những ai có nhu cầu cần t́m hiểu: sách dày 711 trang, b́a cứng, trang b́a láng in h́nh tổng thống Thiệu châm ngọn lửa vào dầu hỏa lấy từ mỏ ngoài khơi Việt Nam, với hàng chữ “Sắp hết lệ thuộc: thùng dầu đầu tiên từ ngoài khơi đem về phúng viếng tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa”. Sách có thể đặt mua trên trang mạng http://tamtutongthongthieu.com/ , giá sách ghi trên b́a $28.00, nhưng khi mua, bạn đọc phải gửi chi phiếu $35.00 để trả thêm $7.00 cước phí bưu điện và lệ phí bỏ sách vào phong b́.

++++++++++++++++++

Ghi chú:

Bài nầy do NgyThanh dành riêng cho Thời Báo.

Khi đăng lại trên báo hay trên mạng, xin vui ḷng ghi rơ xuất xứ như sau:

©NgyThanh, Thời Báo USA

Ghi chú h́nh:

Tỉnh lộ 7B:

Hàng trăm ngàn đồng bào và binh sĩ ‘di tản chiến thuật’ theo lệnh của tổng tư lệnh quân đội VNCH Nguyễn Văn Thiệu bị nghẽn đường tại đầu nguồn Sông Ba (Sông Đà Rằng) v́ không có cầu qua sông, trên tỉnh lộ 7B từ Pleiku đi Tuy Ḥa.

Bản đồ:

Bản đồ thị trấn Tuy Ḥa có QL1 cắt qua sông Đà Rằng; với Tỉnh Lộ 7B từ b́a trái đâm vào thị trấn. Khi đoàn người gồm 400.000 thường dân, 60.000 lính chính quy, và 7.000 ngàn lính Biệt động quân từ Pleiku theo lệnh Nguyễn văn Thiệu theo đường 7B về tới Tuy Ḥa, con số người mất tích không bao giờ c̣n t́m ra là 300.000 thường dân, 40.000 lính chính quy, và 6.300 lính Biệt động quân. Để chạy tội cho tổng thống Thiệu, ông Nguyễn Tiến Hưng vừa xuất bản cuốn ‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu’ bán với giá US$28.00. Ai có thân nhân mất tích hay tử nạn trên tỉnh lộ oan khiên nầy nên mua một cuốn để đặt lên bàn thờ, trước bài vị, để tưởng nhớ hàng năm.

Không ảnh Đầm Cầu Hai:

* Ghi chú: tam giác lớn màu xanh đậm là biển Thái B́nh Dương. Vạch xanh chạy dọc ngoằn ngoèo bên trái là sông Hương với đại nội Huế h́nh thoi ở tả ngạn sông. Trên đầu sông, bên trái là phá Tam Giang, bên phải là đầm Thuận An kéo dài xuống phía phải nối vào với đầm Cầu Hai h́nh nón sắt lật ngược. Nh́n kỹ h́nh nón sắt: gần mí trước là sông Truồi, chỗ nhô lên đỉnh nón là đèo Đá Bạc, mí sau của nón giáp với biển là cửa Tư Hiền, phần tam giác ngược xanh lục là núi Vĩnh Phong, khu vực màu hồng nối tiếp phía bên phải là đồng cát trống mỗi bề khoảng 10 km, thuộc địa phận xă Lộc Thủy (Nước Ngọt) và Lộc Tụ (Thừa Lưu) quận Phú Lộc. Ṿng h́nh thuẩn cuối cùng ở b́a phải là đầm Lăng Cô (xă Lộc Hải). Không ảnh do vệ tinh của Úc chụp.

Xác chết thiếu tá Long tự sát:

Tham nhũng và độc tài làm đất nước nát tan, ngày 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu lên TV thông báo từ chức tổng thống, và thề thốt sẽ ở lại cùng quân dân miền Nam chiến đấu chống Cộng sản đến giọt máu cuối cùng. 100 giờ đồng hồ sau, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đào ngũ, trốn qua Đài Loan. Người phản bội tổ quốc và phản bội đồng bào trốn thoát, nhưng đất nước vẫn c̣n những con người (không phải thú vật) giữ tiết tháo: một trong những người ấy là trung tá Long, tới trước nhà quốc hội, dùng súng tự bắn vào đầu để trọn nghĩa với nhân dân, trọn thề với sông núi. Ngày nay, ông Nguyễn Tiến Hưng đang biện hộ cho Nguyễn Văn Thiệu, bằng cuốn sách ‘Tâm Tư Tổng Thống Thiệu’. Oan hồn Nguyễn Văn Thiệu có được giải oan hay không, điều đó tùy phán xét của mỗi người. Nhưng điều không chối căi được, là ông Hưng lại rất thành công về kinh tế khi bán cuốn sách nầy. Quả ông tiến sĩ là một thiên tài về ngành bán buôn. (Ảnh sưu tầm của Jean Lartéguy, in trong cuốn L’Adieu A Saigon, nhà xuất bản Presses de la Cité Paris, 1975)

 

©NgyThanh, Thời Báo USA”, Quảng Ngăi Nghĩa Thục, 10/6/2010

NDVN, ngày 2/8/2010



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend